1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa mác lênin ở trường cao đẳng cộng đồng bà rịa vũng tàu

95 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học vinh nguyễn thị mai hoa nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa mác - lênin ở tr-ờng cao đẳng bà

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học vinh

nguyễn thị mai hoa

nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa mác - lênin

ở tr-ờng cao đẳng bà rịa - vũng tàu hiện nay

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học vinh

nguyễn thị mai hoa

nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa mác - lênin

ở tr-ờng cao đẳng cộng đồng bà rịa - vũng tàu hiện nay

CHUYÊN NGàNH: Lý LUậN Và PHƯƠNG PHáP DạY HọC

Bộ MÔN GIáO DụC CHíNH TRị

Mã Số: 60.14.10

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:

ts nguyễn sỹ quyết tâm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện đề tài luận văn “Nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay” tôi đã nhận

được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô trong Khoa Giáo dục chính trị - Trường Đại học Vinh, Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu Đặc biệt là sự giúp đỡ tận tâm của thầy giáo: TS Nguyễn Sỹ Quyết Tâm - người

đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài khoa học này

Đầu tiên, cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc tới quý thầy cô giáo giảng dạy tại Khoa giáo dục chính trị - Trường Đại học Vinh, tới Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu, đặc biệt gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, TS Nguyễn Sỹ Quyết Tâm người trực tiếp hướng dẫn giúp tôi hoàn thành luận văn

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Vinh, tháng 12 năm 2010

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5

5 Những đóng góp về khoa học của luận văn 6

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1 Cơ sở lý luận của việc nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin 7

1.1 Chủ thể nhận thức và vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng hiện nay 7

1.1.1 Chủ thể nhận thức 7

1.1.2 Khách thể nhận thức 11

1.1.3 Vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng 12

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh viên - chủ thể nhận thức trong học tập 20

1.2 Nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập - yêu cầu bức thiết của việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng 26

1.2.1 Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đối với giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực 26

1.2.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục đại học (trình độ cao đẳng) 30

1.2.3.Vai trò ngày càng tăng của tự giáo dục, tự đào tạo đối với sinh viên cao đẳng 35

Trang 5

1.3 Thực trạng nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin trường Cao đẳng Cộng đồng à Rịa - Vũng Tàu hiện nay 38 1.3.1.Vài nét về trường cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu 38 1.3.2 Thực trạng nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn

h ng ngu n n h ngh á - Lênin trường cao đẳng Cộng

đồng à Rịa - Vũng Tàu hiện nay 41 Tiểu kết chương 1 52

Chương 2 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập m n Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - ênin ở trường cao đẳng Cộng ồng à ịa - Vũng Tàu hiện nay 54

2.1 Một số phương hướng cơ ản nhằm nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin trường Cao đẳng Cộng đồng t nh à Rịa - Vũng Tàu hiện nay 54 2.1.1 Nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh viên không tách rời vai trò chủ động hướng dẫn, gợi mở của giảng viên 54 2.1.2 Đổi mới giáo dục và đào tạo đại học, cao đẳng theo hướng tích cực hóa chủ thể nhận thức của sinh viên, chống khuynh hướng phát triển cá nhân chủ nghĩa 56 2.1.3 Đẩy mạnh phát triển phong trào tự học, tự nghiên cứu trong trường cao đẳng Cộng đồng t nh à Rịa - Vũng Tàu 59 2.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin

ở trường Cao đẳng Cộng đồng t nh à Rịa - Vũng Tàu hiện nay 60 2.2.1 Giải pháp về nhận thức 60 2.2.2 Giải pháp về đội ngũ giảng viên 62

Trang 6

2.2.3 Giải pháp về tiếp tục đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình

môn học 64

2.2.4 Giải pháp đổi mới về phương pháp dạy - học của giảng viên và sinh viên 66

2.2.5 Giải pháp về tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại 71

2.2.6 Giáo dục chuyên ngành phải kết hợp với giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức 72

2.2.7 Giải pháp về chế độ, chính sách đối với sinh viên 74

Tiểu kết chương 2 76

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Phụ lục 1 84

Phụ lục 2 86

Phụ lục 3 88

Trang 7

MỞ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Đảng ta khẳng định: “Vấn đề bức xúc nhất trong giáo dục nước ta hiện nay là chất lượng giáo dục toàn diện, trước hết là chất lượng giáo dục chính trị, l tưởng, đạo đức và lối sống, đặc biệt ở bậc cao đẳng, đại học” [37, tr.40]

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, có nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ yếu “ trước hết,

là do cơ quan quản lý các cấp và nhà trường chưa có iện pháp cụ thể, chưa

ch đạo sát sao việc thực hiện giáo dục toàn diện…” [37, tr.24] Xét ở một góc

độ khác - góc độ từ người học - với tư cách là chủ thể nhận thức thì thực trạng trên còn có nguyên nhân từ người học, từ học sinh, sinh viên, cụ thể là tính tích cực chủ động và sáng tạo của các em chưa được phát huy cao độ Nói cách khác, yếu tố chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh, sinh viên chưa được thể hiện sâu sắc Thiếu yếu tố này, hay yếu tố này không được phát huy cao độ thì chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục nói chung, giảng dạy nói riêng không bao giờ đạt được như mong muốn

Vì vậy, việc phát huy vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của người học

có nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Đây không ch là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề thực tế nóng hổi đang đặt ra trong quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta cũng khẳng định: “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy , thực hiện “giáo dục cho mọi người”, “cả nước thành

Trang 8

một xã hội học tập” Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất nhà trường gắn với xã hội” [38, tr.476-477]

Bà Rịa - Vũng Tàu là một t nh thuộc miền Đông Nam ộ - địa bàn được xác định là trung tâm của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam (cùng với Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh) Kể từ khi tái lập t nh đến nay (1991),

Bà Rịa - Vũng Tàu đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo, t nh Bà Rịa - Vũng Tàu đã

có sự phát triển về quy mô và chất lượng ở mọi cấp học, trong đó có giáo dục đại học Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác, ngành giáo dục Bà Rịa - Vũng Tàu đang đối mặt với không ít những hạn chế, yếu kém; trong đó chất lượng giáo dục toàn diện chưa cao là vấn đề nổi bật nhất Tình trạng này có nguyên nhân từ giảng viên - những người trực tiếp giảng dạy, có nguyên nhân

từ học sinh, sinh viên; có nguyên nhân từ cơ quan quản lý giáo dục, có nguyên nhân từ nội dung chương trình giảng dạy… Chúng tôi cho rằng, một trong những nguyên nhân quan trọng là vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học sinh, sinh viên, trong đó có sinh viên cao đẳng trên địa àn chưa được phát huy cao độ

Với mong muốn góp phần nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng ở t nh Bà Rịa - Vũng Tàu, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường cao đẳng trên địa bàn, tác giả đã chọn vấn

đề “Nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên

lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường Cao đẳng C ng đ ng Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay” làm đề tài luận văn cao học, chuyên ngành Lý

luận và Phương pháp giảng dạy chính trị

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề chủ thể nhận thức đã được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu

àn đến với nhiều cách tiếp cận khác nhau và xung quanh vấn đề này đã có nhiều công trình khoa học Cụ thể:

Trang 9

Trong một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin như Hệ tư

tưởng Đức, Biện chứng c a tự nhiên, Ch ngh du vật và kinh nghiệm phê phán, Bút ký triết học … C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin đã đề cập nhiều

tới vai trò của chủ thể và khách thể nhận thức cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể nhận thức

Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nhiều tới vai trò chủ

thể nhận thức trong học tập, đặc biệt là trong tác phẩm Phát huy tinh thần cầu

học, cầu tiến bộ của Người

Trong các Nghị quyết của Đảng về giáo dục, đặc biệt là các Nghị quyết

về vấn đề này trong giai đoạn đất nước mở cửa, hội nhập đã nhấn mạnh đến việc phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ, sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên như là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Trong những năm gần đây, vấn đề liên quan đến chủ thể và khách thể nhận thức đã được một số tác giả nghiên cứu Đó là Luận án Tiến sĩ Triết học

của Nguyễn Tiến Thủ: Quan hệ gi a ch thể và khách thể nhận thức với việc

phát huy vai trò ch thể nhận thức c a sinh viên Việt Nam hiện nay (Hà Nội -

2001) Trong luận án này, tác giả đã tập trung nghiên cứu chủ thể và khách thể nhận thức, đồng thời làm rõ thực trạng phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên nước ta hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên Việt Nam Đó còn là Luận văn Thạc sĩ

Triết học: Phát huy vai trò ch thể nhận thức trong học tập c a sinh viên cao

đẳng ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đức Hoàn (Hà Nội - 2002) Trong

luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu chủ thể nhận thức, vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng và đưa ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên Ngoài ra, vấn

đề này cũng được đề cập đến trong Luận văn Thạc sĩ Triết học của Phùng Minh Hải, của Đoàn Thị Toan,

Trang 10

Bên cạnh đó, một số ài đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước

cũng đề cập nhiều tới vai trò của chủ thể nhận thức như: Tự học, tự bồi dưỡng

suốt đời trở thành một quy luật của Nguyễn Tấn Phát (Tạp chí Tự học số 8,

tháng 4 năm 2000); Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Tính: Hiệu qu c a việc

dạy - tự học trong quá trình dạy học ở đại học (Tạp chí Đại học và Giáo dục

chuyên nghiệp số 2 năm 2002) Bài viết của Nguyễn Văn Hợi: C sở lý luận

c a việc biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo (Tạp chí Triết học số 4 năm

2004)…

Nói chung, những công trình liên quan tới vấn đề này đã góp phần làm

rõ hơn cơ sở lý luận của chuyển biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo của sinh viên nói chung, sinh viên cao đẳng nói riêng Nhưng để làm rõ tính đặc thù của sinh viên cao đẳng - chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin là mảng đề tài chưa có một công trình nào đề cập tới, vì vậy đây là mảng đề tài cần được tiếp tục nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng về quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức, luận văn tìm hiểu thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin của sinh viên ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của đội ngũ sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng, sinh viên cao đẳng nói chung t nh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Từ mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ phân tích tính đặc thù của sinh viên cao đẳng với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập môn Những

Trang 11

nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường Cao đẳng Cộng đồng

t nh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay Phân tích thực trạng vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu

Khảo sát, điều tra, phân tích thực trạng nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

3.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đây là một đề tài mang tính lý luận và thực tiễn rộng, vì vậy trong khuôn khổ đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao tính tích cực, sáng tạo trong học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận nhận thức, về mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức; tư tưởng Hồ Chí Minh, các Nghị quyết của Đảng và các kết quả nghiên cứu lý luận của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài Ngoài ra luận văn thực hiện còn dựa trên một số Nghị quyết, quan điểm về Giáo dục và Đào tạo của t nh Bà Rịa - Vũng Tàu

Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử, tác giả kết hợp một số phương pháp khác: Phân tích và tổng hợp; Lịch sử

và lô gíc; So sánh thống kê; Điều tra xã hội học

Trang 12

5 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luận văn àn về đặc điểm mang tính đặc thù của sinh viên Cao đẳng chủ thể nhận thức trong học tập qua điều tra, tổng kết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn nhằm nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng Cộng đồng

Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

Luận văn đề xuất một số giải pháp và phương hướng nhằm nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở trường cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là sự vận dụng, cụ thể hóa một số vấn đề lý luận của triết học Mác - Lênin vào thực tiễn giáo dục, đào tạo môn học Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu

Vì thế, nội dung mà luận văn đề cập và giải quyết đã góp một phần vào việc cải tiến và đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập nâng cao tính tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin Trường cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn được chia thành 2 chương

Chương 1 Cơ sở lí luận của việc nâng cao vai trò chủ thể nhận thức

trong học tập môn Những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Chương 2 Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò chủ thể

nhận thức trong học tập môn những nguyên l cơ ản của chủ nghĩa Mác -

Lênin ở trường cao đẳng Cộng Đồng à Rịa - Vũng Tàu hiện nay

Trang 13

1.1.1 Chủ thể nhận thức

Trước C Mác do nhận thức và quan niệm khác nhau về bản chất của thế giới, về vai trò của con người đối với thế giới nên quan niệm về chủ thể nhận thức cũng như vai trò của chủ thể nhận thức cũng khác nhau

Chủ nghĩa duy tâm (duy tâm chủ quan và duy tâm khách quan) cho rằng ản chất của thế giới là thức, thức có trước, vật chất có sau, thức quyết định vật chất Đại iểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủ quan là ccơli 1865 - 1753 Điểm xuất phát của triết học ccơli là kinh nghiệm cảm tính hiểu theo nghĩa là tổng hợp những iểu tượng hay những cảm giác Theo ông những cảm giác này không phản ánh thực tại khách quan, mà chính chúng là thực tại khách quan chân chính Ông viết: “Tôi không phải cho rằng

sự vật biến thành biểu tượng mà nói cho đúng hơn là iểu tượng biến thành sự vật” [10, tr.247-248] Phạm trù “cảm giác” được ccơli giải thích không phải phản ánh sự vật mà có trước sự vật Tất cả sự vật và các thuộc tính của

nó không tồn tại khách quan mà tồn tại trong thức của con người ản thân toàn ộ thế giới tự nhiên ch là “phức hợp, tổ hợp” những cảm giác của chủ thể nhận thức Chủ thể ở đây không phải là loài người mà là “cái tôi” của ccơli Thậm chí, ản thân thể xác cá nhân của chủ thể nhận thức tồn tại được, theo Béccơli cũng là do “linh hồn đã cảm nhận nó”, cũng là phức hợp của cảm giác Quan điểm trên của ccơli đã đi đến ch phủ nhận chủ thể

Trang 14

nhận thức là nhân loại, phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Tuyệt đối hóa yếu tố chủ quan của chủ thể, phủ nhận khách thể, ccơli đi đến ch đồng nhất toàn ộ các niệm với cảm giác, ản thân các cảm giác cấu thành các khái niệm trừu tượng Về ản chất của chân l , theo ccơli cũng là sự phù hợp giữa suy diễn của chủ thể nhận thức về chính sự vật đó mà trên thực tế nó hoàn toàn phụ thuộc vào chủ thể

Nếu ccơli là đại biểu của chủ nghĩa duy tâm chủ quan thì Platôn và Hêghen lại là đại iểu tiêu của chủ nghĩa duy tâm khách quan Platôn cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng; cảm giác không phải là nguồn gốc của tri thức chân thực; kết quả của nhận thức cảm tính có thể đúng, có thể sai (lẫn lộn giữa đúng và sai ; tri thức chân thực - nhận thức niệm - ch có thể đạt ằng nhận thức l tính và được thể hiện trong khái niệm Platôn khẳng định chủ thể nhận thức đạt được điều này cũng là nhờ linh hồn vũ trụ có nguồn từ thượng

đế Như vậy, Platôn đã thần í hóa chủ thể nhận thức

Theo Hêghen quá trình nhận thức là “tự nhận thức của niệm tuyệt đối” Với Hêghen, con người là sản phẩm và là giai đoạn phát triển cao nhất của ý niệm tuyệt đối; hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới con người chính

là công cụ để tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình Thông qua cấu trúc “Tam đoạn thức”, Hêghen đã xem x t các giai đoạn, các quá trình phát triển của tự nhiên, của tinh thần luôn ở trong trạng thái vừa đồng nhất, vừa khác biệt Vì thế, ông cho rằng để có một tri thức nào đó trở thành chân

lý phải có sự phù hợp giữa khách thể và chủ thể là con người, là sản phẩm cao nhất của ý niệm tuyệt đối, là công cụ để tinh thần tuyệt đối nhận thức ra chính bản thân mình) Tất cả các quan điểm tích cực trên của Hêghen về sự vận động của tự nhiên, về vai trò tích cực của chủ thể là con người trong nhận thức, cải tạo thế giới, x t đến cùng đều bị chi phối, bị qui định bởi “ niệm

Trang 15

tuyệt đối” Vì vậy quan niệm của Hêghen về chủ thể nhận thức là duy tâm khách quan, còn nhiều hạn chế

Nếu Platôn và Hêghen là đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy tâm khách quan thì Lút-vich Phoiơ ăc là đại biểu tiêu biểu chủ nghĩa duy vật siêu hình Phoiơ ăc phê phán Thuyết Bất khả tri và khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới Theo triết học nhân bản của Phoiơ ăc, chủ thể nhận thức không phải là sự trừu tượng lôgic mà là con người cụ thể; không có con người và ngoài con người thì không có nhận thức Với ông, nếu coi thường cảm giác thì không thể có quan niệm đúng về quá trình nhận thức; không có đối tượng của thị giác, không có ánh sáng thì không thể có cảm giác của thị giác… Bên cạnh mặt tích cực, quan điểm của Phoiơ ăc về chủ thể nhận thức còn tồn tại một số hạn chế Trong lý luận nhận thức, Phoiơ ăc không hiểu được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Con người - chủ thể nhận thức trong triết học Phoiơ ăc ch là con người sinh học thuần túy Vì vậy nhận thức của con người - chủ thể nhận thức mới ch là sự phản ánh máy móc đơn giản, thụ động thế giới khách quan Ông chưa hiểu thế giới khách quan được di chuyển vào trong bộ óc con người và được cải tạo ở đó như thế nào Phoiơ ăc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen nhưng đồng thời lại bác bỏ mất phép biện chứng của Hêghen Do đó quan niệm về chủ thể nhận thức của Phoiơ ăc về cơ ản vẫn là quan niệm siêu hình

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, chủ thể nhận thức là con người, đó có thể là một cá thể hay một tập đoàn người (nhân loại, dân tộc, đảng phái, tập thể các nhà khoa học … làm nhiệm vụ nhận thức và cải tạo thế giới xung quanh cũng như chính ản thân mình Ch có tác động vào thế giới (thế giới tự nhiên và đời sống xã hội), ch có thông qua hoạt động, con người mới bộc lộ mình với tư cách là chủ thể nhận thức Tùy thuộc vào cấp độ xem xét mà chủ thể nhận thức có thể là cả loài người, có thể là một giai cấp, một

Trang 16

dân tộc, một nhóm người hay một cá nhân nào đó Con người là chủ thể nhận thức vì bên cạnh thực thể tự nhiên, con người còn là một thực thể xã hội có quan hệ với những người xung quanh Con người tạo ra và sử dụng những công cụ và phương tiện của hoạt động nhận thức, hoạt động thực tiễn mà các thế hệ trước để lại Theo quan điểm mácxít, chủ thể nhận thức không phải là con người trừu tượng mà là con người cụ thể, gắn liền với những điều kiện xã hội cụ thể với trình độ kinh nghiệm, học vấn cụ thể M i chủ thể nhận thức đều là một ch nh thể thống nhất giữa tồn tại tự nhiên, tồn tại có ý thức và tồn tại xã hội Quan điểm đó của triết học mácxít không làm mất đi vai trò của cá nhân như một số người vẫn quan niệm mà ngược lại đã khẳng định vai trò của

cá nhân của nhân cách Cá nhân ở đây, theo C Mác là cá thể sống, sáng tạo ra những quan hệ xã hội, cá thể hóa chúng thành thế giới bên trong phong phú

và độc đáo Trong cuộc sống xã hội không thể tách cá nhân ra khỏi cộng đồng, song cũng không thể có những quan hệ xã hội không có những cá nhân M i

cá nhân vừa là thành viên của cộng đồng giai cấp, dân tộc, nhân loại; vừa là một thực thể độc lập có nhân cách

Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C Mác và Ph Ăngghen đã nêu ra ba tiền đề cơ ản để con người tham gia vào lịch sử của mình Một là: Đó là để

tồn tại, trước hết phải thỏa mãn các nhu cầu ăn, ở, mặc, sau đó mới làm chính trị, khoa học, tôn giáo v.v… và chính con người bằng hành vi lao động sản

xuất, tự thực hiện để tồn tại Hai là: Để tồn tại, con người phải lao động và

trong lao động, con người phải tồn tại và hình thành các mối quan hệ xã hội,

từ đó hình thành xã hội Ba là: Nhờ lao động, con người hoàn thiện các giác

quan, phát triển ý thức cá nhân, ngôn ngữ, phát triển và hoàn thiện năng lực phản ánh của chủ thể Sự thỏa mãn những nhu cầu đầu tiên dẫn đến sự mở rộng, phát triển những nhu cầu mới Nhu cầu mới nảy sinh là biểu hiện của quy luật phát triển của lịch sử, nó vừa là quy luật tự nhiên, vừa là quy luật xã

Trang 17

hội M i thời đại, con người tự tạo ra một hệ thống các nhu cầu, qua đó dựng lại chân dung đời sống hiện thực và tâm lý của con người trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử Ngay từ đầu con người đã tham dự vào lịch sử; hằng ngày con người tái tạo ra đời sống của chính mình, đồng thời còn tái sản sinh

ra người khác Trong quá trình tái tạo ra chính bản thân mình, con người bao giờ cũng mang vào đó tất cả những yếu tố đạo đức tâm lý, văn hóa xã hội

Từ những quan điểm trên của C Mác và Ph Ăngghen về bản chất con người, chúng ta có thể khẳng định con người mang bản chất xã hội, có tính lịch sử M i thời đại lịch sử tạo ra một mẫu hình người với những đặc trưng riêng về lối sống, sinh hoạt, tâm l , nhân cách, trình độ nhận thức… Điều đó cũng có nghĩa không có con người - chủ thể nhận thức chung chung, trừu tượng, phi lịch sử, phi xã hội mà con người - chủ thể nhận thức, luôn tồn tại trong những điều kiện, hoàn cảnh xã hội hiện thực Trong m i thời đại con người vừa làm chủ thể sáng tạo ra lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử

1.1.2 Khách thể nhận thức

Khách thể nhận thức - nằm trong miền hoạt động nhận thức của chủ thể, bao gồm giới tự nhiên, các lĩnh vực đời sống xã hội v.v… tồn tại và tác động qua lại với chủ thể nhận thức Khách thể nhận thức không phải là toàn ộ thế giới hiện thực nói chung mà ch là một bộ phận nhất định của thể giới hiện thực - bộ phận đã và đang tác động qua lại với chủ thể nhận thức, tham gia vào mối quan hệ chủ thể và được đưa vào miền hoạt động nhận thức của chủ thể nhận thức Khách thể nhận thức vận động, biến đổi và phát triển không phụ thuộc vào chủ thể nhận thức nhưng luôn nằm trong mối quan hệ iện chứng với chủ thể nhận thức M i giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội lại đưa thêm những khách thể mới vào miền hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chủ thể nhận thức Như vậy, khách thể nhận thức là tất cả những

gì mà chủ thể nhận thức tác động vào để nhận thức nó Khách thể nhận thức

Trang 18

và chủ thể nhận thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, chúng ch tồn tại với tư cách là chủ thể và khách thể khi làm tiền đề của nhau Khách thể tồn tại không phụ thuộc vào chủ thể song khách thể không phải là mặt đối lập trừu tượng của chủ thể, mà chủ thể luôn tích cực cải tạo khách thể và hướng vào khách thể Mặt khác, hoạt động tích cực của chủ thể là điều kiện khiến cho bộ phận này hay bộ phận khác của hiện thực trở thành khách thể của chủ thể nhận thức Cơ sở của mối quan hệ biện chứng này chính là hoạt động thực tiễn của con người Ngày nay, do sự phát triển như vũ ão của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin, tin học, bằng hoạt động thực tiễn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công cụ, loài người đã không ngừng mở rộng phạm vi khách thể nhận thức của mình Thông qua hoạt động thực tiễn, chủ thể nhận thức tác động vào khách thể, buộc khách thể bộc lộ những tính chất những thuộc tính, từ đó chủ thể khái quát hóa phục vụ cho nhận thức của con người để cải tạo thế giới tự nhiên và xã hội góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

1.1.3 Vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng

* Đặc điểm tâm - sinh lý, xã hội và tính đặc thù của sinh viên cao đẳng với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập

Đặ điểm tâm sinh lý, xã hội c a sinh viên

Sinh viên cao đẳng là một nhóm xã hội đặc thù trong tầng lớp thanh niên, tồn tại đan xen trong các mối quan hệ xã hội, giai cấp, dân tộc, đoàn thể Sinh viên cao đẳng của Trường Cao đẳng Cộng đồng Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng, sinh viên cao đẳng nói chung thường có độ tuổi từ 17 - 18 đến 24 - 25, một số ít sinh viên ở độ tuổi 25 - 30

Về mặt sinh lý: Ở độ tuổi từ 17 - 25 hình thể các em đã đạt được sự hoàn ch nh về cấu trúc và phối hợp giữa các chức năng Đầu thời kỳ này, con người đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng của cơ thể trưởng thành Bộ

Trang 19

não đã đạt được trọng lượng tối đa khoảng 14000 gram), số tế ào trưởng thành đã phát triển tương đối đầy đủ; hoạt động thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trưởng thành Theo các nhà tâm lý học, lứa tuổi này là “tuổi dậy thì”, các chức năng sinh sản bắt đầu hoàn thiện; giới tính đã phân iệt rõ và phát triển đầy đủ ở m i giới cả về hình thể đến nội tiết tố

Về mặt tâm lý: Độ tuổi từ 17 - 25 là thời kỳ phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ ý thức khả năng tư duy sâu sắc và rộng mở, có năng lực giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn, cũng như có tiến bộ rõ rệt trong lập luận lôgic, trong lĩnh hội tri thức cũng như trí tưởng tượng… Thời kỳ này, các em đã phát triển khả năng hình thành tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập, tính nhạy n, khả năng giải thích ngày càng cao Sự phát triển đó cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo khả năng cho lứa tuổi này biết cách lĩnh hội tối ưu tri thức Đây chính là cơ sở cho toàn bộ quá trính học tập

và nghiên cứu khoa học của m i một sinh viên Một trong những đặc điểm

tâm lý quan trọng của lứa tuổi sinh viên là sự phát triển tự ý thức Tự ý thức

có chức năng điều ch nh ý thức và thái độ đối với bản thân, là sự đánh giá toàn diện về bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống Tự ý thức chính là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo yêu cầu xã hội đòi hỏi

Về mặt xã hội: Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt là

có vai trò xã hội của người lớn Người sinh viên đã có kế hoạch cho tương lai của mình, họ đã ắt đầu độc lập trong phán đoán và hành vi, thể hiện mình trong cuộc sống Vì độ tuổi sau trẻ em và bắt đầu hình thành người lớn, nên thế giới nội tâm của họ vô cùng phức tạp, sự phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình chuyển từ các yêu cầu bên ngoài thành nhu cầu của bản

Trang 20

thân sinh viên và là quá trình tự vận động trong hoạt động tích cực của chính bản thân họ Trong giai đoạn này, người sinh viên thường có những mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa ước mơ của họ với khả năng, điều kiện và kinh nghiệm để thực hiện ước mơ đó; là mâu thuẫn giữa mong muốn học tập chuyên sâu những môn yêu thích và yêu cầu thực hiên toàn bộ quá trình học tập do nhà trường quy định; là mâu thuẫn giữa khối lượng thông tin vô cùng phong phú với khả năng, điều kiện để xử lý thông tin còn hạn chế của bản thân sinh viên

Thái độ học tập của m i sinh viên cũng có rất nhiều biểu hiện khác nhau: có sinh viên học ch vì nghề nghiệp mà không hề quan tâm đến các hoạt động chính trị - xã hội khác Họ ch thực hiện bài tập theo yêu cầu, ch cần đạt điểm theo yêu cầu, ch cần đạt điểm trung bình Ngoài những tài liệu, giáo trình bắt buộc phải đọc thì sinh viên ch đọc theo ý thích, không liên quan gì đến sự phát triển nghề nghiệp; có những sinh viên lại thích học những môn

mà họ coi là tri thức về cuộc sống nói chung trên cơ sở lựa chọn riêng của mình Ngoài giờ học bắt buộc, các em còn tự nguyện tham gia vào các chuyên

đề tự chọn, những giờ phụ đạo, các buổi hòa nhạc v.v… Các em muốn hiểu biết các lĩnh vực mà các em quan tâm, thích tham gia vào các hoạt động khoa học nhưng né tránh các hoạt động tập thể, các công việc xã hội Tuy nhiên có không ít sinh viên ham thích học tập, nghiên cứu nhưng vẫn tham gia tích cực các hoạt động cộng đồng, các hoạt động xã hội; lại có những sinh viên hăng say tham gia hoạt động xã hội nhà trường hơn là nâng cao tri thức Những sinh viên đó gắn bó với trường và tham gia tích cực vào các hoạt động bề nổi Với các em thời sinh viên không có nghĩa ch là giảng đường mà còn có các câu lạc bộ, các tổ chức sinh viên… luôn cố gắng để có mảnh bằng, nhưng ít khi vượt qua ngưỡng tối thiểu

Trang 21

Ngoài những đặc điểm trên, ở vào tuổi của mình, sinh viên còn ít từng trải, thiếu kinh nghiệm và vốn sống hạn chế nên bên cạnh những mặt ưu điểm, các em còn bộc lộ một số hạn chế không tránh khỏi, như: hấp tấp, vội vàng, muốn sớm khẳng định mình nhưng lại thiếu kinh nghiệm sống, tính tự phụ, bồng bột chủ quan, dễ hoang mang dao động khi gặp khó khăn Quá trình tiếp thu thông tin ít chọn lọc, hướng tới các giá trị mới hiện đại nhưng dễ quên quá khứ, quên những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vì vậy trong quá trình học tập, bên cạnh việc giáo dục chuyên môn, nghiệp vụ cho sinh viên cần phải giáo dục đạo đức, truyền thống cách mạng cho sinh viên

Xuất phát từ những đặc điểm trên nên hiểu được tâm lý, xã hội của sinh viên, bản chất tốt đẹp, khả năng cách mạng của tuổi trẻ cũng như những hạn chế của đối tượng này là vấn đề rất quan trọng để những nhà giáo dục có nhận thức, thái độ đánh giá và quan điểm giáo dục đúng đắn Có như vậy, ngành Giáo dục và Đào tạo mới tạo ra những thành quả lớn trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp đổi mới

và phát triển của đất nước

Tính đặc thù c a sinh viên c o đẳng với tư á h à h thể nhận thứ trong họ tập

Để nâng cao chất lượng giáo dục đại học hiện nay nhất thiết phải nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên, vì đây là một bộ phận quan bao gồm hai hoạt động tạo thành: quá trình dạy (hay giảng dạy) và học (hay học tập), là quá trình tác động qua lại giữa chủ thể (người dạy) và khách thể (người học) Ở một góc độ khác như đã phân tích, người học ở đây

là sinh viên - còn giữ vai trò là chủ thể nhận thức và tri thức khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh Học là quá trình tự giác, tích cực tự chiếm lĩnh tri thức khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giảng viên Chiếm lĩnh tri thức khoa học là mục đích của việc học, quá trình này được thực hiện từng ước như sau:

Trang 22

Trước hết, sinh viên phải nắm vững nghĩa, đào sâu các chứa đựng trong các khái niệm, các tri thức khoa học Sau đó tái tạo các khái niệm, các tri thức khoa học đó trong ản thân và phải thao tác với nó, sử dụng nó giống như một công cụ, một phương pháp để chiếm lĩnh các khái niệm và tri thức khoa học khác để mở rộng đào sâu, nâng cao thêm chính xác các khái niệm, tri thức đó ở trình độ lý thuyết cao hơn Khi đã chiếm lĩnh được các khái niệm, các tri thức khoa học thì người học sẽ biến chúng từ trong kho tàng tri thức xã hội thành học vấn riêng của mình Từ đó hình thành cho mình một thái độ mới trong việc đánh giá các giá trị tinh thần và vật chất của thế giới khách quan

Như vậy, khi thực hiện thành công quá trình chiếm lĩnh khái niệm, tri thức khoa học thì người học sẽ thực hiện được ba mục đích: nắm vững khái niệm, tri thức, phát triển tư duy l luận và giáo dục đạo đức Ba mục đích này không tách biệt nhau mà chúng gắn bó thâm nhập, tác động quy định lẫn nhau

Về mặt cấu trúc, quá trình học có 2 chức năng thống nhất với nhau; ngoài việc lĩnh hội, tiếp thu thông tin dạy của thầy và tự điều khiển để chiếm lĩnh khái niệm, tri thức khoa học của sinh viên (tự giác, tích cực, tự lực) là quan trọng Nội dung học chính là nội dung của việc chiếm lĩnh các khái niệm của tri thức khoa học Điều quan trọng trong chiếm lĩnh nội dung của khoa học, của các tri thức khoa học là lĩnh hội phương pháp kiến tạo nên các khái niệm, từ đó rút ra được phương pháp nhận thức khoa học nói chung

Ngoài việc chiếm lĩnh khái niệm, tri thức khoa học, người học phải nắm vững quá trình phát triển logic của khái niệm của tri thức khoa học Vì khái niệm khoa học luôn vận đông iến đổi và phát triển cùng với sự vận động, phát triển của thực tiễn

Vậy, nội dung của học là một nguyên lý khái niệm của môn học, cấu trúc logic của môn học đó, phương pháp đặc trưng của khoa học, ngôn ngữ

Trang 23

của khoa học đó và iết ứng dụng những hiểu biết đã có vào việc học tập, lao động của mình Từ đó hình thành khái niệm mới tri thức mới, phương pháp chiếm lĩnh khái niệm khoa học Chúng ta có thể khẳng định: học có nghĩa là nhận thức, phương pháp học cũng là phương pháp nhận thức Muốn học tốt sinh viên cần thống nhất giữa mục đích, nội dung và phương pháp học Đó là

sự điều khiển tối ưu quá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học trên cơ sở tự điều khiển và hướng dẫn của người dạy

Dạy là quá trình điều khiển tối ưu hóa học sinh, sinh viên chiếm lĩnh khái niệm khoa học, tri thức khoa học nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người học Dạy học có mục đích là điều khiển sự học tập của học sinh, sinh viên Dạy có hai chức năng tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau,

đó là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động của người học

Sơ đ 1.1 Quá trình dạy học

Quá trình học tập của sinh viên thực chất là quá trình nhận thức, tức đi

từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực

Trang 24

tiễn, nhưng có điểm khác iệt là quá trình đó luôn có vai trò giúp đỡ, định hướng, hướng dẫn của giảng viên Đây là n t đặc thù của sinh viên nói chung, của sinh viên cao đẳng nói riêng Trong quan hệ với giảng viên, sinh viên cao đẳng là khách thể của quá trình giáo dục và đào tạo; trong quan hệ với tri thức khoa học và thực tiễn xã hội, sinh viên cao đẳng lại tồn tại với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức Các tri thức khoa học và một phần thực tiễn xã hội sẽ trở thành khách thể nhận thức của sinh viên cao đẳng Cũng giống như sinh viên nói chung, sinh viên cao đẳng luôn tồn tại trong mối quan hệ “k p” Trong quan hệ với nhà trường, với giảng viên, sinh viên là khách thể, là đối tượng của quá trình giáo dục và đào tạo Vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên cao đẳng khác với sinh viên đại học ở ch : Những tri thức khoa học mà sinh viên cao đẳng cần nắm vững là những tri thức dưới chuẩn đại học và nghiêng về kỹ năng hoạt động nghề nghiệp nhiều hơn Sinh viên cao đẳng cũng khác với những học sinh trung học hay học nghề ở ch học sinh trung học hay học nghề tiếp thu những tri thức nghiêng về kỹ năng thực hành, nghiệp vụ cụ thể nhiều hơn, trình độ dưới chuẩn cao đẳng

Vai trò c sinh vi n o đẳng với tư á h à h thể nhận thức trong học tập

Quá trình sinh viên học tập chính là quá trình nhận thức dưới sự hướng dẫn của giảng viên, nhưng vai trò của sinh viên với tư cách chủ thể nhận thức

là hết sức quan trọng Mục đích của việc học là chiếm lĩnh một số kiến thức

và kỹ năng mà loài người đã iết để từ đó vận dụng vào cuộc sống phục vụ con người Hoạt động học còn là sự cố gắng rèn luyện nhân cách xét trong mối quan hệ qua lại giữa một bên là kiến thức, kỹ năng, một bên là nhân cách người học Học tập là một hoạt động làm thay đổi kinh nghiệm của cá nhân một cách bền vững, có định hướng và quan sát được; là một thuộc tính phản ánh khách quan có mục đích của con người Ngoài ra, nghiên cứu khoa học là

Trang 25

một khâu quan trọng trong quá trình học tập, bản chất của hoạt động nghiên cứu khoa học là tìm tòi, sáng tạo, phát minh Như vậy, một trong những mục tiêu cơ ản của quá trình học tập là để trang bị kiến thức cho bản thân người học, cả về kiến thức chuyên ngành và kiến thức xã hội Không ch học hỏi những kiến thức chuyên ngành, những người tham gia học tập nói chung và sinh viên nói riêng còn có cơ hội tìm hiểu thêm được rất nhiều kiến thức xã hội thông qua sách vở và những bài giảng của giảng viên Ở bậc đại học, cao đẳng, sinh viên được trang bị kiến thức chuyên sâu phù hợp với ngành học của mình để có những trang bị tốt nhất cho việc làm của mình sau này Tuy

nhiên, học tập không ch để trang bị các kiến thức chuyên ngành, một sinh

viên sau khi ra trường cần có một vốn kiến thức xã hội nhất định Để có được điều đó, không có con đường nào khác là thông qua quá trình tự học và tự tích lũy, tự tìm tòi, sáng tạo… Một trong những phương pháp tự học về đời sống

xã hội tốt nhất đối với sinh viên đại học, cao đẳng là tham gia các hoạt động tình nguyện, các chiến dịch mùa hè xanh… Học để có tư duy, có khả năng tiếp thu nền tri thức tiên tiến của nhân loại, để từ đó ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống Học để trang bị những kĩ năng mềm, những cách ứng xử chuẩn mực, cách hòa nhập trong đời sống xã hội Điều đó có nghĩa là khi học tập, sinh viên cần có ý thức trau dồi nhận thức của bản thân về cách ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, tức là kĩ năng sống, kĩ năng hòa nhập và hợp tác trong quá trình làm việc để có thể đạt được kết quả tốt

Tóm lại, sinh viên đóng vai trò quyết định trong quá trình học tập, chiếm lĩnh tri thức khoa học và một phần thực tiễn xã hội Sinh viên - chủ thể nhận thức đóng vai trò quyết định trong việc hình thành tri thức mới từ những tri thức đã lĩnh hội Sinh viên - chủ thể nhận thức đóng vai trò quyết định trong quá trình vận dụng các tri thức đã lĩnh hội vào học tập, lao động sản xuất và nghiên cứu khoa học

Trang 26

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sinh viên - chủ thể nhận thức trong học tập

Từ những điều kiện có liên quan và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đào tạo, có thể nói có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sinh viên - chủ thể nhận thức trong học tập, như: mục tiêu, nội dung và chương trình giáo dục đại học; những vấn đề về quản lý, các quy chế, cách kiểm tra, đánh giá chất lượng; số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên; cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học và tài chính; chế độ sử dụng và đãi ngộ đối với giảng viên, nhất là đối với những giảng viên có học hàm, học vị cao

Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi ch trình bày một

số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh viên - chủ thể nhận thức trong học tập

Thứ nhất: Mục tiêu, n i dung, chương trình và giáo trình của giáo dục đại học

Mục tiêu của giáo dục đại học trình độ cao đẳng) là “ giúp sinh viên

có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ ản để giải quyết những

vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo” [28, tr.30-31]

Nội dung giáo dục đại học (trình độ cao đẳng) là bảo đảm cho sinh viên

có “… những kiến thức khoa học cơ ản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ ản và năng lực thực hiện công tác chuyên

môn…” [28, tr.31-32]

Luật Giáo dục nước ta khẳng định chương trình giáo dục đại học phải đảm bảo “thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với m i môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác” [28,tr.33-34]

Về giáo trình đại học, Luật Giáo dục nhấn mạnh: “… cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối

Trang 27

với m i môn học, ngành học, trình độ đào tạo” [28, tr.34] Để việc học tập của sinh viên đạt kết quả cao và chất lượng tốt, ngoài các tài liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu, hệ thống giáo trình có vai trò đặc biệt quan trọng

M i giáo trình của một môn học phải đạt được mục tiêu là trang bị một lượng tri thức khoa học cơ sở của chuyên ngành và chuyên sâu có tính chất chuyên biệt nhưng không có nghĩa là hoàn toàn độc lập, tách rời với các môn khoa học khác Hiện nay trong thực tế ở nước ta trên thị trường có hàng vạn bộ giáo trình phục vụ cho các môn học, sinh viên chủ thể nhận thức phải lựa chọn những giáo trình chuẩn, tài liệu chuẩn phục vụ cho ngành học của mình, mặt khác phần lớn các giáo trình đại học, cao đẳng hiện nay ở nước ta vẫn còn nặng về lý thuyết, coi trọng tri thức hàn lâm, nhẹ về ứng dụng thực hành, chất lượng giáo trình còn thấp, ngoài ra giáo trình đại học, cao đẳng nội dung lạc hậu, chương trình chưa được thiết kế liên thông giữa các cấp, bậc trình độ đào tạo Những yếu tố đó đã ảnh hưởng đến vai trò chủ động, tích cực của sinh viên trong học tập, nghiên cứu

Như vậy để giảng dạy và học tập tốt, giảng viên, sinh viên phải bám sát yêu cầu về mục tiêu, nội dung, chương trình của giáo dục đại học Mặt khác mục tiêu, nội dung, chương trình của giáo dục đại học quy định sinh viên - chủ thể nhận thức phải lĩnh hội đủ lượng tri thức đại cương, tri thức chuyên nghiệp ở từng cấp học ngành học Có như thế mới giúp cho sinh viên có cách nhìn tổng quát về chuyên ngành của mình trong lịch sử, hiện tại và tương lai

Thứ hai: Hệ thống các phương pháp

Cùng với mục tiêu, nội dung, chương trình và giáo trình, phương pháp giảng dạy, giáo dục có tác động mạnh mẽ đến sinh viên - chủ thể nhận thức Trong Luật Giáo dục, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy

Trang 28

sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia

nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [28, tr.32] Hệ thống các phương pháp

trong quá trình dạy, học là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh viên cao đẳng - chủ thể nhận thức trong học tập Thực chất của phương pháp giảng dạy ở đại học, cao đẳng là khuyến khích sự chủ động học tập, nghiên cứu khoa học của người học kết hợp với việc giảng dạy, hướng dẫn của người dạy Phương pháp phải thể hiện được nguyên lý giáo dục: Lý luận gắn liền với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường kết hợp với các hoạt động xã hội… Vậy

thực tế đó yêu cầu giảng viên phải sử dụng một loạt các phương pháp để có

thể: bồi dưỡng năng lực, định hướng trong hoạt động khoa học và đời sống cho sinh viên Quá trình này trên thực tế đã được hình thành từ trong các trường phổ thông Chẳng hạn, để xác định hướng đi và nghề nghiệp cho bản thân ngay từ khi học phổ thông tùy theo năng khiếu và sở thích của mình,

m i học sinh đã xác định hướng đi và nghề nghiệp cho bản thân bằng cách lựa chọn ngành với khả năng và sở thích của mình Tuy nhiên, các trường cao đẳng có nhiệm vụ giúp sinh viên của mình định hướng và xác định lại, cung cấp những phương pháp giúp sinh viên tự tin và quyết tâm học tập hơn nữa để có một cơ sở tốt cho tương lai, nghề nghiệp sau này Hơn nữa, hệ thống các phương pháp giảng dạy giúp sinh viên phát triển tư duy trừu tượng,

tư duy l luận, rèn luyện ngôn ngữ để nắm bắt được các thuật ngữ mới, rèn luyện cách diễn đạt, cách làm bài kiểm tra, bài thi chuẩn xác, khoa học và

logic Ngoài ra, hệ thống phương pháp giảng dạy còn giúp sinh viên rèn

luyện năng lực vận dụng các tri thức và giải pháp hoạt động trí tuệ để nắm được các đối tượng và các quá trình mới, bồi dưỡng năng lực dự báo khoa học, bồi dưỡng năng lực tổ chức lao động một cách khoa học Hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục đại học nói riêng đã tích cực

Trang 29

đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng dạy học tích cực và ước đầu đã

có những chuyển biến đáng kể Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy đại học vẫn còn một số hạn chế, như chủ yếu vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình; nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa phát huy tính chủ động sáng tạo của sinh viên - chủ thể nhận thức…

Thứ ba: Đ i ngũ giảng viên đại học, cao đẳng

Luật Giáo dục khẳng định: Giảng viên là nhân tố quyết định chất lượng

giáo dục Nói chính xác hơn, số ượng, chất ượng gi ng viên đặc biệt là chất

lượng) là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới chất lượng học tập và nghiên cứu của sinh viên Hiện nay đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục chiếm phần lớn trong đội ngũ những người ăn lương của nhà nước Gần đây theo Báo cáo của Chính phủ thì tổng số đội ngũ giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng lên tới hơn 60 nghìn người, riêng cán bộ giảng dạy đạt trình

độ Thạc sĩ trở lên chiếm hơn 29 nghìn người (www.moet.gov.vn, số liệu

thống kê giáo dục đại học) Cụ thể:

Giảng viên hệ Cao đẳng 2007 - 2008 2008 - 2009

20.183

17.888 2.295 Phân theo trình độ chuyên môn

Trang 30

Giảng viên hệ Đại học 2007 - 2008 2008 - 2009

41.007

37.016 3.991 Phân theo trình độ chuyên môn

bậc cao đẳng Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy hàng năm các trường đều

có kế hoạch đào tạo cán bộ, giảng viên tuy nhiên hiện nay số lượng giảng viên

có học hàm học vị chiếm tỷ lệ 49% Điều này phản ánh trình độ chuyên môn của giảng viên chậm được nâng cao Hàng năm các trường đại học, cao đẳng

tổ chức các hội thảo khoa học về đổi mới phương pháp giảng dạy, tổ chức hội giảng, nhưng trong thực tế phần lớn giảng viên chưa tích cực cải tiến phương pháp giảng dạy Phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là phương pháp truyền thống, tức là “đặt giảng viên vào vị trí trung tâm”, giảng viên m i người dạy một cách vì có một số môn học như Tin học, Ngoại ngữ… chưa có giáo trình chuẩn Đông đảo đội ngũ giảng viên không có cơ hội để được đào tạo và bồi dưỡng thêm kiến thức nên chưa đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại

Số giảng viên giảng dạy tham gia nghiên cứu khoa học còn ít, một biện pháp

để nâng cao trình độ cũng còn hạn chế, chính sách ưu đãi để khuyến khích giảng viên đi học nâng cao trình độ chưa hấp dẫn Vì vậy mà tỷ lệ giảng viên

đi học thêm để nâng cao trình độ chưa nhiều Những hạn chế về trình độ,

Trang 31

năng lực sư phạm của giảng viên, những bất cập về “chính sách đối với đội ngũ giảng viên tuy có cải tiến, nhưng chưa hấp dẫn học sinh học giỏi vào ngành sư phạm, đời sống của đa số các thầy cô giáo còn quá thấp…”; “Trình

độ chuyên môn của giáo viên chậm được nâng cao… Chậm sắp xếp lại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và phổ thông” [38, tr.177], đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo, đến học tập và nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng nói riêng, sinh viên nói chung

Thứ tư: Cơ sở vật chất, điều kiện sống và chính sách đối với sinh viên

Trong quá trình giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên dù được tiến hành dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều được diễn ra trong những điều kiện cơ sở vật chất nhất định Cơ sở vật chất của nhà trường sẽ ảnh hưởng nhất định đến kết quả học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên Sau hơn 20 năm đổi mới, Nhà nước liên tục tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo,

vì vậy cơ sở vật chất của các trường đại học, cao đẳng có sự chuyển biến đáng

kể Nhiều trường đại học, cao đẳng đã được xây mới, được sửa chữa, cải tạo

và nâng cấp; giảng đường, k xá, khu vui chơi giải trí, trang thiết bị để phục

vụ cho giảng dạy và học tập được quan tâm đầu tư Tuy vậy, nhìn một cách tổng thể, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy - học tại các trường cao đẳng và đại học hiện nay ở nước ta vẫn còn lạc hậu, thiếu thốn và chưa đồng bộ Điều này đã và sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của sinh viên, đến việc phát huy và nâng cao tính chủ động, tích cực của sinh viên trong học tập Muốn có sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao vai trò chủ động tích cực của sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu thì các cấp chính quyền, địa phương và từng trường phải có sự quan tâm đặc biệt hơn, tăng cường đầu

tư ngân sách cho công tác giáo dục, đào tạo đại học trong đó có trình độ cao

Trang 32

đẳng Nếu cơ sở vật chất tốt, đạt chuẩn quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo thì chắc chắn giáo dục đại học, cao đẳng của chúng ta được nâng cao hơn về chất lượng giáo dục Đồng thời sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên thì cần tạo môi trường, điều kiện vật chất tốt nhất cho sinh viên thực tập và nghiên cứu khoa học Điều kiện sống và chính sách đối với sinh viên, điều kiện sống và những chính sách đối với sinh viên sẽ là vật cản hoặc động lực thúc đẩy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập Nếu điều kiện sống

và chính sách ưu đãi tốt thì sinh viên sẽ có động lực để tích cực hơn trong quá trình học tập Ngược lại sinh viên sẽ bị chi phối thời gian và tâm trí cho việc kiếm sống, kiếm tiền chi phí cho học tập Như vậy thời gian học tập sẽ bị rút ngắn và chất lượng học tập giảm sút

Để sinh viên có động lực, tích cực trong học tập thì cần phải tiếp tục đổi mới chính sách đối với sinh viên Đảng, Nhà nước, địa phương và các trường cần phải có đủ chính sách ưu đãi hơn nữa, tăng học bổng đối với sinh viên học giỏi, có chính sách ưu đãi giúp đỡ những sinh viên nghèo để họ an tâm học tập, phát triển tài năng Phải có chế độ ưu đãi đối với sinh viên tốt nghiệp đạt loại giỏi, đặc biệt là các đối tượng chính sách… Sự quan tâm, tạo điều kiện về vật chất, tinh thần thiết thực như vậy sẽ động viên sinh viên tích cực phấn đấu rèn luyện trong học tập

1.2 Nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập - yêu cầu bức thiết của việc nâng cao chất lƣợng giáo dục đại học, cao đẳng

1.2.1 Yêu cầu của công cu c đổi mới đối với việc đào tạo ngu n nhân lực

Giáo dục nhằm vào định hướng phát triển, trước hết là cung cấp cho xã hội đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, năng động và sáng tạo; có đạo đức nghề nghiệp và ý thức chấp hành tốt kỷ luật lao động; có ý thức hội

Trang 33

nhập và thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Yêu cầu này đặt ra cho ngành Giáo dục và Đào tạo cần phải có những quan điểm mới về phát triển Giáo dục & Đào tạo Những quan điểm có tính chiến lược này của Đảng ta được thể hiện trong nhiều Nghị quyết của Đảng (Nghị quyết lần thứ tư, khóa VII; Nghị quyết lần thứ hai, khóa VIII, Nghị quyết lần thứ sáu, khoá IX và Luật Giáo dục Các quan điểm đó, tựu trung lại bao gồm các nội dung cụ thể sau:

Giáo dục là quốc sách hàng đầu, cần được các ngành, các cấp nhận

thức một cách đúng đắn và sáng tạo Có nghĩa, giáo dục phải mang tính xã hội hóa, là sự nghiệp của toàn dân, của các tổ chức giáo dục, các tập thể và các cá nhân M i người phải góp sức phát triển giáo dục và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục

Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Nhà nước cấp ngân sách cho giáo dục, đào tạo là chủ yếu, nhưng không vì thế mà giáo dục được bao cấp hoàn toàn Người đi học, cơ quan sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp kinh phí cho giáo dục, đào tạo Ngoài ra cần tạo môi trường thuận lợi hơn

để giáo dục có thể vay vốn từ bên ngoài, tranh thủ sự h trợ bên ngoài;

Mọi người dân đều có mong muốn được hưởng cơ hội giáo dục, cho nên Nhà nước phải tạo quyền ình đẳng trước các cơ hội được giáo dục, phải

ưu tiên phát triển giáo dục tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa…; đặc biệt chú đến những đối tượng chính sách

Những chủ trương trên của Đảng và Nhà nước trong những năm qua đã giúp cho ngành Giáo dục & Đào tạo nước ta có ước chuyển biến đáng kể cả

về quy mô, lẫn chất lượng giáo dục Điều này được thể hiện đầy đủ trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX

Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ngày càng đẩy mạnh

ở nước ta đã đặt ra ngày càng cao nhu cầu về chất lượng và số lượng nguồn

Trang 34

nhân lực có trình độ cao Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn ản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ch có thể thành công nếu có một đội ngũ nhân lực đủ về số lượng và đáp ứng được yêu cầu về chất lượng Đây chính là trách nhiệm của ngành giáo dục và đào tạo nước ta, đặc biệt là giáo dục đại học

Một trong những tiền đề quan trọng bậc nhất để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là phải nâng cao trình độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng ở mọi trình độ, từ công nhân đến cán

bộ kỹ thuật có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học Các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển đều coi giáo dục đào tạo là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của m i quốc gia Trong các nguồn lực của sự phát triển thì nguồn lực con người quyết định nhất Con người là tài sản lớn nhất, là tiềm năng qu nhất của đất nước, là đòn ẩy quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội, là nhân tố quyết định các nhân tố khác

Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, yêu cầu của kinh tế thị trường, những năm qua, Đảng ta đã coi trọng chiến lược con người, coi trọng giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục đại học Nếu nguồn lực con người là động lực trực tiếp của sự phát triển thì giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục đại học là nền tảng của chiến lược con người Trong những năm tới để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trong các trường đại học, cao đẳng thì giải pháp đầu tiên, có nghĩa là phải nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên Người giảng viên không

Trang 35

những đạt chuẩn quy định khi tuyển dụng mà cịn phải được bồi dưỡng thường xuyên, liên tục, được đào tạo lại, được vận dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại vào điều kiện thực tế của trường, lớp, địa phương và đối tượng sinh viên của mình, được cung cấp những trang thiết bị dạy học tiên tiến Nội dung giảng dạy phải đảm bảo sự cân đối giữa lý thuyết với thực hành, cần phải cập nhật kịp thời tri thức hiện đại của thế giới và những vấn đề bức xúc của đất nước, cần chú đến yếu tố kỹ năng, kỹ thuật cơng nghệ và thực nghiệm, để cĩ thể cung cấp cho xã hội một nguồn nhân lực cĩ chất lượng cao, cĩ phẩm chất, năng lực kỹ năng nghề nghiệp… đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu khắt khe của thời đại mới Phải thay thế quan niệm “đào tạo theo nhu cầu của người học” ằng “đào tạo theo yêu cầu của xã hội” Điều ch nh cơ cấu đào tạo sinh viên cho phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhanh chĩng khắc phục tình trạng mất cân đối trong các ngành nghề

Trước tình hình đĩ, giáo dục, đào tạo phải đáp ứng được yêu cầu mới của xã hội, cần phải đào tạo cĩ quy mơ để hình thành một đội ngũ nhân lực

cĩ cơ cấu phù hợp với yêu cầu khắt khe của thị trường lao động Nghĩa là giáo dục khơng ch trang bị tri thức, lý thuyết suơng mà phải chuẩn bị những

kỹ năng cho người lao động Muốn vậy, cần phải tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và cơng nhân lành nghề, đội ngũ các nhà quản lý, các nhà doanh nghiệp; kế hoạch hĩa giáo dục và đào tạo gắn liền với chiến lược sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực từ sinh viên cao đẳng Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đối với giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phải đổi mới giáo dục, đào tạo tồn diện Một trong những hướng đĩ là phải đổi mới cách dạy, cách học, nâng cao vai trị chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Trang 36

1.2.2 Yêu cầu đổi mới giáo dục đại học (trình đ cao đẳng)

Trong báo cáo tổng kết với đầu đề: “Học tập của cải nội sinh”, Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO đã đưa ra các nguyên tắc để xác định nội dung giáo dục, đào tạo trong thế kỷ Ngưỡng cửa thế kỷ XXI là ngưỡng cửa của xã hội học tập, một nền văn minh dựa vào quyền lực của tri thức, giáo dục vừa phải cung cấp tri thức, vừa phải dạy công nghệ (cách làm) làm sao trong dòng thông tin ngày càng đầy ắp mà m i người, từng cộng đồng vẫn phát triển, đủ sức định hướng được trong đó Vậy, đổi mới giáo dục đại học tức là đổi mới cách dạy và học Dạy ở trường là dạy tri thức, kỹ năng và thái độ để sao cho ra đời vừa làm việc, vừa tiếp tục học suốt đời mới có thể thích nghi với thế giới phong phú, luôn biến đổi và phụ thuộc lẫn nhau… Học tức là biết ứng dụng vào cuộc sống, để biết và làm, mà nguyên lý giáo dục đã khẳng định: Giáo dục giúp m i người phát hiện ra và làm giàu tiềm năng sáng tạo của bản thân, năng lực nội sinh của m i người, đó là vốn liếng làm cho

m i người trở nên giàu có Đó là quá trình phát triển của m i người, m i nhân cách, cũng là quá trình con người tự khẳng định mình, tự thể hiện mình trong cộng đồng, trong xã hội Trong báo cáo tổng kết với đầu đề: “Học tập của cải nội sinh”, Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO đã đưa ra các nguyên tắc để xác định nội dung giáo dục, đào tạo trong thế kỷ Đó là:

Họ để biết: Ngoài thu nhập thông tin, tiếp thu tri thức, phải nhấn

mạnh việc tạo lập và sử dụng thành thạo tri thức như các công cụ nhận thức Việc học tập vừa là phương tiện vừa là mục đích Là phương tiện, học tập giúp con người hiểu được môi trường sống và làm việc của mình để mà sống trong nhân phẩm, phát triển kỹ năng nghề nghip và giao tiếp Là mục đích học tập đem lại sự thỏa mãn hiểu được, biết được và phát minh, phát hiện, có tư duy độc lập, có khả năng phê phán có và kiến riêng của mình Ở bậc đại học, cao đẳng thì phương pháp học tập, đặc biệt là phương pháp nghiên cứu khoa

Trang 37

học rất quan trọng Biết đọc tài liệu, sử dụng đồ dùng thực nghiệm, có quan điểm khoa học Tất nhiên phải trên cơ sở có các tri thức khoa học và văn hóa chung Nói như vậy, không có nghĩa là giáo dục trong thời đại này không chú đến khả năng tập trung chú ý, khả năng ghi nhớ và tư duy của người học, cả những cái đó là phương pháp rất cơ ản để học tập, lao động, sáng tạo Nhất

là trong thời đại ngày nay, thời đại của công nghệ, thông tin vô tuyến đã có trong mọi gia đình Ngày nay cần phải nhấn mạnh quan niệm rằng, việc giáo dục, đào tạo trong nhà trường được coi là kết quả, khi nó tạo được cơ sở và động lực cho người học tiếp tục học tập, rèn luyện suốt đời;

Họ để làm: Vấn đề này thường được giải quyết dưới góc độ của việc

học gắn với làm, gắn lý thuyết với thực hành Giáo dục thế kỷ này phải thích nghi với đặc điểm: Chuyển từ đào tạo kỹ năng sang hình thành một trình độ chuyên môn cao Trình độ chuyên môn bao gồm: tri thức, công nghệ (biết cách làm) và kỹ năng sống theo nghĩa rộng, nhất là khả năng giao tiếp, hợp tác điều hành, từ đó đi vào thị trường lao động, thị trường việc làm, thích nghi

và sáng tạo cuộc sống, phát triển bản thân, phát triển kinh tế - xã hội Bớt công việc chân tay lao động phi vật hóa) và tăng cường ngành dịch vụ Dịch

vụ ở đây là các loại chuyên gia, tư vấn, dịch vụ tài chính, thống kê, quản trị, dịch vụ xã hội, giáo dục, y tế… Đặc trưng của ngành dịch vụ là không sản xuất ra sản phẩm Dịch vụ cơ ản là quan hệ giữa người với người Quan trọng nhất trong dịch vụ là thông tin vào giao tiếp, năng lực nắm bắt của từng người trong dịch vụ quan hệ giữa người với người, giữa người cung cấp và người tiêu dùng là thứ nhất, thứ hai mới đến quan hệ giữa vật liệu và công nghệ Từ đây rút ra kết luận rằng: giáo dục đại học, cao đẳng phải đặc biệt chú trọng đến các phẩm chất người, rồi mới cần chú đào tạo các loại hình kỹ năng là kỹ năng hành vi giao tiếp, sau đó mới đến các kỹ năng thuần túy trí tuệ Giáo dục đại học, cao đẳng phải tạo cơ hội cho mọi người được một vài

Trang 38

nghề, vấn đề đặt ra là trường nào có thể làm việc đó, và cái chính là phải làm bằng cách nào? Nội dung, chương trình giảng dạy phải tính toán ra sao? Để nhà trường tạo ra cho người học một số vốn liếng thích nghi với chuyển đổi nghề

Học cách chung sống với người khác: Đây là một vấn đề gay cấn của

giáo dục hiện nay Thế giới ngày nay có quá nhiều bạo lực, nhiều mâu thuẫn kéo dài và huỷ hoại nhân loại Cho đến nay, giáo dục chưa tham gia nhiều vào giải quyết các vấn đề này Nhân loại đã, đang ước vào thế kỷ XXI, vấn đề là làm sao tìm được loại hình giáo dục tránh được, hoặc giải quyết một cách hòa bình các mâu thuẫn bằng cách giáo dục thái độ tôn trọng các dân tộc khác, các nền văn hóa, các giá trị tinh thần của họ Phải nói thêm rằng: giáo dục giữ vai trò to lớn đối với tiến bộ xã hội, với cách mạng khoa học kỹ thuật, nhưng giáo dục không thay thế cho cách mạng xã hội được

Họ để tự khẳng định mình: Giáo dục phải đóng góp vào sự nghiệp

phát triển toàn diện của m i cá thể Mọi tồn tại của con người đều phải được giúp đỡ để phát triển độc lập, có đầu óc phê phán và có ý kiến riêng của mình,

tự mình quyết định sự suy nghĩ và hành động, thực hiện suy nghĩ của mình trong các hoàn cảnh sống khác nhau Làm thế nào để trong thế giới đang có nhiều tiến bộ kỹ thuật, nhất là thông tin tiến nhanh kỳ diệu mà tránh được xu thế phi nhân văn, đề cao từng con người tự có trách nhiệm quyết định và giải quyết các vấn đề của mình Nhiệm vụ cơ ản của giáo dục thế kỷ XXI là mang lại cho mọi người tự do suy nghĩ, phán đoán, tình cảm và trí tượng tượng để có thể phát triển tài năng của mình và tự kiểm tra cuộc sống của mình Hãy giáo dục các nhân cách hết sức đa dạng, độc lập và có sáng kiến, hết sức tránh giáo dục cào bằng hành vi cá thể, tất cả những đặc điểm đó là cơ

sở để có khả năng sáng tạo, canh tân xã hội và kinh tế - động lực chính để đưa nhân loại tiến vào thế kỷ mới - Thế kỷ XXI là thế kỷ của tài năng và nhân

Trang 39

cách đa dạng, các cá thể biệt tài tạo ra một nền văn minh mới bao gồm đạo đức, nghệ thuật, thể thao, khoa học, kỹ thuật, văn hóa xã hội [24, tr.234] Học

để tự khẳng định mình là tạo sự phát triển toàn diện con người với toàn bộ sự phong phú của nhân cách từng người, toàn bộ các hình thái thể hiện mình và các cam kết khác nhau của bản thân với tư cách là một cơ thể người, một thành viên của gia đình và cộng động, một người lao động, một người sản xuất, một người sáng chế kỹ thuật và một người có ước mơ sáng tạo; chống lại sự tha hóa của con người Điều này đòi hỏi phải nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học cần phải coi trọng việc xây dựng chương trình khung và công tác iên soạn chương trình, giáo trình Thực tế là hiện nay nhiều giáo trình đại học còn thiếu, nội dung còn lạc hậu, tài liệu tham khảo còn nghèo nàn Chương trình chưa được thiết kế liên thông giữa các cấp, bậc, trình độ đào tạo Tình trạng thiếu giảng viên, nhất là giảng viên có học vị, học hàm diễn ra hầu hết các trường đại học, cao đẳng Hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học, cao đẳng chưa được quan tâm đúng mức, đa số giảng viên ch tập trung vào giảng dạy, ít tham gia nghiên cứu khoa học Bằng những nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, từ học phí, tranh thủ viện trợ các trường đã cố gắng nâng cấp thư viện, phòng thí nghiệm, cơ sở thực hành, mua sắm thiết bị hiện đại và nối mạng Internet Tuy nhiên, tình trạng chung là cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường ch mới đáp ứng khoảng 1/3 chuẩn quy định, đây là ất cập lớn của giáo dục đại học, cao đẳng nước ta

Tệ nạn sử dụng văn ằng, chứng ch không hợp pháp, hiện tượng “học giả, bằng thật”, hiện tượng không trung thực trong học tập và thi cử có xu hướng lan rộng, ảnh hưởng xấu đến chất lượng giáo dục, đào tạo, đến đạo đức của thế hệ trẻ và lòng tin của xã hội Bệnh thành tích đã tác động đến quá trình dạy - học, đánh giá học sinh, sinh viên cũng như công tác quản lý giáo dục và

Trang 40

đây là một trong những nguyên nhân làm cho việc đánh giá tình hình giáo dục, nhất là về chất lượng, chưa phản ánh đúng thực chất Từ những thành tựu cũng như yếu kém, bất cập nêu trên của giáo dục đại học Việt Nam thì yêu cầu đặt ra cho giáo dục, đào tạo nói chung, trong đó có giáo dục đại học, là phải đổi mới mạnh mẽ để góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,

sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân vừa là thời

cơ, vừa là thách thức to lớn đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Trong bối cảnh đó, không còn cách nào khác là giáo dục và đào tạo phải được đổi mới mạnh mẽ mà trước hết là phải đổi mới phương pháp dạy - học… Cần phải nhận thức sâu sắc hơn mục tiêu giáo dục đại học trong thời kỳ này là “đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình

độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [38, tr.30-31]; phát triển con người Việt Nam, đầy đủ bản lĩnh, phẩm chất tốt và có tri thức để đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Sản phẩm của các trường đại học, cao đẳng phải là những người lao động có tri thức, trung thực, năng động và sáng tạo, biết hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, có hoài ão, có chí vươn lên, tự lập và góp phần đưa đất nước ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Quá trình mở cửa, hội nhập, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và khối lượng tri thức của nhân loại ngày càng lớn, đòi hỏi giáo dục phải thường xuyên cập nhật các thành tựu mới, đồng thời phải chuyển dần từ việc học để tiếp nhận tri thức sang học để biết cách tìm kiếm và tích lũy tri thức

Trong bối cảnh trên, để tạo ra một sự chuyển biến cơ ản và vững chắc, rút ngắn khoảng cách so với các nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của

Ngày đăng: 04/10/2021, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w