1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp quản lý góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường trung học phổ thông mường lát, huyện mường lát, tỉnh thanh hoá

85 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 730,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục và đào tạo ở nước ta trong những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn đó là: “Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập

Trang 1

Những xu thế chung nêu trên đã tạo ra những yêu cầu mới và tạo ra sự biến đổi nhanh chóng, sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực hoạt động toàn cầu, trong đó có giáo dục Từ các yêu cầu mới về phát triển KT – XH toàn cầu, dẫn đến những yêu cầu mới về mẫu hình nhân cách người lao động mới (người công dân toàn cầu), tiếp tục dẫn đến những yêu cầu mới về chất lượng

và hiệu quả giáo dục UNESCO đã đưa ra 4 trụ cột của học tập trong giáo dục: “Học để biết; Học để làm; Học để cùng chung sống; Học để tồn tại” Trách nhiệm đối với các yêu cầu của thời đại về lực lượng lao động phần lớn thuộc về giáo dục, bởi lẽ giáo dục giữ vai trò trọng trách trong việc xây dựng và phát triển nhân cách người lao động không những cho mỗi cộng đồng, cho từng quốc gia mà còn cả trên bình diện quốc tế Nói cách khác là phải tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ tính tất yếu và sự cần thiết trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục phổ thông nói riêng, thể hiện thông qua những lần cải cách giáo dục (1950, 1956, 1979), thông qua những quan điểm chỉ đạo trong các văn kiện Đại hội Đảng (V, VI, VII, VIII, IX, X), thông qua Hiến pháp, Luật về giáo dục, thông qua chiến lược phát triển giáo dục các giai đoạn (2001 – 2010; 2010 - 2020)

Chất lượng giáo dục hiện nay đang là vấn đề được mọi người quan tâm

Để thực hiện được sứ mệnh trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam,

Trang 2

2 giáo dục và đào tạo phải phấn đấu để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và coi đó là nhiệm vụ hàng đầu hiện nay

Giáo dục và đào tạo ở nước ta trong những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn đó là: “Quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở giáo dục được phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội; chất lượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đã có tiến bộ; tất cả các tỉnh, thành phố trong

cả nước đã được công nhận chuẩn quốc gia về xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và đang phổ cập giáo dục trung học cơ sở; công tác xã hội hóa giáo dục và việc huy động nguồn lực cho giáo dục đã đạt được những kết quả bước đầu; công bằng xã hội trong giáo dục đã được cải thiện; công tác quản lý giáo dục đã có nhiều chuyển biến” [11]

Mặc dù đã đạt được một số thành tựu cơ bản nhưng giáo dục ở nước ta vẫn còn những bất cập và yếu kém: Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân chưa đồng bộ, thiếu tính liên thông giữa các cấp học và các trình độ đào tạo; chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, nhất là giáo dục ở các vùng miền núi, ven biển, vùng sâu, vùng xa Giáo dục nước ta còn nhiều yếu kém so với các nước trên thế giới và một số nước trong khu vực, sự chênh lệch về chất lượng giữa nông thôn và thành thị, giữa miền xuôi và miền núi còn quá lớn, chậm được khắc phục Trong giáo dục chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao chất lượng

Để có nguồn lực lao động đạt được cả về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu hiện nay thì nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của giáo dục đó là:

“Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo”

Bản thân là một cán bộ quản lý giáo dục công tác lâu năm ở huyện miền núi Mường Lát của tỉnh Thanh Hóa Chúng tôi nhận thấy rằng: Giáo dục THPT tỉnh Thanh Hóa nói chung và giáo dục THPT huyện Mường Lát nói riêng trong những năm qua đã có nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên vẫn còn

Trang 3

3 bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục hiện nay, thể hiện ở một số vấn đề như sau:

- Chất lượng giáo dục đại trà còn quá thấp so với mặt bằng chung của tỉnh (tỷ lệ học sinh đạt giải thi học sinh giỏi các môn văn hóa cấp tỉnh và thi

đỗ vào các trường ĐH, CĐ, THCN còn quá thấp, kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tham gia hoạt động xã hội còn yếu và hạn chế)

- Việc thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học của một bộ phận giáo viên chưa có hiệu quả

- Hoạt động của các tổ nhóm chuyên môn còn hạn chế

- Công tác giáo dục NGLL hiệu quả còn thấp

Về lâu dài, nếu không có những giải pháp phù hợp, kịp thời sẽ dẫn đến giáo dục THPT ở Mường Lát trì trệ và khó phát triển Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục ở Mường Lát hiện nay? Vấn đề này đang là mối quan tâm lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh và huyện Để làm được điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cấp, các ngành, các đoàn thể và các địa phương, sự cố gắng nổ lực, khắc phục khó khăn của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và học sinh, đặc biệt là từng cá nhân trong ngành giáo dục, các cơ sở giáo dục phải nghiên cứu và có những giải pháp phù hợp trong việc nâng cao chất lượng giáo dục

Năm học 2009 – 2010 và năm học 2010 – 2011 Ngành Giáo dục và Đào tạo đã và đang thực hiện chủ đề năm học “Đổi mới quản lý nâng cao chất lượng giáo dục” Điều đó đã thể hiện tính cấp thiết của vấn đề chất lượng giáo dục hiện nay và đây cũng như là những giải pháp bước đầu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Với mong mỏi được đóng góp ít ỏi kiến thức và tâm huyết của mình vào sự nghiệp giáo dục của huyện nhà, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, thể hiện rõ vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, chúng tôi chọn đề tài

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

3 Nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận trong việc nâng cao chất lượng THPT 3.1.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục ở trường THPT Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

3.1.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trường THPT Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

5 Giả thuyết khoa học

Chất lượng giáo dục ở trường THPT Mường Lát sẽ được nâng cao hơn, nếu áp dụng một cách linh hoạt, sang tạo và đồng bộ các giải pháp được tác

Trang 5

5 giả đề xuất trong đề tài nghiên cứu Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng ở các trường có đặc điểm, hoàn cảnh tương tự

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp chính sau:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tìm hiểu các khái niệm, thuật ngữ có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu các văn bản, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục, của Tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa về giải pháp nâng cao chất lượng giáo giáo dục ở trường THPT

- Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm, các công trình nghiên cứu về giải pháp nâng cao chất lượng có liên quan đến đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát (hoạt động dạy và học của giáo viên, học sinh)

Trang 6

6

+ Vận dụng được các giải pháp vào thực tiễn của nhà trường

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục nghiên cứu,

luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT

Chương 2: Thực trạng chất lượng giáo dục ở trường THPT Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Mường Lát, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa

Trang 7

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan của vấn đề nghiên cứu

Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hầu như các quốc gia phát triển đều đặt vấn đề cải cách giáo dục nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đủ sức cạnh tranh với nước khác Nhiều quốc gia còn nêu, phải đặt quan tâm đến giáo dục "cơ bản" Ngày nay vấn đề nhân lực đã trở thành yếu tố cơ bản, quyết định đối với sự phát triển, thịnh vượng và trường tồn của mỗi quốc gia Nhận thức được điều đó nên tất cả các nước đều mong muốn có một nguồn nhân lực lao động đông về số lượng, mạnh về chất lượng Do vậy vai trò của

GD đã được đặt lên vị trí đặc biệt quan trọng

1.1.1 Trên Thế giới

Ở Trung Quốc, đã ban hành một hệ thống các luật và văn bản dưới luật liên quan đến giáo dục tương đối hoàn chỉnh, bao quát nhiều vấn đề, làm nền tảng pháp lý cho công tác quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gồm:

- Luật giáo dục

- Quy định về các loại bằng cấp học vấn

- Luật giáo dục bắt buộc 9 năm

- Luật khuyến khích giáo dục tư thục

- Luật giáo viên

- Luật giáo dục hướng nghiệp

- Luật giáo dục đại học

Trung Quốc cũng đã nhiều lần cải cách giáo dục cho phù hợp với điều kiện của đất nước và xu hướng phát triển trong tương lai Hội nghị quốc gia

về giáo dục tháng 5/1985 công nhận năm lĩnh vực cơ bản của cải cách được

Trang 8

8 thảo luận đề cập đến việc thực hiện “Đề cương cải cách hệ thống giáo dục” của Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Trung Quốc Một trong năm lĩnh vực cải cách là nhằm:

+ Nâng cao chất lượng giáo dục trung học, phát triển giáo dục kỹ thuật

và hướng nghiệp [27]

Giáo dục của Singapore, quá trình phát triển từ 1959 đến nay được chia

ra làm nhiều giai đoạn với những phương châm cải cách giáo dục riêng Các giai đoạn cải cách giáo dục Singapore có thể được chia thành 4 giai đoạn như sau:

+ Giáo dục để tồn tại (1959 - 1978), giai đoạn chính phủ còn non trẻ phải xây dựng một nền giáo dục đại chúng để đáp ứng nhu cầu cấp bách là gắn kết quốc gia và phát triển kinh tế

+ Giáo dục lấy hiệu quả làm động lực (1979 - 1996)

+ Giáo dục lấy năng lực làm động lực (1997 - 2005), thế giới có những biến đổi lớn với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu hóa Tầm nhìn cho học sinh ra trường là trở thành những người không những biết đọc biết viết và biết tính toán mà còn có năng lực về công nghệ thông tin và kỹ năng giải quyết các vấn đề phức tạp của cuộc sống + Giáo dục lấy đổi mới làm động lực (từ 2006), từ năm 2006, Singapore

đã tiến hành những thay đổi ở tất cả các bậc học trong bối cảnh nền kinh tế tri thức với phương châm hướng đến chất lượng cao trong giáo dục [27]

Nhật Bản có nền giáo dục thu hút sự chú ý của cả thế giới vì giáo dục Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ góp phần quan trọng vào những thành công đáng ngạc nhiên về kinh tế và khoa học kỹ thuật Một trong tám đặc điểm nổi bật của giáo dục Nhật Bản là:

+ Các kỳ thi tuyển sinh thống nhất được xem trọng để tuyển đầu vào có chất lượng ở cả bậc phổ thông và đại học

Trang 9

9 Báo cáo năm 2006 của Tổ chức kinh tế hợp tác và phát triển (OECD) về giáo dục nhận xét: Nhật Bản là nước đứng đầu trong nhóm các nước có tỷ lệ cao về số lượng lẫn chất lượng của số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông

có việc làm [27]

Ở Anh, chất lượng giáo dục được đánh giá qua kết quả các bài kiểm tra,

và các nhà giám sát giáo dục của chính phủ trực tiếp xuống giám sát và tìm ra nguyên nhân dẫn đến chất lượng bài kiểm tra kém của học sinh Những trường có thành tích yếu kém cũng được kiểm tra kỹ: đóng cửa một số trường hoạt động kém hiệu quả, xây dựng lại từ đầu một số trường Chuyên gia giám sát chất lượng giáo dục đi rà soát chất lượng giáo dục của từng trường học ít nhất ba năm một lần, kiểm tra môi trường giảng dạy và năng lực của đội ngũ lãnh đạo trường học và đưa ra gợi ý cần phải sửa đổi [27]

Giáo dục Phần Lan: Ở tất cả các cấp học, GV đều có chất lượng cao, nhiệt huyết và tận tâm Bằng Thạc sĩ và chứng chỉ thực hành sư phạm là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các GV từ tiểu học đến THPT

Chính sách khoa học và giáo dục của Phần Lan nhấn mạnh tới chất lượng, hiệu quả, công bằng và quốc tế hóa Điều đó đẩy mạnh tính cạnh tranh mạnh mẽ của đất nước này Giáo dục và khoa học phát triển làm nền tảng cho kinh tế phát triển Kinh tế phát triển tiếp tục làm cơ sở vững chắc cho văn hóa, xã hội Phần Lan ngày càng thịnh vượng [27]

Năm 1994, Bộ Giáo dục Thụy Điển cho thực hiện cuộc cải cách giáo dục

từ mẫu giáo cho đến hết trung học phổ thông, theo chủ thuyết xây dựng kiến thức (constructivism) kết hợp với việc chuẩn bị cho lực lượng lao động trong nền kinh tế toàn cầu [27]

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam đã xây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới, phục vụ tích cực và có hiệu quả cho công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, cho cách mạng dân tộc, dân

Trang 10

10 chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa, cho công cuộc đổi mới và công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước hiện nay

Nhìn lại đường lối, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước ta từ năm

1945 đến nay qua việc tìm hiểu các văn kiện đại hội Đảng, các hiến pháp, các chỉ thị, nghị định, quyết định, thông tri của Đảng, Quốc hội và Chính phủ cho chúng ta thấy, mục tiêu cuối cùng cũng chính là “nâng cao chất lượng giáo dục” Thông qua 3 lần cải cách giáo dục (1950, 1956, 1979); giai đoạn từ năm

1960 – 197 có 79 chỉ thị, nghị định, nghị quyết về giáo dục; giai đoạn từ 1975 – 1986 có 20 chỉ thị, nghị quyết; giai đoạn từ 1986 đến nay (thời kỳ đổi mới)

đã có hàng trăm chỉ thị, nghị quyết về giáo dục

Nhận thức được vai trò giáo dục đối với sự phát triển của đất nước Đảng

và Nhà nước ta coi "Giáo dục là quốc sách hàng đầu", toàn xã hội phải có ý thức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và mọi người hiểu rằng: Giáo dục ngày nay được coi là nền tảng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần V (27/03/1982) đã chỉ ra: “Vấn đề

lớn nhất hiện nay là chất lượng giáo dục giảm sút nghiêm trọng Không

những chúng ta để giảm sút chất lượng văn hoá, khoa học - kỹ thuật, mà còn buông lỏng việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và đạo đức xã hộ chủ nghĩa cho thế hệ trẻ” Văn kiện cũng chỉ ra rằng: “Nhiệm vụ trong những năm tới là triển khai cải cách giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục một cách tích cực

và vững chắc theo bước đi phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế

quốc dân và phải ra sức phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục”

Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1992), Luật Giáo dục sửa đổi (2005), các báo cáo chính trị tại các kỳ Đại hội Đảng và Chiến lược Phát triển giáo dục giai đoạn 2001 – 2010 và Dự thảo Chiến lược Phát triển giáo dục giai đoạn 2010 – 2020 đã chỉ rõ những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của nước ta Đó là: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục là nền tảng nguồn nhân lực cao, là một trong những động lực quan trọng

Trang 11

11 thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản phát triển

xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ”

Tư tưởng chỉ đạo của Chiến lược Phát triển giáo dục giai đoạn

2001-2010 là khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực; tiếp tục đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ, tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục; phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH, HĐH, chấn hưng đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, nhanh chóng sánh vai cùng với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) khẳng định giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu: “Giáo dục và đào

tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa học, kỹ thuật, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới Nhà nước có chính sách toàn diện thực hiện giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả năng của nền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài Khoa học và công nghệ, giáo dục

và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu”

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) về giáo

dục đào tạo: “… tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh" [11]

- Các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông báo và văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo

Từ 1/1/1998 đến 15/3/2002 về các văn bản quy phạm pháp quy về giáo

dục đào tạo, Quốc hội ban hành 3 văn bản (Luật, Nghị quyết), Chính phủ ban

hành 8 văn bản (Nghị định), Thủ tướng Chính phủ ban hành 40 văn bản

(Quyết định, Chỉ thị) Một số văn bản quan trọng của Đảng, Nhà nước và

Chính phủ:

+ Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số

Trang 12

12 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 + Luật Giáo dục (đã sửa đổi), tháng 6/2005/QH11 ngày 14/06/2005 + Nghị quyết số 40/2000/QH10 ngày 9/12/2000 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông

+ Nghị quyết số 41/2000/QH10 ngày 9/12/2000 về thực hiện giáo dục phổ cập giáo dục trung học cơ sở

+ Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 25/12/2001 về việc phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010

Mục tiêu tổng thể phát triển giáo dục đến năm 2020 là: “Xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển bền vững của đất nước; thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tạo cơ hội học tập cho mọi người và có khả năng hội nhập với nền giáo dục thế giới; đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước bao gồm những người lao động Việt Nam có phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của thời đại, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm

Nâng vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng thế giới, đến năm 2020, số năm đi học bình quân của Việt Nam là khoảng 13, chỉ số giáo dục của Việt Nam (EI) đạt mức khoảng 0,900, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức kkhoảng 0,800”

Một trong các mục tiêu cụ thể về phát triển giáo dục đến 2020 là:

- Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo được nâng cao, tiếp cận được với chất lượng giáo dục của khu vực và quốc tế

Một trong những mục tiêu phát triển giáo dục phổ thông là:

- Đến năm 2010 có 63/63 tỉnh, thành phố đạt chuẩn về phổ cập giáo dục

9 năm Đến 2020 có 80% thanh niên Việt Nam trong độ tuổi đạt trình độ học vấn tương đương trung học phổ thông [5]

Trang 13

13 Quyết định số 83/2008/QĐ – BGDĐT ngày 31/12/2008 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông Trong đó Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông gồm có 7 tiêu chuẩn và 46 tiêu chí

Vấn đề chất lượng giáo dục đã và đang ngày càng thu hút sự chú ý của toàn xã hội Câu hỏi làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đang là trăn trở của những người làm công tác giáo dục cũng như các cơ quan có trách nhiệm và đã từng được bàn bạc, tranh luận sôi nổi trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng và ở các kỳ họp của Quốc hội, được nhắc đi nhắc lại trong nhiều thắc mắc, chất vấn của đông đảo cử tri

Nhiều chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và các công trình nghiên cứu, các bài viết trên các báo, internet… đã đề cập đến vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục nhưng chỉ mang tính định hướng chung chung mà chưa có những giải pháp cụ thể cho từng vùng miền, từng địa phương Huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá là một huyện miền núi đang chậm phát triển về kinh tế - văn hoá - xã hội, là một trong 62 huyện nghèo nhất cả nước hiện nay (theo Nghị quyết 30a của Chính phủ) Chất lượng giáo dục ở đây quá thấp, đời sống dân sinh, dân trí còn nghèo nàn, lạc hậu Vì vậy việc nâng cao chất lượng giáo dục là vô cùng quan trọng, nó quyết định đến vấn đề nâng cao dân trí, xây dựng nguồn nhân lực có tri thức khoa học kỹ thuật Qua việc khảo sát thực trạng giáo dục phổ thông của huyện nhà, vấn đề chúng tôi đặt ra ở luận văn này là tìm ra những giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục ở huyện Mường Lát và đề xuất với các cấp quản lý giáo dục, các cơ quan Nhà nước, địa phương cho phép thực hiện và mang tính khả thi phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà để giáo dục phát triển

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Trường trung học phổ thông

Theo Từ điển Giáo dục học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa:

“Trường THPT, cơ sở giáo dục phổ thông tiếp nối cấp trung học cơ sở và kết

Trang 14

14 thúc bậc trung học, gồm 3 lớp 10, 11, 12 Trường THPT được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường Trường trung học phổ thông do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể Học sinh học hết chương trình trung học phổ thông thi tốt nghiệp đạt yêu cầu thì được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông” [25]

1.2.2 Quản lí và quản lí giáo dục

1.2.2.1 Quản lí

Quản lí, hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức Các hình thức chức năng quản lí bao gồm chủ yếu: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo hoặc lãnh đạo và kiểm tra [25]

1.2.2.2 Quản lí giáo dục

Quản lí Giáo dục là thực hiện việc quản lí trong lĩnh vực giáo dục Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước, do chỗ mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội Tuy nhiên giáo dục thế hệ trẻ vẫn là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực giáo dục cho toàn xã hội Quản lí giáo dục, chủ yếu là quản lí giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Quản lí giáo dục gồm 2 mặt lớn là quản lí nhà nước về giáo dục và quản lí nhà trường và các cơ sở giáo dục khác Quản lí giáo dục là việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở Quản

lí giáo dục còn là một ngành, một bộ môn khoa học có tính liên ngành nhằm vận dụng những khoa học quản lí sao cho phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của các hệ thống giáo dục [25]

Quản lí giáo dục trung học phổ thông, quản lí toàn bộ quá trình giáo dục cấp trung học phổ thông, quá trình được tiến hành theo các hoạt động đa dạng

Trang 15

15 nhằm giúp học sinh bậc THPT hình thành nhân cách, phát triển con người (trên các mặt ý thức, tri thức, kỹ năng, thái độ, hành vi, giá trị vv.) trong những tình huống của cuộc sống

1.2.3 Khái niệm về chất lượng - chất lượng giáo dục và quan niệm của UNESCO về chất lượng

1.2.3.1 Khái niệm chất lượng

Là một khái niệm trừu tượng, khó và hiện có nhiều định nghĩa khác nhau

- Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật, ví dụ: Chất lượng hàng hoá tốt; nâng cao chất lượng học tập Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật khác [26 , 150]

- Chất lượng là mức độ tốt hoặc giá trị; sự xuất sắc, là chất lượng mang nghĩa chung chung; nét đặc thù để phân biệt với các sự vật khác, ví dụ: Một

nét đặc thù của chất Plastic này là nó không bị vỡ

- Chất lượng là một phạm trù triết học được biểu thị cái bản chất nhất của

sự vật, mà nhờ nó có thể phân biệt được vật này và vật khác Chất lượng là đặc trưng khách quan và chung nhất của đối tượng nghiên cứu và được rút ra

từ các tính chất của nó.[26 , 150]

Từ những định nghĩa trên có thể hiểu chất lượng là:

+ Mức độ tốt, sự xuất sắc;

+ Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật;

+ Phạm trù triết học biểu thị cái bản chất nhất của sự vật, mà nhờ đó có thể phân biệt sự vật này và sự vật khác

Tuy nhiên, những định nghĩa trên đây còn mang tính chung, khi xác định chất lượng của một vật, một hiện tượng nào đấy cần phải căn cứ vào mục đích, chức năng, nhiệm vụ của nó để cụ thể hoá những định nghĩa chung chung ấy vào điều kiện cụ thể

Trang 16

16

Ví dụ: Khi đánh giá một công trình nghiên cứu, như đánh giá luận văn Thạc

sỹ thì cái tốt, cái giá trị, cái đặc thù của nó thể hiện ở những điểm sau đây:

+ Có cái mới không? Tính chất, vị trí, phạm vi của cái mới, của sự sáng tạo? + Kết luận rút ra có bảo đảm sự chính xác, độ tin cậy không?

+ Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề có hợp lí không?

+ Có khả năng ứng dụng, cải tạo thực tiễn không?

+ Có khả năng phát triển lí luận không?

Còn khi đánh giá nhà trường, thì tiêu chuẩn, chất lượng lại khác, vì nó có chức năng nhiệm vụ riêng

- Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại là một, gắn bó sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy mô về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là

sự thống nhất của chất lượng và số lượng [24, 419]

- Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật,

sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một

sự vật và phân biệt nó với sự vật khác (Lê Đức Phúc trong bài chất lượng và hiệu quả GD – Nghiên cứu GD 5-1997)

1.2.3.2 Khái niệm chất lượng giáo dục

Trong đời sống hàng ngày khi bàn đến chất lượng giáo dục người ta thường gặp các thuật ngữ chất lượng tốt, chất lượng thấp kém, có chất lượng… Khái niệm chất lượng lúc này được hiểu là sự so sánh kết quả đạt được với mục đích đặt ra trước khi hành động

Chất lượng giáo dục là một khái niệm động Những thay đổi lớn đang diễn ra trên thế giới: Sự toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế, sự gia tăng nhanh

Trang 17

17 chóng quy mô giáo dục, sự phân cấp trong hệ thống quản lý giáo dục, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ… đã tác động thường xuyên đến quan niệm về chất lượng Từ chỗ được đo bằng tri thức đến chỗ đo bằng cả tri thức, thái độ và kỹ năng; thái độ ở đây có thể hiểu là năng lực đối phó với tình huống, năng lực cảm thụ văn hóa và ứng xử trong cuộc sống Từ chỗ đánh giá cao sự tích lũy tri thức của người học, do sự bùng nổ thông tin và tốc độ phát triển theo số mũ của tri thức nhân loại mà người ta bắt đầu coi trọng khả năng thu nhập, phân tích và tổng hợp thông tin để chuyển hóa thành tri thức

Trong Chiến lược Phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010,

đã nêu ra quan điểm chỉ đạo đối với chất lượng giáo dục: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và thẩm

mỹ, phát triển được năng lực cá nhân, đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có ý thức vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

“Chất lượng giáo dục là trình độ và khả năng thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người học và sự phát triển toàn diện của

xã hội…” Như vậy rõ ràng chất lượng và số lượng có liên quan mật thiết với nhau

Với các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu CLGD bao gồm:

+ Số lượng, quy mô của các lực lượng tham gia GD

+ Trình độ đạt được trong quá trình GD (phẩm chất, chuyên môn, nghiệp vụ)

+ Cơ cấu hợp lý (cân đối giữa các vùng miền, nam và nữ, mọi lứa tuổi…)

Như vậy, nếu GD ở đâu được đánh giá là có chất lượng theo chúng tôi ở

đó phải đảm bảo được những vấn đề sau:

Trang 18

18

- Chất lượng của GD phải phù hợp với mục tiêu của GD

Mục tiêu của GD thường được đề ra trên cơ sở: Chủ trương của Đảng, điều kiện và tình hình thực tế của địa phương… Do vậy, tiêu chí đầu tiên để đánh giá CLGD phải căn cứ vào mục tiêu mà GD đề ra

Ví dụ: Nếu chỉ dựa vào tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học của một trường

THPT chuyên trong một tỉnh nào đó cao hơn học sinh của một trường THPT vùng khó cùng tỉnh thì chưa thể đánh giá CLGD của trường nào cao hơn Bởi vì: Trường THPT chuyên kia phải có mục tiêu tỷ lệ học sinh thi đỗ đại học cao hơn trường THPT vùng khó cùng tỉnh

- DG có chất lượng khi “Nó” đảm bảo về số lượng, mạnh về trình độ và đồng bộ về cơ cấu

Chất lượng của GD có liên quan hữu cơ với chất lượng, trình độ và cơ cấu Chúng ta không thể đánh giá một cơ sở GD là có chất lượng khi cơ sở đó không đảm bảo số lượng của lực lượng tham gia GD (học sinh và giáo viên ít,

tỷ lệ không hợp lý); học sinh tốt nghiệp xong mà không đáp ứng được nhu cầu của xã hội

Khái niệm chất lượng giáo dục phổ thông: “Chất lượng giáo dục phổ thông là chất lượng sản phẩm cuối cùng của QTGD phổ thông, đó là chất lượng học vấn của cả một lớp người mà bộ phận lớn vào đời ngay sau khi ra trường, sự kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tạo ra sự chuyển hóa từ lượng sang chất của trình độ dân trí, bộ phận còn lại nhỏ hơn được tiếp nhận vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp, sự kế tiếp của bộ phận này tạo ra sự chuyển hóa từ lượng sang chất của đội ngũ nhân lực có hàm lượng trí tuệ cao với tất cả dấu ấn lên nhân cách của họ, của QTGD phổ thông” [25]

1.2.3.3 Các thành phần chất lượng dưới quan niệm của UNESCO

Khi đề cập đến chất lượng giáo dục, thông thường người ta đề cập đến kết quả học tập của học sinh so với mục tiêu giáo dục của mỗi cấp học Tại

“Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người” được tổ chức tại Dakar,

Trang 19

19 Senegal, tháng 4 năm 2002, UNESCO đã nêu các “thành phần” cấu thành chất lượng như sau (Nguyễn Dương Việt - Các yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục – Thông tin quản lý giáo dục - Trường CBQLGD&ĐT, số 5 - 2003):

a Học sinh khỏe mạnh, được nuôi dưỡng đầy đủ, có động cơ học tập đúng đắn

Đối tượng tác động và cũng là đối tượng hưởng thụ giáo dục (kết quả cuối cùng của quá trình giáo dục) là học sinh Người học - học sinh sẽ không học tập tốt nếu không đủ thể lực Học sinh cũng không thể học tập tốt nếu không có động cơ học tập phù hợp với mục tiêu giáo dục Chính bởi nguyên

lý “lấy người học làm trung tâm”, nên khi xác định các yếu tố cấu thành lượng, trước hết phải xuất phát từ người học - từ học sinh

b Giáo viên có động cơ tốt, được động viên và có năng lực chuyên môn cao

Trong quá trình dạy học, giáo dục, người thầy là yếu tố quyết định của chất lượng giáo dục Về năng lực sư phạm, có thể nêu một số nội dung sau:

- Sự hiểu biết về nội dung môn học;

- Làm chủ được các chiến lược dạy học;

- Hiểu biết về việc đánh giá học sinh;

- Hiểu biết về các nguồn của chương trình (giúp học sinh có các nguồn tài liệu học tập);

- Am hiểu và đánh giá cao sự cộng tác (với học sinh và với đồng nghiệp);

- Khả năng phân tích và phản ánh trong thực tiễn dạy học

Trang 20

e Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thích hợp, dễ tiếp cận (sử dụng)

và gần gũi môi trường

g Môi trường giáo dục, học tập lành mạnh, an toàn, được “bảo vệ” tốt

Môi trường phải có các yếu tố:

- Có nước sạch dùng cho học sinh;

- Dễ tiếp cận các dịch vụ sức khỏe và dinh dưỡng;

- Có nguyên tắc và chuẩn mực hành vi đạo đức;

- Nội dung dạy học và thực hành phải cung cấp đủ tri thức, thái độ, hệ thống, giá trị và kỹ năng sống phù hợp

h Có sự đánh giá thích hợp về môi trường giáo dục, về các quá trình dạy học, giáo dục, về kết quả học tập và khả năng ứng dụng kết quả đó trong thực tiễn

i Quản lý, chỉ đạo theo nguyên tắc tham gia

k Tôn trọng và tham gia vào các hoạt động của cộng đồng cũng như duy trì và phát huy bản sắc văn hóa địa phương

l Các chương trình và thiết chế giáo dục phải có đủ nguồn lực thích hợp

và công bằng, bình đẳng

Không một loại hình giáo dục nào có thể đạt được chất lượng nếu không

đủ nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực) Một nền giáo dục không thể được xem là có chất lượng nếu việc đầu tư không dựa trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng

Trang 21

21

1.3 Vị trí và nhiệm vụ của giáo dục trung học phổ thông

Giáo dục trung học phổ thông quy định thời gian học 3 năm, từ lớp 10 lên lớp 11 và cuối cùng là lớp 12 Là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, nối tiếp cấp trung học cơ sở và có nhiệm vụ hoàn thiện vốn học vấn phổ thông và tạo điều kiện thực hiện các nguyện vọng, phát triển năng lực riêng cho thế hệ trẻ Đây là cấp học vừa trực tiếp tạo nguồn cho bậc học cao đẳng, đại học, chuẩn bị lực lượng có trình độ cao; vừa góp phần quan trọng vào việc đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp lao động sản xuất phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Chính vì vậy các trường THPT một mặt cần chuẩn bị cho thế hệ trẻ những tri thức và kỹ năng về các khoa học cơ bản, cần cung cấp cho HS những hiểu biết thông thường về nghề nghiệp cần thiết để

họ có thể tiếp tục được đào tạo tiếp theo hoặc giúp họ định hướng đúng đắn

về công việc, nghề nghiệp trong tương lai

Tại Điều 2 - Điều lệ của Trường trung học (ban hành theo Quyết định số 23/2000/QĐ – BGD&ĐT ngày 11/07/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã quy định vị trí của trường THPT như sau: “Trường THPT là cơ sở giáo dục của cấp THPT, cấp học nối tiếp cấp THCS thuộc bậc trung học của hệ thống giáo dục quốc dân” [1]

1.4 Một số thành tố có liên quan đến chất lƣợng giáo dục

Giáo dục là một hệ thống gồm nhiều thành tố khác nhau như: Trình độ quản lí; đội ngũ giáo viên; học sinh; nội dung, phương pháp; cơ sở vật chất (trong đó có ngân sách); môi trường vv Như vậy, giả sử nếu có nhiều tiền thì chưa chắc đã giúp cải thiện được chất lượng của toàn hệ thống vì chất lượng giáo dục không chỉ phụ thuộc vào tài chính mà còn phụ thuộc vào chất lượng của các yếu tố khác nữa

1.4.1 Chất lượng hoạt động của nhà trường

Quyết định số 83/2008/QĐ – BGDĐT ngày 31/12/2008 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định

Trang 22

22 chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông Trong đó Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trung học phổ thông gồm có 7 tiêu chuẩn và 46 tiêu chí Các tiêu chuẩn, tiêu chí này đã thể hiện rõ các mặt hoạt động của nhà trường, thông qua đó để đánh giá chất lượng

Tiêu chuẩn 1.Chiến lược phát triển của trường trung học phổ thông

1 Chiến lược phát triển của nhà trường được xác định rõ ràng, phù hợp mục tiêu giáo dục phổ thông được quy định tại Luật Giáo dục và được công

bố công khai

2 Chiến lược phát triển phù hợp với các nguồn lực của nhà trường, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và định kỳ được rà soát, bổ sung, điều chỉnh

Tiêu chuẩn 2: Tổ chức và quản lý nhà trường

1 Nhà trường có cơ cấu tổ chức bộ máy theo quy định tại Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (sau đây gọi là Điều lệ trường trung học) và các quy định hiện hành khác do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

2 Thủ tục thành lập, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động của Hội đồng trường được thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 Hội đồng thi đua và khen thưởng, Hội đồng kỷ luật đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh trong nhà trường có thành phần, nhiệm vụ, hoạt động theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và quy định khác của pháp luật

4 Hội đồng tư vấn khác do Hiệu trưởng quyết định thành lập, thực hiện các nhiệm vụ do Hiệu trưởng quy định

5 Tổ chuyên môn của nhà trường hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định

6 Tổ văn phòng của nhà trường (tổ Giáo vụ và Quản lý học sinh, tổ Quản trị và Đời sống, các bộ phận khác đối với trường phổ thông dân tộc nội

Trang 23

23 trú cấp tỉnh, trường phổ thông dân tộc nội trú trực thuộc bộ) hoàn thành các nhiệm vụ được phân công

7 Hiệu trưởng có các biện pháp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch dạy và học các môn học và các hoạt động giáo dục theo quy định tại Chương trình giáo dục trung học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

8 Hiệu trưởng có các biện pháp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy thêm, học thêm và quản lý học sinh nội trú (nếu có)

9 Nhà trường đánh giá, xếp loại hạnh kiểm của học sinh theo Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo

10 Nhà trường đánh giá, xếp loại học lực của học sinh theo Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo

11 Nhà trường có kế hoạch và triển khai hiệu quả công tác bồi dưỡng, chuẩn hoá, nâng cao trình độ cho cán bộ quản lý, giáo viên

12 Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong nhà trường theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

13 Nhà trường thực hiện quản lý hành chính theo các quy định hiện hành

14 Công tác thông tin của nhà trường phục vụ tốt các hoạt động giáo dục

15 Nhà trường thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh theo các quy định hiện hành

Tiêu chuẩn 3: Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh

1 Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng đạt các yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

2 Giáo viên của nhà trường đạt các yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định khác

3 Giáo viên của nhà trường làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu theo quy định và hoàn thành các nhiệm vụ được giao

Trang 24

24

4 Nhân viên (hoặc giáo viên kiêm nhiệm) của tổ văn phòng đạt các yêu cầu theo quy định và được đảm bảo các quyền theo chế độ chính sách hiện hành

5 Học sinh của nhà trường đáp ứng yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định hiện hành

6 Nội bộ nhà trường đoàn kết, không có cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên bị xử lý kỷ luật trong 03 năm liên tiếp gần nhất

Tiêu chuẩn 4: Thực hiện chương trình giáo dục và các hoạt động giáo dục

1 Nhà trường thực hiện kế hoạch thời gian năm học, kế hoạch giảng dạy và học tập theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo

2 Mỗi năm học, nhà trường thực hiện hiệu quả các hoạt động dự giờ, hội giảng, thao giảng và thi giáo viên dạy giỏi các cấp

3 Sử dụng thiết bị trong dạy học, xây dựng và đánh giá sáng kiến, kinh nghiệm về các hoạt động giáo dục của giáo viên trong nhà trường thực hiện theo quy định của nhà trường và của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4 Mỗi năm học, nhà trường thực hiện tốt hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo quy định của Sở Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo

5 Giáo viên chủ nhiệm lớp hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định

6 Hoạt động giúp đỡ học sinh học lực yếu, kém đạt hiệu quả theo kế hoạch của nhà trường và quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

7 Hoạt động giữ gìn, phát huy truyền thống nhà trường, địa phương theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định khác

8 Nhà trường thực hiện đầy đủ các hoạt động giáo dục thể chất và y tế trường học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định khác

9 Nhà trường thực hiện tốt nội dung giáo dục địa phương theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 25

Tiêu chuẩn 5: Tài chính và cơ sở vật chất

1 Nhà trường thực hiện quản lý tài chính theo quy định và huy động được các nguồn kinh phí hợp pháp để hỗ trợ hoạt động giáo dục

2 Nhà trường có khuôn viên riêng biệt, tường bao, cổng trường, biển trường và xây dựng được môi trường xanh, sạch, đẹp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 Nhà trường có khối phòng học thông thường, phòng học bộ môn trong

đó có phòng máy tính kết nối internet phục vụ dạy học, khối phòng phục vụ học tập, khối phòng hành chính đảm bảo quy cách theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4 Thư viện của nhà trường đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, học tập của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh

5 Nhà trường có đủ thiết bị giáo dục tối thiểu, đồ dùng dạy học, kho chứa thiết bị giáo dục và bảo quản theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

6 Nhà trường có đủ khu sân chơi, bãi tập, khu để xe, khu vệ sinh và hệ thống cấp thoát nước theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các quy định khác

Tiêu chuẩn 6: Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

1 Ban đại diện cha mẹ học sinh có tổ chức, nhiệm vụ, quyền, trách nhiệm, hoạt động theo quy định; nhà trường phối hợp hiệu quả với cha mẹ học sinh, Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp, Ban đại diện cha mẹ học sinh trường để nâng cao chất lượng giáo dục

2 Nhà trường phối hợp có hiệu quả với tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội nghề nghiệp, doanh nghiệp và cá nhân khi thực hiện các hoạt động giáo dục

Trang 26

26

Tiêu chuẩn 7: Kết quả rèn luyện và học tập của học sinh

1 Kết quả đánh giá, xếp loại học lực của học sinh nhà trường đáp ứng được mục tiêu giáo dục của cấp học

2 Kết quả đánh giá, xếp loại hạnh kiểm của học sinh trong nhà trường đáp ứng được mục tiêu giáo dục của cấp học

3 Kết quả hoạt động giáo dục nghề phổ thông - hướng nghiệp của học sinh đáp ứng yêu cầu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

4 Kết quả hoạt động xã hội, công tác đoàn thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của học sinh đáp ứng yêu cầu theo kế hoạch của nhà trường và quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Từ những căn cứ tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá chất lượng trường THPT ở trên do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chúng ta thấy rằng:

Chất lượng giáo dục trường THPT là sự đáp ứng của nhà trường đối với các yêu cầu về mục tiêu giáo dục phổ thông quy định tại Luật giáo dục

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT là mức độ yêu cầu nhà trường cần đạt được để công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục, mỗi tiêu chuẩn bao gồm các tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT

Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục THPT là mức độ nhà trường đạt được ở một khía cạnh cụ thể của mỗi tiêu chuẩn Mỗi tiêu chí có các chỉ số đánh giá chất lượng giáo dục ở trường THPT Chỉ số đánh giá là mức độ yêu cầu nhà trường cần đạt được ở một khía cạnh cụ thể của mỗi tiêu chí

Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THPT do Bộ GD&ĐT ban hành là công cụ để nhà trường tự đánh giá nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục, để thông báo công khai với cơ quan chức năng và xã hội

về thực trạng chất lượng của nhà trường để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận trường THPT đạt tiêu chuẩn chất lượng

Chính vì vậy, căn cứ vào mục đích ban hành tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trung học phổ thông, tác giả đã dùng những tiêu chí, tiêu chuẩn trên để

Trang 27

27 làm căn cứ đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục của trường THPT Mường Lát đồng thời cũng làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp

1.4.2 Chất lượng của tập thể học sinh

- Đặc trưng của học sinh

+ Tính tiếp nhận giáo dục, sự phát triển về thể chất và tinh thần của con người, xét về bản chất, chỉ có thể thực hiện được dưới sự ảnh hưởng của xã hội Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thể chất, tinh thần của con người và sự phát triển của nó Xét về hình thái cấu tạo và cơ năng của con người, tính tiếp nhận giáo dục của con người mang tính khả năng Tính tiếp nhận giáo dục của con người là một trong những khác biệt lớn nhất giữa con người và động vật

vì thời kì sinh trưởng cơ bản nhất của loài người không phải là thời kì thai nhi, mà là thời kì sau khi sinh ra Con người phát triển thành thục và trở thành người dưới ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài, điều này nói lên rằng con người có khả năng thay đổi khá lớn Xét về tính xã hội của con người, sự tiếp nhận giáo dục của con người có tính tất nhiên Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Khi một người chỉ có đủ các nền tảng sinh vật để phát triển thành người, thì đó chỉ là con người dưới trạng thái tự nhiên, tức là con người

tự nhiên, chưa trở thành con người theo nghĩa thực sự, tức là con người xã hội Từ con người tự nhiên bước sang con người xã hội, cần phải tiếp nhận sự đào luyện của môi trường xã hội nhất định, từ đó mới thu được tri thức mà loài người đã tích luỹ lâu dài, kĩ năng, qui phạm, hành vi của con người hiện hành và năng lực tư duy của loài người

+ Tính năng động chủ quan

Con người có ý thức, có vai trò năng động tích cực đối với thế giới khách quan Tính năng động chủ quan trong quá trình giáo dục của học sinh được thể hiện chủ yếu ở chổ tiếp nhận có chọn lọc ảnh hưởng do người thầy đem lại Khả năng chọn lựa của học sinh của ảnh hưởng của người thầy có quan

hệ với kinh nghiệm vốn có của họ, với các nhân tố tâm lí, lúc tiếp nhận giáo dục như: tình cảm, thái độ, trình độ trí lực

Trang 28

28 Học sinh có thể tích cực tự giác huy động sức mạnh các mặt về thể chất, tinh thần, để tiếp nhận ảnh hưởng, từ đó thúc đẩy sự phát triển tự thân nhiều, nhanh, tốt, toàn diện, làm cho giáo dục phát huy hiệu quả hơn Các em tiếp thu ảnh hưởng giáo dục càng tích cực thì hiệu quả giáo dục càng lớn, thậm chí

có lúc còn vượt xa mục tiêu dự kiến của giáo viên

Sự phát triển, biến đổi của học sinh có tính quy luật nhất định Dù có tiếp nhận giáo dục hay không, các em luôn luôn có sự biến đổi không ngừng theo quy luật phát triển của bản thân, sự biến đổi về thể chất và tinh thần Cho nên, giáo viên phải quan tâm sát sao, và hiểu biết đối tượng giáo dục, nếu không, giáo dục sẽ không đến nơi đến chốn

- Vị trí của học sinh

Có hai quan điểm về vị trí trong quá trình giáo dục: Quan điểm thứ nhất cho rằng vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục là giáo viên Quan điểm thứ hai cho rằng vị trí quan trọng là học sinh Xét về hai quan điểm này thì đều có những nhân tố hợp lí, đều có chỗ mạnh và chỗ yếu Tuy nhiên, lí luận của hai quan điểm này đều coi nhẹ một vấn đề cơ bản, tức là vến đề đối tượng học sinh có sự khác biệt Về thời gian, trình độ nhận thức của học sinh thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử Về không gian, thì năng lực trí tuệ, thể lực và kinh nghiệm của các em cũng sẽ khác nhau khi lớn lên trong những điều kiện khác nhau Khi đối tượng đã khác nhau như vậy thì sử dụng chung một mô hình giáo dục là điều không hợp lí

1.4.3 Môi trường xã hội

Ngoài các tiêu chuẩn, tiêu chí nêu trên thì nhân tố môi trường cũng rất quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục

Yếu tố môi trường cũng đóng một vai trò quan trọng đối với hiệu quả quá trình giáo dục, là khoảng không gian bao quanh với các yếu tố và các điều kiện có ảnh hưởng đến việc giáo dục con người Không chú ý đến môi trường khi giải quyết các vấn đề giáo dục thì nhận thức vấn đề sẽ chung chung,

Trang 29

29 không thấy được sự khác biệt của vấn đề ở thời điểm này và thời điểm kia, ở địa bàn này và địa bàn khác, do đó không thể đưa ra được những biện pháp chính xác để giải quyết vấn đề có hiệu quả

- Môi trường tự nhiên

Những yếu tố, hiện tượng của tự nhiên như thời tiết khí hậu vv

- Môi trường xã hội

Môi trường xã hội của giáo dục là mạng lưới xã hội vây quanh giáo dục như gia đình, nhà trường, và cơ cấu giáo dục ngoài nhà trường

- Môi trường văn hoá đạo đức

Môi trường văn hoá, đạo đức bao gồm: tư tưởng, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, lối sống, truyền thống, văn học, nghệ thuật, khoa học vv

- Môi trường tâm sinh lí học sinh

Sự phát triển tâm sinh lí của con người là một môi trường và điều kiện nền tảng để thực thi giáo dục Tố chất tâm lí là môi trường nội tại rất quan trọng trong quá trình giáo dục, nó được xây dựng trên cơ sở của sự phát triển sinh lí của con người Tố chất tam lí bao gồm: tố chất về nhận thức, cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng; tố chất về xu hướng, nhu cầu, hứng thú, tình cảm, ý chí, tính cách; tố chất về mặt quan niệm, quan niệm giá trị, nhân sinh quan, thế giới quan Học sinh là đối tượng nhưng đồng thời cũng là chủ thể của quá trình giáo dục, quá trình dạy học Thành tố học sinh là một trong các thành tố của quá trình giáo dục, quá trình dạy học, vừa là đầu vào vừa là đầu ra của các quá trình đó Từ đó ta thấy vai trò tích cực, chủ động của thành

tố này trong quá trình giáo dục và dạy học, nó rất phù hợp với những quan điểm giáo dục hiện nay “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục, cần thiết phải coi trọng chất lượng của từng thành tố để cuối cùng có chất lượng học sinh cao nhất

Trang 30

30

Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

Mường Lát là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hoá Đây là nơi cách xa trung tâm tỉnh nhất, Mường Lát cách thành phố Thanh Hoá 250 km, có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Lào (100km)

Từ đó dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp về biên giới lãnh thổ, an ninh quốc gia, cũng như các vấn đề về tệ nạn xã hội Miền Tây Thanh Hoá, cũng như một số khu vực phía Tây khác của Tổ quốc như: Tây Bắc, Tây Nam và Tây Nguyên

đã từng nổi lên nhiều vấn đề đáng lo ngại

Là nơi cách xa trung tâm, địa hình chủ yếu là đồi núi dốc khiến giao thông, thông tin liên lạc gặp nhiều trở ngại Có những thời điểm mưa lũ làm sạt đường, lở núi, giao thông chia cắt, đình trệ, cả khu vực bị cô lập hoàn toàn trong nhiều ngày Do yếu tố địa hình chi phối nên hệ thống giao thông, thông tin liên lạc khó phát triển Đến nay, mạng lưới thông tin di động mới đưa vào hoạt động nhưng chỉ liên lạc được trong khu vực thị trấn và một số xã Vì thế việc trao đổi thông tin cũng như nắm bắt tình hình thời sự còn nhiều hạn chế

so với những khu vực khác

Trang 31

31 Mường Lát là huyện được tách ra từ những xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn của huyện vùng cao Quan Hoá (cũ), cho nên, về cơ bản đây là huyện có điều kiện kinh tế khó khăn nhất trong toàn tỉnh, nằm trong danh sách 62 huyện nghèo nhất cả nước (theo Quyết định 30a) Phương thức canh tác của đồng bào còn lạc hậu, sơ khai, chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên dẫn đến nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển Hơn nữa, một bộ phận dân cư địa phương còn mang nặng tập quán du canh, du cư Đồng bào Mông một số tỉnh phía bắc di cư tự do tràn vào địa bàn huyện với số lượng đông (gần 8.000 người) kéo theo việc đốt phá rừng bừa bãi, truyền đạo trái phép và một số tệ nạn khác, gây mất đoàn kết nội bộ và làm mất ổn định về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh Đời sống nhân dân phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của Chính phủ thông qua các dự án, các chương trình đầu tư phát triển (đặc biệt là chương trình 135, 134, 30a)

+ Đây là khu vực tập trung, sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu

số nhất tỉnh Thanh Hoá Bao gồm 6 dân tộc anh em: Thái, Mông, Kinh, Mường, Dao, Khơ Mú, cùng tạo thành một cộng đồng dân cư với những phong tục tập quán, bản sắc văn hoá có nhiều nét khác biệt cho nên việc thấu hiểu, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau còn nhiều trở ngại Trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, thấp kém.Có nhiều dân tộc vẫn giữ những hủ tục nặng nề, nhất là việc ma chay, cưới hỏi khiến cho đời sống văn hoá tinh thần chưa phong phú

Vệ sinh môi trường còn kém, ý thức phòng chống chưa cao nên nhiều dịch bệnh hoành hành, nhất là dịch sốt rét

+ Lực lượng cán bộ nòng cốt là người địa phương, vừa thiếu, vừa yếu Vì thế có rất nhiều cán bộ, giáo viên đã và đang tình nguyện phục vụ đồng bào vùng cao nơi đây Tuy nhiên, họ là những người còn rất trẻ: trẻ cả về tuổi đời, tuổi nghề, cùng với sự bỡ ngỡ ban đầu và những khó khăn thử thách cho nên đội ngũ này chưa thể phát huy tối đa năng lực công tác Đặc biệt từ năm 2007, một số địa phương của huyện không còn nằm trong chương trình 135 của

Trang 32

32 Chính phủ dẫn đến nhiều chế độ ưu đãi không còn khiến cho đời sống của cán

bộ công nhân viên càng khó khăn hơn nữa

+ Đã có một thời, huyện vùng cao biên giới Mường Lát của tỉnh Thanh Hoá là nỗi ám ảnh trong tâm trí nhiều người về sự hoành hành của tệ nạn xã hội, cụ thể là Ma tuý và HIV/AIDS Trải qua năm tháng, đến nay, cả huyện đã từng bước đấy lùi được những hiểm hoạ này nên đã và đang khôi phục được niềm tin đối với những gia đình có con em lên đây công tác

+ Vượt lên muôn vàn khó khăn thử thách huyện vùng cao Mường Lát đang từng bước đi, lên khẳng định vị thế của mình trong sự phát triển chung của toàn tỉnh, cũng như cả nước

+ Dưới sự chỉ đạo đúng đắn, có hiệu quả của Đảng, của Chính Phủ, sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, các ngành, nơi đây đang có những thay đổi nhanh chóng.Với những tiềm năng và thế mạnh riêng của mình huyện Mường Lát đang xây dựng những nền tảng kinh tế bước đầu, tạo khâu đột phá cho kinh tế đi lên

Toàn huyện có 9 đơn vị hành chính (gồm: 8 xã và 01 Thị trấn) Cơ cấu kinh tế của huyện là: Lâm – Nông nghiệp làm mũi nhọn, từng bước phát triển tiểu thủ công nghiệp – thương mại và dịch vụ Song sản xuất hàng hóa chậm phát triển, khó tiêu thụ (giao thông khó khăn) Mường Lát là huyện chỉ đơn thuần sản xuất, trồng trọt cây lương thực, như: Ngô, các loại cây họ Đậu Trong kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn, Mường Lát sẽ được đầu tư, nâng cấp cửa khẩu Tén Tằn thành cửa khẩu quốc tế và như vậy sẽ được đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông quan trọng để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế Đến lúc ấy, chắc chắn kinh tế nơi đây sẽ có những đổi thay khởi sắc

+ Về văn hoá xã hội, huyện đang từng bước xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc của các dân tộc, xoá bỏ dần các hủ tục lạc hậu của các dân tộc như việc tảo hôn, mê tín dị đoan, trọng nam khinh nữ…

Trang 33

33 + Tất cả những điều kiện thuận lợi và khó khăn trên, đã có những tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp giáo dục ở huyện vùng cao này

2.2 Thực trạng chung về chất lượng giáo dục nước ta hiện nay

Đánh giá thực trạng là việc phải làm đầu tiên để phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề cơ bản chủ yếu, từ đó tập trung nghiên cứu và tìm ra những giải pháp đúng đắn, phù hợp Phải đánh giá một cách khách quan, chính xác là điều rất khó, đòi hỏi người đánh giá phải am hiểu vấn đề và tâm huyết

Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về thực trạng chất lượng giáo dục Điều đó được phản ánh khá rõ qua các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trong các buổi thảo luận của Quốc hội về vấn đề giáo dục Cũng phải nói rằng trong những năm gần đây, chưa có lúc nào giáo dục bị phê phán tập trung và nặng nề như hiện nay Điều đó tạo ra trong xã hội bầu không khí hoài nghi về năng lực của những nhà lãnh đạo giáo dục

Nhìn chung, dư luận cho rằng chất lượng giáo dục thấp, không đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự mong mỏi của nhân dân Nhiều tờ báo bày tỏ sự lo lắng thường trực trong mỗi gia đình về tương lai con cái mình, về tình hình giáo dục của đất nước Báo An ninh Thế giới cuối tháng (11/2003, số 27, tr 3,

Trang 34

34 biển” và muốn thế hệ các em phải học tập miệt mài với một ý chí kiên cường, phải “học, học nữa, học mãi”

Bên cạnh những nhược điểm hạn chế, phải thừa nhận rằng thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhờ sự nỗ lực cố gắng của các thầy giáo, cô giáo, của bản thân các em học sinh, của nhân dân, của các cơ quan và chính quyền các cấp, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn nỗi bật như:

+ Ngành Giáo dục đã cùng toàn dân tiến hành phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở;

+ Phát triển mạnh mẽ về số lượng;

+ Cơ sở vật chất nhà trường phát triển tốt, đặc biệt ở thành phố nhiều nơi trường lớp khá khang trang

+ Đạt được nhiều giải cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế…

Bức tranh chung về chất lượng giáo dục đã được nêu lên trong các văn bản các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về các vấn đề giáo dục Đó là những đánh giá toàn diện, khách quan và nhìn chung là chính xác… Ví dụ, trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII năm 1996, đánh giá về chất lượng như sau:

- Về ưu điểm: Đã có những “tiến bộ bước đầu”, “đã xuất hiện một số

Trang 35

35 Nhìn chung, những nhược điểm nêu lên trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII năm 1996 cũng là những vấn đề được các đại biểu Quốc hội đặt ra trong kỳ họp thứ 4, khoá XI tháng 11 năm 2003

Như vậy trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã có nhiều dự án, nhiều cách làm, nhưng tình hình chất lượng giáo dục chưa có những tiến bộ

mà xã hội đòi hỏi và mong đợi

2.3 Sơ lược về tình hình giáo dục ở Mường Lát

Huyện Mường Lát được thành lập năm 1997, những năm đầu mới thành lập hệ thống giáo dục ở đây chỉ có 6 trường trung học gồm cả cấp Tiểu học và THCS (được chia tách từ 6 xã vùng cao huyện Quan Hoá cũ) và một số lớp mẫu giáo Năm 1999, huyện có 1 trường THPT và 1 TTGDTX

Đội ngũ giáo viên hầu hết là giáo viên người miền xuôi lên công tác Giáo viên người địa phương chiếm tỷ lệ không quá 5% Giáo viên Mầm non chỉ là số hợp đồng tạm thời, tất cả đều chưa qua đào tạo Giáo viên đứng lớp liên tục thiếu Giáo viên THPT chỉ có 4 người có trình độ đạt chuẩn, giảng dạy các môn Toán, Lí, Hóa, Văn

Về cơ sở vật chất, số phòng học chủ yếu là phòng học tạm bợ Tỷ lệ

phòng học cấp 4 trở lên chỉ đạt khoảng 3% Đồ dùng phục vụ cho dạy và học hầu như không có Trường THPT phải chung cơ sở vật chất với trường THCS Dân tộc Nội trú huyện

Về công tác phổ cập và tỷ lệ học sinh đến lớp, Tỷ lệ phổ cập còn thấp Toàn huyện mới chỉ đạt 81% Số trẻ 6 tuổi ra lớp là 83% Số trẻ trong độ tuổi

6 đến 14 tuổi còn ngoài nhà trường là 1.056 trên tổng số 5.038 em Học sinh THPT có 72 em, được chia 2 lớp (1999 - 2000)

Đến nay, mỗi xã, thị trấn có ít nhất 01 trường Mầm non, 01 trường Tiểu học và 01 trường Trung học cơ sở, toàn huyện có 1 trường THPT Hệ thống mạng lưới trường lớp cơ bản đã phủ kín đến tất cả các thôn bản trong huyện

Về đội ngũ giáo viên cũng đã đáp ứng được yêu cầu mở lớp của tất cả các

Trang 36

36 ngành học, bậc học Toàn huyện có 22 trường học bậc trung học, có 9 trường học bậc mầm non; nhìn chung, Mường Lát đã phát triển hoàn chỉnh hệ thống giáo dục được quy định trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ Mầm non đến THPT; trường, lớp được phủ kín đến các thôn, bản, làng xã trong huyện

Bảng 1: Bảng thống kê trường, học sinh năm học 2009 – 2010

Năm học

Số trường Số HS trường Số Số HS trường Số Số HS trường Số Số

HS

Nguồn cung cấp số liệu: Phòng GD&ĐT Mường Lát

Nhận xét:

+ Học sinh Tiểu học của huyện có chiều hướng tăng nhẹ

+ Học sinh THCS có chiều hướng tăng theo sự phát triển tăng của bậc tiểu học

+ Hàng năm, tỷ lệ học sinh /dân số độ tuổi đi học ở Tiểu học và THCS huy động cao, là cơ sở cho việc tiếp tục duy trì và phát triển vững chắc chuẩn PCGDTH và PCTHCS

+ Tỷ lệ học sinh THPT tăng lên hàng năm theo sự phát triển của bậc THCS

+ Mạng lưới trường lớp đã được phân bố hợp lý trên địa bàn huyện nhưng nhiều trường thiếu diện tích đất theo qui định để xây dung trường chuẩn quốc gia

+ Các trường tiểu học hầu hết đều có quá nhiều điểm trường nên việc đầu

tư xây dựng tốn kém và không hiệu quả

Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý thiếu tính ổn định Nguyên nhân giáo viên công tác ở Mường Lát, đặc biệt là giáo viên THPT thuyên chuyển hàng năm về các huyện miền xuôi Do đó không có nhiều giáo viên công tác

Trang 37

37 lâu năm Một bộ phận giáo viên là người địa phương lại yếu về chuyên môn

do đào tạo mang tính “chắp vá”

- Đối với cán bộ quản lí

Số cán bộ quản lý của các nhà trường thuộc Phòng GD&ĐT quản lý tính đến thời điểm tháng 10 năm 2010 là 49 Số cán bộ quản lí trường THPT là 3.Cơ bản đảm bảo yêu cầu về số lượng và chất lượng: Đội ngũ cán bộ quản lý

có 100% là đảng viên, có phẩm chất chính trị năng lực chuyên môn vững vàng, 100% đạt trình độ chuẩn, 100% có trình độ đạt trên chuẩn đối với cán

bộ quản lý các trường Tiểu học, THCS và THPT Đội ngũ quản lý đã được trẻ hoá đảm bảo tính kế thừa và phát triển Có 93% số cán bộ quản lý được học qua các lớp quản lý giáo dục, có 85% cán bộ quản lý có trình độ tin học và ngoại ngữ đạt trình độ A trở lên, có 06 đồng chí đã và đang học trình độ Thạc

sĩ, có 20 đồng chí đang học lớp trung cấp chính trị

- Đối với đội ngũ giáo viên

+ Đội ngũ giáo viên Tiểu học có 273 người Số đạt trình độ chuẩn là 270 người đạt tỷ lệ 98.9%; trong đó số đạt trình độ trên chuẩn là 130 người đạt tỷ

lệ 47.6%; số nữ là 185 chiếm tỷ lệ 67.7%; có 168 người là đảng viên đạt tỷ lệ 61.5% Số giáo viên là người địa phương là 145 chiến tỷ lệ 53.1% Số còn lại

là người ở các huyện miền xuôi trong tỉnh lên công tác

+ Đội ngũ giáo viên THCS có 158 người, có 158 người đạt trình độ chuẩn đạt tỷ lệ 100%; Trong đó 75 người đạt trình độ trên chuẩn đạt tỷ lệ 47.4%; số nữ là 54 người chiếm tỷ lệ 32.2%; có 79 đảng viên đạt tỷ lệ 48,3%

Về cơ bản số giáo viên đủ theo yêu cầu, chỉ còn thiếu một số giáo viên tin học

+ Đội ngũ giáo viên THPT có 29 người, có 29 người đạt trình độ chuẩn đạt tỷ lệ 100% số giáo viên nữ là 11 người chiếm tỷ lệ 38%; có 10 đảng viên chiếm tỷ lệ 34,48%; có 3 giáo viên là hợp đồng Hiện nay số giáo viên còn thiếu 5 người (Sử, Lí, Tin, Sinh, Toán)

Trang 38

38

- Về đội ngũ công nhân viên:

Thực hiện thông tư 35 về định mức nhân viên qui định theo hạng trường Hiện nay các trường Tiểu học có 27 nhân viên /12 trường, và các trường THCS có 39 nhân viên/ 9 trường TPTT có 3 nhân viên/ 1 trường

- Chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục toàn diện đã và đang được cải thiện, song chuyển biến chậm Số lượng học sinh yếu kém còn cao, số lượng và chất lượng học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh còn thấp, cả về các môn văn hoá, thể chất và các môn đặc thù như giải toán trên máy tính điện tử Casiô, Tin học

- Hiệu quả đào tạo

+ Tỷ lệ học sinh lên lớp tăng trên 95%

+ Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học giảm hẳn

+ Tỷ lệ học sinh được công nhận hoàn thành chương trình Tiểu học 99,5%, tỷ lệ học sinh được công nhận tốt nghiệp THCS trên 99%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt trên 85%

+ Tỷ lệ học sinh 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%, tỷ lệ học sinh vào lớp 6 đạt 100%

Bảng 2: Số giải học sinh giỏi qua một số năm

Nguồn cung cấp số liệu: Phòng GD&ĐT Mường Lát

- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học

Hàng năm các trường đều được quan tâm đầu tư xây dựng thêm các phòng kiên cố, các phòng theo qui chuẩn

Trang 39

39

Về thư viện trường học, có 2 trường đạt chuẩn quốc gia và trường THPT

có thư viện và phòng đọc cho học sinh và giáo viên, tuy nhiên số đầu sách còn hạn chế, chủ yếu là sách giáo khoa và một số ít sách tham khảo nâng cao của chương trình sách giáo khoa

Về phòng học bộ môn, hầu hết các trường chưa có các phòng học bộ môn Các phòng đựng thiết bị dạy học hầu hết chưa có Chính vì vậy việc bảo quản, sử dụng thiết bị dạy học gặp không ít khó khăn

- Các nguồn kinh phí cho giáo dục huyện

Tổng kinh phí cho sự nghiệp giáo dục hàng năm tăng dần, từ mức 7.987.685 tỷ năm 1998 lên tới 40.607.302 tỷ năm 2009

Hàng năm tỉnh dành một phần kinh phí hỗ trợ cho huyện phục vụ công tác phổ cập và khen thưởng cho cán bộ giáo viên và học sinh có thành tích cao trong quản lý, giảng dạy và học tập

Qua thống kê cho thấy việc tăng cường cơ sở vật chất trường học chủ yếu là ngân sách Trung ương cấp Ngoài ra còn có các chương trình dự án như dành cho Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn xây cho 75 phòng học Từ năm

2003 giáo dục Mường Lát được chương trình dự án 159 xây được 119 phòng học Đặc biệt năm từ 2008 giáo dục huyện được đầu tư nguồn kinh phí xây dựng "Kiên cố hoá trường học" từ công trái Chính phủ nên góp phần thuận lợi cho việc tăng cường cơ sở vật chất trường học

- Công tác xã hội hoá giáo dục

Trong những năm qua, mặc dù điều kiện kinh tế của nhân dân còn nghèo, nhưng quỹ khuyến học luôn được xây dựng và củng cố Ngoài các xuất học bổng của các doanh nhân hỗ trợ như Doanh nhân Doãn Tới mỗi năm cho quỹ khuyến học Mường Lát hàng chục triệu đồng, năm 2009 Mường Lát còn được nhận 2 tỷ đồng từ công ty Viettel Quân Đội hỗ trợ theo hình thức gửi ngân hàng và lấy nguồn lãi hàng năm gần 200 triệu đồng để chi cho công tác khuyến học Một tổ chức phi chính phủ của Cộng hào liên bang Đức đã xây

Trang 40

40 dựng cho học sinh THPT 30 ngôi nhà và hàng trăm xuất học bổng trong thời gian từ 2005 – 2008

Cùng với Hội khuyến học, trong những năm qua nhân dân Mường Lát đã đóng góp hàng ngàn ngày công, để xây dựng cơ sở vật chất trường học Đến nay 100% số xã có phòng học cấp 4 trở lên, có 2 trường đạt chuẩn quốc gia

Bộ mặt các trường ngày càng đổi mới theo hướng xanh - sạch - đẹp

sư phạm thông qua chế độ cử tuyển Do đó có thể thấy chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên còn nhiều hạn chế Đội ngũ cán bộ quản lý ít có nguồn

để sàng lọc lựa chọn, đội ngũ nhân viên mới đựơc tuyển dụng trong một hai năm trở lại đây Kinh nghiệm trong công tác chưa nhiều

Về chất lượng và hiệu quả giáo dục Thực trạng chất lượng và hiệu quả giáo dục mới chỉ dừng lại ở mức khiêm tốn Tỷ lệ giáo viên và học sinh giỏi các cấp còn hạn chế

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị nhìn chung chung đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Tỷ lệ phòng trên lớp thấp

Về kinh phí chi cho giáo dục chưa nhiều Tỷ lệ chi cho mua sắm cơ sở vật chất thiết bị dạy học chiếm tỷ lệ thấp

Về công tác xã hội hoá giáo dục tuy có chuyển biến song sự hỗ trợ đóng góp cho pháp triển giáo dục chưa được nhiều

Tóm lại: Chất lượng đại trà, mũi nhọn của các bậc học đã và đang được

đánh giá và phản ánh đúng thực chất, chất lượng dạy và học, từ đó làm chuyển biến ý thức học tập, thi cử của phụ huynh học sinh góp phần đi vào dạy thực

Ngày đăng: 04/10/2021, 16:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w