Các phương pháp quản lý Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người: Mà mỗi con người là những thực thể khác biệt nhau, xuất phát từ môi trường xã hội và môi trường đào tạo khác nhau nên
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng Đại học Vinh
Nguyễn Văn Quang
Các giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản lý đào tạo tại tr-ờng cao đẳng múa Việt nam
trong thời kỳ hội nhập
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Vinh - 2010
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng Đại học Vinh
Nguyễn Văn Quang
Các giải pháp nâng cao hiệu quả
Quản lý đào tạo tại tr-ờng cao đẳng múa Việt nam
trong thời kỳ hội nhập
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Hùng
Vinh - 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn khoa học này là kết quả của quá trình 2 năm học tập tại khoa Sau đại học - Đại học Vinh với sự giảng dạy và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như những nỗ lực học hỏi của bản thân
Với tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến PGS.TS Hà Văn Hùng - người hướng dẫn luận văn - Thầy đã dành cho em những lời chỉ bảo ân cần, những kiến thức và kinh nghiệm quý báu giúp em tự tin vượt qua những khó khăn trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn
Và xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các phòng khoa chuyên môn đã cung cấp số liệu, đóng góp ý kiến và cung cấp thông tin Trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên khích lệ tinh thần để tác giả yên tâm trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả mong muốn nhận được những lời góp ý và chỉ dẫn của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Văn Quang
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD& ĐT: Bộ Giáo dục & Đào tạo
BVH-TT-DL: Bộ Văn hóa - Thể thao và Du Lịch
Trang 5MỤC LỤC -
MỞ ĐẦU
Trang
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
Trang 61.2.3.1 Khái niệm nhà trường 17
1.4 Đặc điểm của công tác quản lý đào tạo trong các Trường
Văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam
27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO
ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 2.1 Khái quát chung về Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 32
2.1.2 Nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 34
2.1.4 Khái quát công tác đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 38 2.2 Thực trạng quản lý đào tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 42
2.2.2 Quản lý nội dung chương trình đào tạo 46
2.2.5 Tổ chức và quản lý mối liên kết đào tạo 61
Trang 7CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
3.3.1 Tăng cường quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo 80
3.3.3 Tăng cường công tác quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật 88
3.3.4 Tăng cường quản lý công tác kiểm tra đánh giá công tác đào tạo 90
3.3.5 Tăng cường công tác quản lý học sinh - sinh viên 94 3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 96
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam - Vườn ươm lớn của nghệ thuật Múa Việt Nam - được thành lập năm 1959 với nhiệm vụ đào tạo diễn viên múa chuyên nghiệp cho các nhà hát, các đoàn văn công, các đơn vị nghệ thuật trong
cả nước
Trải qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, Trường Cao đẳng Múa Việt Nam đang từng bước hội nhập quốc tế trong lĩnh vực đào tạo diễn viên múa.Thế nhưng hội nhập quốc tế đồng thời cũng là thách thức rất lớn với ngành múa Việt Nam nói chung và Trường Cao đẳng Múa Việt Nam nói riêng Mặt khác công tác quản lý đào tạo ở Trường Cao đẳng Múa Việt Nam còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của thực tiễn xã hội trong thời kỳ hội nhập
Để đạt được mục tiêu đào tạo theo tinh thần của nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ hội nhập “Xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” mà nhiệm
vụ đối với các trường Văn hoá Nghệ thuật là ngày một nâng cao về số lượng và chất lượng sản phẩm văn hoá nghệ thuật Đồng thời để đạt mục đích nâng cấp Trường Cao đẳng Múa Việt Nam lên thành Học viện Nghệ thuật Múa Quốc gia Việt Nam, đòi hỏi tất cả các hoạt động của Trường Cao đẳng Múa Việt Nam phải không ngừng đổi mới, trước hết là công tác quản lý đào tạo
Thực tế ở trường đã có rất nhiều nghiên cứu, những đề tài viết về lĩnh vực quản lý giáo dục, quản lý văn hóa dân gian song mới chỉ tập trung đi sâu vào chuyên môn múa trong đó có: “Múa trong lễ hội” của tác giả Trịnh Quốc Minh hay “Múa dân gian dân tộc Thái và ứng dụng trong đào tạo tại Trường Múa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thuý Nga, “Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam đáp ứng mục tiêu nâng cấp lên học
Trang 9viện vào năm 2015 ” của tác giả Cao Thị Hồng Minh…Song chưa có đề tài nào
đề cập đến việc quản lý đào tạo
Chính vì vậy, xuất phát từ thực tiễn công tác và trước mục tiêu phát triển của nhà trường đã được xác định, tác giả nhận thấy vấn đề này cần phải được quan tâm, đầu tư nghiên cứu
Đề tài : “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại
lựa chọn làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình, với hy vọng đóng góp phần nhỏ bé cho sự nghiệp phát triển chung của Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại Trường Cao Đẳng Múa Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập
3 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo một cách khoa học, đồng bộ thì sẽ góp phần nâng cao được chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng Múa việt Nam, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và mục tiêu nâng cấp trường lên Học viện Nghệ thuật Múa Quốc gia VN vào năm 2015
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến quản lý đào tạo 4.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam từ năm 2001 đến nay
4.3 Đề xuất một số giải pháp cơ bản về quản lý đào tạo đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập
4.4 Khảo nghiệm tính khả thi của đề tài
Trang 104.5 Phạm vi nghiên cứu : Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát về công tác quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa việt Nam trong giai đoạn từ 2001 đến 2010
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu : Công tác quản lý đào tạo tại trường Cao đẳng Múa Việt Nam
5.2 Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.3 Phương pháp chuyên gia
6.4 Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý đào tạo
Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại Trường Cao
đẳng Múa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Trang 11có mục đích và cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi mới hình thành Comenxki – nhà sư phạm lỗi lạc người Nga - Người đặt nền móng cho sự
ra đời của “tổ chức hệ thống giáo dục”- vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản
lý giáo dục Ông cũng là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục học đã nhấn mạnh đến sứ mệnh cao cả của người giáo viên đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao đối với họ như là một tấm gương trong việc giáo dục học sinh Không thể không kể đến Jonh Dwey – nhà giáo dục thực dụng chủ nghĩa người Mỹ - với những đóng góp để hình thành nên quan niệm về mối liên hệ giữa nhà trường và xã hội cũng như nhận định của ông về một nền giáo dục hướng tới một kết quả cụ thể dẫu rằng có dấu ấn của chủ nghĩa thực dụng Tuy nhiên, cho tới tận đầu thế kỷ 20 vẫn chưa có một công trình nghiên cứu độc lập nào về quản lý giáo dục Phải tới năm 1956, cuốn “Quản lý nhà trường” của A.Pôpốp – nhà hoạt động sư phạm và quản lý giáo dục của Liên Xô cũ – ra đời được coi như một tài liệu hoàn chỉnh đầu tiên về quản lý giáo dục Tiếp những năm sau đó, hàng loạt những tác phẩm
khác như: Những cơ sở lý luận của quản lý nhà trường (1983), Những cơ sở của
quản lý nội bộ trường học (1987), Kế hoạch hóa và quản lý giáo dục vĩ mô
(1990) hay Nghề hiệu trưởng - một triển vọng thực tiễn được phản ánh (1991),
Quản lý giáo dục – lí thuyết nghiên cứu và thực tiễn (1995)…được xuất bản Và
Trang 12ngày nay Quản lý giáo dục đã được công nhận là một nghề và là một bộ môn về khoa học quản lý
Ở Việt Nam, một số nhà giáo dục có tên tuổi như Giáo sư Nguyễn Lân,
GS Phạm Minh Hạc, GS Nguyễn Ngọc Quang…đã có những ý kiến và một số nghiên cứu về lĩnh lực quản lý giáo dục Các nhà nghiên cứu khác như: PGS.TS Trần Khánh Đức…có rất nhiều đóng góp và quan tâm đến lĩnh vực này
Về lĩnh vực đào tạo nghệ thuật nói chung và đào tạo múa nói riêng, đã có một số tác giả nghiên cứu về công tác quản lý chất lượng đào tạo nghệ thuật
dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau: đề tài “Múa trong lễ hội” của tác gỉa Trịnh Quốc Minh hay “Múa dân gian dân tộc Thái và ứng dụng trong đào
tạo tại Trường Múa Việt Nam” của nhà giáo Nguyễn Thúy Nga…song chưa đề
tài nào đề cập đến việc quản lý đào tạo trong đào tạo nghệ thuật múa Vì những
lý do như vậy và trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng quý
báu của các tác giả đi trước, tôi đã lựa chọn đề tài “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại Trường Cao đẳng Múa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm
Trong quá trình hình thành và phát triển loài người, con người phải luôn luôn lao động để duy trì và phát triển nòi giống Trong khi lao động cần sự hợp tác của một nhóm người hoặc nhiều người, do sự hợp tác này mà xã hội xuất hiện một loại hình lao động mới mang tính đặc thù là tổ chức điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu nhất định loại hình lao động, đó là hoạt động quản lý
Trang 13Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội Loài người đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử
Theo Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[6]
Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người Chẳng hạn:
Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Herscy và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu của
tổ chức”[25]
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”[22]
Theo Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy
Trang 14quản lý, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa phối hợp các khâu và các cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu quả”[16]
Quan điểm của Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống xã hội khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt các mục tiêu đặt ra cho hệ và từng thành tố của hệ”[19]
Giáo trình “Quản lý giáo dục và đào tạo” của trường cán bộ quản lý GD&DT nêu rằng:
- Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội
- Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng ổn định và phát triển đến mục tiêu đã định
- Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt các mục tiêu đề ra
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý là đối tượng quản lý là khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường [13]
Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm chung:
* Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động, hoạt động khác
* Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý
- Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là những nội dung chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối
Trang 15tượng quản lý Các Mác so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng đối với hệ thống nhạc công, trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là chủ thể bị quản lý (các nhạc công chịu sự tác động của nhạc trưởng) để đưa đến một sản phẩm “kép” một sản phẩm “siêu sản phẩm” – Đó là cả chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý đều phát triển (hoạt động tạo ra các chủ thể và về sự phát triển của con người)
* Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển
* Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện Điều đó cũng xác lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định
Có mô tả cấu trúc của một hệ thống quản lý qua sơ đồ dưới đây:
Môi trường quản lý Mục tiêu quản lý
Hiện nay quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng của các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.2.1.2 Các chức năng quản lý
- Chức năng kế hoạch hóa
Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý đương đại hàng đầu, đã
đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những việc “đúng”)
Trang 16và tính hiệu quả (tức là khả năng làm việc đúng) Ông cho rằng, tính hiệu nghiệm
là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả khi chọn sai mục tiêu Hai tiêu chuẩn này song hành cùng với hai khía cạnh của kế hoạch: xác định những mục tiêu “đúng” và lựa chọn những biện pháp “đúng” để đạt các mục tiêu này Cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn với quá trình quản lý [26]
Để phản ánh bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hóa, chúng ta có thể định nghĩa như sau: chức năng kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu
và quyết định những biện pháp tốt nhất để thức hiện mục tiêu đó Như vậy, thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch hóa, với mục đích, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu
Nhiều lý thuyết gia quản lý cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên của mọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác Họ ví kế hoạch như một chiếc đầu tàu kéo theo các toa “tổ chức”, “chỉ đạo”, “kiểm tra” Như vậy, người quản lý, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức cái gì nữa Không có kế hoạch, người quản lý không thể chỉ dẫn, lãnh đạo người thuộc quyền hành động một cách chắc chắn với những kỳ vọng đặt vào kết quả mong đạt tới Cũng vậy, không có kế hoạch thì cũng không xác định được tổ chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào đạt được mục tiêu và sự kiểm tra trở thành
có những chức năng cơ bản cụ thể sau:
Trang 17Chức năng chuẩn đoán: Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và
những phân tích về trạng thái đó Đối với nhà trường đó là trạng thái về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên, về các kết quả về hoạt động sư phạm của các năm học trước đó, những mặt tốt và mặt tồn tại, nguyên nhân của chúng…Dựa trên những số liệu của năm học trước rút ra kết luận cụ thể về trạng thái xuất phát của nhà trường trong năm học mới
Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu trên
cơ sở phân tích và căn cứ vào hướng dẫn của cấp trên về nhiệm vụ của năm học mới để suy ra những hướng phát triển cơ bản của nhà trường, trong đó có tính tới nhu cầu bên ngoài và bên trong của nhà trường, lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá
Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phác thảo các phương án chọn lựa có tính tiềm năng của nguồn lựa dự trữ và những mong muốn chủ quan
- Chức năng tổ chức
Bamard định nghĩa tổ chức như là “Hệ thống các hoạt động hay tác động
có ý thức của hai hay nhiều người”
Cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” đã xác định: “Tổ chức là hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp hành)”[8]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: „Kiện toàn tổ chức và nâng cao trách nhiệm các cơ quan quản lý nhà nước‟[37] Xuất phát từ quan điểm trên, trong quản lý giáo dục, quản lý trường cao đẳng, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò của mỗi bộ phận, cá nhân, bảo đảm các mối quan hệ ngược, sự thống nhất và đồng bộ về tổ chức trong quản lý giáo dục ở trường cao đẳng
Trang 18Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho phép các nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung Tổ chức được coi là điều kiện của quản lý, đúng như V.I.Lê-Nin đã khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng, muốn quản lý tốt…còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa” Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các bộ phận trong
hệ thống quản lý Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý
- Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi
và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra Chỉ đạo thực hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hóa các mục tiêu đã đề ra
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó để
họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu
- Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để thực hiện hóa các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý như đổi mới công tác kế hoạch hóa, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đổi mới
cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý
Trang 191.2.1.3 Các phương pháp quản lý
Đối tượng chủ yếu của quản lý là con người: Mà mỗi con người là những thực thể khác biệt nhau, xuất phát từ môi trường xã hội và môi trường đào tạo khác nhau nên nhà quản lý phải có những phương pháp quản lý thích hợp, khoa học và linh hoạt
Phương pháp quản lý là cách thức mà chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý thông qua các phương tiện khác nhau để đạt được mục tiêu quản
lý Có 4 phương pháp cơ bản sau:
- Nhóm phương pháp tâm lý xã hội:
Đặc trưng của nhóm phương pháp này là dùng các quy luật tâm lý kích thích đối tượng quản lý nhằm biến những yêu cầu do người lãnh đạo đề ra thành nghĩa vụ tự giác bên trong của người thực hiện, sao cho họ luôn toàn tâm toàn ý cho chính công việc của họ Mục tiêu của phương pháp này nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp, yêu thích, xây dựng bầu không khí đoàn kết, tin tưởng, phát huy năng lực sáng tạo và luôn gắn bó vưói tổ chức Trong nhóm phương pháp này thì biện pháp thuyết phục được các nhà quản lý sử dụng nhiều nhất vì nhận thức ra vấn đề chính là bước đầu tiên trong hoạt động tâm lý của con người
- Nhóm phương pháp tổ chức – hành chính
Là các phương pháp có tính pháp lệnh, bắt buộc và có tính kế hoạch rõ ràng, là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý, nghị quyết, thông tư hay nói cách khác khách là chủ thể trực tiếp thông qua văn bản và lời nói của cấp trên Đặc điểm của nhóm phương pháp này là bắt buộc đối với người chấp hành thông qua tác động trực tiếp của người lãnh đạo đối với người bị lãnh đạo Yêu cầu đối với người lãnh đạo khi sử dụng phương pháp này là phải nắm chắc các văn bản pháp
lý, biết rõ giới hạn, quyền hạn, trách nhiệm Các quy định phải đảm bảo tính
Trang 20khoa học và thực tiễn, phải kiểm tra và nắm thông tin phản hồi Hạn chế của phương pháp là không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới và ngược lại nếu chủ thể quản lý lạm dụng phương pháp này sẽ sinh ra quan liêu,
áp đặt
- Nhóm phương pháp giáo dục:
Là phương pháp mà chủ thể quản lý dùng các biện pháp tác động trực tiếp hay gián tiếp đến nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức Người lãnh đạo dùng các quy luật tâm lý và chức năng tâm lý con người để kích thích tinh thần tự giác, sự say mê sáng tạo trong công việc của nhân viên Để thành công thì nhà lãnh đạo phải hiểu rõ tâm lý của chính bản thân mình và của nhân viên
- Nhóm biên pháp kinh tế:
Chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế (lương, thưởng, chế độ ưu đãi…) và chủ yếu dựa trên phương thức tính toán kinh tế tuân theo các quy luật kinh tế Phương pháp này phát huy tính hiệu quả
rõ rệt trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường như hiện nay song nếu lạm dụng
sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng
Tất cả 4 phương pháp trên đang được sử dụng rộng rãi trong hoạt động quản lý Phương pháp nào cũng có những ưu điểm và những hạn chế nhất định
Do vậy, tùy vào mỗi tình huống, hoàn cảnh cụ thể mà các nhà quản lý có thể lựa chọn cho mình những biện pháp thích hợp và hiệu quả nhất bởi quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật
1.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm giáo dục
Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động Trong
Trang 21quanh, dần dần tích lũy được những kinh nghiệm, từ đó nảy sinh những nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục
Sơ khai, giáo dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, sau đó trở thành một hoạt động có ý thức Ngày nay, giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chương trình kế hoạch, có nội dung, phương pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa nhân loại được
kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng tiến lên
1.2.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục
Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục Nhà nước quản lý giáo dục thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ
Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục
Theo M.I.Kônđacôp: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ quản lý ở các cấp khác nhau, đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của
xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em [17]
Trang 22Theo P.V.Khuđôminxky (nhà lý luận Xô Viết): QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện
và hài hòa của họ
Theo Phạm Minh Hạc: “ Quản lý nhà trường (QLGD nói chung) là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh”[13]
QLGD được biểu hiện thông qua các hoạt động cụ thể như: quản lý mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý cơ sở vật chất – trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập, quản lý đội ngũ giảng viên, quản lý người học và chất lượng giáo dục – đào tạo…Trên cơ sở này, một hệ thống mục tiêu QLGD đã được xây dựng
- Đảm bảo quyền của học sinh vào các lớp, cấp học, ngành học đúng tiêu chuẩn và chỉ tiêu
- Đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo
- Phát triển tập thể sư phạm: đủ và đồng bộ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đời sống
- Xây dựng, sử dụng và bảo quản tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học
- Xây dựng và hoàn thiện các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, quần chúng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo
- Phát triển và hoàn thiện các mối quan hệ gia đình và xã hội để làm tốt công tác giáo dục thế hệ trẻ, để thực hiện các mục tiêu đề ra đảm bảo sự ổn định
Trang 23Quản lý nhà nước về giáo dục được cụ thể hóa thành 12 nội dung trong điều 99 Luật giáo dục năm 2005 [21]
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục
2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác
3 Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ
4 Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục
5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục
6 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục
7 Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ QLGD
8 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục
9 Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục
10 Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục
11 Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục
Trang 2412 Thanh tra, kiểm tra chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo
dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Trong hệ
thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy con ngưòi là nhân tốt quan trọng nhất trong QLGD
1.2.3 Quản lý nhà trường
1.2.3.1 Khái niệm nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho mọi nhóm dân cư nhất định của xã hội đó Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội
Quá trình sư phạm là quá trình kiếm tạo các điều kiện và cơ hội để cá thể người lĩnh hội, chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, thực hiện việc xã hội hóa nhân cách của mình Nhà trường thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội thông qua quá trình sư phạm hay nói cách khác, nhà trường là thiết chế chủ yếu
để thực hiện quá trình sư phạm
Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho tương lai Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được cung ứng các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức năng của mình mà không một thiết chế nào có thể thay thế được Những nhiệm vụ của
Trang 25nhà trường cũng có nhiều cách để tiếp cận Bản chất giai cấp của nhà trường được khẳng định bởi tính mục đích cũng như cách thức vận hành của nó và một điều được khẳng định là: Khi nhà trường thực hiện chức năng giáo dục trong một xã hội cụ thể, bản sắc văn hóa dân tộc in dấu sâu đậm trong toàn bộ hoạt động của nhà trường
Ta có thể thấy rõ các dấu hiệu phân biệt nhà trường với các thiết chế khác là: Tính mục đích tập trung hay mục đích hẹp, mục đích được “chiết xuất”; Tính
tổ chức và tính kế hoạch cao; Tính hiệu quả giáo dục – đào tạo cao nhờ quá trình truyền thụ có ý thức; Tính biệt lập tương đối hay tính lý tưởng hóa các giá trị xã hội; Tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính chất phân biệt đối xử theo phát triển tâm lý và thể chất [13]
1.2.3.2 Quản lý nhà trường
Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy - học, tức
là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục [16]
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý nhà trường là: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…)”của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [24]
Theo Phạm Viết Vượng: Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các
Trang 26lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường [40]
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại tác động sau: Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường (đó là những tác động quản lý của các cơ quản QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, hoặc những chỉ dẫn, những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó); Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường (bao gồm các hoạt động: Quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học – giáo dục, quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng) [13]
Như vậy, quản lý nhà trường chính là QLGD trong một phạm vi xác định,
đó là nhà trường (đơn vị giáo dục) Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục Do đó quản lý nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục Mục đích cuối cùng của QLGD là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp trẻ thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội [13]
Trang 27Quản lý nhà trường là quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp vĩ mô hay nói cách khác là cấp quản lý cơ sở của ngành giáo dục Ngày nay, trong xu thế hội nhập, khi mà giáo dục đang dần được xã hội hóa thì nhà trường không còn là một “ốc đảo khép kín” nữa mà sẽ là “vần trán của cộng đồng”
Theo Phạm Minh Hạc, quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo đúng nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo QLNT bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:
- Quản lý giáo viên
- Quản lý học sinh, sinh viên
- Quản lý quá trình dạy học, giáo dục
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học
- Quản lý tài chính trường học
- Quản lý lớp học; quản lý quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng xã hội Như vậy, QLNT chính là công việc của Ban giám hiệu, đứng đầu là Hiệu trưởng Vì vậy, vai trò lãnh đạo của BGH cũng như của cá nhân Hiệu trưởng vô cùng quan trọng
1.3 Cơ sở lý luận về Quản lý đào tạo
1.3.1 Khái niệm về quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo: Là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục đào tạo vận hành theo đường lối của Đảng, thực hiện được những nhu cầu của nền giáo dục trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, tập trung vào hoạt động dạy học và giáo dục, đưa hệ vận động từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu[15]
Trang 281.3.2 Nội dung quản lý đào tạo
* Quản lý mục tiêu
Mục tiêu đào tạo được hiểu là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình đào tạo Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là những học sinh,
sinh viên tốt nghiệp với nhân cách đã được thay đổi thông qua quá trình đào tạo
Quản lý việc xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo là quản lý việc lập kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy Quản lý việc thực hiện mục tiêu là tổ chức, sao cho các kế hoạch, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện một cách đầy đủ, đúng nội dung và thời gian, quán triệt được yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Quản lý xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo được tiến hành theo chu trình 5 bước:
- Về công tác chuẩn bị, cần tiến hành điều tra, khảo sát, xác định các nhu cầu nhằm nắm bắt các thông tin về số lượng, cơ cấu trình độ, cơ cấu nghề nghiệp, các vấn đề về đào tạo…
- Về lập kế hoạch, cần chú ý xác định các yếu tố về nhân lực, các điều kiện về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cũng như tiến độ, quy trình xây dựng
kế hoạch làm sao cho phù hợp với điều kiện và khả năng hiện có
- Về tổ chức thực hiện, nên thiết kế cụ thể việc quản lý trực tiếp các mục tiêu và nội dung Quản lý về tiến độ là quản lý chi tiết các chương trình đang thực hiện
- Về chỉ đạo, cần đôn đốc các công việc theo yêu cầu đặt ra, giám sát phối hợp thực hiện các mục tiêu, nội dung đào tạo
- Về kiểm tra, nên xem xét các khung chương trình đã được xây dựng và trình duyệt
Trang 29* Quản lý nội dung, chương trình đào tạo:
Quản lý nội dung, chương trình đào tạo là quản lý việc xây dựng nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình đào tạo thực tế của giáo viên và học sinh sao cho kế hoạch, nội dung, chương trình giảng dạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian, quán triệt được các yêu cầu của mục tiêu đào tạo
Quản lý nội dung, chương trình đào tạo cũng được thực hiện theo chu trình: Chuẩn bị:
+ Thu thập thông tin về ngành nghề, phân tích ngành nghề để lựa chọn nội dung + Chú trọng việc cập nhập, bổ sung kiến thức mới
+ Quán triệt kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo
+ Chuẩn bị tài liệu
+ Chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
+ Chuẩn bị đội ngũ giáo viên
Lập kế hoạch:
+ Kế hoạch về nhân lực (tham gia xây dựng nội dung, chương trình)
+ Điều kiện ( thời gian, phương tiện, tài chính…)
+ Lịch trình, tiến độ, quy trình
+ Kế hoạch dự giờ, kiểm tra
+ Kế hoạch tài chính, vật tư, phương tiện
Tổ chức thực hiện:
+ Xem xét nội dung, chương trình các môn học
+ Phối hợp giữa các giáo viên với các phòng ban, bộ môn
Trang 30Kiểm tra:
+ Kiểm tra từng phần, từng bộ phận và tổng thể
+ Kiểm tra kết quả, chất lượng, hiệu quả thực hiện chương trình đào tạo
* Quản lý học sinh sinh viên
Quản lý học sinh là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của học sinh Nhằm nắm bắt các biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập cũng như những biến đổi về nhân cách của học sinh Thúc đẩy và khuyến khích học sinh phát huy yếu tố tích cực vươn lên đạt hiệu quả cao trong học tập
Công cụ đắc lực cho người quản lý là kiểm tra, đánh giá Việc kiểm tra đánh giá học sinh được tiến hành theo định kỳ và đột xuất nhằm đưa lại những kết quả đánh giá chính xác và khách quan, thông qua các hình thức:
+ Kiểm tra đầu vào
+ Kiểm tra việc lên lớp
+ Kiểm tra miệng, viết
+ Thi học kỳ và thi cuối năm
+ Kiểm tra đầu ra (thông qua thi tốt nghiệp)
Kết quả kiểm tra đánh giá học sinh được xem xét, xử lý đồng thời với kết quả kiểm tra đánh giá nội dung chương trình đào tạo để rút ra những kết luận chính xác giúp người quản lý có những điều chỉnh kịp thời và tối ưu trong quá trình đào tạo
* Quản lý đội ngũ giáo viên
Hoạt động dạy và hoạt động học là hai hoạt động cơ bản của quá trình dạy học Dạy là quá trình tổ chức truyền tải kiến thức cho học sinh của giáo viên
Trang 31Vấn đề đặt ra là phải quản lý đội ngũ giáo viên, học sinh như thế nào để đảm bảo mục tiêu đào tạo một cách có hiệu quả
Quản lý giáo viên thực chất là việc thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên Trong quá trình đào tạo, giáo viên vừa là đối tượng quản lý nhưng cũng vừa là chủ thể quản lý của quá trình đào tạo
Quản lý giáo viên thể hiện ở các mặt: Theo dõi và đánh giá kết quả thưc hiện các nhiệm vụ giảng dạy – giáo dục của toàn thể đội ngũ giáo viên và của từng giáo vên Chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và sư phạm cho đội ngũ giáo viên Đánh giá và nắm được các ưu khuyết điểm cũng như sự tiến bộ về mặt chính trị, phẩm chất đạo đức của giáo viên
Quản lý đội ngũ giáo viên được thực hiện theo các biện pháp sau:
+ Giao nhiệm vụ giảng dạy – giáo dục rõ ràng ngay từ đầu năm học, dùng các biện pháp hành chính, tổ chức để quản lý, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện
+ Quản lý kế hoạch giảng dạy và việc đổi mới phương pháp giảng dạy + Kiểm tra, đánh giá giáo viên thông qua đồng nghiệp và người quản lý được xem là cần thiết - có thể cung cấp thông tin một cách khách quan về trình
độ của giáo viên trong giảng dạy và trong nghiên cứu khoa học
+ Kết hợp sử dụng các biện pháp hành chính với việc đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”
+ Theo dõi, chỉ đạo thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và sư phạm của đội ngũ giáo viên, của từng giáo viên
+ Tự đánh giá của giáo viên được xem là nội dung quan trọng Giáo viên
tự đánh giá là một nguồn thông tin có giá trị vì nó cung cấp thông tin một nguồn
Trang 32thông tin có giá trị vì nó cung cấp thông tin một cách chân thực, bởi không ai có thể hiểu rõ các điểm mạnh và yếu cũng như những lỗ hổng cần khắc phục về trình độ của giáo viên hơn chính bản thân họ Do đó cùng với các hình thức đánh giá khác, tự đánh giá sẽ tạo cơ sở cần thiết để đánh giá sẽ tạo cơ sở cần thiết để đánh giá tổng thể về hiệu quả hoạt động của giáo viên
+ Tổ chức kiểm điểm, nhận xét, đánh giá và bình bầu thi đua cuối năm + Tổ chức và hướng dẫn học sinh đóng góp ý kiến về tinh thần giảng dạy – giáo dục của giáo viên, giảng viên bằng nhiều hình thức khác nhau…
+ Kiểm tra, đánh giá giáo viên được tiến hành theo định kỳ và đột xuất thông qua các hình thức: Kiểm tra việc lên lớp; Hội giảng; Dự giờ; Sinh hoạt sư phạm
* Quản lý cơ sở vật chất và phương tiện dạy học
Trong hệ thống giáo dục, nhất là dạy nghề, thì phương tiện dạy học và cơ
sở vật chất kỹ thuật của nhà trường là điều kiện quan trọng cần thiết góp phần quyết định chất lượng dạy học Nếu có mục tiêu giáo dục tốt, đầu vào đảm bảo tiêu chuẩn, nội dung chương trình hiện đại phù hợp với yêu cầu xã hội, nếu có đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tốt mà không có phương tiện kỹ thuật dạy học và cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến thì cũng không thể tạo ra được sản phẩm giáo dục thỏa mãn mục tiêu giáo dục đề ra
+ Quản lý cơ sở vật chất – phương tiện dạy học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, đầy đủ, đồng bộ, kịp thời, bền vững, phát triển và hiện đại; bố trí hợp
lý, thuận lợi và hiệu quả
+ Quản lý việc thực thi các chế định của ngành về quản lý cơ sở vật chất + Quản lý cơ sở vật chất phải đảm bảo tính hợp lý với yêu cầu thực hiện nội dung, đổi mới chương trình và phương pháp dạy - học
Trang 33+ Quản lý việc cập nhập thông tin mới về cơ sở vật chất kỹ thuật – phương tiện dạy học, có kế hoạch tăng cường bổ sung thiết bị, sách báo, tư liệu tham khảo
+ Chỉ đạo công tác sưu tầm sách báo, tư liệu tham khảo và trực quan cho hoạt động dạy-học
+ Chỉ đạo công tác bảo quản, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật
và có những biện pháp chế tài
* Tổ chức và quản lý mối liên kết đào tạo
Để xem xét hiệu quả thực tiễn của công tác đào tạo, kịp thời điều chỉnh,
bổ sung những mặt còn hạn chế nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường thì việc tổ chức liên kết giữa nhà trường và các đơn vị cơ sở khác có
ý nghĩa hết sức quan trọng
+ Kịp thời nắm bắt các thông tin phản hồi từ phía tiếp nhận sản phẩm đào tạo, từ đó xác định được nhu cầu cần đào tạo
+ Có cơ sở rà soát lại và điều chỉnh mục tiêu đào tạo cho phù hợp với thực
tế, yêu cầu của các đơn vị cơ sở cũng như những đòi hỏi cấp bách của đất nước
và thời đại
+ Về địa chỉ và việc làm sau khi học sinh tốt nghiệp
Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị cơ sở sử dụng sản phẩm đào tạo là quản lý việc thực hiện các nội dung gắn kết nhà trường với các đơn vị cơ sở đó Các nội dung đó là:
Trang 34+ Thiết lập hệ thống trao đổi thông tin
+ Ký kết hợp đồng đào tạo theo địa chỉ
1.4 Đặc điểm của công tác quản lý đào tạo trong các Trường Văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam
Cũng như các trường Đại học, Cao đẳng khác công tác quản lý đào tạo trong các trường văn hóa nghệ thuật cũng bao gồm các nội dung như: Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, quản lý giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, tổ chức và quản lý mối liên kết đào tạo giữa nhà trường với các đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo…
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm chung đó công tác quản lý đào tạo trong các trường văn hóa nghệ thuật còn có những nét riêng mang tính đặc thù của ngành:
* Mục tiêu đào tạo trong các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay là đào
tạo ra các nhà lý luận, sáng tác, biên đạo, đạo diễn, huấn luyện, nghệ sĩ biểu diễn, cán bộ văn hóa…trong các chuyên ngành âm nhạc, múa, sân khấu, mỹ thuật
Cũng như mục tiêu đào tạo ở các trường của ngành, nghề khác nhau, mục tiêu đào tạo trong hệ thống các trường văn hóa nghệ thuật là: giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng và nhân cách, (giáo dục) phẩm chất và năng lực nhằm đào tạo người nghệ sĩ có kỹ năng thực hành giỏi, có khả năng tư duy sáng tạo, có kiến thức văn hóa, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của quần chúng nhân dân, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Cụ thể là:
+ Về phẩm chất
Phẩm chất người công dân: Trung thành với đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; Thái độ đúng đắn trong các hoạt động, các quan hệ xã hội và gia
Trang 35Phẩm chất người nghệ sỹ: say mê nghề nghiệp; khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ của người nghệ sỹ; Phấn đấu vì nền “Nghệ thuật vị nhân sinh”; Góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
* Nội dung đào tạo trong các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay đều theo
qui định của Bộ GD – ĐT và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành gồm hệ thống các môn học sau:
+ Các môn văn hóa chung và khoa học cơ bản
+ Các môn cơ sở
+ Các môn chuyên ngành
Các môn văn hóa chung và khoa học cơ bản: Nhằm cung cấp kiến thức khái quát mà người công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần có nhằm rèn luyện thân thể, tăng sự hiểu biết về quốc phòng toàn dân, nâng cao trình
độ, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi học sinh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 36Các môn cơ sở là các môn học hỗ trợ cho việc học chuyên môn được thuận lợi hơn, dễ dàng hơn
Các môn chuyên ngành là những kiến thức chuyên về một ngành nghề mà học sinh, sinh viên được đào tạo để hành nghề Đặc thù của các môn chuyên ngành là mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó giữa học với thực tiễn biểu diễn Số lượng đầu môn chuyên ngành tùy thuộc vào mục tiêu đào tạo của mỗi trường
* Thí sinh dự tuyển vào các trường văn hóa nghệ thuật phải có đủ điều kiện phù hợp với quy chế đào tạo do Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thống nhất ban hành như: Độ tuổi, trình độ văn hóa, sức khỏe Đặc biệt đối với các chuyên ngành nghệ thuật đòi hỏi thí sinh phải có thêm năng khiếu nghệ thuật và các điều kiện thuận lợi cho nghề
Công tác tuyển sinh các học sinh, sinh viên có năng khiếu nghệ thuật được tiến hành một cách đồng bộ với qui định tuyển sinh ở tất cả các khâu từ sơ tuyển đến chung tuyển phải tuân thủ các qui chế tuyển sinh đã ban hành đối với các trường mang tính đặc thù nghệ thuật
* Trong lĩnh vực đào tạo nghệ thuật người giáo viên mới chỉ có kiến thức chuyên môn cao thì chưa đủ mà họ còn phải có kinh nghiệm sân khấu Chính vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên nghệ thuật không chỉ qua các lớp chuyên môn nghiệp vụ mà còn qua thực tế sân khấu Người giáo viên cần trực tiếp tham gia biểu diễn, sáng tác và dàn dựng các chương trình biểu diễn Đối với giáo viên nghệ thuật thì lời giảng và thị phạm là hai yếu tố không thể tách rời nhau Thực
tế cho thấy những giáo viên kết hợp tốt hai phương pháp này thường thu được kết quả cao Phương pháp giảng dạy ở các trường nghệ thuật có nhiều điểm khác biệt và mang tính chuyên biệt, thể hiện ở chỗ: Phải làm mẫu cho học sinh, sinh viên, phải kiên trì truyền thụ, phải biết thể hiện tình cảm cho mỗi ca khúc, bản nhạc hay điệu múa…
Trang 37* Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy trong
các trường nghệ thuật đòi hỏi có nhiều loại nhạc cụ, các thiết bị về âm thanh, phòng tập phải được cách âm và nhiều thiết bị khác…cần được đầu tư thích đáng để góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Sân khấu cho tập luyện và thực hành bao gồm cả trang bị âm thanh, ánh sáng, phông màn, đạo cụ, hậu trường, chỗ ngồi cho khán giả…
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, để nâng cao chất lượng đào tạo nhìn chung các trường đã đổi mới và hiện đại hóa cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập như: Thiết bị nghe nhìn, máy chuyên dụng, phần mềm vi tính cho nghệ thuật…
* Mối liên kết đào tạo trong lĩnh vực nghệ thuật còn được thể hiện ở các
nội dung như:
- Liên kết về đào tạo diễn viên và học sinh giữa các nhà trường, giữa nhà trường với các đơn vị nghệ thuật qua việc trao đổi giáo viên, đưa giáo viên đi thực tế, tiếp nhận sinh viên chuyên ngành huấn luyện, sáng tác đến trường để kiến tập, gửi học tập có triển vọng đến đào tạo ở các trung tâm đào tạo đầu ngành…
- Liên kết sử dụng các tài năng trẻ ngay từ trong quá trình học tập Cụ thể
là các đơn vị nghệ thuật mời cộng tác và sử dụng những học sinh giỏi của các trường vào các chương trình biểu diễn của mình tạo điều kiện cho các tài năng trẻ sớm được bộc lộ và phát triển
- Liên kết giảng dạy đã, đang và sẽ là vấn đề cần thiết đem lại hiệu quả cao trong lĩnh vực đào tạo nghệ thuật Hầu hết các trường nghệ thuật đều mời các nghệ sỹ nổi tiếng tham gia giảng dạy Ngược lại các đơn vị nghệ thuật cũng mời giáo viên các trường nghệ thuật đến đào tạo, bồi dưỡng cho diễn viên hoặc trực tiếp tham gia biểu diễn để có thêm kinh nghiệm sân khấu…
Trang 38Tiểu kết chương 1
Quản lý đã và đang khẳng định vai trò của nó trong mọi mặt của đời sống
xã hội Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, đặc biệt là quản lý trường Cao đẳng vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, đòi hỏi phải nắm vững những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý nói chung, quản lý giáo dục nói riêng, nắm vững các nội dung nguyên tắc quản lý nhà trường, đồng thời phải có sự hiểu biết sâu sắc
về các nội dung trong quản lý hoạt động đào tạo Trên cơ sở đó vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong quá trình quản lý tổ chức các hoạt động của nhà trường theo quy trình khoa học, làm cho các lớp, trường vận hành theo đúng quy luật khách quan, thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra
Để thực hiện các mục tiêu đào tạo thì đòi hỏi các trường cao đẳng, đại học không chỉ chú trọng nghiên cứu phát triển lí luận quản lý đào tạo mà cần phải tìm tòi, xây dựng các giải pháp quản lý đào tạo sao cho khoa học phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước và sự phát triển của nhà trường
Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu, các thuật ngữ mà tác giả đã trình bày trong chương I như: Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường, Quản lý đào tạo…là những khái niệm cơ bản, làm cơ sở lí luận cho việc phân tích thực trạng công tác quản lý đào tạo ở chương II và đề xuất các giải pháp cho đề tài ở chương III
Trang 39CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO
TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM
2.1 Khái quát chung về Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Là cái nôi đào tạo diễn viên múa trong cả nước, với bề dày thành tích 50 năm xây dựng và trưởng thành (21/9/1959 – 21/9/2009), Trường Cao đẳng Múa Việt Nam đã đào tạo được hàng nghìn diễn viên múa cho các đoàn nghệ thuật từ trung ương đến địa phương Rất nhiều trong số họ hiện nay đã trở thành những nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu tú hoặc đang làm công tác quản lý trong các đơn
vị thuộc ngành văn hoá Để có được vị trí của một trường đầu ngành hiện nay, trường đã trải qua nhiều những giai đoạn khó khăn, có thể tóm gọn thành 2 thời
kì lớn:
- Những ngày đầu thành lập đến năm 1999
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam - được thành lập ngày 21 tháng 9 năm
1959 theo quyết định số 153-VH/QĐ của Bộ Văn hoá với nhiệm vụ: “Đào tạo và
bổ túc nâng cao trình độ cho cán bộ, diễn viên múa để cung cấp cho các ngành, các địa phương” “Vạn sự khởi đầu nan”- những ngày đầu thành lập là giai đoạn khó khăn nhất nhưng được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhờ sự giúp đỡ tận tình của chuyên gia các nước bạn: Liên Xô (cũ), Trung Quốc…trường đã dần đi vào ổn định, cả thầy và trò đều hăng say giảng dạy và học tập Khi nhân dân cả nước sôi sục chống Mỹ, trong giai đoạn chiến tranh ác liệt nhất, trường vẫn tiếp tục sự nghiệp đào tạo của mình ở nơi sơ tán bằng cách rút ngắn thời gian đào tạo, mở thêm các lớp ngắn hạn, các lớp bổ túc để bổ sung cán bộ, diễn viên múa sẵn sàng phục vụ đời sống tinh thần cho tiền tuyến Hoà bình lập lại và trong
Trang 40giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới đất nước, cùng với những khó khăn chung của
cả nước, trường cũng phải đối mặt với những điều kiện hết sức ngặt nghèo song vượt lên tất cả, công tác đào tạo của trường vẫn được giữ vững và đạt được nhiều thành tựu: Huân chương lao động hạng III do Đảng và Nhà nước trao tặng, 4 vở kịch múa ballet và 1 vở kịch múa dân tộc được dàn dựng và công diễn
Đến năm 1999, khi trường kỷ niệm 40 năm ngày thành lập thì thành quả
mà trường đạt được thật đáng trân trọng: Huân chương độc lập hạng III, Huân chương Lao động hạng I, II và nhiều bằng khen của Bộ VHTT, của Bộ GD &
ĐT, gần 60 khoá học sinh tốt nghiệp với khoảng 3000 diễn viên Bên cạnh đó quy mô đào tạo không ngừng được mở rộng, chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao, uy tín và vị trí của trường đầu ngành ngày càng được khẳng định
- Giai đoạn 2001 đến nay
Cái mốc năm 2001 được đánh dấu bằng việc truờng được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Múa Việt Nam như tên gọi hiện nay Chức năng chính của trường được cụ thể hoá trong quyết định 26/2001/QB-BVHTT là “Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, diễn viên có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn về nghệ thuật múa; nghiên cứu, giữ gìn, phát triển nghệ thuật múa truyền thống của các dân tộc Việt Nam và tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật múa của các nước trên thế giới nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường” Từ khi nâng cấp lên cao đẳng cho tới nay, cơ sở vật chất của trường được đầu tư khang trang hơn, quy mô cũng như chất lượng đào tạo, quan hệ hợp tác về đào tạo và biểu diễn giao lưu với các trường bạn trong khu vực ASEAN và trên toàn thế giới được tăng cường và
mở rộng Ngoài các hệ đào tạo tại trường, các cơ sở liên kết đã được mở tại Huế, Lào Cai, Thanh Hoá…Toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh của trường đang không ngừng phấn đấu trong học tập và công tác để góp phần hoàn thành mục