- Thị trường tập trung Sở giao dịch chứng khoán: là thị trường trong đó việc giaodịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giaodịch trading floor.. Cá
Trang 1PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG THỨ CẤP
I Định nghĩa
Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thịtrường thị sơ cấp Thị trường đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã pháthành Nhà đầu tư mua đi bán lại chứng khoán nhằm vào một trong các mục đích: cấtgiữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởng chênh lệchgiá
Thị trường thứ cấp: tạo ra khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt dễdàng, thuận tiện; Tiền thu được ở đây không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhàđầu tư bán chứng khoán, nhượng lại quyền sở hữu chứng khoán cho nhà đầu tư khác
II Đặc điểm và cơ cấu
Theo tính chất tổ chức của thị trường:
- Thị trường chứng khoán tập trung (thị trường chứng khoán có
tổ chức): thực hiện mua bán các loại chứng khoán niêm yết được tổ chức mộtcách chặt chẽ Việc giao dịch chủ yếu được thực hiện theo phương thức khớplệnh tập trung
- Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC - over the countermarket): là thị trường giao dịch các chứng khoán chưa niêm yết được các Công
ty chứng khoán thực hiện qua mạng thông tin
Theo loại hàng hóa giao dịch trên thị trường:
Trang 2- Thị trường chứng khoán phái sinh.
III Tổ chức và hoạt động của thị trường thứ cấp
Sau khi chứng khoán mới được phát hành trên thị trường sơ cấp, chúng sẽ đượcgiao dịch trên thị trường thứ cấp Khác với thị trường sơ cấp, tiền bán chứng khoántrên thị trường thứ cấp thuộc về các nhà đầu tư và nhà kinh doanh chứ không thuộc vềcác công ty phát hành chứng khoán
Xét về phương thức tổ chức và giao dịch, thị trường chứng khoán bao gồm 3 loại: Sởgiao dịch chứng khoán, Thị trường phi tập trung (OTC), và thị trường thứ 3
- Thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán): là thị trường trong đó việc giaodịch mua bán chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giaodịch (trading floor) Các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch thông thường làchứng khoán của những công ty lớn, có danh tiếng, đã qua thử thách của thị trường.Phương thức giao dịch tại Sở giao dịch là phương thức đấu giá, trong đó các lệnh mua,bán được ghép với nhau để hình thành giá cả cạnh tranh tốt nhất
- Thị trường phi tập trung (OTC): là thị trường trong đó việc giao dịch mua bán chứngkhoán không diễn ra tại một địa điểm tập trung mà thông qua hệ thống computer nốimạng giữa các thành viên của thị trường Các chứng khoán được giao dịch trên thịtrường phi tập trung là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ Phương thức giaodịch tại thị trường OTC là phương thức thoả thuận, giá cả chứng khoán được xác địnhtrên cơ sở thoả thuận giữa các thành viên của thị trường
- Thị trường thứ 3: là thị trường, trong đó hoạt động giao dịch mua bán chứng khoánkhông được thực hiện thông qua hệ thống đấu giá của các Sở giao dịch và hệ thốngcomputer của thị trường OTC
1 Sở giao dịch chứng khoán:
a Hình thức sở hữu của Sở giao dịch:
Sở giao dịch chứng khoán là một tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập theoquy định của pháp luật Lịch sử phát triển Sở giao dịch chứng khoán các nước đã vàđang trải qua các hình thức sở hữu sau đây:
- Hình thức sở hữu thành viên: Sở giao dịch chứng khoán do các thành viên là công tychứng khoán sở hữu, được tổ chức như một công ty trách nhiệm hữu hạn, có Hội đồngquản trị mà thành phần đa số do các công ty chứng khoán thành viên cử ra VD: Sởgiao dịch chứng khoán Hàn Quốc, Newyork, Tokyo, TháiLan
Trang 3- Hình thức công ty cổ phần: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thứccông ty cổ phần đặc biệt do các công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng, công tytài chính, bảo hiểm sở hữu với mục tiêu là lợi nhuận theo qui định của Luật công ty.VD: Đức, Malaysia, London, Hongkong…- Hình thức sở hữu nhà nước: Sở giao dịchchứng khoán do Nhà nước sở hữu (phần lớn hoặc toàn bộ) như trường hợp Sở giaodịch chứng khoán Warsawar, Istabul, Việt Nam…
-Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến nhất Hình thức nàycho phép Sở giao dịch chứng khoán có quyền tự quản ở mức độ nhất định, nâng caođược tính hiệu quả và sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý hơn là hình thức sở hữu nhànước Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định, việc Chính phủ nắm quyền
sở hữu và quản lý Sở giao dịch sẽ cho phép ngăn ngừa sự lộn xộn, không công bằngkhi hình thức sở hữu thành viên chưa được bảo vệ bằng hệ thống pháp lý đầy đủ và rõràng Ví dụ như trường hợp của Hàn Quốc, Sở giao dịch chứng khoán được thành lập
từ năm 1956 nhưng đến năm 1963 bị đổ vỡ phải đóng cửa 57 ngày do các thành viên
sở hữu Sở giao dịch chứng khoán gây lộn xộn trong thị trường; sau đó Nhà nước đãphải đứng ra nắm quyền sở hữu Sở giao dịch chứng khoán trong thời gian khá dài từnăm 1963 đến 1988
b Mô hình tổ chức của Sở giao dịch:
Hội đồng quản trị:
Hội đồng quản trị bao gồm các đại diện là những người có liên quan trực tiếp hoặcgián tiếp đến thị trường chứng khoán Nói chung, thành viên Hội đồng quản trị gồmđại diện của các công ty chứng khoán thành viên, và một số người bên ngoài như đạidiện các công ty có chứng khoán niêm yết, các tổ chức công nghiệp, các nhà chuyênmôn và đại diện của Chính phủ
Các vụ chức năng:
Thông thường các Sở giao dịch chứng khoán các nước có khoảng 20 – 30 Vụ chứcnăng Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, các sở có mức tối thiểu khoảng 7 vụ chức năngnhư sau:
- Các Vụ chuyên môn: Vụ giao dịch; Vụ niêm yết; Vụ kinh doanh
- Các Vụ phụ trợ: Vụ công nghệ tin học; Vụ nghiên cứu và phát triển; Vụ kế toán; Vănphòng
c Thành viên Sở giao dịch chứng khoán:
Trang 4Thành viên Sở giao dịch chứng khoán là các công ty chứng khoán được Uỷ ban chứngkhoán cấp giấy phép hoạt động và được Sở giao dịch chứng khoán chấp nhận là thànhviên của Sở giao dịch chứng khoán.
Tiêu chuẩn để trở thành thành viên:
Các Sở giao dịch chứng khoán khác nhau có những tiêu chuẩn khác nhau trong việckết nạp thành viên Sự khác nhau này do trình độ phát triển thị trường qui định Dướiđây là một số tiêu chuẩn chính trong việc kết nạp thành viên
- Yêu cầu về tài chính:
Các chỉ tiêu về vốn cổ đông, vốn điều lệ, và tổng tài sản có là những chỉ tiêu chủ yếuthường được sử dụng khi xem xét kết nạp thành viên
Vốn cổ đông là tổng tài sản có trừ tài sản nợ của công ty Vốn cổ đông bao gồm vốn
cổ phần, thặng dự vốn và các khoản lợi nhuận giữ lại Tại Mỹ, vốn cổ đông quy địnhtối thiểu là 250.000 USD, ở Thái Lan là 200 triệu Baht
Ngoài ra, tỷ lệ nợ trên vốn cổ đông và thu nhập trên cổ phiếu cũng là những chỉ tiêuhay được tính đến khi xét kết nạp thành viên Thông thường tỷ lệ nợ trên vốn cổ đôngkhông được vượt quá 1,5 lần và thu nhập trên cổ phiếu phải đạt một tỷ lệ nhất địnhtrong vòng 2-3 năm
Tiêu chuẩn về nhân sự:
- Công ty chứng khoán thành viên phải có đội ngũ cán bộ kinh doanh có đủ trình
độ, có hiểu biết trong kinh doanh chứng khoán và tư cách đạo đức tốt
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
Công ty xin làm thành viên phải có địa điểm và trang thiết bị điện tử cần thiết cho quátrình nhận lệnh, xác nhận kết quả giao dịch và hệ thống bảng điện tử
Quyền hạn và trách nhiệm của thành viên:
Tuỳ theo hình thức sở hữu của Sở giao dịch chứng khoán, thành viên có các quyền hạnsau đây:
o Quyền bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của Sở giao dịch chứngkhoán
o Quyền được giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán
o Quyền được nhận các dịch vụ do Sở giao dịch chứng khoán cung cấp
o Quyền bầu đại biểu đại diện cho thành viên tại Hội đồng quản trị
Trang 5Ngoài các quyền hạn trên, các thành viên phải có trách nhiệm tuân thủ các quy địnhcủa Sở giao dịch chứng khoán, phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo bấtthường theo quy định.
ty chứng khoán và khách hàng của công ty Những lệnh được thực hiện sẽ chuyển sang
hệ thống thanh toán và lưu ký chứng khoán làm các thủ tục thanh toán chuyển giaochứng khoán và tiền
Khách hàng < -> Công ty CK < -> Sở giao dịch CK
a Mở tài khoản:
Trước khi đặt lệnh, khách hàng mở tài khoản tại công ty chứng khoán Việc mở tàikhoản phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa khách hàng và công ty chứngkhoán
Các thông tin liên quan đến tài khoản:
Khi mở tài khoản, khách hàng phải cung cấp các thông tin sau cho công ty chứngkhoán:
b Loại tài khoản:
- Tài khoản lưu ký:
Trang 6Hầu hết tài khoản của khách hàng là tài khoản lưu ký Khách hàng mua và bán chứngkhoán thông qua tài khoản này trên cơ sở giao ngay Nếu khách hàng không thực hiệnđược việc thanh toán vào ngày thanh toán quy định, công ty chứng khoán có quyềnbán chứng khoán có trên tài khoản để lấy tiền thanh toán.
- Tài khoản ký quỹ:
Khách hàng có thể sử dụng tài khoản này để vay tiền hoặc chứng khoán của công tychứng khoán
- Tài khoản uỷ thác:
Là tài khoản qua đó khách hàng uỷ thác cho nhà môi giới quyền mua và bán chứngkhoán mà không cần thông báo hoặc có sự đồng ý của khách hàng
c Báo cáo tài khoản:
Hàng tháng, công ty chứng khoán phải gửi cho khách hàng bản báo cáo về tình trạngtài khoản của khách hàng Báo cáo phải ghi rõ mọi sự thay đổi trên tài khoản
3 Đặt lệnh và loại lệnh
a Đặt lệnh:
Khi khách hàng muốn giao dịch, họ phải đặt lệnh bằng một trong các hình thức sauđây:
o Đặt lệnh trực tiếp tại phòng lệnh của công ty chứng khoán
o Đặt lệnh qua điện thoại
o Qua mạng vi tính nối mạng trực tiếp với phòng lệnh của công ty chứng khoán
o Nội dung của mẫu lệnh gồm các thông tin sau:
o Lệnh đó là Mua hay Bán, được in sẵn với mẫu khác nhau
Lệnh thị trường (Market order)
Người ra lệnh chấp nhận mua, bán theo giá hiện hành trên thị trường
Lệnh giới hạn (Limit order):
Trang 7Đối với việc chào bán, giá giới hạn là giá thấp nhất sẵn sàng bán Đối với việc chàomua, là giá cao nhất sẵn sàng mua.
Lệnh dừng (Stop order)
Lệnh dừng để bán: Khách hàng mua 100 cổ phần với giá 12 ngàn đồng/cổ phần.Sau một thời gian giá cổ phiếu này lên tới 20 ngàn đồng/cổ phần Khách hàng chưamuốn bán vì ông ta cho rằng giá còn tăng nữa Nhưng để đề phòng trường hợp giákhông tăng mà lại giảm, khách hàng này đặt lệnh dừng với người đại diện công tychứng khoán để bán với giá 19 ngàn đồng/cổ phần chẳng hạn Nếu thực tế giá cổ phiếu
đó không tăng mà lại giảm thì giá cổ phiếu đó giảm tới 19 ngàn, người môi giới sẽ báncho ông ta
Lệnh dừng để mua: Lệnh này thường được dùng trong trường hợp bán khống đểgiới hạn sự thua lỗ Chẳng hạn khách hàng vay của công ty chứng khoán một số cổphần và bán đi với giá 30 ngàn đồng/cổ phần với hy vọng giá cổ phiếu giảm xuống tới
20 ngàn đồng/ cổ phần, ông ta sẽ mua để trả Nhưng để đề phòng trường hợp giá cổphiếu không giảm mà lại tăng, khách hàng đó đặt một lệnh dừng để mua với giá 35ngàn đồng Khi giá lên tới 35 ngàn đồng, người môi giới sẽ mua cổ phiếu đó cho ông
ta và ông ta đã giới hạn sự thua lỗ của mình ở mức 5 ngàn đồng / cổ phần
Một lệnh dừng để mua được đưa ra trên mức giá thị trường hiện hành còn một lệnhdừng để bán được đưa ra thấp hơn giá thị trường hiện hành
Các loại lệnh khác: các loại lệnh được đưa ra nhằm những mục đích nhất định
- Lệnh giới hạn dừng (stop limit): cũng giống như một lệnh dừng nhưng nó sẽ chuyểnthành một lệnh giới hạn chứ không chuyển thành một lệnh thị trường khi đạt tới điểmdừng
- Lệnh thực hiện toàn bộ hay huỷ bỏ (Fill or Kill): loại lệnh này được thực hiện ngaytoàn bộ hoặc huỷ bỏ
- Lệnh thực hiện ngay hoặc huỷ bỏ (Immediate or cancel IOC): lệnh được thực hiệnngay một phần nào đó, phần còn lại bị huỷ bỏ
- Lệnh toàn bộ hoặc không (All or None, AON): với một thời hạn cho trước, chẳnghạn một ngày, lệnh phải được thực hiện toàn bộ, nếu không khách hàng sẽ không chấpnhận việc thực hiện đó
A Về chủ thể tham gia
1) Ủy ban chứng khoán:
Trang 8Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chứcnăng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về chứng khoán và thịtrường chứng khoán; trực tiếp quản lý, giám sát hoạt động chứng khoán và thị trườngchứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán, thị trườngchứng khoán theo quy định của pháp luật
Trang 9PHẦN 2: THỰC TRẠNG GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TẠI
VIỆT NAM
I Về khung pháp lý
II.Về chủ thể tham gia
1 Ủy ban chứng khoán
có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 ngàn tỷ đồng, đặc biệt có 6 doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia niêm yết; 03 chứng chỉ quỹ đầu tư với khốilượng 171,4 triệu đơn vị và 366 trái phiếu các loại Dự kiến thời gian tới, số lượng cổphiếu niêm yết tại SGDCK TP.HCM sẽ tăng lên rất nhiều do Chính phủ đã có chủtrương đưa cổ phiếu của một số tổng công ty lớn, các ngân hàng thương mại quốcdoanh cổ phần hoá vào niêm yết trên thị trường Qua 7 năm với sự tăng trưởng của thịtrường và hội nhập với TTCK thế giới, Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.HCM đãchính thức được Chính phủ ký Quyết định số:599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 chuyểnđổi thành Sở giao dịch Chứng khoán Tp.HCM Ngày 08/08/2007, SGDCK TP.HCM
đã chính thức được khai trương
Sơ đồ tổ chức:
Trang 102.2) Điều kiện niêm yết:
2.2.1 Điều kiện niêm yết cổ phiếu:
a) Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷđồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán Căn cứ vào tình hình pháttriển thị trường, mức vốn có thể được Bộ Tài chính điều chỉnh tăng hoặc giảm trongphạm vi tối đa 30% sau khi xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ;
b) Hoạt động kinh doanh hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi vàkhông có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký niêm yết;
c) Không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng theo quy định của pháp luật;công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểmsoát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc, Kếtoán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan;
d) Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắmgiữ;
đ) Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giámđốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải camkết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm
Trang 11yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếuthuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ;
e) Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghịđịnh này
2.2.2 Điều kiện niêm yết trái phiếu:
a) Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước có vốnđiều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theogiá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi,không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn thành các nghĩa vụ tàichính với Nhà nước;
c) Có ít nhất 100 người sở hữu trái phiếu cùng một đợt phát hành;
d) Có hồ sơ đăng ký niêm yết trái phiếu hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghịđịnh này
2.2.3 Điều kiện niêm yết chứng chỉ quỹ đại chúng hoặc cổ phiếu của công ty đầu
tư chứng khoán đại chúng:
a) Là quỹ đóng có tổng giá trị chứng chỉ quỹ (theo mệnh giá) phát hành từ 50 tỷ đồngViệt Nam trở lên hoặc công ty đầu tư chứng khoán có vốn điều lệ đã góp tại thời điểmđăng ký niêm yết từ 50 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;b) Sáng lập viên và thành viên Ban đại diện quỹ đầu tư chứng khoán hoặc thành viênHội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặcPhó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng của công ty đầu tư chứng khoán phải cam kếtnắm giữ 100% số chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng
kể từ ngày niêm yết và 50% số chứng chỉ quỹ hoặc cổ phiếu này trong thời gian 6tháng tiếp theo;
c) Có ít nhất 100 người sở hữu chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng hoặc ít nhất 100 cổđông nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán đại chúng;
d) Có hồ sơ đăng ký niêm yết chứng chỉ quỹ đại chúng hoặc cổ phiếu của công ty đầu
tư chứng khoán đại chúng hợp lệ theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định này
2.3 Phương Thức Giao Dịch:
SGDCK TP.HCM tổ chức giao dịch chứng khoán thông qua hệ thống giao dịch theo 2phương thức sau:
Trang 12Khớp lệnh định kỳ: Là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch thực hiện trên
cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán của khách hàng tại một thờiđiểm xác định Nguyên tắc xác định giá thực hiện trong phương thức khớp lệnh định
kỳ như sau:Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất Nếu có nhiềumức giá thỏa mãn tiết i nêu trên thì mức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lầnkhớp lệnh gần nhất sẽ được chọn Phương thức khớp lệnh định kỳ được sử dụng đểxác định giá mở cửa và giá đóng cửa của chứng khoán trong phiên giao dịch
Khớp lệnh liên tục: Là phương thức giao dịch được hệ thống giao dịch thực hiện trên
cơ sở so khớp các lệnh mua và lệnh bán chứng khoán ngay khi lệnh được nhập vào hệthống giao dịch Nguyên tắc xác định giá thực hiện trong phương thức khớp lệnh liêntục là mức giá của các lệnh giới hạn đối ứng đang nằm chờ trên sổ lệnh
Phương thức thoả thuận: Là phương thức giao dịch trong đó các thành viên tự thoả
thuận với nhau về các điều kiện giao dịch và được đại diện giao dịch của thành viênnhập thông tin vào hệ thống giao dịch để ghi nhận Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tưđược giao dịch theo phương thức khớp lệnh và thoả thuận
Trái phiếu được giao dịch theo phương thức thoả thuận
2.4 Thời gian giao dich:
Thời gian giao dịch của Sở GDCK TP.HCM từ thứ hai đến thứ sáu hàng tuần trừ ngày
lễ và ngày nghỉ theo quy định của luật lao động
Thời gian giao dịch trong ngày:
Đối với cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư: theo hai phương thức giao dịch khớp lệnh
và thỏa thuận:
Giao dịch khớp lệnh: 3 đợt trong ngày
Từ 8h30’ đến 9h00’: Giao dịch khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa
Từ 9h00’ đến 10h00’: Giao dịch khớp lệnh liên tục
Từ 10h00’ đến 10h30’: Giao dịch khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa
Thời gian giao dịch thỏa thuận: từ 10:30’ đến 11:00’
Đối với trái phiếu: chỉ giao dịch theo phương thức thỏa thuận, từ 8:30’ đến 11:00’
(Trích Điều 4, Quy chế giao dịch chứng khoán tại SDGCK Tp.Hồ Chí Minh do Tổng Giám Đốc Sở ký ban hành ngày 9/10/2007)
Trang 13SGDCK TP.HCM tổ chức giao dịch chứng khoán từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần,trừ các ngày nghỉ theo quy định trong Bộ luật Lao động.
Thời gian giao dịch cụ thể do SGDCK TP.HCM quyết định sau khi có sự chấp thuậncủa UBCKNN SGDCK TP.HCM có thể thay đổi thời gian giao dịch trong trường hợpcần thiết
2.5 Các loại lệnh giao dịch:
Lệnh giới hạn: Là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định
hoặc tốt hơn Lệnh giới hạn có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giaodịch cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ
Lệnh thị trường (viết tắt là MP): Nếu sau khi so khớp lệnh theo nguyên tắc ở điểm.
mà khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn chưa được thực hiện hết thì lệnh thịtrường sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giámua thấp hơn tiếp theo hiện có trên thị trường Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh thịtrường vẫn còn sau khi giao dịch và không thể tiếp tục khớp được nữa thì lệnh thịtrường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại mức giá cao hơn một bước giá sovới giá giao dịch cuối cùng trước đó hoặc lệnh giới hạn bán tại mức giá thấp hơn mộtbước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó
Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh thị trường mua hoặc giásàn đối với lệnh thị trường bán thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạnmua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn
Các thành viên không được nhập lệnh thị trường vào hệ thống giao dịch khi chưa cólệnh giới hạn đối ứng đối với chứng khoán đó
Lệnh thị trường được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh liên tục
Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (viết tắt là ATO):
Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa Lệnh ATO được ưutiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh Lệnh ATO được nhập vào hệ thốnggiao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa và sẽ tự động bịhủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc khôngđược thực hiện hết
Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (viết tắt là ATC):
Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa Lệnh ATC được ưutiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh
Trang 142.6 Biên độ giao dịch:
SGDCK TP.HCM quy định biên độ dao động giá đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư trong ngày giao dịch sau khi có sự chấp thuận của UBCKNN Không áp dụng biên
độ dao động giá đối với giao dịch trái phiếu
Biên độ dao động giá đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư được xác định như sau:Giá tối đa (Giá trần) = Giá tham chiếu + (Giá tham chiếu x Biên độ dao động giá)Giá tối thiểu (Giá sàn) = Giá tham chiếu – (Giá tham chiếu xBiên độ dao động giá) Biên độ dao động giá quy định không áp dụng đối với chứng khoán trong một sốtrường hợp sau:
Ngày giao dịch đầu tiên của cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư mới niêm yết;
Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư được giao dịch trở lại sau khi bị tạm ngừng giao dịchtrên 30 ngày;
Các trường hợp khác theo quyết định của SGDCK TP.HCM
Biên độ dao động giá hiện tại là +/- 5% so với giá tham chiếu (Thông báo số 903/TTGDHCM- HC ngày 20/12/2002)
Đơn vị yết giá:
và mạnh, thu hút được sự quan tâm của doanh nghiệp và công chúng đầu tư.TTGDCKHN đã được Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam trao tặng Huân chươngLao động Hạng ba vì đã có thành tích xuất sắc trong việc thúc đẩy sự phát triển có hiệu
Trang 15quả của thị trường chứng khoán, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ Tổ quốc
SGDCKHN chính thức ra mắt vào ngày 24/6/2009, kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của
TTGDCKHN và thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Luật Chứng khoán, LuậtDoanh nghiệp, Điều lệ tổ chức và hoạt động của SGDCKHN và các quy định phápluật khác có liên quan SGDCKHN có mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng
3.2 Cơ cấu tổ chức Sở GDCK Hà Nội:
3.3 Điều kiện Đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở GDCK Hà Nội:
3.3.1 Đối với cổ phiếu:
- Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷđồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không
Trang 16có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm, hoàn thành các nghĩa vụ tài chính vớiNhà nước và có tình hình tài chính lành mạnh tính đến thời điểm đăng ký niêm yết;
- Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ;
- Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giámđốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải camkết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngàyniêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổphiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ
- Điều kiện niêm yết cổ phiếu của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất,sát nhập doang nghiệp thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính
3.3.2 Đối với trái phiếu doanh nghiệp:
- Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước có vốnđiều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theogiá trị ghi trên sổ kế toán;
- Các trái phiếu của một đợt phát hành có cùng ngày đáo hạn
3.4 Thời gian giao dịch và biên độ dao động:
Thời gian giao dịch sẽ được tổ chức từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần trừ ngày nghỉ theoquy định bộ luật lao động
Giá tham chiếu: giá tham chiếu của cổ phiếu đang được giao dịch là bình quân giaquyền các giá giao dịch thực hiện theo phương thức khớp lệnh của ngày giao dịch gầnnhất trước đó Trường hợp cố phiếu mới được niêm yết trong ngày giao dịch đầu tiênHNX chỉ nhận lệnh mua và lệnh bán chứng khoán và không áp dụng biên độ giaođộng giá Nếu trong ngày giao dịch đầu tiên không có giá khớp lệnh thì giá thamchiếu sẽ được xác định trong ngày giao dịch kế tiếp cho đến khi giá giao dịch đượcxác lập trên hệ thống
Trường hợp chứng khoán bị tạm ngừng giao dịch trên 25 phiên giao dịch khi đượcgiao dịch trở lại thì giá tham chiếu được xác định tương tự quy định của cổ phiếu mớiniêm yết Trường hợp giá chứng khoán không được hưởng cổ tức và các quyền kèmtheo thì giá tham chiếu tại ngày không hưởng quyền được xác định theo nguyên tắclấy giá bình quân của ngày giao dịch gần nhất điều chỉnh theo giá trị cổ tức được nhận
cổ hoặc giá trị của các quyền kèm theo
Trường hợp tách gộp cổ phiếu, giá tham chiếu tại ngày giao dịch trở lại được xác định
Trang 17theo nguyên tắc lấy giá bình quân của ngày giao dịch trước ngày tách, gộp điều chỉnhtheo tỷ lệ tách, gộp cổ phiếu Trong trường hợp khác ,HNX có thể áp dụng phươngpháp xác định giá tham chiếu khác sau khi được UBCKNN chấp thuận.
Biên độ giao dịch: cổ phiếu +/- 7%, trái phiếu không quy định
Giới hạn giao động giá với cổ phiếu được xác định như sau:
Giá tối đa (giá trần) = giá tham chiếu + (giá tham chiếu x7%)
Giá tối thiểu (giá sàn) = giá tham chiếu - (giá tham chiếu x7%)
3.5 Phương thức giao dịch khớp lệnh liên tục:
3.5.1 Đơn vị yết giá
+ Đối với cổ phiếu:100 đồng
+ Đối với trái phiếu: không quy định
3.5.2 Đơn vị giao dịch: 100 cổ phiếu hoặc 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tính
theo mệnh giá trái phiếu
3.5.3 Khối lượng giao dịch tối thiểu: không quy định
3.5.4 Loại lệnh giao dịch: lệnh giới hạn.
3.5.5 Nguyên tắc thực hiện lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục
- Các lệnh có mức giá tốt nhất được ưu tiên thực hiện trước
- Nếu có nhiều lệnh cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ đượcthực hiện trước
-Nếu lệnh mua và lệnh bán cùng thoả mãn nhau về giá thì mức giá thực hiện sẽ là mứcgiá của lệnh được nhập vào hệ thống trước
- Lệnh giao dịch có thể được thực hiện toàn bộ hoặc một phần theo bội số của đơn vịgiao dịch
3.5.6 Trình tự giao dịch khớp lệnh liên tục:
- Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh (mua/bán) tại các công ty chứng khoán, đại diện giaodịch của công ty chứng khoán sẽ nhập các lệnh của khách hàng vào hệ thống giaodịch tại Sở GDCK Hà Nội
- Các lệnh đặt này được hiển thị trên màn hình của đại diện giao dịch và màn hìnhthông tin của công ty chứng khoán
- Các lệnh nhập vào hệ thống sẽ được tự động khớp ngay với các lệnh đối ứng có mứcgiá thoả mãn tốt nhất đã chờ sẵn trong hệ thống Tức là, nếu thoả mãn về giá thì cáclệnh mua có mức giá cao nhất sẽ được khớp với các lệnh bán có mức giá thấp nhất
Trang 18Mức giá thực hiện được xác định là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước.
- Nếu ở cùng một mức giá mà có nhiều lệnh mua/lệnh bán thì lệnh nào nhập vào hệthống trước sẽ được thực hiện trước
- Các lệnh có thể được thực hiện một phần hoặc toàn bộ (nếu các lệnh đối ứng đápứng được toàn bộ khối lượng) Các lệnh chưa được thực hiện hoặc mới thực hiện mộtphần sẽ được lưu lại trên hệ thống để chờ thực hiện với các lệnh mới
- Kết quả giao dịch sẽ được hiển thị trực tuyến trên màn hình thông tin của các công
ty chứng khoán
Kết thúc phiên giao dịch, Sở GDCK Hà Nội sẽ xác nhận kết quả giao dịch với công tychứng khoán thành viên và công ty chứng khoán thành viên thông báo cho kháchhàng
3.5.7 Sửa lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục
- Trong phiên giao dịch, các lệnh đã nhập vào hệ thống không được phép sửa, trừtrường hợp sửa giá và trường hợp đại diện giao dịch (sau đây viết tắt là ĐDGD) nhậpsai so với lệnh gốc của khách hàng
- Trường hợp sửa giá theo yêu cầu của khách hàng, ĐDGD được tiến hành sửa lệnhngay trên hệ thống
- Trường hợp nhập sai lệnh của khách hàng so với lệnh gốc, ĐDGD được phép sửalệnh theo trình tự trong quy trình Sửa lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục Trường hợpnày sẽ tính vào lỗi của ĐDGD
- Việc sửa lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục chỉ được thực hiện đối với các lệnh chưađược khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh
3.5.8 Hủy lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục
Trong phiên giao dịch, ĐDGD được thực hiện huỷ lệnh theo yêu cầu của khách hàngđối với các lệnh chưa được khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh
3.5.9 Hình thức thanh toán: Tất cả các giao dịch khớp lệnh liên tục (gồm cả giao
dịch cổ phiếu và giao dịch trái phiếu) được thanh toán theo hình thức thanh toán đaphương (T+3)
3.6 Phương thức giao dịch thỏa thuận:
3.6.1 Đơn vị yết giá: không quy định.
3.6.2 Đơn vị giao dịch: không quy định
3.6.3 Khối lượng giao dịch tối thiểu
Trang 19- Đối với cổ phiếu: 5.000 cổ phần.
- Đối với trái phiếu: 100.000.000 đồng (100 triệu đồng) tính theo mệnh giá
3.6.4 Trình tự giao dịch thoả thuận
+ Trường hợp đã xác định được đối tác giao dịch:
Nếu nhà đầu tư đã tìm được đối tác giao dịch và đã hoàn tất thoả thuận giao dịch thìthông báo cho công ty chứng khoán về thoả thuận này, công ty chứng khoán sẽ thựchiện nhập lệnh giao dịch vào hệ thống của Trung tâm GDCK Hà Nội
+ Trường hợp chưa xác định được đối tác giao dịch:
* Khi có nhu cầu giao dịch, nhà đầu tư sẽ đặt lệnh mua/lệnh bán tại CTCK
* Căn cứ vào lệnh của nhà đầu tư, công ty chứng khoán sẽ nhập lệnh vào hệthống giao dịch tại TTGDCK Hà Nội, ngay lập tức các lệnh đó sẽ được hiển thị trên
sổ lệnh của thị trường
* Căn cứ vào thông tin trên sổ lệnh, các CTCK sẽ liên lạc với nhau để giúp nhàđầu tư tìm kiếm và thoả thuận với các đối tác giao dịch về mức giá và khối lượng giaodịch Khi đạt được thoả thuận, CTCK sẽ thực hiện lệnh giao dịch cho nhà đầu tư
* Hệ thống giao dịch của TTGDCK Hà Nội sẽ nhận và xác nhận các lệnh giaodịch do công ty chứng khoán nhập vào và sẽ đưa ra kết quả giao dịch tổng hợp củatoàn thị trường
* Kết quả giao dịch thỏa thuận sẽ được hiển thị ngay trên màn hình của đạidiện giao dịch và màn hình thông tin của CTCK
3.6.5 Sửa lệnh giao dịch thỏa thuận
Trong giờ giao dịch, trường hợp phát hiện sai lệch so với lệnh gốc sau khi lệnh giaodịch thỏa thuận đã được xác nhận, ĐDGD được phép sửa lệnh giao dịch thỏa thuậntheo Quy trình sửa lệnh giao dịch thỏa thuận
Thời gian sửa lệnh giao dịch thỏa thuận phải được hoàn tất chậm nhất là 15 phút trướckhi phiên giao dịch kết thúc
Trang 20- Song phương với chu kỳ thanh toán T+2
- Trực tiếp với chu kỳ thanh toán từ T+1 đến T+3
4) Các nhà đầu tư tham gia:
Tổ chức: thường là các quỹ tín dụng nhận đầu tư theo yêu cầu Đặc điểm của các quỹ
này là tổ chức có chuyên môn mà am hiểu thị trường nên có sự phân tích kỹ lưỡng vàchuyên sâu về chứng khoán Quỹ tín dụng này sẽ thay mặt nhà đầu riêng lẻ đầu tư vàtrả lãi cố định theo thỏa thuận
Cá nhân: các cá nhân riêng lẻ tham gia thị trường chứng khoán khi họ mong muốn
tự mình đầu tư mà không thông qua các quỹ đầu tư hoặc mô giới đặc điểm các nhàđầu tư riêng lẻ này không có chuyên môn cao và am hiểu sâu về thị trường vẫn cònđầu tư theo hiệu ứng đám đông, tâm lý bầy đàn
III Về hoạt động giao dịch
1 Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc vậnhành Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) TP Hồ Chí Minh ngày20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Thời điểmnày, chỉ có 2 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu (REE và SAM) với tổng vốn 270 tỷđồng và một số ít trái phiếu Chính phủ
Từ đó cho đến 2005, thị trường luôn ở trong trạng thái trầm lắng, loại trừ cơn sốtvào năm 2001(chỉ số VN index cao nhất đạt 571.04 điểm sau 6 tháng đầu năm nhưngchỉ trong vòng chưa đầy 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ phiếu niêm yết đãmất giá tới 70% giá trị, chỉ số VN Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001 Trong 4 tháng “hoảng loạn” này,trong khi nhiều nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường với lời nguyền không bao giờquay lại thì một số nhà đầu tư khác vẫn bình tĩnh bám trụ, âm thầm mua bán và tiếptục kiếm được lợi nhuận Trong 5 năm chỉ số VN-Index lúc cao nhất là 571.04 điểm,mức thấp nhất xuống đến 130 điểm Nguyên nhân chủ yếu là do ít hàng hoá, cácdoanh nghiệp niêm yết có quy mô nhỏ, và không phải là những công ty có thươnghiệu lớn nên không đủ hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, trong khi giới hạn sở hữu chonhà đầu tư nước ngoài cũng hết
Ngày 8/3/2005 TTGDCK Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức đi vào hoạt động.Giai đoạn sôi động dần xuất hiện từ năm 2005 với sự tham gia nhiều hơn của nhà đầu
tư nước ngoài khi tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài được nâng từ 30% lên 49%(trừ lĩnh vực ngân hàng)
Trong 5 năm đầu tiên, thị trường chưa thực sự thu hút được sự quan tâm của đôngđảo nhà đầu tư và các diễn biến tăng giảm của thị trường chưa tạo ra tác động xã hội
Trang 21mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sốngcủa mỗi người dân.
Bảng số liệu sau cung cấp cái nhìn tổng quan cho vấn đề trên:
Trang 22Hình 2: Diễn biến HNX-Index 2000-2005
Nguồn: cafef.vn
Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến hết năm 2005, tổnggiá trị thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổngthu nhập quốc nội (GDP) Thị trường chứng khoán Việt Nam thời điểm này có 4.500
tỷ đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu tư và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếuchính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, thu hút 28.300 tài khoản giaodịch Trong năm 2005, tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so vớinăm 2004, huy động được 44,600 tỷ đồng, và mức vốn hóa thị trường so với GDP của
Trang 23quan mặc dù hoạt động của thị trường này còn manh mún, rời rạc, tổ chức của thịtrường chưa chưa chặt chẽ cũng như không có các nhà tạo lập thị trường)
Trong năm này, các kỷ lục về chỉ số chứng khoán cũng như giá trị giao dịch đãliên tục được phá vỡ trong các kỳ giao dịch của năm Cụ thể, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm, với HASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260điểm Tính chung, so với đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146%
và HASTC-Index tăng tới 170% Đây là những mức tăng mà các thị trường trên thếgiới phải thừa nhận là quá ấn tượng
Hình 3: Diễn biến VN-Index trong năm 2006
Nguồn: cafef.vn
Số lượng công ty niêm yết cũng tăng mạnh, tính đến 31/12/2006 đã có 106 công
ty niêm yết và 2 chứng chỉ quỹ tại TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, tăng 74 công ty
và 1 chứng chỉ quỹ so với cuối năm 2005 Trong khi đó số lượng công ty cổ phần
Trang 24đăng ký giao dịch ở TTGDCK Hà Nội cũng tăng nhanh Nếu tính đến 30/6/2006, chỉ
có 12 công ty đăng ký giao dịch thì đến 31/12/2006 đã có 87 công ty đăng ký giaodịch
Về tổng giá trị cổ phiếu niêm yết, mức vốn hóa thị trường của 193 cổ phiếu vàocuối năm 2006 đạt 221.156 tỷ đồng tương đương 13,8 tỷ USD, chiếm 22,7% GDP củanăm, tăng 20 lần so với cuối năm 2005 Ngoài ra, số lượng trái phiếu niêm yết cũngtăng đáng kể, đến 31/12/2006 có gần 400 loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đô thị
và trái phiếu ngân hàng niêm yết với tổng giá trị trên 70.000 tỷ đồng, bằng 7,7% GDPcủa năm 2006
Quy mô niêm yết cổ phiếu đến hết 31/12/2006
Tổng khối lượng niêm yết 12.667.321.104
Tổng mệnh giá niêm yết 221.156 tỷ VND
Vốn hóa thị trường ~ 22.7% GDP
(Nguồn: TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh và TTGDCK Hà Nội)
Về tăng trưởng số lượng các nhà đầu tư năm 2006, số lượng nhà đầu tư tham giathị trường tăng hơn 3 lần so với cuối năm 2005, đến hết năm 2006 có khoảng 100.000tài khoản giao dịch tại các công ty chứng khoán, tăng mạnh so với 31.300 tài khoảncủa năm 2005 Trong đó có 1.700 tài khoản (chiếm 1,7%) của nhà đầu tư nước ngoài,bao gồm một số nhà đầu tư tên tuổi quốc tế như JP Morgan, Merril Lynch,Citigroup…
Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu niêm yết của nhà đầu tư nước ngoài khoảng 25-30% Giátrị giao dịch chứng khoán bao gồm cả trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài năm 2006cũng tăng cao so với năm 2005 Cụ thể, giá trị giao dịch mua năm 2006 khoảng17.000 tỷ đồng (năm 2005 khoảng 3.000 tỷ đồng), giá trị giao dịch bán năm 2006khoảng 9.500 tỷ đồng (năm 2005 khoảng 2.900 tỷ đồng) Nhà đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam thông qua các Quỹ đầu tư chứng khoán ngày càng phổ biến Đến cuối năm
2006, có 23 Quỹ với quy mô vốn đầu tư ước đạt 2,3 tỷ USD và gần 50 tổ chức đầu tưnước ngoài mở tài khoản hoặc ủy thác đầu tư trên TTCK
Như vậy, năm 2006 được đánh giá là năm bùng nổ của thị trường chứng khoánViệt Nam kể từ ngày khai trương thị trường năm 2000
2.2 Giai đoạn 2007: Thị trường chứng khoán phát triển vượt bậc
Năm 2007 là một năm phát triển vượt bậc của TTCK Luật Chứng khoán có hiệulực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy TTCK phát triển và tăng cường khảnăng hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế
TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh chính thức được chuyển sang Sở Giao dịch
Trang 25Chứng khoán (SGDCK) Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 11/05/2007 theo Quyếtđịnh số 550/QĐ-TTg.
Về quy mô thị trường, trong năm 2007, tổng giá trị vốn hóa đã đạt được 492.900
tỷ đồng, tương đương 43% GDP, gấp 1.9 lần so với năm 2006
Tính tới cuối năm 2007, có 138 doanh nghiệp niêm yết tại SGDCK Thành phố
Hồ Chí Minh và 112 doanh nghiệp niêm yết tại TTGDCK Hà Nội
Sự tăng trưởng vượt bậc của thị trường còn thể hiện ở con số hơn 330.000 tàikhoản so với con số chỉ hơn 100.000 tài khoản năm trước Trong đó, có 7.000 tàikhoản là của nhà đầu tư nước ngoài, tăng gấp 7 lần so với 1.000 tài khoản vào năm2006
So với năm 2006, VNIndex đạt được mức tăng trưởng là 23,3%; HASTC-Indextăng 33,2%
Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện được
248 phiên giao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2.390 tỷ chứng khoán,tương ứng với giá trị 244.670 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng và 2,8 lần giá trị giao dịch
so với năm 2006, bình quân đạt 986 tỷ đồng/phiên Trong khi đó, tại TTGDCK HàNội, những con số tương ứng là gần 1.365 tỷ chứng khoán với giá trị 140.943 tỷ đồng,bình quân đạt 568 tỷ đồng/phiên
Nhìn nhận khách quan từ góc độ thị trường, bên cạnh những thành công, Thịtrường Chứng khoán sau một năm hoạt động cũng ghi lại dấu ấn cho những giai đoạnthăng trầm nhất định khi thị trường trải qua những biến động trồi sụt thất thường:
Tháng 1/2007 – giữa tháng 3/2007: giai đoạn tăng trưởng sôi động nhất
Nửa cuối tháng 3/2007 – cuối tháng 4/2007: đợt suy giảm đầu tiên
Tháng 5/2007: tạm phục hồi
Tháng 6/2007 – cuối tháng 8/2007: đợt sụt giảm thứ hai, đánh dấu một giaiđoạn suy thoái
Tháng 9/2007 – cuối tháng 10/2007: tăng vọt trở lại
Tháng 11/2007 – cuối tháng 12/2007: không có sức bật, suy giảm trong chờđợi
Những biến động thất thường này được thể hiện rõ nét ở việc thay đổi chỉ sốVN-Index trong năm 2007 như sau:
Trang 26Hình 4: Diễn biến Vn-Index năm 2007
Đây là giai đoạn thị trường có những đợt sóng cao, khiến Index của cả 2 sàngiao dịch đều lập kỷ lục: chỉ số VN-Index đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau 7năm hoạt động và HASTC – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 năm hoạtđộng
Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của thị trườngtrong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng So với tổng giá trị vốn hóa492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu năm đã chiếm tỷ trọng 4/5 Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn này phải kểđến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiến giá trị giao dịch trung bìnhmỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng Tại SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh,bình quân mỗi phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, TTGDCK Hà Nội cũngđạt con số 300 tỷ đồng
Giai đoạn nửa cuối tháng 3/2007 – cuối tháng 4/2007: đợt suy giảm đầu tiên
Thông tin về một thị trường tăng trưởng nóng được giới tài chính nhắc đếnthường xuyên, cùng với các báo cáo khuyến nghị nhà đầu tư về hiện tượng này của
Trang 27các tổ chức có tên tuổi và uy tín trong đó có HSBC cho rằng P/E của thị trường ViệtNam hiện quá cao và mức 900 điểm của VN-Index mới là hợp lý Quan điểm này gâyxôn xao dư luận và nhận được không ít lời phản đối Báo cáo của họ sau đó được ghinhận có sai sót trong tính toán chỉ số P/E tuy nhiên vẫn tác động tiêu cực lên tâm lýnhà đầu tư VN-Index từ đỉnh 1.175 điểm đã thiết lập đáy 905,53 điểm (24/04/2007),giảm tới 22,6% so với mức đỉnh vào tháng 3 HASTC – Index trở về mốc 321,44điểm (24/04/2007), giảm 30% so với mức đỉnh.
Giai đoạn Tháng 5/2007: tạm phục hồi
VN-Index bắt đầu tăng trở lại trong tháng 5, sau khi các doanh nghiệp công bốbáo cáo quý I, giúp nhà đầu tư có thêm nhận định về tình hình kinh doanh cả nămcùng với việc thị trường đã điều chỉnh sâu trong tháng 4 làm cho giá cổ phiếu hấpdẫn hơn
Tổng giá trị mua của nhà đầu tư nước ngoài tháng này tăng so với chu kỳ suygiảm trước đó, đạt khoảng 4.000 tỷ đồng và giá trị bán đạt khoảng 1.600 tỷ đồng
Giai đoạn Tháng 6/2007 – cuối tháng 8/2007: đợt sụt giảm thứ hai, đánh dấu một giai đoạn suy thoái
Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nước cũngnhư Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện pháp kiểm soát thịtrường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế sự tăng trưởng quá nóng củathị trường Trong đó có Chỉ thị 03/2007/CT-NHNN về khống chế dư nợ cho vay đầu
tư chứng khoán ở mức 3% Chỉ thị này ra đời vào cuối tháng 5/2007, do đó, đã tácđộng trực tiếp đến giai đoạn này TTCK đã có những đợt điều chỉnh rõ rệt Một đợtđiều chỉnh giảm của thị trường đã diễn ra Giai đoạn đầu Tháng 8, thị trường xác lậpmức đáy 883,9 điểm của VNIndex (6/8/2007) và 247,37 điểm của Hastc - Index(23/08/2007)
Giai đoạn Tháng 9/2007 – cuối tháng 10/2007: tăng vọt trở lại
Không còn xu hướng bán tháo cổ phiếu cắt lỗ của nhà đầu tư, giá trị giao dịch
cổ phiếu tăng đột biến trung bình trên 1.000 tỷ đồng mỗi ngày từ cuối tháng 9 chođến cuối tháng 10
Trong giai đoạn này, VNIndex đã có những phiên giao dịch vượt lên trênngưỡng 1.100 điểm (1.106,6 điểm vào ngày 3/10/2007), Hastc – Index cũng gần chạmtrở lại ngưỡng 400 điểm (393,59 điểm ngày 01/10/2007)
Giai đoạn Tháng 11/2007 – cuối tháng 12/2007: không có sức bật, suy giảm trong chờ đợi
Trong giai đoạn này, thị trường chứng khoán không có thông tin hỗ trợ tốtkhiến VNIndex sụt giảm mạnh, nhất là từ đầu tháng 11 Nhiều nhà đầu tư cho rằngmức hỗ trợ 1.000 điểm là mạnh, tuy vậy ngưỡng này đã bị phá vỡ hoàn toàn giữa
Trang 28tháng 11, tiếp đó mốc 970 điểm được giới phân tích kỹ thuật nhắc tới nhiều lân.Không chắc chắn hơn là mấy, mốc này tiếp tục bị xuyên thủng, đáy thấp nhất của chu
kỳ rơi vào ngày 17/12 ở mức 911 điểm Giao dịch đã sụt giảm xuống chỉ còn 1/ 2 sovới thời điểm tháng 9, 10 Mốc 1.200 điểm mà nhiều nhận
Như vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2007 có lúc thăng lúc trầm,chứ không tăng mạnh mẽ như năm ngoái Mặc dù vậy, mức tăng trưởng chung vẫn đạtkhoảng 20% Con số này không phải là nhỏ so với một thị trường còn non trẻ nhưViệt
3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay
3.1 Hoạt động giao dịch năm 2008:
3.1.1 Qui mô và khối lượng giao dịch:
* Tính đến ngày 31/12/2008, mức vốn hóa thị trường của cổ phiếu đạt khoảng 50.428
tỉ VND tại TTGDCK Hà Nội và khoảng 169.346 tỉ VND tại SGDCK Thành phố HồChí Minh, chiếm 14,86% GDP Nguyên nhân của việc mức vốn hóa thị trường giảmchủ yếu là do các chứng khoán giảm giá mạnh
* Tính đến cuối năm 2008 (ngày 31/12/2008), đã có 170 doanh nghiệp niêm yết trênSGDCK Thành phố Hồ Chí Minh và 168 doanh nghiệp niêm yết trên TTGDCK HàNội
* Trong năm 2008 (tính đến ngày 31/12/2008) SGDCK Thành phố Hồ Chí Minh đãthực hiện được 249 phiên giao dịch với tổng khối lượng gần 3,404 triệu chứng khoántương ứng giá trị 152.615,908 tỉ đồng Tại TTGDCK Hà Nội, những con số tương ứng
là 249 phiên giao dịch với tổng khối lượng hơn 3,524 triệu chứng khoán và246.230,766 tỷ đồng giá trị
* Trên thị trường đến ngày 26/12/2008 đã có 101 công ty chứng khoán và 42 công tyquản lý quỹ đang hoạt động
* Tính đến 31/12/2008 đã có 12.720 tài khoản giao dịch thuộc khối đầu tư nướcngoài, trong đó 887 tài khoản là của các nhà đầu tư tổ chức, còn lại là của nhà đầu tư
cá nhân nước ngoài