Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở các trường tiểu học giảng dạy chương trình nước ngoài cho học sinh Việt Nam trường quốc tế 12 1.2.. Một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
CHO HỌC SINH VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Xuân Khoa
Vinh, 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn trường Đại học Vinh và trường Đại học Sài Gòn
đã liên kết tổ chức khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh (khóa học 2008-2011) tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, khoa Sau đại học trường Đại học Vinh, phòng Tổ chức cán bộ trường Đại học Sài Gòn và các giảng viên là Giáo sư, Phó giáo sư – tiến sĩ, Tiến sĩ, các nhà khoa học đã tận tình giảng dạy, trang bị kiến thức, xây dựng cơ sở khoa học nền móng cho tôi trong việc nghiên cứu đề tài này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư – tiến sĩ Đinh Xuân Khoa, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn các cán bộ quản lý giáo dục ở Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, các Phòng Giáo dục
và các trường quốc tế, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp tôi trong việc cung cấp thông tin và tư vấn khoa học trong quá trình nghiên cứu để tôi có cơ sở khoa học đề ra các giải pháp và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, song khả năng của cá nhân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô giáo và đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2010
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Phước
Trang 3Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục, phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc ở các trường tiểu học giảng dạy chương trình
nước ngoài cho học sinh Việt Nam (trường quốc tế)
12
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 14
1.3 Nhà trường Tiểu học trong giai đọan hiện nay 24
Chương 2: Thực trạng vấn đề giáo dục, giữ gìn phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc trong các trường quốc tế ở TP Hồ Chí minh
34
2.1 Thực trạng về hệ thống các trường Tiểu học có yếu tố
nước ngòai hiện nay ở TP Hồ Chí Minh
34
2.2 Họat động quản lý nhà nước đối với các trường phổ thông
quốc tế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
40
2.3 Những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ
quan của thực trạng
41
Chương 3: Một số giải pháp quản ý nhằm nâng cao việc giáo
dục, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong trường Tiểu học
Trang 43.3 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 46
3.3.4.Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và khả thi 47
3.4 Một số giải pháp giáo dục, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc ở các trường tiểu học giảng dạy chương trình nước ngòai
cho học sinh Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh
47
3.4.1 Ban hành nghị định mới quy định chi tiết về hợp tác
đầu tư với nước ngòai trong lĩnh vực giáo dục
3.4.4 Ban hành quy định về yêu cầu đối với chương trình
giáo dục cho trẻ em Việt Nam
Trang 5KÍ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 6Chỉ thị số 4899/CT-BGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2009 – 2010 của Bộ GD-ĐT cũng khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành là triển khai công tác đánh giá chất lượng giáo dục các trường phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp, trong đó có các trường ngoài công lập, các trường do nước ngoài đầu tư hoặc đào tạo theo chương trình nước ngoài; xây dựng chuẩn và chuẩn bị các điều kiện để đánh giá các trường mầm non Triển khai các bước chuẩn bị cho Việt Nam tham gia chơng trình đánh giá kết quả học tập của học sinh quốc tế
Kết luận của Bộ Chính trị theo Thông báo 242-TB/TW nêu yêu cầu
“đến năm 2020 nước ta phấn đấu có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm
Trang 7bản sắc dân tộc” Theo tinh thần Thông báo 242-TB/TW thì nền giáo dục tiên tiến ấy phải thể hiện được bản sắc dân tộc Việt Nam chứ không bị lai căng, mất gốc Nền giáo dục Việt Nam phải thể hiện sâu sắc hệ thống giá trị văn hóa Việt Nam thông qua mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo, cơ cấu
tổ chức quản lý và chuẩn mực đánh giá quá trình giáo dục
Vậy trong thực tế khi các em học ngay từ bậc tiểu học ở các trường giảng dạy theo chương trình nước ngoài, bằng tiếng nước ngoài thì liệu có đủ sức để xây dựng, bồi dưỡng cho các em bước khởi đầu của tâm hồn Việt, bản sắc Việt, lối sống, suy nghĩ, tâm tư, tình cảm và những hiểu biết nền tảng, phù hợp lứa tuổi về văn hóa dân tộc như các em khác đang theo học tại các trường tiểu học đào tạo theo chương trình của Bộ GD&ĐT
Hiện nay tâm lý chung của một bộ phận phụ huynh ở hai đô thị lớn là
Hà Nội và TP.HCM khi có thu nhập cao, ổn định đều muốn con mình nhanh chóng tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến của thế giới, sớm sử dụng thành thạo ngoại ngữ, được học tập trong một môi trường tiện nghi, hiện đại Do vậy số học sinh được cho học ở các trường có yếu tố quốc tế, yếu tố nước ngoài ngày càng tăng và ngày càng nhỏ về độ tuổi Từ mẫu giáo, tiểu học cho đến các bậc cao hơn
Thực tế khác là khi thị trường có cầu ắt có cung, các trường giới thiệu
là quốc tế, gắn nhãn quốc tế mở ra ngày càng nhiều Phụ huynh không biết đâu là cơ sở để chọn lựa Cơ quan quản lý nhà nước lúng túng trong việc quản
lý từ chương trình giảng dạy cho đến quảng cáo, đội ngũ giáo viên
Ba vấn đề đặt ra có liên quan là:
- Phụ huynh thì băn khoăn: đâu là trường quốc tế thật, đâu là trường theo hình mẫu quốc tế? Cho trẻ học trường quốc tế, nhất là đào tạo bằng tiếng nước ngoài ngay từ nhỏ liệu có làm “mất gốc” con cái mình
Trang 8- Nhà quản lý (Bộ GD&ĐT - Sở GD&ĐT - Phòng GD): thì quan tâm quản lý, phân loại như thế nào đối với loại hình trường có yếu tố nước ngoài này vì trên thực tế giấy phép hoạt động cũng như chương trình giảng dạy rất
đa dạng Quản lý việc dạy và học các môn học bằng tiếng Việt (như Tiếng Việt, Sử, Địa, Giáo dục công dân…) theo yêu cầu của Bộ GD-ĐT
- Ở cấp độ vĩ mô và xã hội thì băn khoăn: việc giáo dục văn hóa dân tộc bao gồm cả chữ viết, tiếng nói, lịch sử, văn hóa, giao tiếp cho dù là ở bậc học thấp nhất – nhưng thực chất là nền tảng, sẽ như thế nào trong môi trường quốc tế hóa quá sớm và khi ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ được dùng làm ngôn ngữ chính Và trong công cuộc xây dựng một nhà trường tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ngay trên đất nước Việt Nam như quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta đã xác định thì các trường quốc tế giảng dạy chương trình nước ngoài cho học sinh Việt Nam sẽ đứng ở đâu? Họ tham gia như thế nào? Có cần một chính sách chi tiết quy định không?
Từ thực tế còn rất mới mẻ đó, đòi hỏi cần có những tìm hiểu bước đầu,
hệ thống thông tin và nêu ra một số khuyến nghị cần thiết cho các nhà đầu tư làm trường có yếu tố nước ngoài, các cấp QLGD và đặc biệt là phụ huynh học sinh quan tâm, cũng như xuất phát từ đặc điểm cá nhân là một nhà báo chuyên
về giáo dục tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp giáo dục, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở các trường tiểu học giảng dạy chương trình nước ngoài cho học sinh Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng các trường quốc tế giảng dạy chương trình tiểu học nước ngoài cho học sinh Việt Nam hiện nay tại TP.HCM làm rõ được các vấn đề: phân loại thế nào là trường quốc tế đúng nghĩa, việc giảng dạy tiếng Việt, văn hóa dân tộc và môi trường học tập có bảo đảm việc giữ
Trang 9gìn bản sắc văn hóa cho học sinh ở bậc tiểu học không, tiến đến đề xuất các biện pháp quản lý để bảo đảm thực hiện tốt yêu cầu này
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý và thực hiện chương
trình giảng dạy tiếng Việt, văn hóa thuần Việt và không gian học tập, rèn luyện có bảo đảm yếu tố phát huy, giáo dục về bản sắc văn hóa dân tộc cho trẻ tiểu học
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu: Một số biện pháp nhằm quản lý tốt hơn
việc xây dựng môi trường học tập quốc tế nhưng đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với lứa tuổi tiểu học
4 Giả thuyết khoa học:
Có thể nâng cao việc giáo dục, gìn giữ và phát huy việc truyền thụ, giảng dạy về văn hóa dân tộc trong đó có tiếng Việt cho học sinh tiểu học đang học tại các trường quốc tế học bằng tiếng nước ngoài nếu áp dụng hệ thống các giải pháp do chúng tôi đề xuất
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài 5.2 Khảo sát thực trạng chương trình giảng dạy, môi trường học tập; quan điểm của các cấp quản lý
5.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc QLGD, gìn giữ và phát huy việc truyền thụ, giảng dạy về văn hóa dân tộc trong đó có tiếng Việt cho học sinh tiểu học
5.4 Bước đầu minh chứng tính khả thi của một số biện pháp đã đề xuất trong đề tài
* Giới hạn nghiên cứu của đề tài:
- Nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng chương trình giảng dạy, môi trường học tập; quan điểm của các cấp quản lý tại các trường quốc tế dạy
Trang 10chương trình nước ngoài có nhận học sinh Việt Nam về việc giữ gìn, xây dựng
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý việc giáo dục, gìn giữ và phát huy việc truyền thụ, giảng dạy về văn hóa dân tộc trong đó có tiếng Việt cho học sinh tiểu học
- Địa bàn nghiên cứu: Thành phố Hồ Chí Minh
- Khách thể điều tra :
+ Ban giám hiệu và chủ đầu tư các trường tiểu học quốc tế
+ Chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục (lãnh đạo Vụ tiểu học – Bộ
GD-ĐT, Sở GD&GD-ĐT, phòng giáo dục tiểu học Sở, trưởng phòng GD&ĐT các quận có trường đóng)
+ Cán bộ quản lý nhà nước, đoàn thể có liên quan: Ban Văn hóa-Xã hội, HĐND thành phố, Hội đồng Đội thành phố
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo của các ngành cấp trên, điều lệ trường tiểu học, các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Nhằm mục đích thu thập thông tin về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu cũng như kiểm chứng tính khả thi, cấp thiết của các biện pháp đề xuất trong đề tài
6.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trên cơ sở các báo cáo tổng kết năm học của ngành, vận dụng để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Gặp gỡ với các chuyên gia nhằm trao đổi, xin ý kiến đóng góp về cơ sở lý luận của đề tài và kiểm chứng mức độ khả thi, cấp thiết và phương hướng thực hiện các biện pháp được đề
Trang 11xuất trong đề tài Tham khảo một số phát biểu, bài báo khoa học có liên quan của các chuyên gia
6.2.4 Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng các công thức toán thống kê như trung bình cộng, hệ số tương quan … để xử lý và phân tích các
số liệu, kết quả điều tra, xác định mức độ tin cậy của việc điều tra nhằm rút ra kết luận khoa học của đề tài
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Về lý luận:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc và giáo dục, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở bậc tiểu học Nhận diện hệ thống các trường tiểu học giảng dạy chương trình nước ngoài cho học sinh Việt Nam với tên gọi chung phổ biến là trường quốc tế
7.2 Về thực tiễn:
Hệ thống và phân tích đánh giá được thực trạng việc dạy và học các môn học bằng tiếng Việt tại các trường tiểu học quốc tế dạy hoàn toàn bằng chương trình nước ngoài ở TP.HCM
Xác lập được một số giải pháp quản lý nhằm tác động để nâng cao chất lượng việc dạy và học, tổ chức nhà trường nhằm mục tiêu giáo dục, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở bậc tiểu học tại các trường quốc tế
Đề xuất một số kiến nghị cần thiết cho các ngành, các cấp liên quan
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục, giữ gìn, phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc ở các trường Tiểu học giảng dạy chương trình nước ngoài cho học sinh Việt Nam (trường quốc tế)
Trang 12- Chương 2: Thực trạng vấn đề giáo dục, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc trong các trường quốc tế ở TP.HCM
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nhằm nâng cao việc
giáo dục, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các trường Tiểu học quốc tế ở TP.HCM
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC, GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC GIẢNG DẠY CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC NGOÀI CHO HỌC SINH VIỆT NAM
(TRƯỜNG QUỐC TẾ)
1.1 Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá của từng quốc gia dân tộc cũng được nhiều tác giả đề cập, nhưng chủ yếu bàn về vấn đề vĩ mô hoặc
ở bậc đại học là phổ biến Các tác giả về giáo dục hiện đại trên thế giới đều khẳng định “Bất kỳ hệ thống giáo dục nào cũng chỉ có thể hiểu trọn vẹn trong bối cảnh của nền văn hoá, của những truyền thống, lịch sử, và cấu trúc xã hội chung của quốc gia mà nó được thiết kế ra để phục vụ” [3, 33]
Tại các quốc gia sử dụng tiếng Anh như Singapore thì việc quản lý các trường quốc tế đã có từ lâu đời, bên cạnh hệ thống trường của quốc gia
Tại các nước Thái Lan, Trung Quốc, Philippine hoạt động các trường quốc tế cũng được đề cập từ lâu và có các quy định chặt chẽ về điều kiện hoạt động, yêu cầu giáo dục văn hóa của quốc gia sở tại, có hội đồng các trường quốc tế tại quốc gia và các quy ước của hội đồng cho các trường thành viên
Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam được kết nạp làm thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và bắt đầu thực hiện các cam kết gia nhập kể từ ngày 11 tháng 1 năm 2007 Việc gia nhập WTO đánh dấu cột mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập trên nhiều lĩnh vực của nước
ta, trong đó có GD&ĐT
Hệ thống giáo dục quốc dân xuất hiện thêm các trường của nước ngoài tại Việt Nam, ban đầu là trường nước ngoài, giảng dạy chương trình
Trang 14nước ngoài cấp văn bằng chứng chỉ nước ngoài, hoàn toàn tuyển sinh và giảng dạy cho học sinh có quốc tịch nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam Thời gian đầu chỉ cho phép nhận học sinh gốc Việt nếu có quốc tịch nước ngoài hoặc có bố hoặc mẹ có quốc tịch nước ngoài
Sau đó xuất hiện cùng lúc hai loại hình trường:
1 Dạy theo chương trình của Bộ GD&ĐT Việt Nam nhưng đồng thời dạy thêm song song chương trình của nước ngoài, cấp 2 loại văn bằng của Việt Nam và của quốc tế (Anh hoặc Mỹ) – các trường này phần lớn do nhà đầu tư trong nước thành lập nhắm đến đối tượng chính là học sinh Việt Nam
2 Dạy hoàn toàn bằng chương trình của nước ngoài, cấp văn bằng theo chương trình của quốc gia đang giảng dạy Tiếng Việt được xem như môn ngoại ngữ, ban đầu chủ yếu nhắm đến học sinh nước ngoài sinh sống tại Việt Nam và có nhận thí điểm một số con em của kiều bào sinh sống làm ăn trong nước Dần dà loại hình này phát triển và đặt mục tiêu hướng đến học sinh Việt Nam muốn theo học chương trình quốc tế ngay từ nhỏ Các trường này chủ yếu do các tập đoàn, công ty giáo dục từ nước ngoài vào đầu tư
Với loại hình trường mà đề tài nghiên cứu là các trường tiểu học quốc
tế dạy chương trình nước ngoài hoàn toàn bằng tiếng Anh cho học sinh Việt Nam mới chỉ bắt đầu nhận học sinh Việt Nam vào học dưới danh nghĩa thí điểm từ khoảng những năm 2004-2005 Việc thành lập mới trường quốc tế nhằm mục tiêu nhận học sinh Việt Nam cũng như các trường quốc tế sẵn có
mở rộng việc nhận học sinh Việt Nam vào học bắt đầu từ năm 2006 và ngày càng phát triển cho đến nay
Các nghiên cứu về vấn đề giáo dục, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong nhà trường cũng chỉ mới được tập trung từ năm 2009, sau Kết luận của Bộ Chính trị theo Thông báo 242-TB/TW yêu cầu “đến năm 2020 nước ta phấn đấu có một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc”
Trang 15Có thể kể đến là Hội thảo khoa học “Nhà trường Việt Nam trong một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc” với 80 tham luận của các nhà khoa học, giáo dục do Hội Khoa học Tâm lý – giáo dục Việt Nam tổ chức tháng 11.2009
Các nghiên cứu khác cũng về vấn đề này có ở một số bài báo khoa học đăng trên tạp chí Giáo dục, chứ cũng chưa có một luận văn cao học hay Tiến sĩ nào về vấn đề này tại các trung tâm đào tạo lớn ở Hà Nội, TP.HCM, Vinh hay Đà Nẵng
Về vấn đề trường quốc tế giảng dạy cho học sinh Việt Nam, ngoài công trình có tính chất ghi nhận thực trạng bước đầu trong công tác quản lý của Tiến sĩ Huỳnh Công Minh – Giám đốc Sở GD&ĐT TP.HCM – nêu trong cuốn “GD&ĐT TP.HCM Hội nhập các nền giáo dục tiên tiến” (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam – 2010) thì chỉ có các bài báo đăng trên một số báo như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet… đặt ra thực trạng và các vấn đề cần lưu ý trong việc giảng dạy tiếng Việt, văn hoá Việt Nam cho học sinh phổ thông nói chung
Nhìn chung cơ sở lý luận cho vấn đề giáo dục, giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong nhà trường phổ thông là một đề tài còn rất mới mẻ, không nhiều nghiên cứu cho đến nay Đặc biệt khi đi sâu vào đối tượng trường quốc tế dạy chương trình nước ngoài cho học sinh Việt Nam thì hoàn toàn hạn chế, gần như chưa có bất kỳ nghiên cứu nào
Do vậy, sẽ có rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và nghiên cứu đề tài của luận văn Nhưng với tính mới mẻ và cấp thiết của đề tài, thì đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để khai phá những nghiên cứu bước đầu, đáp ứng nhu cầu của ngành GD&ĐT TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài:
1.2.1 Quản lý
Trang 161.2.1.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động xuất hiện từ khi xã hội loài người xuất hiện, khi con người phải và biết hợp tác cùng nhau vì một mục đích chung Ở đâu con người tập hợp thành nhóm xã hội, ở đó có quản lý Quản lý là một việc làm bao trùm lên mọi mặt đời sống xã hội và đã được mọi người quan tâm khá lâu trong lịch sử, nhưng cho đến mãi thế kỷ XX, lý luận quản lý một cách khoa học mới thực sự ra đời và hiện nay vấn đề này ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện [44]
- Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về quản lý
Theo F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật, biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [29,89]
Theo Harold Koontz và Cril Odonnell và Heinz Weihrich cho rằng:
“Quản lý là hoạt động bảo đảm sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm bảo đảm mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt kết quả cao nhất” [33,33]
Theo F.F Aunpu: “Quản lý là một khoa học và nghệ thuật tác động vào một hệ thống nhằm mục tiêu biến đổi hệ thống đó.” [1,16]
P Baranger khẳng định: “Quản lý là sự cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra những mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt, là lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được mục tiêu đã định”.[27]
Paul Hersey, Ken Blane Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” (NXB Chính trị quốc gia, 1995): “Quản lý là quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với các cá nhân, các nhóm để hướng vào việc thực hiện mục tiêu quản lý” [27]
Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước về quản lý
Trang 17Theo Vũ Ngọc Hải: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [26,1]
Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được một mục tiêu chung” [4,176]
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [18,12]
Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội của nhà quản
lý, phù hợp với quy luật của khách quan” [43,17]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đã dự kiến” [39,35]
Từ các khái niệm về quản lý nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước, chúng ta có thể thấy được nội dung cơ bản của khái niệm quản lý như sau:
- Quản lý là một hoạt động được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội
- Quản lý luôn đặt ra trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
- Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức tổng hợp của khoa học tư nhiên, khoa học xã hội và nhân văn Quản lý đồng thời cũng là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn ngoan và tinh tế để đạt được mục đích
Trang 181.2.1.2 Chức năng quản lý và chức năng QLGD
* Khái niệm về chức năng quản lý: chức năng quản lý là một dạng
hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua đó chủ thể tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định
Trong hoạt động quản lý “Chức năng QLGD” là điểm xuất phát để xác định chức năng của cơ quan QLGD và cán bộ QLGD
- Phân loại chức năng QLGD: Nhiều nhà khoa học và quản lý thực tiễn đã đưa ra những quan điểm khác nhau về phân loại chức năng quản lý:
+ Theo truyền thống, Pha-on đưa ra 5 chức năng quản lý đó là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra
+ Theo Cruc: Có 5 chức năng quản lý: Kế hoạch, tổ chức, phối hợp, chỉ đạo, kiểm kê và kiểm tra
+ Theo quan điểm của UNESCO hệ thống chức năng quản lý bao gồm 8 vấn đề sau: Xác định nhu cầu, thẩm định và phân tích dữ liệu, xác định mục tiêu, kế hoạch hóa, triển khai công việc, điều chỉnh, đánh giá, sử dụng liên hệ ngược và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo
+ Theo quan điểm quản lý hiện đại: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
Như vậy, tuy có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau, song về thực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu, đó là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
* Các chức năng QLGD
+ Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa là tổ chức và lãnh đạo
công việc theo một kế hoạch Thực hiện chức năng kế hoạch hóa là đưa mọi hoạt động giáo dục vào công tác kế hoạch với mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định các điều kiện tương ứng cho việc thực hiện mục tiêu
Trang 19Trong chu trình quản lý, kế hoạch hóa là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất, kết quả của nó tạo nên nội dung cơ bản của chu trình quản lý Đó cũng là
mô hình dự báo kết quả và chương trình hành động của nhà trường, của đơn vị trong suốt kỳ kế hoạch
Để thực hiện tốt chức năng kế hoạch hóa, cán bộ QLGD phải: Nhận thức được cơ hội và nắm bắt đầy đủ thông tin làm căn cứ cho việc xây dựng
kế hoạch; xác định mục tiêu và phân loại mục tiêu; xác định các điều kiện nội lực và ngoại lực; tìm phương án và giải pháp thực hiện, lựa chọn phương án tối ưu; lập kế hoạch
Quá trình lập kế hoạch diễn ra theo các bước:
Bước 1: Soạn thảo kế hoạch
Bước 2: Duyệt nội bộ (dân chủ hóa kế hoạch)
Bước 3: Trình duyệt cấp trên
Bước 4: Chính thức hóa kế hoạch (phổ biến kế hoạch chính thức đến những người thực hiện)
+ Chức năng tổ chức
Đây là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn nhân lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo việc thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra Có vai trò hiện thực hóa các mục tiêu của tổ chức, có khả năng tạo ra sức mạnh mới của tổ chức, cơ quan, đơn vị thậm chí của hệ thống nếu việc phân phối, sắp xếp nguồn nhân lực khoa học hợp lý
Chức năng tổ chức trong QLGD bao gồm các nội dung hoạt động sau:
Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho từng bộ phận và
cá nhân
Lựa chọn, phân loại cán bộ
Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy
Trang 20 Xác lập cơ chế phối hợp trong tổ chức
Khai thác tiềm năng, tiềm lực của tập thể và cá nhân
+ Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là những hành động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, là huy động mọi lực lượng vào thực hiện kế hoạch và điều hành công việc nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của đơn vị giáo dục diễn ra có kỷ cương và trật tự
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
Nắm quyền chỉ huy điều hành công việc
Hướng dẫn cách làm
Theo dõi, giám sát tiến trình công việc
Kích thích, động viên
Điều chỉnh, sửa chữa, can thiệp khi cần thiết
+ Chức năng kiểm tra
Là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các họat động đạt tới mục tiêu của tổ chức
Trong hoạt động QLGD, kiểm tra là một chức năng quan trọng và không thể thiếu được Kiểm tra giữ vai trò liên hệ ngược, giúp cán bộ quản lý điều khiển tối ưu hệ quản lý của mình đồng thời điều chỉnh quá trình quản lý Quản lý mà không kiểm tra coi như không quản lý
Nội dung của chức năng kiểm tra gồm có các công việc sau:
Đánh giá trạng thái kết thúc của hệ quản lý
Phát hiện những lệch lạc, sai sót và tìm nguyên nhân của nó
Tổng kết tạo thông tin cho chu trình quản lý tiếp theo
Mỗi chức năng quản lý có vai trò khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ chắt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, thậm chí đan xen vào nhau, thực
Trang 21hiện tốt chức năng này là tạo cơ sở, điều kiện cho việc thực hiện chức năng tiếp theo
Quá trình QLGD là quá trình thực hiện tổ hợp các chức năng quản lý:
Kế hoạch hóa – Tổ chức- Chỉ đạo – Kiểm tra
QLGD có hai nội dung chính: Quản lý nhà nước về giáo dục; Quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác QLGD là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và
Vật lực
Tài lực
Năng lực riêng
Thông tin
Trang 22+ Khái niệm về QLGD của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Theo Mi-kom-đa-Kốp – P.V Khu-đô-min-xky: “QLGD là tác động
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý trẻ.” [23,21]
Theo tác giả Mi-kom-đa-Kốp: “QLGD là tập hợp những biện pháp tổ chức, cán bộ, có kế hoạch, tài chính, cung tiêu … nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và
mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng.” [22,212]
+ Khái niệm về QLGD của các nhà nghiên cứu trong nước
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất.” [39,72]
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân.” [5,21]
Qua các định nghĩa trên có thể thấy QLGD được xét trên 2 cấp độ:
- Đối với cấp quản lý vĩ mô: QLGD là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
Trang 23lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
- Đối với cấp quản lý vi mô: QLGD là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản
lý đến tập thể cán bộ, giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh, các tổ chức, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Tóm lại, dù ở cấp độ nào thì QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt mục tiêu đã đề ra QLGD có thể hiểu là
sự quản lý hệ thống GD&ĐT bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục, trong đó nhà trường là đơn vị cơ sở, ở đó diễn ra các hoạt động QLGD cơ bản nhất [44]
Trong QLGD, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp, đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất – kỹ thuật, các hoạt động thực hiện các chức năng của GD & ĐT
1.2.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý vi mô Nó là hệ thống con của quản lý
vĩ mô (QLGD) Quản lý nhà trường (hay quản lý trường học) có thể được hiểu là một chuỗi tác động (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động
họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào hoạt động của nhà trường, làm cho quá trình này vận hành tối ưu, hoàn thành những mục tiêu dự kiến
Trang 24Quản lý nhà trường là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống QLGD nói chung Quản lý nhà trường là quản lý cơ sở của ngành giáo dục
Theo Viện sĩ-GS Phạm Minh Hạc đã đưa ra nội dung khái quát về khái niệm quản lý nhà trường: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh.” [24,4]
Quản lý nhà trường chính là những công việc của nhà trường mà người CBQL sử dụng những chức năng quản lý để thực hiện những nhiệm vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học
Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy – trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở.” [6,2]
Như vậy quản lý trường học bao gồm sự quản lý các quan hệ nội bộ (bên trong) của nhà trường và quan hệ trường học với xã hội (bên ngoài)
Bản chất của quản lý trường học là quá trình tác động chỉ huy, điều khiển sự vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố Mối quan hệ đó là do tính hướng đích trong nhà trường quy định
Các thành tố của quá trình giáo dục trong nhà trường bao gồm
1 Mục tiêu giáo dục 6 Hình thức tổ chứcgiáo dục
2 Nội dung giáo dục 7 Điều kiện và phương tiện giáo dục
3 Phương pháp giáo dục 8 Môi trường giáo dục
4 Lực lượng giáo dục 9 Quy chế giáo dục
5 Đối tượng giáo dục 10 Bộ máy tổ chức giáo dục
Trang 25Quản lý trường học là một dạng quản lý có tính đặc thù, phân biệt với các loại hình quản lý khác được quy định trước hết là lao động sư phạm lao động sư phạm là đặc thù của quá trình dạy học, quá trình giáo dục Mọi hoạt động của nhà trường đều hướng vào các thành tố nêu trên nhằm đạt được mục tiêu giáo dục, đào tạo
Quản lý nhà trường gồm quản lý các hoạt động: hoạt động dạy - học trên lớp; hoạt động ngoài giờ lên lớp; họat động lao động sản xuất-hướng nghiệp dạy nghề, các hoạt động phục vụ cộng đồng; quản lý giáo viên, nhân viên, học sinh; quản lý sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật; quản lý huy động, phối hợp các lực lượng trong cộng đồng thực hiện các hoạt động giáo dục
Trong tổng thể các họat động đó thì con người là lực lượng quan trọng nhất Vì vậy, quản lý nhà trường trước hết là quản lý con người mà cụ thể là quản lý của đội ngũ CBQL đối với cán bộ, giáo viên nhân viên và học sinh Quản lý con người là khâu trung tâm của quản lý trường học, là động lực của phát triển nhà trường [44]
1.3 Nhà trường Tiểu học trong giai đọan hiện nay
1.3.1 Vị trí nhà trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục
Trong hệ thống các văn bản pháp luật về QLGD TH có ghi: “TH là cấp học nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông
và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.”
Điều 22 của Luật giáo dục ghi rõ: “Giáo dục TH là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi; được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp 5, tuổi của học sinh lớp 1 là 6 tuổi
Trang 261.3.2 Mục tiêu của giáo dục Tiểu học
Tại điều 27, Luật Giáo dục có nêu: “Giáo dục TH nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS.” [40]
Về nội dung: Tại điều 28, Luật Giáo dục có nêu: “Giáo dục TH phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc và mỹ thuật.” [40]
1.3.3 Bản sắc văn hoá dân tộc
Tác giả Nguyễn Bỉnh Quân trên Tạp chí Tia Sáng (3.2007) viết: “Bản sắc dân tộc là cụm từ được dùng nhiều bậc nhất thập kỷ này”
Đối với một cộng đồng người thì bản sắc dân tộc có lẽ là những đặc điểm tính cách, phẩm chất đã cố kết trong lịch sử, qua lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia được đúc kết và khái quát hóa Thường những đặc điểm này không hoặc khó được định lượng mà chỉ "chung chung" song lại có giá trị như một
"thương hiệu" và rất có hiệu quả khi xây dựng lòng tự hào dân tộc
Văn hóa dân tộc là tổng thể, tập hợp những đặc điểm riêng biệt về lễ giáo, niềm tin, đạo đức, thẩm mỹ, lịch sử, những giá trị tinh thần, vật chất và
Trang 27cách thể hiện ứng xử trong các mối quan hệ xã hội, được kế thừa qua nhiều thế hệ dân tộc
1.3.4 Quan niệm “văn hóa dân tộc” và “giữ gìn văn hóa dân tộc”
* Văn hóa dân tộc:
Để tìm hiểu rõ “văn hóa dân tộc” trước hết chúng ta cần hiểu rõ khái niệm “văn hóa”
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, nhưng người ta chưa thống nhất nội hàm khái niệm này, người hiểu theo nghĩa hẹp, người hiểu theo nghĩa rộng Hiện nay số lượng về định nghĩa văn hóa khó mà biết được chính xác: có người bảo 400, có người nói 500, có người quả quyết rằng chúng lên đến con số hàng nghìn
Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa được xem là bao gồm tất cả những gì
do con người sáng tạo ra, Hồ Chí Minh đã viết các đây hơn nửa thế kỷ (1942) trong bản thảo Nhật ký trong tù: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [31] Như thế, văn hóa chứa đựng trong nó không chỉ những giá trị vật chất mà cả giá trị tinh thần, gắn bó mật thiết, sâu sắc, máu thịt với con người
Trong ý nghĩa rộng nhất, tuyên bố về những chính sách văn hóa – Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26/7 đến 06/9/1982 tại Mêxicô định nghĩa: “Văn hóa hôm nay, có thể coi là tổng thể nhưng nét riêng biệt tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội, của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những
Trang 28lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng” [47]
Với định nghĩa của UNESCO thì văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Định nghĩa được xem như là tiêu chí để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác bằng căn cứ vào bản sắc của cộng đồng thể hiện qua đời sống vật chất, tinh thần Tuy nhiên định nghĩa này cũng chưa đề cập hết được đặc trưng cơ bản của văn hóa
Văn hóa là một khái niệm hết sức phong phú, phức tạp, nhiều đặc trưng song cơ bản vẫn nổi lên bốn đặc trưng sau: tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử Dựa vào bốn đặc trưng cơ bản trên có thể định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất
và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác với môi trường tự nhiên – xã hội của mình” [37] Có thể nói đây là khái niệm khá hoàn chỉnh Căn cứ vào khái niệm này ta có thể hiểu văn hóa dân tộc (Việt Nam) như sau:
Văn hóa dân tộc Việt là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do người Việt sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác mới môi trường
tự nhiên xã hội của mình
Từ hiểu rõ khái niệm văn hóa dân tộc, chúng ta cần xác định các thành tố của văn hóa Trên cơ sở đó xác định nội dung cần giáo dục ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc cho học sinh trong dạy học
Trước hết với khái niệm văn hóa của Hồ Chí Minh, Người đã chỉ ra các thành tố văn hóa sau: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, các công cụ phục vụ cho sinh hoạt hoàn ngày và các
Trang 29phương thức sử dụng còn định nghĩa của UNESCO xác định các yếu tố: nghệ thuật; văn chương; lối sống; những quyền cơ bản của con người; hệ thống các giá trị; tập tục; tín ngưỡng… Nhìn chung cả hai khái niện trên đã chỉ ra tương đối đầy đủ các thành tố văn hóa Trên cơ sở xem xét các quan niệm về văn hóa, giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam đã chỉ rõ cụ thể 15 thành tố sau: “Ngôn ngữ, nghề thủ công; sân khấu tuồng, chèo; lễ hội; nghệ thuật âm thanh; phong tục tập quán; tín ngưỡng, tôn giáo; nghệ thuật tạo hình; lối sống; nhiếp ảnh, điện ảnh; văn chương; Mass media; thông tin, tín hiệu; kiến trúc; nghệ thuật trình diễn”[47]
“Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể các giá trị đặc trưng của văn hóa, được hình thành, tồn tại và phát triển trong suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc ta Các giá trị đặc trưng mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muồn nhận biết nó phải thông qua vô vàn các sắc thái văn hóa với tư cách là sự biểu hiện của bản sắc văn hóa ấy Nếu bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể, bộc lộ khả biến hơn” [45]
Từ quan niệm như vậy tác giả đưa ra một số nét tiêu biểu của bản sắc văn hóa Việt Nam như sau:
Thứ nhất: điểm nổi bật của bản sắc văn hóa Việt Nam là tinh thần yêu nước, hơn nữa nó trở thành chủ nghĩa yêu nước, hơn thế nữa nó trở thành chủ nghĩa yêu nước, yếu tố cốt lõi của hệ tư tưởng Việt Nam Một trong những sắc thái biểu hiện của nó là lòng yêu nước, chủ nghĩa yêu nước đã được linh thiêng, tâm linh hóa thành thứ tín ngưỡng
Thứ hai: bản sắc văn hóa đó là tính cộng đồng Văn hóa làng là một
mô thức thể hiện văn hóa dân tộc mang tính đặc thù ấy, nó gắn liền với môi trường sinh thái của làng, dân cư, truyền thống lịch sử từ đó hình thành nên hệ thống các đặc trưng về nếp sống, tâm lý, tín ngưỡng, phong tục và lễ hội, các
Trang 30sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại, các hoạt động văn hóa nghệ thuật… Đặc biệt hội làng là hiện tượng văn hóa tiêu biểu, thể hiện sức mạnh cố kết của cộng đồng làng xã Ngoài ra, các mô thức văn hóa mang tính đặc thù khác gắn với từng nghề nghiệp, tôn giáo tín ngưỡng, cộng đồng dân cư… cùng góp phần bảo tồn tính đa dạng phong phú của văn hóa Việt
Thứ ba: một nét bản sắc của văn hóa và của con người Việt, đó là tính cởi mở, năng tiếp nhận và dễ hòa nhập để từ đó bản địa hóa các nhân tố ngoại lai
Thứ tư: bản sắc văn hóa còn được biểu hiện ở là lối ứng xử trọng tình thương và đạo lý của người Việt Nó được thể hiện trong các nguyên tắc sống
“Thương người như thể thương thân”; “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ
kẻ trồng cây”; “Tay đứt ruột xót”
Trong công trình “Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam” (1980), GS.Trần Văn Giàu đã trình bày kỹ 7 giá trị tinh thần truyền thống: yêu nước; cần cù; anh hùng; sáng tạo, lạc quan; thương người; vì nghĩa Trong đó, chủ nghĩa yêu nước được tác giả xem là giá trị hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên xuốt toàn bộ lịch sử dân tộc
GS Trương Chính trong bài “Tìm hiểu những giá trị tinh thần của người Việt Nam”, cũng nói đến 5 giá trị: tinh thần yêu nước; tinh thần dân tộc; cần cù và thông minh; trọng đạo lý tình người; lạc quan yêu đời; tin tưởng ở tương lai
Căn cứ vào việc tìm hiểu nội hàm khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa và các thành tố văn hóa, chúng ta có thể xác định những nội dung cụ thể của văn hóa dân tộc Việt Nam như sau:
- Lòng yêu nước, chủ nghĩa yêu nước
- Ý thức đoàn kết, ý thức cộng đồng (cá nhân gắn kết với gia đình, làng xã – Tổ Quốc)
Trang 31- Lòng nhân ái khoan dung, trọng tình nghĩa đạo lý
- Đức cần cù, sáng tạo trong lao động
- Sự tinh tế trong ứng xử
- Lối sống chuẩn mực, lành mạnh
- Các công trình kiến trúc, di tích lịch sử - văn hóa – cách mạng
- Các nghề truyền thống; công cụ lao động và phương thức sử dụng
- Lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán
- Văn hóa, nghệ thuật (nghệ thuật sân khấu, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật trình diễn…)
Hoặc chúng ta có thể xác định khái quát nội dung văn hóa trong 4 mặt sau:
- Các thành tựu văn hóa vật chất như: văn vật, cảnh quan, kiến trúc
- Các thành tựu văn hóa nhận thức như: nhân sinh quan, thế giới quan triết học, mỹ học, văn hóa, nghệ thuật…
- Các thành tựu của văn hóa ứng xử bao gồm các thang giá trị trong cách ứng xử với tự nhiên và ứng xử với con người, gia đình, xã hội…
- Các thành tựu văn hóa tổ chức đời sống bao gồm các thang giá trị trong cách tổ chức đời sống gia đình, cộng đồng, xã hội… [45 - 47]
* Giữ gìn văn hóa dân tộc:
Theo đại từ điển tiếng Việt “giữ gìn” có nghĩa là bảo quản, giữ cho nguyên vẹn Với nghĩa này thì giữ gìn văn hóa dân tộc là bảo quản, giữ nguyên vẹn các giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc
Muốn giữ gìn văn hóa dân tộc cần phải có con người chuyển tải nền văn hóa Bởi vì: “Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, vừa sản phẩm của văn hóa Với tư cách là sản phẩm của văn hóa, con người là một vật mang văn hóa tiêu biểu Các giá trị văn hóa vật chất có thể mất đi, nhưng nếu con người – vật mang văn hóa còn thì nền văn hóa vẫn tiếp tục tồn tại và phát
Trang 32triển” [37] và con người ở đây không phải ai khác chính là học sinh – chủ nhân tương lai của đất nước Chính vì vậy một trong những nhiệm vụ của trường phổ thông là giáo dục các em có ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc Nghĩa
là làm cho các em hiểu biết, nhận thức, dần dần thấm đượm nét văn hóa của dân tộc trong mình, để cho nền văn hóa ây luôn tồn tại và phát triển qua quá trình phát triển của lịch sử
Tuy nhiên cũng cần phải hiểu: văn hóa không phải là hiện tượng cố định bất biến, bởi vì bản thân văn hóa đã bao hàm trong nó sự giao tiếp, sự trao đổi, sự học hỏi lẫn nhau Văn hóa không chấp nhận sự bài ngoại, sự đóng cửa tự túc, sự biệt lập không gian, tự giam hãm mình và tự giới hạn mình ở truyền thống Nếu không giao lưu, tiếp thu, chấp nhận những sắc thái khác với mình để làm giàu cho chính mình thì không khác gì tự chặn đường bít lối
đi lên của mình, nghĩa là tự hủy diệt Như thế, việc giáo dục ý thức giữ gìn văn hóa dân tộc cho học sinh không chỉ là giữ nguyên vẹn, mà trên cơ sở truyền thống tiếp thu những cái mới phù hợp với thời đại, nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc
Như vậy, “giữ gìn văn hóa dân tộc” ở đây không chỉ là giữ nguyên các giá trị văn hóa của cha ông xưa, mà còn phải học tập những tinh hoa văn hóa nhân loại làm giàu văn hóa dân tộc, nhưng luôn luôn giữ bản sắc riêng của mình
1.3.5 Nền giáo dục mang đậm bản sắc dân tộc
Xưa nay giáo dục và văn hóa là hai lĩnh vực xã hội luôn gắn bó với nhau Có giáo dục mới có văn hóa, và chính văn hóa nâng cao giá trị của giáo dục Nếu nhà trường chỉ chú trọng đến dạy chữ, đối phó với thi cử thì chất lượng đào tạo nhà trường không cao, quan hệ quản lý và bị quản lý, quan hệ thầy và trò chỉ dừng lại ở quan hệ hành chính, thiếu tính nhân văn, giáo dục thoát ly văn hóa
Trang 33Nền giáo dục mang đậm bản sắc dân tộc là nền giáo dục mà ở đó nhà trường thể hiện sâu sắc hệ thống giá trị văn hóa dân tộc thông qua mục tiêu đào tạo, cơ cấu tổ chức quản lý và đánh giá quá trình giáo dục
Mục tiêu đào tạo của nhà trường là đào tạo con người Việt Nam
có phẩm chất đạo đức, có trí tuệ, có sức khỏe, thẩm mĩ và lao động Nội dung giáo dục thể hiện sâu sắc lịch sử, văn hóa dân tộc, đặc biệt là ở các môn khoa học xã hội như Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân và hoạt động ngoại khóa của nhà trường Phương pháp đào tạo là nhà trường gắn liền với gia đình, xã hội; phải kết hợp học với hành
Trong công tác quản lý, đánh giá phải căn cứ vào chuẩn mực văn hóa của dân tộc làm thước đo đánh giá học sinh, thúc đẩy giáo viên và học sinh tích cực dạy và học theo định hướng của mục tiêu đào tạo Và, đặc biệt là tập thể sư phạm nhà trường phải đoàn kết thống nhất về những giá trị văn hóa của dân tộc được thể hiện trong nhà trường để giáo dục học sinh bằng cả một hệ thống giá trị
Khi nói đến việc xây dựng nhà trường mang đậm bản sắc dân tộc không có nghĩa là khép kín, không tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đó là một điều kiện để cập nhật, bổ sung, nâng cao văn hóa dân tộc trong thời đại mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp nói đến tính dân tộc như là một tiêu chí đầu tiên của nhà trường – của nền giáo dục nước ta Hồ Chủ Tịch tuyên bố: Nền giáo dục mới của chúng ta là “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” -
“nền giáo dục của một nước độc lập”, do vậy việc dạy học tiếng Việt, văn học Việt, lịch sử và địa lý Việt Nam là rất quan trọng
Nền giáo dục của chúng ta, nhà trường của chúng ta phải giáo dục và
tự giáo dục ra những con người Việt Nam với tâm hồn “đậm bản sắc dân tộc”, luôn luôn nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, “yêu nước nồng nàn, tự hào, tự tôn
Trang 34dân tộc và khát vọng mãnh liệt”, thế hệ nối tiếp thế hệ , tiếp bước cha anh, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo vệ Tổ quốc (các chữ trong “ ”
là trích từ “Kết luận của Bộ chính trị”) [32,6]
Trong tình hình hội nhập – giao lưu quốc tế đa phương ngày càng mở rộng, phong phú hơn trước, nhưng cũng phức tạp hơn nhiều, „Kết luận” đã chỉ rõ: “… giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận nền giáo dục tiên tiến thế giới”
Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quyền, trong quan niệm về xây dựng nền
giáo dục Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc thì tính hiện đại của nền
giáo dục Việt Nam phải được hiểu theo hai khía cạnh: kiến thức khoa học và tính nhân văn của nền giáo dục
Tính dân tộc của nền giáo dục không nên hiểu theo nghĩa hẹp là
không giao lưu, hội nhập và tiếp thu khoa học giáo dục hiện đại, mà phải hiểu theo nghĩa rộng hơn là: biết tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới để làm giàu và làm mới văn hóa Việt Nam Tính dân tộc không chỉ biểu hiện ở việc bảo vệ, lưu giữ những giá trị tinh hoa về văn hóa truyền thống mà chủ yếu đào tạo ra những công dân Việt Nam không chỉ có lòng yêu nước mà còn có trách nhiệm cao với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Tính dân tộc không phải là tính bảo thủ, tính khép kín mà là biết đặt quyền lợi quốc gia dân tộc và lợi ích của nhân dân lên trên hết
Tính dân tộc trong tổ chức và QLGD cần được hiểu là giữ vững tính
tự chủ và chủ quyền trong giáo dục, không để cho các tổ chức nước ngoài biến Việt Nam thành “thị trường” kiếm lời và “xuất cảng” lối sống [32,92]
Tóm lại tính dân tộc không mâu thuẫn với mở cửa và hội nhập mà ngược lại, càng giữ được tính dân tộc và chủ quyền trong giáo dục thì càng có bản lĩnh vững vàng để hội nhập, giao lưu rộng hơn với thế giới văn minh
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC, GIỮ GÌN PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG CÁC TRƯỜNG QUỐC TẾ
Ở góc độ quản lý có thể phân chia các trường có yếu tố nước ngoài hiện nay thành ba nhóm cơ bản:
Thứ nhất, trường quốc tế do tổ chức nước ngoài hoặc nhà đầu tư trong nước đầu tư, đào tạo theo chương trình nước ngoài Nhóm này có 2 loại hình: Một là có nhận học sinh Việt Nam và hai là các trường thuộc lãnh sự quán các nước chỉ đào tạo cho học sinh mang quốc tịch nước họ Nhóm này học sinh tốt nghiệp nhận văn bằng chứng chỉ của quốc gia cung cấp chương trình
Thứ hai, trường do tổ chức nước ngoài hoặc trong nước đầu tư, đào tạo theo chương trình của Bộ GD&ĐT Việt Nam Song song đó trường tổ chức dạy học cả ngày cho học sinh theo phương pháp dạy học tiên tiến của thế giới với cơ sở vật chất tốt hơn các trường ngoài công lập khác Trong đó,
về kiến thức nhà trường tăng cường môn tin học, ngoại ngữ và các môn năng khiếu như nhạc, hoạ Dạy song ngữ (Trường Song ngữ Quốc tế Horizon) hoặc buổi chiều dạy theo chương trình tiểu học của Anh (Tiểu học Quốc tế, tiểu học Việt Úc…) Nhóm này học sinh tốt nghiệp nhận văn bằng, chứng chỉ
Trang 36của Bộ GD&ĐT Việt Nam cùng với 1 văn bằng chứng chỉ của các tổ chức giáo dục nước ngoài có giá trị tương đương chương trình phổ thông quôc tế
Thứ ba là dạng trường do trong nước đầu tư, thực hiện đào tạo song ngữ, đa số là công lập nhưng thu học phí cao Theo đó một buổi học chương trình theo quy định của Bộ Gíao dục và đào tạo và buổi còn lại được thiết kế theo khung chuẩn nước ngoài (trường trung học phổ thông Lê Quý Đôn, trường trung học phổ thông Việt Úc…)
2.1.2 Trường quốc tế
Trong 3 nhóm đó thì trường quốc tế là trường đào tạo theo chương trình nước ngoài hoàn toàn, chương trình được quốc gia cung cấp chương trình công nhận và nhiều nước trên thế giới công nhận
Sau khi kết thúc quá trình đào tạo, người học được cấp văn bằng chứng chỉ có giá trị tại quốc gia cung cấp chương trình và trên bình diện quốc tế
Nếu xét theo cách phân loại này thì đến tháng 9.2010 tại TP.HCM có
25 trường đạt yêu cầu là trường quốc tế giảng dạy hoàn toàn bằng chương trình nước ngoài Trong đó có 4 trường hoàn toàn chỉ phục vụ cho con em người có quốc tịch của quốc gia đó đang học tập, công tác tại TP.HCM gồm: Trường Đài Bắc (thuộc Văn phòng Kinh tế Văn hoá Đài Bắc); Trường Nhật Bản (thuộc Lãnh sự quán Nhật Bản), Trường Hàn Quốc (thuộc Lãnh sự quán Hàn Quốc), Trường Colette Pháp (thuộc Lãnh sự quán Pháp)
21 trường còn lại có 13 trường tiểu học hoặc phổ thông trong đó có bậc tiểu học
Theo báo cáo của Sở GD&ĐT TP.HCM tháng 6 năm 2010 gởi Bộ GD&ĐT thì năm học 2009 – 2010, các trường phổ thông quốc tế đã tiếp nhận 9.623 học sinh trong đó có 3.558 học sinh Việt Nam và 6065 học sinh nước ngoài Tổng số giáo viên là 1.441 trong đó số lượng giáo viên nước ngoài là
866 và giáo viên Việt Nam là 575 Theo khảo sát thực tế thì trong số này, số
Trang 37học sinh Việt Nam (bao gồm cả học sinh gốc Việt có bố hoặc mẹ là người Việt Nam) đang học bậc tiểu học quốc tế là trên dưới 1.800 em
Các trường phổ thông quốc tế đóng góp vào sự phát triển của thành phố bằng cách cung cấp giáo dục quốc tế cho con em người nước ngoài đang làm việc và một số bộ phận người Việt Nam có điều kiện kinh tế và thu hút đầu tư vào giáo dục cũng như các lĩnh vực khác Phương pháp quản lý và dạy học tại các trường phổ thông quốc tế mang tính hiện đại, góp phần thúc đẩy chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp giảng dạy và đào tạo nguồn nhân lực của thành phố Ngoài ra, học sinh Việt Nam được học tập trong một môi trường quốc tế đa văn hóa
Bảng 2.1:Tỷ lệ trường tiểu học dạy hoàn toàn bằng chương trình nước ngoài so với hệ thống trường tiểu học tại TP.HCM hiện nay
Việc cấp phép thành lập các trường quốc tế hiện nay còn chưa thống nhất, có nhiều đầu mối Có trường do Bộ Kế hoạch - đầu tư và Bộ GD&ĐT cấp phép, có trường do Uỷ ban nhân dân TP.HCM cấp phép
Trang 38Bảng 2.2: Tỷ lệ các cơ quan cấp phép thành lập trường tiểu học dạy hoàn toàn bằng chương trình nước ngoài tại TP.HCM hiện nay
2.1.3 Thực trạng về việc giảng dạy, chương trình tiểu học tại các trường tiểu học quốc tế
Các trường phổ thông quốc tế được phép thí điểm đào tạo học sinh Việt Nam thực hiện chương trình nước ngoài được tổ chức theo chuẩn quốc
tế, được kiểm định và đánh giá bởi các tổ chức giáo dục quốc tế
Bảng tỉ lệ các chương trình tiểu học hiện đang giảng dạy:
Chương trình giáo dục thuộc quốc gia Số
2.1.3.1 Về thực hiện chương trình Việt Nam cho học sinh Việt Nam:
Các trường phổ thông quốc tế được phép thí điểm đào tạo học sinh Việt Nam theo các yêu cầu của giấy phép do Bộ GD&ĐT cấp Các trường
Trang 39đều giảng dạy các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý và Giáo dục công dân theo quy định chương trình của Bộ GD&ĐT Tuy nhiên, việc thực hiện giảng dạy chương trình Việt Nam cho học sinh Việt Nam có những vấn đề như sau [41-42]:
- Một số trường quốc tế tại TP.HCM xem việc thực hiện giảng dạy chương trình Việt Nam các môn học Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân là các môn học ngoại khóa Một số ít trường có số tiết giảng dạy ít hơn yêu cầu của Bộ GD&ĐT Vì vậy, kết quả học tập không dùng để đánh giá, xếp loại học sinh Các môn học này không được quan tâm đúng mức nên học sinh ít được kiểm tra, giáo viên không phải là cơ hữu nên không được tham gia các khóa học bồi dưỡng chuyên môn Kết quả học tập đánh giá cuối năm học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, và Giáo dục công dân của một số học sinh Việt Nam không đạt yêu cầu Một số trường chỉ chú trọng việc dạy ngoại ngữ mà không dạy tiếng Việt cho học sinh Việt Nam đã làm cho một bộ phận trẻ em sử dụng tốt ngoại ngữ tốt hơn tiếng Việt
- Các trường phổ thông quốc tế có những chương trình giáo dục học sinh văn hóa truyền thống Việt Nam nhưng không được tổ chức thường xuyên
để giáo dục học sinh
- Một bộ phận không nhỏ phụ huynh học sinh không quan tâm đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của con em mà chỉ quan tâm đến việc học ngoại ngữ và chương trình nước ngoài Tuy vậy, để giúp sử dụng tốt tiếng Việt, một số phụ huynh đã cho con em học phụ đạo tiếng Việt
2.1.3.2 Về học sinh và chất lƣợng đào tạo
- Học sinh theo học các trường phổ thông quốc tế là những con em người nước ngoài đầu tư và làm việc tại Việt Nam, đồng thời có một bộ phận
là con em người Việt Nam có điều kiện kinh tế Số học sinh trong mỗi lớp ít (bình quân dưới 20 học sinh/lớp), chương trình nước ngoài nhẹ nhàng ít môn