Điều kiện cần thiết hình thành TTTC Nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ ổn định, với mức độ lạm phát có thể kiểmsoát được; Các công cụ của TTTC phải đa dạng tạo ra các phương ti
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ 2
TRƯỜNG TÀI CHÍNH (TTTC) 2
1.1 Cơ sở hình thành TTTC 2
1.2 Khái niệm TTTC: 3
1.3 Chức năng, vai trò TTTC: 4
1.3.1 Chức năng TTTC 4
1.3.2 Vai trò của TTTC 5
1.4 Cơ cấu TTTC: 5
1.4.1 Thị trường tiền tệ: 5
1.4.2 Thị trường vốn: 5
1.5 Công cụ của TTTC 6
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG 8
TÀI CHÍNH VIỆT NAM 8
2.1 Thực trạng thị trường tiền tệ Việt Nam: 8
2.1.1 Thị trường huy động vốn và thị trường tín dụng: 8
2.1.2 Thị trường liên ngân hàng: 9
2.1.3 Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc: 15
2.1.4 Thị trường mở: 21
2.1.5 Thị trường hối đoái: 26
2.2 Thực trạng thị trường vốn Việt Nam: 31
2.2.1 Thị trường trái phiếu: 31
2.2.2 Thị trường cổ phiếu: 52
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM HIỆN NAY 62
3.1 Một số giải pháp tái cấu trúc và phát triển thị trường tiền tệ (TTTT) : 62
3.1.1 Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cần thiết cho sự phát triển của TTTT 62
3.1.2 Phát triển và hoàn thiện cấu trúc TTTT Việt Nam 62
3.1.3 Phát triển hạ tầng và hoàn thiện quy tắc giao dịch của TTTT Việt Nam 64
3.1.4 Hình thành và phát triển các nhà tạo lập thị trường 65
3.1.5 Mở rộng quy mô và chủng loại các hàng hóa giao dịch đồng thời tăng cường thu hút các thành viên tham gia TTTT 65
3.1.7 NHNN cần nghiên cứu cách thức cung cấp thông tin cho thị trường 66
3.1.8 Tăng cường công tác quản lý điều hành, thanh tra, giám sát của NHNN đối với TTTT 66
3.1.9 Tăng cường công tác tuyên truyền, đào tạo đội ngũ cán bộ ngân hàng có năng lực và trình độ chuyên sâu : 67
3.2 Một số giải pháp tái cấu trúc và phát triển thị trường vốn: 67
3.2.1 Thị trường tín dụng trung, dài hạn 67
3.2.2 Thị trường chứng khoán 70
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 74
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi gia nhập WTO đến nay, Kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khókhăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới Thị trường tài chính của Việt Namcòn chưa hoàn thiện, vì vậy khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra đã gây ra nhiều tácđộng xấu như tỷ giá tăng làm ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, lãi xuất tăng cao làm giảmkhả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế gây khó khăn cho các doanh nghiệp,… điều đó vềlâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định vĩ mô nền kinh tế
Vì vậy, nghiên cứu đề tài THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH & GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY sẽ giúp
chúng ta nhìn thấy được tổng quan thị trường tài chính, thấy được những ưu và khuyếtđiểm để đưa ra được những giải pháp tái cấu trúc phù hợp, mô hình thị trường tài chínhmới phải linh hoạt để thích ứng với những biến động bất thường của kinh tế thế giới
Cấu trúc bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thị trường tài chính
Chương 2: Thực trạng thị trường tài chính Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp tái cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam hiện nay.Bài nghiên cứu vẫn có nhiều điểm chưa hoàn thiện rất mong sự góp ý của Giáoviên hướng dẫn và các bạn đọc để bài hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn
Nhóm 1 TCDN1 K20
Trang 3Khi kinh tế hàng hóa phát triển cao, nhiều hình thức huy động vốn mới linh hoạthơn nảy sinh và phát triển, góp phần tốt hơn vào việc giải quyết cân đối giữa cung và cầu
về các nguồn lực tài chính trong xã hội, làm xuất hiện các công cụ huy động vốn như tráiphiếu, cổ phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu của chính phủ - Đó là những loại giấy
tờ có giá trị, gọi chung là các loại chứng khoán Và từ đó xuất hiện nhu cầu mua bán,
chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu khác nhau các loại chứng khoán Điều này làm xuất
hiện một loại thị trường để cân đối cung cầu về vốn trong nền kinh tế là TTTC.
Do đó, cơ sở khách quan cho sự ra đời của TTTC là sự giải quyết mẫu thuẫn giữacung và cầu về vốn trong nền kinh tế thông qua các công cụ tài chính đặc biệt là các loạichứng khoán, làm nảy sinh nhu cầu mua bán, chuyển nhượng chứng khoán giữa các chủ
thể khác nhau trong nền kinh tế Chính sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ
mà đỉnh cao của nó là kinh tế thị trường làm nảy sinh một loại thị trường mới là TTTC.
TTTC hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm xuất hiện những chủ thể cần
nguồn tài chính và những người có khả năng cung ứng nguồn tài chính Khi nền kinh tếthị trường ngày càng phát triển thì các hoạt động về phát hành và mua bán lại các chứng
Trang 4khoán cũng phát triển, hình thành một thị trường riêng nhằm làm cho cung cầu nguồn tài
chính gặp nhau dễ dàng và thuận lợi hơn, đó là TTTC.
Điều kiện cần thiết hình thành TTTC
Nền kinh tế hàng hóa phát triển, tiền tệ ổn định, với mức độ lạm phát có thể kiểmsoát được;
Các công cụ của TTTC phải đa dạng tạo ra các phương tiện chuyển giao quyền sửdụng các nguồn tài chính;
Hình thành và phát triển hệ thống các trung gian tài chính;
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức quản lý nhà nước để giám sát
1.2 Khái niệm TTTC:
TTTC là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng các nguồn tài
chính thông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định TTTC làtổng hòa các quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế
Để tạo lập và phát triển TTTC, cần kết hợp nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tốchính là:
Đối tượng của TTTC: các nguồn cung cầu về vốn
Trang 5 Các công cụ của TTTC: phải đa dạng, tạo ra các phương tiện thuận tiện đểchuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính;
Các chủ thể tham gia trên TTTC: pháp nhân hay thể nhân đại diện cácnguồn cung và cầu về vốn nhàn rỗi tham gia TTTC, chủ yếu là các NHTM,công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và các công ty môi giới
b TTTC thúc đẩy việc tích lũy và tập trung tiền vốn để đáp ứng nhu cầu xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật, sản xuất kinh doanh
c TTTC giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, không chỉ đối với người
có tiền đầu tư mà còn cả với người vay tiền để đầu tư Người cho vay sẽ cólãi thông qua lãi suất cho vay Người đi vay vốn phải tính toán sử dụng vốnvay đó hiệu quả nhất do họ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người cho vayđồng thời phải tạo thu nhập và tích lũy cho chính bản thân mình
d TTTC tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách mở cửa, cảicách kinh tế của chính phủ thông qua các hình thức như phát hành tráiphiếu ra nước ngoài, bán cổ phần, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào cácngành sản xuất kinh doanh trong nước
e TTTC cho phép sử dụng các chứng từ có giá, bán cổ phiếu, trái phiếu, đổitiền
Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán;
Chức năng cung cấp thông tin kinh tế và đánh giá giá trị của doanh nghiệp
Trang 61.3.2 Vai trò của TTTC
TTTC thu hút, huy động các nguồn tài chính trong và ngoài nước, khuyếnkhích tiết kiệm và đầu tư;
TTTC góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính;
TTTC thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước
1 4 Cơ cấu TTTC:
Có nhiều cách thức phân loại TTTC
Nếu căn cứ vào thời gian vận động của vốn (kỳ hạn thanh toán của các chứng từgiao dịch trên thị trường) thì TTTC có hai loại là thị trường tiền tệ và thị trường vốn;
Nếu căn cứ vào cách thức huy động vốn thì sẽ có thị trường các công cụ nợ và thịtrường vốn cổ phiếu;
Nếu căn cứ vào cơ cấu tổ chức thì sẽ có thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.Phần sau mô tả kỹ hơn về TTTC phân loại theo thời gian vận động của vốn:
1.4.1 Thị trường tiền tệ:
Thị trường tiền tệ: Thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá
ngắn hạn có kỳ hạn dưới một năm, là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn cho nền kinh tế,thường có độ an toàn cao
1.4.2 Thị trường vốn:
Thị trường vốn: Là thị trường diễn ra việc mua bán các công cụ nợ dài hạn như cổ
phiếu, trái phiếu Thị trường vốn gồm có:
Thị trường tín dụng trung, dài hạn: vốn được chuyển giao qua các trunggian tài chính
Trang 7 Thị trường chứng khoán: diễn ra hoạt động trao đổi mua bán các chứngkhoán có thời hạn trên 1 năm thể hiện dưới hình thức trái phiếu, cổ phiếu vàcác công cụ chứng khoán phái sinh
Hai thị trường này có mối quan hệ hữu cơ với nhau Các biến đổi (về giá cả, lãisuất) trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn.Ngược lại các thay đổi (về các chỉ số chứng khoán, thị giá cổ phiếu) của thị trường vốncũng phản ánh các hiện tượng tốt hay xấu trên thị trường tiền tệ Các chính sách của nhànước như chính sách lãi suất, chính sách tiền tệ… nếu phù hợp sẽ tạo thuận lợi cho sựhoạt động và phát triển của thị trường tiền tệ, nếu không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến sựhoạt động của thị trường này
1.5 Công cụ của TTTC
Để chuyển giao quyền sử dụng các nguồn tài chính, các công cụ chủ yếu được sửdụng trên TTTC là các loại chứng khoán Chứng khoán là chứng từ dưới dạng giấy tờhoặc ghi trên hệ thống thiết bị điện tử xác nhận các quyền hợp pháp của người sở hữuchứng từ đó đối với người phát hành; hoặc chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi
sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng từ đó đối với ngườiphát hành
Chứng khoán có nhiều loại khác nhau; có thể phân loại chứng khoán dựa theo các tiêuthức khác nhau:
Căn cứ vào kỳ hạn huy động: Chứng khoán ngắn hạn (dưới 1 năm) và Chứng khoán trung và dài hạn (Trung hạn từ 1-5 năm, dài hạn là trên 5 năm)
Căn cứ vào chủ thể phát hành: Chứng khoán chính phủ trung ương và địa phương; Chứng khoán của các ngân hàng và tổ chức tín dụng và Chứng khoán doanh nghiệp.
Căn cứ vào lợi tức: Chứng khoán có lợi tức ổn định và Chứng khoán có lợi tức không ổn định.
Căn cứ vào tiêu chuẩn pháp lý: Chứng khoán vô danh và Chứng khoán hữu danh.
Trang 8 Căn cứ vào tính chất chứng khoán: Cổ phiếu (chứng khoán vốn); Trái phiếu (chứng khoán nợ) và Chứng khoán phái sinh.
Căn cứ vào tính chất của người phát hành: Chứng khoán khởi thủy và Chứng khoán thứ cấp.
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG
Trang 9TÀI CHÍNH VIỆT NAM
2.1 Thực trạng thị trường tiền tệ Việt Nam:
2.1.1 Thị trường huy động vốn và thị trường tín dụng:
Quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng đã tạo cơ hội chophát triển kinh tế trong những năm vừa qua, nhưng kinh tế Việt Nam cũng chịu ảnhhưởng nhiều của quá trình hồi phục hay suy giảm của kinh tế thế giới
Từ năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủnghoảng nợ công ở châu Âu, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng có những diễn biếnphức tạp; sau những khó khăn về kinh tế năm 2008, 2009, bước sang năm 2010 nền kinh
tế có dấu hiệu ổn định hơn, nhưng từ đầu năm 2011, một số vấn đề kinh tế vĩ mô lại nổilên, đòi hỏi Chính phủ và các nhà hoạch định chính sách phải nghiên cứu giải quyết như:
Tỷ lệ lạm phát gia tăng: Lạm phát của Việt Nam hội đủ các nguyên nhân, vừa là
lạm phát chi phí đẩy, vừa là lạm phát cầu kéo, vừa là lạm phát kỳ vọng – phát sinh từ cácyếu tố tâm lý và/hoặc đầu cơ; vừa có các nguyên nhân từ yếu kém nội tại của nền kinh tế;vừa có nguyên nhân từ “nhập khẩu lạm phát”; vừa có nguyên nhân từ yếu tố tiền tệ, vừa
có nguyên nhân từ yếu tố phi tiền tệ
Trong đó, nhiều nguyên nhân thuộc yếu kém nội tại của nền kinh tế được tích lũy
từ nhiều năm qua như: Mô hình tăng trưởng kinh tế dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư,nhưng nhìn chung đầu tư lại kém hiệu quả, nhất là đầu tư nhà nước; Giá các mặt hàngxăng dầu, điện, các dịch vụ xã hội thiết yếu phục vụ đời sống dân cư… và tỷ giá đượcbao cấp, nay phải điều chỉnh lại theo cơ chế thị trường; Nới lỏng chính sách tiền tệ trongnhững năm trước đây; Thâm hụt ngân sách kéo dài trong nhiều năm… Vòng luẩn quẩnlạm phát – đồng tiền mất giá – lạm phát đã hình thành và khó phá vỡ trong thời gianngắn
Trang 10Mặt bằng lãi suất quá cao, có phần chưa được hợp lý: Từ những ngày đầu tháng
5/2011 đến nay, tình hình thị trường tiền tệ diễn biến nhanh chóng, phức tạp Mặc dùNHNN ấn định mức lãi suất trần huy động là 14%, nhưng áp lực huy động vốn để giảiquyết vấn để thanh khoản và cho vay buộc các ngân hàng thương mại (NHTM) chạy đua,đẩy mức lãi suất vượt quá mức trần qui định; trần lãi suất tiền gửi liên tiếp và phổ biến bị
xé rào, lãi suất huy động thực tế leo thang từ 16%, đến 17%, 19%/năm… Như vậy lãisuất NHTM cho vay ra có thể đạt 18%, 20%/năm, thậm chí cá biệt là 25% cũng là điều
dễ hiểu Điều này dẫn đến huy động vốn của NHTM khó khăn, thanh khoản trong hệthống ngân hàng thường căng thẳng, nhưng tốc độ tăng dư nợ của các NHTM vẫn cao
Dư nợ tín dụng ngoại tệ tăng trưởng nhanh, gây áp lực lớn lên tỷ giá USD/ VND: Đến ngày 20/6/2011, tín dụng tăng 7,13% (trong đó tín dụng VND tăng 2,76%, tín
dụng bằng ngoại tệ tăng 23,47% ) Mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng Việt Nam vàngoại tệ hiện nay là quá lớn đã tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp và ngay cả ngânhàng thương mại tăng trưởng tín dụng ngoại tệ Trong khi đó tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ
có xu hướng giảm vì người gửi tiền rút tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ, bán và gửi tiết kiệm lạibằng đồng Việt Nam Xu hướng này tạo nên rủi ro thanh khoản ngoại tệ cho hệ thốngngân hàng và gây áp lực rất lớn tới tỷ giá
Bên cạnh đó còn có các vấn đề như: thâm hụt ngân sách vẫn ở mức cao; hiệu quảcủa đầu tư công thấp; nhập siêu vẫn ở mức cao; tăng trưởng có xu hướng chậm lại…Những vấn đề vĩ mô này tác động đến thị trường tiền tệ ở nước ta rất lớn Chúng ta hãy
đi phân tích chi tiết thực trạng thị trường tiền tệ ở Việt Nam như sau:
2.1.2 Thị trường liên ngân hàng:
Thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời theo Chỉ thị 07/CT-NH1 ngày 07/10/1992của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho phép các TCTD được thực hiện chovay và đi vay lẫn nhau và chính thức hoạt động từ tháng 07/1993 Theo quyết định số114/QĐ-NH14 ngày 21/06/1993 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động thị trường liênngân hàng và Quyết định số 190/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 về việc bổ sung, sửa đổi
Trang 11Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng, thị trường nội tệ liên ngânhàng được hình thành dưới hình thức là một thị trường tập trung có tổ chức qua Ngânhàng Nhà nước (NHNN) và gắn liền với các trung tâm thanh toán bù trừ (thành phố HồChí Minh và thành phố Hà Nội) số lượng thành viên tham gia và doanh số hoạt động rấthạn chế; trong đó những thành viên là NHTM Nhà nước có khả năng chi phối trên cảgiác độ huy động vốn và cho vay vốn do có lợi thế về tài chính và uy tín Từ năm 1997,hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượn lẫnnhau không thực hiện thông qua NHNN Các Ngân hàng thỏa thuận phương thức giaodịch, thời hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm
và có sự tham gia tích cực của NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh Ngânhàng nước ngoài Đến nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dướihình thức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; thậm chímột số ngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau
Kết quả đạt được:
Số lượng thành viên và doanh số hoạt động trên thị trường liên ngân hàng đã tăngđáng kể, phương thức giao dịch của thị trường ngày càng đổi mới, hầu hết các giaodịch đều thực hiện qua mạng, thời hạn của các giao dịch khá linh hoạt (qua đêm, 1tuần, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng)
Hiện nay, gần 37 NHTM đã thực hiện giao dịch vốn liên ngân hàng (gửi tiền/chovay và nhận tiền gửi /đi vay) thông qua hệ thống của Hãng Reuters Hãng Reuters
đã xây dựng được trang lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàngViệt Nam (VNIBOR) trên cơ sở chào giá hàng ngày của một số ngân hàng
“Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng từ 2002 đến nay, theo đánh giácủa các chuyên gia ngân hàng thì doanh số giao dịch tăng khoảng 20% mỗi năm”.Kết quả trên đã chứng minh thị trường nội tệ liên ngân hàng đã thực hiện được vaitrò điều tiết vốn ngắn hạn bằng đồng tiền Việt Nam giữa các ngân hàng, làm tănghiệu quả sử dụng nguồn vốn của các TCTD an toàn, hiệu quả
Trang 12 Bên cạnh phát triển thị trường liên ngân hàng, nghiệp vụ tái cấp vốn đã đượcNHNN từng bước đổi mới hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu quả điều tiết tiền
tệ, thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế:
+ “Đến nay, tái cấp vốn của NHNN cho các NHTM chủ yếu được thực hiệndưới các hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, cho vay có bảo đảm bằng cầm cốgiấy tờ có giá Các hình thức cho vay theo chỉ định của Chính phủ trước đây(từng chiếm tỷ trọng lớn trong cho vay tái cấp vốn) đã giảm mạnh qua các năm”(Phúc Khắc Kế, 2006)
+ Cơ sở pháp lý cho các họat động nghiệp vụ tái cấp vốn hoàn thiện; thủ tục,quy trình nghiệp vụ tái cấp vốn được cải thiện theo hướng tinh giản và thuận lợi.Năm 2003, Luật sửa đổi một số điều của luật NHNN đã cho phép giấy tờ có giádài hạn như các loại trái phiếu của Chính phủ được sử dụng trong các giao dịchgiữa NHNN và các ngân hàng; NHNN ban hành đầy đủ các quy chế nghiệp vụ táicấp vốn Thời gian xử lý đề nghị xin vay giảm xuống còn 2 ngày (trước đây 5ngày)
+ Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu ngày càng được điều hành linh hoạt,phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Từ năm 2003 đến nay,lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu được điều chỉnh dần để hình thành khunglãi suất định hướng lãi suất thị trường Cùng với việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu
để trở thành lãi suất sàn, NHNN đã thực hiện phân bổ hạn mức chiết khấu chotừng ngân hàng Qua đó, nghiệp vụ chiết khấu được điều chỉnh như một kênhthường xuyên với giá rẻ từ NHNN Trong khi đó nghiệp vụ cho vay có bảo đảmbằng cầm cố giấy tờ có giá áp dụng lãi suất tái cấp vốn là mức lãi suất trần đểNHNN từng bước thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng trên thị trường
H1: Biểu đồ so sánh lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu qua các năm
Trang 13Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước
Như vậy, sự khác biệt giữa lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn là các tàisản dùng để thế chấp cho việc vay mượn tiền khác nhau Lãi suất chiết khấu ápdụng đối với các giấy tờ có độ rủi ro thấp như trái phiếu chính phủ, thương phiếu,chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn Còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất áp dụng cho cácloại tài sản thế chấp có độ rủi ro cao hơn Đây cũng là lí do giải thích cho việc lãisuất tái chiết khấu thường thấp hơn lãi suất tái cấp vốn
+ Họat động tái cấp vốn của NHNN đã đóng góp không nhỏ trong việc đáp ứngkịp thời nhu cầu thanh khoản của các NHTM, nhất là vào các thời điểm cuối năm
và gần Tết Nguyên đán
Những bất cập, tồn tại và hạn chế
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng thị trường liên ngân hàng vẫncòn nhiều bất cập, hạn chế cần hoàn thiện Đó là:
Trang 14 Số lượng các thành viên tham gia và quy mô giao dịch còn hạn chế và phần lớn là
để giải quyết nhu cầu về khả năng thanh toán: Trên thị trừơng nội tệ liên ngânhàng đã hình thành nhóm các ngân hàng thường cung ứng nguồn tiền VND chủyếu là các NHTM Nhà nước và ngược lại nhóm các NHTM cổ phần, ngân hàngliên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài là các ngân hàng thường có nhu cầuvay VND Việc điều chuyển vốn thường chỉ diễn ra một chiều giữa nhóm các ngânhàng thường cho vay và nhóm ngân hàng thường đi vay
+ Thực tế hiện nay nguồn vốn trên ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn, các ngânhàng thương mại sử dụng nguồn vốn này gần như chỉ vay qua đêm hay một tuần
để đáp ứng nhu cầu thanh khoản nhanh trong thanh toán, chi trả đối tác hoặcNHNN đến khi dòng tiền về lại bù đắp trở lại
+ Trong khi đó theo Thống đốc NHNN nhiều năm gần đây một số ngân hàng quy
mô nhỏ đã lạm dụng quá mức nguồn vốn trên thị trường liên ngân hàng Có nhữngngân hàng cơ cấu vốn thị trường liên ngân hàng lớn hơn vài lần so với vốn huyđộng từ dân cư và tổ chức
Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và lãi suất tái cấp vốn chưa phản ánh chínhxác quan hệ cung cầu và xu hướng vận động của thị trường tiền tệ Đặc biệt lãisuất trên thị trường liên ngân hàng những năm trước lên đến vài chục đến vài trăm,gấp đôi so với lãi suất thông thường Thực tế này đã tạo ra sự lệch pha: kẻ có tiền
có kinh nghiệm thì không muốn làm, kẻ ít tiền thiếu kinh nghiệm lại máu mê mởrộng kinh doanh Những ngân hàng lớn, có năng lực quản trị tốt và khả năng huyđộng cao thì đầu tư quá mức trên thị trường liên ngân hàng, còn những ngân hàngnhỏ, mạng lưới hẹp, quản trị chưa tốt lại đi vay ngắn hạn trên thị trường liên ngânhàng để kinh doanh Đó là một thực tế đáng lo ngại đã và đang tồn tại lâu nay.Điều nguy hiểm ở chỗ, do “bốc ngắn cắn dài” nên khi bên cho vay đòi nợ họ lâmvào thiếu thanh khoản và NHNN phải căn sức ra “chữa cháy” nhất là tết NguyênĐán hàng năm Không ít trường hợp NHNN phải “bơm” thẳng vài ba nghìn tỷ đếnmột vài ngân hàng để ứng cứu
Trang 15+ Điều này thể hiện rõ ở việc, ngày 06-12-2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nướcNguyễn Văn Bình cho biết NHNN đã nhất trí để Ngân hàng Đệ Nhất, Ngân hàngTín Nghĩa và Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn hợp nhất thànhngân hàng mới Về lý do đồng ý để 3 ngân hàng trên hợp nhất, Thống đốc NguyễnVăn Bình cho biết thời gian qua cả 3 ngân hàng đã mất khả năng thanh khoản tạmthời Nguyên nhân chính của tình trạng trên, theo Thống đốc Nguyễn Văn Bình, 3ngân hàng này đã vay ngắn hạn để cho vay trung và dài “Khi thị trường biến động,nguồn vốn khó khăn thì ngân hàng mất khả năng thanh khoản tạm thời” Sự sápnhập này cho phép 3 ngân hàng hỗ trợ, bổ trợ cho nhau, tiết giảm chi chí khi sápnhập 3 bộ máy thành 1 bộ máy; nâng cao năng lực quản trị, lựa chọn được cán bộtốt nhất Việc sáp nhập cũng giúp ngân hàng hợp nhất có tiềm lực lớn hơn, tiếp cậnthị trường rộng lớn hơn.
Vai trò của NHNN trong việc thu thập thông tin diễn biến thị trường liên ngânhàng và tham gia điều tiết thị trường khá mờ nhạt, đặc biệt là cơ chế xử lý trongtrường hợp cung lớn hơn cầu vốn trên thị trường
+ Ngày nay, mặc dù một vài đại gia “tưới vốn” cho các ngân hàng con của mìnhrồi thổi giá trên thị trường liên ngân hàng bị “phanh” lại Nhưng điều này chưađồng nghĩa với việc NHNN đã hoàn toàn kiểm soát được lỗ hổng, cũng như tìnhtrạng “lách luật” mà trước tiên là “cuộc chơi” lãi suất đang trong tay các ngân hàngnhỏ Để có thể vay được trên thị trường liên ngân hàng không ít các ngân hàng nhỏsẵn sàng bằng mọi cách để mở rộng quy mô vốn trên thị trường dân cư và tổ chứckhác Thậm chí lãnh đạo một ban ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam(BIDV) phản ánh rằng, có ngân hàng cổ phần cho một dàn nhân viên ăn mặc đồngphục chắn ngang trước cửa chi nhánh của BIDV mời chào: “Sang gửi bên tôi, quà
nọ, quà kia”
+ Ai cũng biết con số thống kê số giao dịch và lãi suất trên thị trường liên ngânhàng và thị trường dân cư và tổ chức vô cùng có ý nghĩa đối với NHNN trong việchoạch định chính sách và sử dụng các công cụ điều hành Nhưng với hành vi nói
Trang 16trên đã làm cho ranh giới giữa hai thị trường này trở nên mờ nhạt và con số thống
kê không còn chính xác
Hoạt động tái cấp vốn mới chỉ dừng lại ở mục đích bổ sung nguồn vốn ngắn hạn
và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng, các chức năng nhằm điềuchỉnh các điều kiện tiền tệ theo mục tiêu chính sách tiền tệ, điều chỉnh quá trìnhphát triển kinh tế về quy mô và cơ cấu đầu tư dựa trên sự cấp vốn theo thời gian,theo lĩnh vực ngành kinh tế, theo từng vùng lãnh thổ chưa được phát huy
- Việc phân bổ hạn mức chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN với các ngân hàng mớichỉ dựa trên các yếu tố như tổng dư nợ bằng đồng Việt Nam, tổng tài sản có và vốn tự cócủa ngân hàng mà chưa tính tới khối lượng giấy tờ có giá mà các ngân hàng nắm giữ, do
đó chưa phù hợp với nhu cầu và đặc biệt chưa kích thích việc tích cực nắm giữ giấy tờ cógiá đủ điều kiện tái cấp vốn
2.1.3 Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc:
Nghiệp vụ thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước được thực hiện từ tháng5/1995 và trải qua các giai đoạn phát triển sau
Từ năm 1995 đến năm1999: phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc
Từ năm 1999 đến năm 2003: phát hành tín phiếu kho bạc
Từ năm 2003 đấn nay phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ ( USD kỳhạn 5 năm )
Tính chung từ năm 2000 đến 6/2011, với vai trò là đại lý phát hành trái phiếuchính phủ ( TPCP ) , NHNN đã huy động được 146.342 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 36% tổngkhối lượng TPCP nói chung Đây là một tỷ lệ khá cao so với các loại TPCP cò kỳ hạnkhác Chẳng hạn như TPCP có kỳ hạn 2 năm có tỷ lệ là 15,2 %, TPCP có kỳ hạn 5 năm là28% Tuy nhiên, thời gian qua nhất là thời điểm từ 2010 trở lại đây, khối lượng trúngthầu trái phiếu giảm dần, thậm chí, có phiên không có thành viên nào tham gia Mặc dùkho bạc NN và NHNN đã có nhiều cố gắng, lãi suất chào ở mức cao nhưng dường như
Trang 17thị trường vẫn quá “yên ắng” lượng tiền thu về qua kênh này vẫn quá khiêm tốn so vớilượng tiền thu được từ các kênh huy động vốn khác
Nếu chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2011, sở giao dịch NN kết hợp với kho bạc
NN ( KBNN ) đã tổ chức được 21 phiên, kỳ hạn phát hành là 364 ngày nhưng số tiềnhuy động chỉ là 2.150 tỷ đồng Đây là một kết quả rất thấp so với các năm trước đây Cụthể, năm 2010 huy động được 8.350 tỷ đồng, năm 2009 là 10.714 tỷ đồng và năm 2008 là20.730 tỷ đồng
Trong tổng số hơn hai chục phiên đấu thầu vừa qua thì có đến 16/21 phiên không
có khối lượng trúng thầu Điều đáng nói nữa là, ngoài việc khối lượng trúng thầu khákhiêm tốn thì số lượng thành viên tham gia cũng rất ít, trung bình chỉ có từ 1 đến 2 thànhviên tham gia/phiên và thường tập trung vào một vài thành viên Cá biệt có những phiênkhông có thành viên tham gia dự thầu chi tiết như sau
Bảng 1: kết quả đấu thầu tín phiếu 6 tháng đầu năm 2011
Đơn vị: Tỷ đồng
Thời gian Số thành
viên dựthầu
Số thànhviên trúngthầu
Khốilượng dựkiến
Khốilượngtrúng thầu
Tỷ lệ trúngthầu trên
Trang 18Nguồn : báo cáo thống kê tổng hợp kết quả đấu thầu TPCP, NHNN.
Bảng 2: tổng hợp tình hình lãi suất các phiên đấu thầu tín phiểu 6 tháng đầu năm 2011
Đơn vị: %/nămPhiên giao
dịch
Lãi suất đặtthầu
Lãi suấttrúngthầu
Phiên giaodịch
Lãi suất đặtthầu
Lãi suất trúng thầu
Trang 19-Phiên 10/2011 - Phiên
21/2011
-Nguồn :nguồn sở giao dịch NHNN
Một số vấn đề bất cập trong công tác đấu thầu tín phiếu:
Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao, có mức rủi ro thấp nhất trong các công
cụ trên thị trường tiền tệ, như vậy tín phiếu sẽ hứa hẹn là một loại giấy tờ ưa thích củanhà đầu tư khi có lượng tiền nhàn rỗi Nhưng trên thực tế, thời gian qua kết quả thu vềqua công tác đấu thầu tín phiếu lại không được như kỳ vọng của Bộ tài chính và các đơn
vị phát hành ( NHNN và KBNN )
Vậy nguyên nhân của sự giảm sút trên là do đâu và liệu thực sự nhà đầu tư khôngcòn mặn mà với loại hàng hóa này không Có một nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quảđấu thầu tín phiếu thời gian qua là do tình hình kinh tế trong nước và trên thế giới cóchiều hướng không thuận lợi cùng với cơ cấu danh mục đầu tư chưa thuận lợi để nhà đầu
tư tham gia loại công cụ nợ ngắn hạn của Chính Phủ Nhưng nguyên nhân chính mà nhàđầu tư chưa mặn mà với tín phiếu lại nằm ở chính nội tại của chính cơ chế của tổ chứcphát hành và “sân chơi” thứ cấp của loại giấy tờ có giá này Theo đánh giá của Bộ tàiChính, công tác phát hành tín phiếu qua NHNN phát sinh một số bất cập đó là:
Thành viên đấu thầu tín phiếu chỉ bao gồm các TCTD có tiền gửi thanh toán tạiNHNN ( sở giao dịch ) Hiện nay, trong tổng số 57 thành viên đấu thầu tín phiếuthì có tới 40 thành viên là TCTD, có 14 thành viên là chi nhánh NH nước ngoài và
có 3 thành viên là các công ty tài chính
Sở dĩ thành viên thường là các TCTD, vì tín phiếu phát hành dưới hình thức ghi sổ,người mua phải phải mở tài khoản chứng khoán và tài khoản tiền gửi tại NHNN để thựchiện các giao dịch thanh toán tiền và tín phiếu theo kêt quả trúng thầu Trong khi đó việc
mở tài khoản tại NHNN mới chỉ áp dụng cho các TCTD là thành viên của hệ thống thanh
Trang 20toán, chưa áp dụng cho các đối tượng là công ty chứng khoán , các quỹ đầu tư Do vậy,phần nào đã hạn chế sự tham gia của các thành viên đấu thầu có nhu cầu không phải làcác TCTD.
Số lượng nhà đầu tư đã được công nhận là thành viên được công nhận là thànhviên tham gia đấu thầu tín phiếu đông nhưng trên thực tế số thành viên tham giamỗi phiên là rất ít , đặc biệt là NH TMCP và chi nhành NH nước ngoài Cá biệt cónhững thành viên có tên trong danh sách nhưng chưa từng tham gia đấu thầu.Nguyên nhân chủ yếu là khối các NH này chưa quan tâm đến thị trường này dođầu tư vào TPCP có kỳ hạn 3-5 năm có mức lãi suất cao hơn và thời gian đầu tưphù hợp hơn Điều dẫn đến lượng vốn khả dụng dư thừa đầu tư vào tín phiếu cònhạn chế
Việc đầu tư vào tín phiếu của các thành viên nhằm mục đích dự phòng an toàn vềkhả năng thanh toán vào các giai đoạn cao điểm qua giao dịch nghiệp vụ thị trường
mở với NHNN Việc mua/bán các giấy tờ có giá giữa các TCTD trên thị trườngliên ngân hàng chưa được thực hiện phần vì do cơ sở hạ tầng ( công nghệ, pháp
lỳ ) của thị trường thứ cấp chưa phát triển , phần vì do chưa có ướng dẫn chi tiết
Quy trình phát hành tín phiếu thời gian qua cũng bộc lộ bất cập, chưa khoa học và
có thiếu lịch biểu cụ thể để nhà đầu tư có kế hoạch chủ động tham gia khi có nhucầu Mặt khác, thời gian qua, chưa tổ chức hình thức đấu thầu cạnh tranh và khôngcạnh tranh lãi suất trong một phiên đấu thầu mặc dù đã cò quy định về vấn đề này
(Quy chế số 935/2004QĐ-NHNN ngày 23/07/2004 của NHNN về đấu thầu tín phiếu kho bạc , trái phiếu ngoại tệ qua NHNN )
Công tác lưu ký và chuyển nhượng tín phiếu cũng là một vấn đề cần tháo gỡ Hiện nay tín phiếu phát hành qua NHNN chỉ thực hiện tại sở giao dịch NHNN màchưa được lư ký và chuyển nhượng nên trái chủ chỉ có thể tham gia các giao dịchtrên thị trường tiền tệ với NHNN ( OMO, tái cấp vốn, thấu chi và cho vay qua đêm
…) Nói cách khác do hạn chế trong việc lưu ký nên việc chuyển nhượng giữa các
Trang 21nhà đầu tư tín phiếu tại Việt Nam vẫn chưa được thực hiện như thông lệ tại cáctrên Thế Giới điều này dẫn đến thị trường thứ cấp tình trạng thị trường thứ tínphiếu cấp chưa phát triển, tính thanh khoản bị hạn chế Đây là một nguyên nhânảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thị trường thứ cấp tín phiếu.
Như vậy, qua số liệu trên chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng, với khối lượngphát hành 66.212 tỷ đồng nhưng khối lượng giao dịch giữa các nhà đầu tư qua haiphương thức outright và repos lên tới 262.688 tỷ đồng, gấp gần 4 lần tại thị trường sơcấp Trong khi đó, dù khối lượng OMO với NHNN cùa các TCTD là 316.075 tỷ đồng,gấp gần 15 lần so với khối lượng phát hành ban đầu, nhưng thực chất các giao dịch OMOtrong từng phiên cũng có giá trị không cao Vì đối với các phiên chào mua OMO thờigian qua chủ yếu kỳ hạn từ 7 ngày và 14 ngày, do đó, nếu tính từ năm 2009 đến hết6/2011, có trung bình khoảng 2.431 tỷ đồng tín phiếu được giao dịch/tuần Nếu so sánhvới các loại giấy tờ có giá đã được các TCTC sử dụng trong OMO thời gian qua trong cácgiao dịch với NHNN thì tín phiếu chỉ chiếm khoảng 5.9%/tổng khối lượng giấy tờ có giágiao dịch (316.075 tỷ đồng/5.359.193 tỷ đồng )
Tín phiếu kho bạc được phát hành trên thị trường sơ cấp trên cơ sở đấu thầu Việcxác định khối lượng và lãi suất trúng thầu của tín phiếu kho bạc được dựa vào khốilượng, lãi suất đặt thầu của các thành viên và khối lượng tín phiếu kho bạc ChínhPhủ muốn huy động Chính Phủ đưa ra lãi suất chỉ đạo trong quá trình đấu thầu vàlãi suất trúng thầu không được vượt quá mức lãi suất này Lãi suất chỉ đạo được ápdụng để giới hạn mức lãi tối đa mà chính phủ phải trả cho tín phiếu huy động,
Trang 22trong khi đó có những phiên đấu thầu nhà đầu tư đấu thầu lải suất khá cao Điềunày dẫn đến tình trạng Chính Phủ khó huy động được khối lượng tín phiếu nhưmong muốn
2.1.4 Thị trường mở:
Trong 6 tháng đầu năm 2011 nói riêng và giai đoạn 2008-2011 nói chung, NHNNđiều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả công cụ thị trường mở, cùng với các công cụchính sách tiền tệ khác, bước đầu đã kiềm chế lạm phát và thực hiện có hiệu quả các mụctiêu khác của CSTT Lượng tiền cung ứng và rút về của thị trường mở có sự phối hợpchặt chẽ với các công cụ khác của CSTT Cùng với thị trường mở, NHNN vãn duy trì cáccông cụ khác của CSTT như chính sách tái cấp vốn, dự trữ bắc buộc Do vậy, trong cácthời điểm cụ thể, thị trường mở được điều hành linh hoạt, góp phần tạo sự phối hợp chặcchẽ với các công cụ CSTT khác nhằm đạt mục tiêu CSTT
Trang 23Tổng hợp 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã bơm ròng là 2.300.062 tỷ đồng, hút về2.287.006 tỷ đồng, mức bơm ròng 13.056 tỷ đồng Với quy mô, doanh số và tính linhhoạt trong hoạt động của thị trường mở, tính đến cuối tháng 6/2011, nhìn chung thanhkhoản hệ thống ngân hàng vẫn trong trạng thái ổn định và khá dồi dào Thanh khoảnNgân hàng tốt là cơ sở để giảm lãi suất, tuy vậy, muốn lãi suất có thể thực sự giảm thì cần
có tín hiệu rõ ràng của giảm lạm phát
Nguồn: Ngân Hàng Nhà Nước
Qua bảng 2 cho thấy từ năm 2008, NHNN đã bơm ròng 100.685 tỷ đồng, năm
2009 cũng bơm ròng đến 122.830 tỷ đồng; năm 2010, bơm ròng 294.304 tỷ đồng, trongkhi đó, 6 tháng đầu năm 2011, chỉ bơm ròng 13.056 tỷ đồng Điều này thể hiện NHNNquyết tâm thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhằm mục đích kiềm chế lạm phát
Biểu đồ 1: Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 24Nhìn vào biểu đồ 1 ta thấy lượng tiền NHNN bơm ra giảm dần trong 6 tháng đầunăm 2011 Lãi suất NVTTM ( hay lãi suất OMO ) tính đến hết tháng 06/2011, vẫn giữnguyên lãi suất 15% Việc thắt chặc tiền tệ thông qua hút ròng trên nghiệp vụ thị trường
mở của NHNN cùng các chính sách điều tiết vĩ mô khác đã có những kết quả bước đầukhi CPI tháng 6/2011 tăng 1,08% giảm so với mức tăng 2.21% của tháng 5 là tín hiệu tốtcho nền kinh tế
Các chủ thể tham gia thị trường trong 6 tháng đầu năm 2011 cũng tăng mạnh Cácchủ thể tham gia gồm: 5 NHTN Nhà nước, 32 NHTMCP, 1 NH liên doanh, 07 chi nhánh
NH nuớc ngoài, 4 công ty tài chính
Doanh số giao dịch trên thị trường mở liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trướctheo cả hai chiều mua và bán Năm 2008, tổng doanh số trúng thầu là 1.036.066 tỷ đồng,đến cuối năm 2010, tổng doanh số trúng thầu là 2.108.715 tỷ đồng Trong các hình thứcgiao dịch thị trường mở thì hình thúc NHNN mua các GTCG “ bơm” tiền ra là chủ yếu,tuy nhiên trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN lại “ hút” tiền vào là chủ yếu ( tháng 5 và
6 ); NHNN chỉ bơm ra 13.056 tỷ đồng Điều này cho thấy thị trường mở là một kênhcung ứng hoặc thu hút tiền về quan trọng của NHNN nhằm thực hiện mục tiêu chính sáchtiền tệ của chính sách tiền tệ Khối lượng giao dịch của từng phiên cũng ngày càng tăng
từ bình quân 2.577 tỷ đồng/phiên năm 2008 lên 3.240 tỷ đồng/phiên năm 2010 và 9.544
tỷ đồng/phiên năm 2011 Trong năm 2008, trước những biến động bất thường của thị
Trang 2510.000-15.000 tỷ đồng, sang năm 2010, gần cuối năm doanh số giao dịch có phiên 20.000
tỷ đồng, những tháng đầu năm 2011, có phiên giao dịch lên đến 25.000 tỷ đồng Như vậy,khi các TCTD thiếu hụt nghiêm trọng vốn khả dụng thì thị trường mở thực sự là “phao”
hổ trợ cho các TCTD này, đảm bảo khả năng thanh toán cho các TCTD trong trường hợpthị trường có những biến động đột xuất Điều này đã góp phần ổn định thị trường tiền tệngay tức thì, đáp ứng yêu cầu điều tiết vốn khả dụng của các thành viên tham gia thịtrường mở Hoạt động thị trường mở sẽ tác động đến lượng tiền cung ứng, từ đó tác độngđến lãi suất trên thị trường
Lãi suất trên thị trường mở cũng có nhiều biến động: nếu năm 2008, mua kỳ hạn 7ngày lãi suất bình quân là 12,82%/năm, 14 ngày là 13,12%/năm, thì năm 2009, đã giảmxuống tương ứng là 7,23%/năm và 7,51%/năm và năm 2010 tương ứng 8,35%/năm và7,69%/năm Trong tháng 1/2011 lãi suất mua có kỳ hạn 7 ngày đã tăng lên 10%/năm, từngày 22/2 tăng lên 12%,1/4 là 13%, ngày 4/5 là 14%/năm, không dừng ở đó, ngày 17/5,NHNN đã nâng lãi suất trên thị trường mở lên 15% Từ 4/7 lãi suất trên thị trường mởgiảm nhẹ xuống 14%/năm Điều này cho thấy năm 2008 và năm 2011 nền kinh tế có lạmphát cao, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến tình hình thanh khoản cácNHTM khó khăn, đặc biệt là các NHTM có khó khăn về thanh khoản Trườc diễn biến
đó, NHNN sử dụng linh hoạt thị trường mở, kết hợp cho vay tái cấp vộn để hổ trợ thanhkhoản cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản Như vậy có thể nói trong 6 tháng đầunăm 2011, NHNN đã sử dụng linh hoạt, thận trọng, có hiệu quả các công cụ CSTT trong
đó nghiệp vụ thị trường mở, phục vụ tốt mục tiêu điều hành CSTT của mình
Tuy nhiên bên cạnh đó NHNN còn gặp nhiều khó khăn trong nghiệp vụ điều hànhthị trường mở nhằn kiểm soát lượng tiền cung ứng, điều này ảnh hưởng bởi
Một số vấn đề hạn chế trong công tác nghiệp vụ thị trường mở:
Hoạt động thị trường mở không mang tính bặt buộc, vì vậy số lượng thành viêntham gia mội phiên cũng khiêm tốn: hai năm 2008-2009 khoảng 50%-60% cácTCTD được công nhận là thành viên thị trường mở; năm 2010 các thành viên thamgia tích cực hơn, có phiên số thành viên tham gia là 40, năm 2011 có khi đạt 44
Trang 26thành viên Mặt khác, với số lượng thành viên còn hạn hẹp nên lãi suất thị trường
mở chưa phản ảnh đúng quan hệ cung cầu vốn trên thị trường
Chính sách tiền tệ đa mục tiêu nhằm kiểm soát lạm phát, vửa hổ trợ tăng trưởngkinh tế, do vậy việc bơm tiền qua thị trường mở vẫn phải nằm trong chỉ tiêu lượngtiền cung ứng tăng them được chính phủ phê duyệt Do đó , phần nào làm giảmtính chủ động trong điều hành nghiệp vụ thị trường mở của NHNN
Khả năng hổ trợ vốn khả dụng chưa đáp ứng được yêu cầu của tất cả các TCTDtham gia thị trường Thực tế 6 tháng đầu năm 2011, đã có 49 thành viên tham giathị trường, song tham gia giao dịch trường xuyên chủ yếu là các TCTD có quy môlớn và ưu thế về điều kiện giao dịch Các TCTD quy mô nhỏ hoặc chưa quan tâmkhông thường xuyên tham gia thị trường Do vậy, khi thiếu vốn khả dụng tạm thời
họ phải vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng với lãi suất cao, từ đó gây xáotrộn trên thị trường tiền tệ
- Cơ chế điều hành lãi suất còn có những hạn chế nhất định: tháng 6/2001, NHNNcho phép tự do hóa lãi suất ngoại tệ, tháng 6/2002, tự do hóa lãi suất ngoại tệ Tuy nhiên,NHNN Việt Nam vẫn điều hành chính sách lãi suất theo cơ chế kiểm soát trực tiếp, banhành nhiều loại lãi suất khác nhau như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất táichiết khấu.…làm ảnh hưởng đến lãi suất thị trường
2.1.5 Thị trường hối đoái:
Thị trường hối đoái là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán ngoại tệ và cácphương tiện thanh toán có giá trị ngoại tệ khác Đây cũng là nơi hình thành tỷ giá hốiđoái theo quan hệ cung cầu, là một bộ phận của thị trường tài chính có trình độ phát triểncao
Thị trường hối đoái không tồn tại trong 1 không gian cụ thể nhất định mà hoạtđộng của nó thông qua các phương tiện thông tin hiện đại; có tính quốc tế hóa cao; giaodịch mua bán các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi; giao dịch với khối lượng lớn
Trang 27Thực trạng hiện nay của TTHD Việt Nam
Thành lập từ năm 1991, trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều thăng trầm,thị trường hối đoái Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể về quy mô cũng như loạinghiệp vụ giao dịch Tuy vậy, các chuyên gia tài chính vẫn hết sức thận trọng khi nhìnnhận hướng phát triển của thị trường này
Những dấu mốc đáng lưu ý
Năm 1991, Trung tâm Giao dịch ngoại tệ được thành lập và hoạt động với mụctiêu: Thiết lập thị trường ngoại hối chính thức cho giao dịch giữa ngân hàng và các đơn vịkinh tế; Đánh giá và đo lường cung cầu ngoại tệ trên thị trường; Quyết định tỉ giá chínhthức hợp lý giữa USD và VND; Chuẩn bị những điều kiện ban đầu cho việc hình thànhthị trường tài chính trong tương lai
Năm 1994, Trung tâm Giao dịch ngoại tệ chấm dứt hoạt động thay vào đó là thịtrường ngoại tệ liên ngân hàng, nhằm xây dựng một thị trường có tổ chức cho giao dịchngoại tệ giữa các ngân hàng thương mại (NHTM) và tạo cơ sở hình thành thị trườngngoại hối hoàn chỉnh trong tương lai Trước năm 1998, trên thị trường các giao dịch chủyếu là giao dịch giao ngay Kể từ năm 1998, giao dịch ngoại tệ kỳ hạn và hoán đổi mớichính thức được đưa vào giao dịch
Cho đến nay, thị trường ngoại hối Việt Nam đã có một bước phát triển đáng kể vềquy mô cũng như loại nghiệp vụ giao dịch, thu hút được sự tham gia của nhiều doanhnghiệp và NHTM trong và ngoài nước NHTM đóng vai trò nòng cốt trên thị trườngngoại hối và đóng vai trò trung gian trong các giao dịch kinh doanh ngoại tệ nhằm đápứng nhu cầu ngoại tệ cho khách hàng là các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty xuấtnhập khẩu Ngoài ra, các NHTM còn mua bán ngoại tệ với nhau trên thị trường nhằmmục tiêu thu lợi nhuận và đảm bảo cân bằng trạng thái ngoại tệ khi cần để giảm thiểu rủiro
Diễn biến những năm gần đây
Trang 28Năm 2009, tỉ giá USD/VND tiếp tục đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt saukhi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỉ giá lên ±5% khiến cho tỉ giá ngoại tệ liên NH đã
có đợt tăng đột biến
Năm 2010, giá USD đã tăng khá mạnh trong năm 2009, sang đến tháng 1/2010 lạigiảm nhẹ và tiếp tục dao động quanh mức 18.479đồng/USD cho đến giữa tháng 2/2010.Nguyên nhân là do: Nguồn cung USD có thể tăng từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp; từ vốn
hỗ trợ phát triển chính thức; từ vốn đầu tư gián tiếp; từ nguồn kiều hối từ Việt kiều và từlao động làm việc ở nước ngoài gia tăng; nguồn thu từ khách quốc tế đến Việt Nam giatăng trở lại; kim ngạch xuất khẩu chuyển từ tăng trưởng âm (-) sang tăng trưởng dương(+)… Bên cạnh đó, các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước bán ngoại tệ cho ngânhàng, sức ép tâm lý găm giữ USD do lo sợ rủi ro tỉ giá giảm, chênh lệch giữa giá thịtrường tự do với giá niêm yết trên thị trường chính thức đã giảm đáng kể Đến cuối năm
2010, thị trường ngoại hối VN rơi vào tình trạng căng thẳng khi cầu ngoại tệ quá lớn,trong khi nguồn cung lại khan hiếm Điều này khiến cho giá USD/VND tăng mạnh, làmảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô
Năm 2011 khá đặc biệt, gắn với sự chuyển giao giữa hai nhiệm kỳ Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Về hình thức biến động của tỷ giá, năm 2011 như được chia thành hainửa đối lập: nửa căng thẳng với việc phá giá mạnh chưa từng có trong lịch sử và nửa bìnhyên với việc điều chỉnh không quá 1%
Năm 2011 được bắt đầu bằng sự leo thang của tỷ giá USD/VND trên thị trường tự
do, mà gốc rễ bắt nguồn từ sự chuyển giao cũng khá đặc biệt trong năm 2010…
11-2-2011: lần đầu tiên trong lịch sử Ngân hàng Nhà nước có quyết định tăng tỷ giámạnh đến như vậy, với 9,3% đi cùng với việc siết biên độ từ +/-3% xuống còn +/-1% Cónhiều lý giải đặt ra quanh con số 9,3% đó Thứ nhất, đó là sự giải phóng áp lực dồn nénquá lớn sau một thời gian tương đối dài Thứ hai, nhà điều hành muốn một bước để nhanhchóng thu hẹp khoảng cách giữa hai tỷ giá Thứ ba, nhà điều hành đã sòng phẳng hơn vàtheo yêu cầu của thị trường… Và một điểm quan trọng của nó là xóa bớt kỳ vọng sẽ tiếp
Trang 29tục phá giá trong năm 2011 ở giới đầu cơ, hay trong tâm lý thị trường Giá trị này đến nay
đã đúng
Mọi điều chỉnh của chính sách thường có độ trễ “Sự kiện 11/2/2011” cũng vậy.Phải đến đầu tháng 4-2011 tỷ giá mới bắt đầu có dấu hiệu bình ổn Cùng với sự điềuchỉnh trên, dấu hiệu đó là kết quả của loạt giải pháp Ngân hàng Nhà nước triển khai màgiới quan sát vẫn dùng từ “ép” hay “vắt cung ngoại tệ” Đó là cơ chế áp và siết trần lãisuất huy động USD, thực hiện kết hối và mở rộng đối tượng kết hối, xử lý loạt giao dịchbất hợp pháp trên thị trường tự do… Thêm vào đó, tín dụng ngoại tệ vẫn tăng cao tạo mộtnguồn cung thương mại từ vốn chuyển đổi cho thị trường; sự chuyển đổi vốn ngoại tệsang VND cũng có ở các ngân hàng thương mại khi chênh lệch lãi suất cho vay quá hấpdẫn với khoảng 300% càng tạo cung cho thị trường…
Ngày 29-4-2011 trở thành mốc sự kiện quan trọng cho quãng bình yên của tỷ giá về sau Với những yếu tố trên, thị trường ngoại hối năm 2011 đón sự kiện ngày 29-4 Sựkiện này bắt nguồn từ những giải pháp, yếu tố tạo cung nói trên, mà điển hình là sự hyhữu có trong hoạt động của các ngân hàng thương mại: chào mời doanh nghiệp muangoại tệ
Trang 30Thực tế, cung thuận lợi đã tạo một sự đứt gãy rõ rệt trên đường hiển thị biến động tỷgiá, quãng từ 19/4 - 28/4/2011 Giá USD liên tục lao dốc chóng mặt, từ 20.940 VND rơixuống còn 20.590 VND Để rồi ngày 29-4 trở thành mốc sự kiện quan trọng khi Sở Giaodịch Ngân hàng Nhà nước bất ngờ tăng mạnh giá mua vào USD Điểm đánh dấu quantrọng cho “nửa sau bình yên” của tỷ giá 2011 nằm ở đây.
Từ 29-4 và nối dài sau đó, Ngân hàng Nhà nước liên tục mua vào Trạng thái dự trữngoại tệ có sự cải thiện mạnh và nhanh chóng Bên lề nhật ký của diễn biến này có mộtđiểm được ghi nhận: trước khi chuyển giao nhiệm vụ, nguyên Thống đốc Nguyễn VănGiàu đã “trả lại” một phần đáng kể cho năng lực dự trữ ngoại tệ
Ngày 7-9-2011, một tháng sau khi tân Thống đốc tiếp nhận nhiệm vụ điều hành,Ngân hàng Nhà nước tổ chức hội nghị ngành, và tại đây thông điệp được đưa ra: nếu điềuchỉnh tỷ giá USD/VND thì từ nay (tại ngày 7-9) đến cuối năm không quá 1%
Nửa sau năm 2011 Ngân hàng Nhà nước đã thành công trong bình ổn tỷ giá và thịtrường ngoại hối Bên cạnh công tác quản lý điều hành, nhật ký biến động tỷ giá 2011 đãchứng kiến một sự hậu thuận lớn từ những yếu tố vĩ mô Nhập siêu đã giảm rất mạnhtrong năm nay và đặc biệt là sự trở lại ấn tượng của trạng thái thặng dư cán cân tổng thể(dự tính thặng dư tới 3,1 tỷ USD)
Trên thị trường chính thức, tỉ giá giao dịch của các NHTM thường ở mức thấp hơnbiên độ tối đa theo quy định (1% so với tỉ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng doNHNN công bố); xen kẽ những ngày tăng, tỉ giá đã có nhiều ngày đứng và nhiều ngàygiảm, đây là điều hiếm thấy trước đây
Khi thị trường tự do bị thu hẹp, chênh lệch tỉ giá giữa thị trường tự do và thị trườngchính thức giảm thiểu, tỉ giá cơ bản ổn định và có xu hướng giảm, đã tạo thời cơ đểNHNN mua vào ngoại tệ Theo số liệu của NHNN, tính đến hết tháng 7, NHNN đã muađược 5 tỉ USD dự trữ ngoại hối, một động thái mà từ giữa năm 2008 đến trước tháng5/2011 chưa thực hiện được Các doanh nghiệp và người dân đã bắt đầu bán ngoại tệ chongân hàng; bước đầu chuyển dần quan hệ huy động và cho vay bằng ngoại tệ sang quan
Trang 31hệ mua – bán ngoại tệ giữa ngân hàng với khách hàng; việc niêm yết giá thanh toán, mua– bán trực tiếp bằng ngoại tệ đã được thu hẹp.
Xu thế phát triển
Kết quả tổng quát của việc ổn định thị trường ngoại tệ là góp phần vào việc chốngđôla hóa, vàng hóa nền kinh tế, góp phần vào việc ổn định tâm lý, tạo tiền đề thực hiệnviệc kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, củng cố và nâng cao lòng tin vào đồng tiềnquốc gia
Tuy đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng cũng chưa thể chủ quan, bởi thịtrường ngoại tệ còn đứng trước những thách thức không nhỏ
Chênh lệch quá lớn giữa lãi suất đồng nội tệ và ngoại tệ khiến các doanh nghiệp đổ
xô đi vay USD, sau đó bán ra lấy VND để phục vụ sản xuất kinh doanh, làm cho nguồncung ảo USD trên thị trường gia tăng Các chuyên gia kinh tế lo ngại rằng, cung ảo này
sẽ biến thành cầu thực khi các khoản vay đến kỳ đáo hạn và sẽ tạo áp lực lên tỉ giá nhữngtháng cuối năm
Nhập siêu liên tục tăng lên trong các tháng đầu năm làm cho cán cân thương mại,cán cân thanh toán bị mất cân đối, tạo sức ép lên tỉ giá Mặt khác, theo thống kê từ đầunăm đến nay, nguồn ngoại tệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm, nguồn kiều hối sẽkhó tăng cao so với năm trước Nguồn ngoại tệ từ đầu tư gián tiếp, hỗ trợ phát triển chínhthức và khách quốc tế đến Việt Nam có thể tăng, nhưng không có ý nghĩa quyết định.Tốc độ tăng CPI tuy đã chậm lại, nhưng vẫn còn cao, nên yếu tố lạm phát vẫn hiện hữu.Người có vốn có thể vẫn chưa hết kỳ vọng vào các nơi “trú ẩn” an toàn, trong đó có ngoạitệ
Các chính sách như thắt chặt tiền tệ, dẹp bỏ thị trường chợ đen, giảm mức trần lãisuất huy động USD… chỉ tác động ngắn hạn đến tỉ giá Sự biến động tỉ giá trong dài hạntùy thuộc vào mức độ nhập siêu và chỉ số lạm phát của Việt Nam trong tương lai Và vềlâu dài, để giải quyết tốt bài toán tỉ giá ở Việt Nam, cần phải giải quyết một cách căn bảnbài toán nhập siêu và lạm phát nhằm tạo dựng lòng tin vững chắc vào tiền đồng
Trang 322.2 Thực trạng thị trường vốn Việt Nam:
2.2.1 Thị trường trái phiếu:
Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường chứng khoán, là một kênh huyđộng vốn tiềm năng cho các dự án của chính phủ và cho các dự án tư nhân Thị trường
trái phiếu Việt Nam bao gồm các hàng hoá chủ yếu là trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp Các trái phiếu này chiếm lĩnh vai trò
chủ yếu trên thị trường vốn Thị trường vốn Việt Nam với quy mô vẫn còn nhỏ, còn chưathực sự chuẩn hoá Đây là một thị trường đang phát triển và thu hút sự quan tâm của cácnhà đầu tư và tổ chức tài chính nước ngoài
Trái phiếu Chính phủ:
Hoạt động phát hành TPCP qua hệ thống KBNN đã được thực hiện từ năm 1991.Lúc này, KBNN đóng vai trò là kênh phát hành TPCP duy nhất để huy động vốn từ ngắnhạn để bù đắp thâm hụt tạm thời NSNN thông qua việc phát hành tín phiếu KBNN đếnviệc huy động vốn dài hạn thông qua phát hành công trái Tuy nhiên, nếu xét ở khía cạnhthị trường tài chính thì TPCP là một hàng hóa do đó cần phải có một thị trường là nơi màTPCP không chỉ được bán ra mà còn được chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư chứngkhoán, thể hiện quan hệ cung cầu TPCP Ở góc độ này, KBNN chỉ có thể là một bộ phậncung TPCP chứ không thể hình thành thị trường TPCP qua hệ thống kho bạc mà thịtrường TPCP phải là một bộ phận của TTCK Đến năm 2000, thêm hai phương thức pháthành TPCP: phương thức đấu thầu qua thị TTCK và bảo lãnh phát hành
Sau quá trình hình thành và phát triển (2000 – 2012), thị trường TPCP dần khẳngđịnh được vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế, bước đầu gópphần tạo nên kênh dẫn vốn hiệu quả cho huy động vốn ngân sách đầu tư vào các côngtrình trọng điểm quốc gia, giáo dục và y tế Tỷ trọng nguồn vốn huy động qua thị trườngtrái phiếu ngày càng tăng với lãi suất thấp, vừa giảm gánh nặng cho ngân sách vừa gópphần bình ổn lãi suất cho vay của ngân hàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 33Hiện nay TPCP được KBNN và Ngân hàng phát triển Việt Nam phát hành hàngnăm với khối lượng chủ yếu thông qua các kênh bảo lãnh phát hành và đấu thầu quaTTCK TPCP niêm yết tại các TTGDCK chiếm khoảng 82% thị trường trái phiếu.
Ði liền với sự phát triển của thị trường Trái phiếu Chính phủ (TPCP) phải kể đếnvai trò của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), bởi sau Quyết định số 2276/QÐ-BTC ngày 20/6/2006, TPCP được đấu thầu tập trung và duy nhất tại HNX (hoạt động sơcấp) Sau khi phát hành, TPCP cũng được niêm yết và giao dịch tập trung trên thị trườnggiao dịch TPCP chuyên biệt tại HNX (hoạt động thứ cấp)
Trên thị trường sơ cấp, hoạt động phát hành TPCP qua kênh đấu thầu ngày càngthể hiện vai trò chủ động, minh bạch, thu hút nhiều thành viên tham gia trong công táchuy động vốn Ðặc biệt, từ khi thị trường TPCP chuyên biệt được đưa vào quản lý vàgiao dịch tập trung tại HNX ngày 24/9/2009, hoạt động phát hành TPCP thông qua kênhđấu thầu tại HNX được tổ chức đều hằng tuần, số lượng phiên đấu thầu thành công tăngdần và ngày càng thu hút nhiều thành viên tham gia, một số phiên có đến hơn 20 thànhviên tham gia, khối lượng đăng ký đấu thầu bảo lãnh nhiều gấp ba đến bốn lần khối lượngtrái phiếu gọi thầu Năm 2009, tỷ lệ thành công của các phiên đấu thầu không cao, vớitổng giá trị huy động được đạt 2.599 tỷ đồng (tuy nhiên điểm nhấn trong hoạt động đấuthầu năm 2009 là tổ chức thành công sáu phiên đấu thầu TPCP bằng ngoại tệ (USD) vớitổng khối lượng trúng thầu 460,11 triệu USD)
Năm 2010, HNX đã tổ chức được 48 phiên đấu thầu với tổng giá trị trái phiếu huyđộng được đạt 28 nghìn 317 tỷ đồng (tăng 11 lần so với năm 2009 và chiếm 50% tổngnguồn thu ngân sách từ phát hành TPCP năm 2010) Năm tháng đầu năm 2011, HNX đã
tổ chức được 21 phiên đấu thầu với tổng giá trị huy động được 22 nghìn 733,5 tỷ đồng(tăng 221% so với cùng kỳ năm 2010) HNX đã phối hợp KBNN quyết liệt đẩy mạnh đấuthầu lô lớn từ tháng 5/2010 Ðây là một hướng đi đúng để tăng tính thanh khoản cho thịtrường thứ cấp và dần hình thành lãi suất chuẩn, phục vụ công tác điều hành vĩ mô, giúpcác nhà đầu tư cũng như các tổ chức trung gian dễ theo dõi, nắm bắt diễn biến về giá của
Trang 34các loại TPCP TPCP chuyên biệt chính thức đi vào hoạt động với hệ thống giao dịchriêng, hệ thống công bố thông tin riêng, thị trường trái phiếu chuyên biệt đã khắc phụcđược những hạn chế của thị trường thứ cấp trước đây, tạo ra sân chơi bình đẳng, côngkhai cho các nhà đầu tư và kinh doanh trái phiếu
Tính đến cuối tháng 5/2011, thị trường TPCP đã có những bước phát triển đáng ghinhận, quy mô niêm yết trên toàn thị trường đạt hơn 257,3 nghìn tỷ đồng, tăng 57,8% sovới giá trị niêm yết vào thời điểm ngày 24/9/2009 Năm 2009, tổng giá trị giao dịch đạt
88 nghìn 216 tỷ đồng, bình quân đạt 365 tỷ đồng/phiên Năm 2010, tổng giá trị giao dịchđạt 93 nghìn 770 tỷ đồng, bình quân đạt 375 tỷ đồng/phiên Trong đó giá trị giao dịchOutright là 90 nghìn 664 tỷ đồng và giao dịch Repos là 3.105 tỷ đồng, tương ứng với96,7% và 3,3% giá trị giao dịch toàn thị trường
Hệ thống thành viên thị trường được hình thành và có chiều hướng phát triển tốt.Sau một năm phát triển, hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt đã kết nạpmới 12 thành viên, nâng tổng số thành viên của hệ thống lên 42 thành viên (26 CTCK và
16 NHTM, trong đó có bốn NHTM nước ngoài) Các ngân hàng thương mại thành viênngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo tính thanh khoản cho thị trường thứ cấpqua hoạt động tự doanh Ðặc biệt, các ngân hàng thương mại hoạt động trên cả thị trườngvốn và tiền tệ, do đó, các giao dịch, lợi suất đưa ra từ các thành viên này góp phần làmtăng tính liên kết giữa các thị trường
Tính liên kết giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp TPCP và giữa thị trường TPCP vớithị trường tiền tệ được tăng cường đáng kể Về mặt lãi suất, thông tin trên thị trường thứcấp đã phản ánh diễn biến thị trường tài chính, cụ thể, thông tin lợi suất giao dịch của các
kỳ hạn 1, 2, 3 năm có xu hướng giảm từ trung tuần tháng 6/2010, bám sát xu hướng củathị trường phát hành TPCP và thị trường tiền tệ Ngoài ra, sự tăng trưởng trong quy môgiao dịch cho thấy hệ thống TPCP bước đầu đã phát huy tác dụng của một kênh luânchuyển vốn giữa các thành viên Như vậy, ngoài thị trường tiền tệ và thị trường mở
Trang 35OMO, thị trường TPCP đã hỗ trợ thanh khoản cho thành viên nhất là khi tình hình thanhkhoản của thành viên căng thẳng.
Việc ra đời thị trường TPCP chuyên biệt tại HNX đã nâng cao tính thanh khoảncủa các loại trái phiếu được niêm yết giao dịch trên thị trường, khơi thông các nguồn vốntrung và dài hạn trong nền kinh tế, tác động tích cực trở lại đối với thị trường sơ cấp.Thêm vào đó, việc quyết liệt phát hành trái phiếu lô lớn cũng như việc triển khai tái cơcấu hàng hóa trên thị trường TPCP, là những hướng đi đúng đắn để tăng tính thanh khoảncho thị trường thứ cấp và dần hình thành lãi suất chuẩn, phục vụ cho công tác điều hành
vĩ mô của Chính phủ Nhiều cải tiến về cách thức phối hợp trong cơ chế vận hành thịtrường cũng đã được HNX, Kho bạc Nhà nước và Trung tâm lưu ký chứng khoán đưa ra,thí dụ như thỏa thuận hợp tác ba bên mới nhất có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, đã rútngắn hơn một nửa thời gian từ khi đấu thầu trái phiếu thành công đến khi niêm yết vàgiao dịch
Những kết quả và tồn tại của thị trường TPCP ở Việt Nam
Nhìn chung, thị trường TPCP đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm Phát hànhTPCP đã trở thành kênh huy động vốn hiệu quả Giá trị TPCP huy động được đã tăng quacác năm, số lượng, kỳ hạn TPCP đã được đa dạng hơn; đặc biệt là năm 2007, Chính phủ
đã tổ chức phát hành trái phiếu theo lô lớn để tăng tính thanh khoản làm cho tình hìnhgiao dịch TPCP tăng lên đáng kể Qua thực tế phát hành TPCP lô lớn sẽ giảm số lượngcác loại TPCP lưu hành trên thị trường, giúp các nhà đầu tư cũng như các tổ chức trunggian dễ theo dõi, nắm bắt diễn biến về giá của các loại TPCP Ðây là cơ sở cho việc đặtgiá mua, bán Mặt khác, với khối lượng phát hành lớn đã tạo điều kiện cho nhiều nhà đầu
tư cùng sở hữu một loại trái phiếu, làm cho tính thanh khoản của trái phiếu tăng lên, từ đóthu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và Chính phủ có thể huy động một khối lượngvốn lớn cho NSNN Phương thức đấu thầu trái phiếu qua TTCK đã được áp dụng theothông lệ quốc tế và cũng đã gặt hái kết quả đáng khích lệ Đối tượng tham gia thị trườngcũng ngày càng đa dạng hơn Bên cạnh đó áp dụng phương thức giao dịch thỏa thuận đã
Trang 36làm cho nhà đầu tư hoàn toàn chủ động trong giao dịch, đã tác động tích cực đến hoạtđộng giao dịch trái phiếu.
Thị trường TPCP đã có những thành công nhất định, tuy nhiên vẫn còn một số tồntại:
- Hiệu quả của các đợt phát hành TPCP bằng phương thức đấu thầu qua TTCK chưa cao
do áp dụng cơ chế lãi suất trần, dẫn đến tỷ lệ trúng thầu thấp thậm chí có những đợtđầu thầu khối lượng trúng thầu bằng không Bên cạnh đó, thông tin về các đợt đấu thầuchưa đầy đủ, các thông tin như tình hình tài chính hiện nay của Chính Phủ, kế hoạchvay trả nợ trong tương lai, tình hình sử dụng vốn huy động bằng TPCP… chưa đượccông bố cụ thể
- Trong bối cảnh lãi suất thị trường diễn biến tăng dần nhưng lãi suất đấu thầu TPCP ápdụng lãi suất trần, hoạt động đấu thầu và giao dịch thứ cấp thiếu tính cạnh tranh, khônghấp dẫn, cũng làm cho TPCP có tính thanh khoản thấp Điều này có thể thấy được quatình hình thực tế khi Ngân hàng Nhà nước đưa ra chính sách thắt chặt tiền tệ, lãi suấtthị trường liên tục tăng trong thời gian qua đã ảnh hưởng đến giá và tình hình giao dịchtrái phiếu trên thị trường thứ cấp:
- Các đợt phát hành TPCP theo các phương thức bán lẻ qua KBNN, đấu thầu qua TTCK
và bảo lãnh phát hành được tổ chức đan xen nhau tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ choTTCK Mặt khác, phát hành trực tiếp qua KBNN với lãi suất quy định sẵn, còn đối vớiphương thức bảo lãnh phát hành thì lãi suất hình thành theo nhu cầu vốn sử dụng chứkhông chịu sự chi phối tác động của thị trường, do đó lãi suất theo hai phương thứcnày không do cung cầu quyết định Sự cạnh tranh không theo quy luật thị trường sẽkiềm hãm sự phát triển của thị trường TPCP nói riêng và TTCK nói chung
- Thị trường TPCP vẫn chưa hình thành được cơ chế lãi suất chuẩn Việc phát hànhTPCP theo nhiều kỳ hạn với ngày thanh toán khác nhau và lãi suất danh nghĩa khácnhau nên tính thanh khoản của trái phiếu rất thấp, dẫn đến khối lượng TPCP giao dịchtrên thị trường là không đáng kể, thậm chí có nhiều loại bị đóng băng Thêm vào đó,
Trang 37hiện nay số lượng thành viên đủ điều kiện tham gia đấu thầu đã tăng, tuy nhiên cácthành viên này không tham gia đấu thầu thường xuyên mà mỗi đợt đấu thầu TPCP chỉ
có vài thành viên tham gia, điều này đã làm giảm tính cạnh tranh của các đợt đấu thầuTPCP và thành viên tham gia này mua trái phiếu chủ yếu phục vụ cho mục đích nắmgiữ lâu dài nên việc giao dịch TPCP chỉ dừng lại ở đây
- Mối liên hệ giữa thị trường thứ cấp và sơ cấp là giá giao dịch cũng như hoạt động giaodịch trên thị trường thứ cấp sẽ tác động ngược lại đến khả năng phát hành trên thịtrường sơ cấp Chính vì vậy, sự khác biệt về giá (lãi suất) phát hành đang khiến thịtrường sơ cấp gặp khó khăn và về dài hạn, sẽ tác động ngược trở lại thị trường thứ cấp
- Việc thanh toán lãi TPCP như hiện nay (1lần/năm) chưa mang lại lợi ích và giảm thiểurủi ro tái đầu tư cho nhà đầu tư, từ đó không khích thích được hoạt động đầu tư TPCPsôi động hơn
- Giao dịch trái phiếu đòi hỏi một số lượng vốn lớn, chỉ thích hợp với các nhà đầu tư có
tổ chức tham gia, nhưng trên thực tế thị trường Việt Nam các nhà đầu tư có đủ nănglực tài chính để tham gia còn rất ít Bên cạnh đó các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt lànhà đầu tư có tổ chức có năng lực tài chính để tham gia thì chưa quan tâm nhiều đếntrái phiếu
Trái phiếu Chính quyền địa phương
Phát hành TPCQĐP nhằm mục đích huy động vốn đầu tư cho các công trình xâydựng cơ sở hạ tầng của Trung ương cũng như địa phương Từ năm 1995, triển khai NĐ72/CP của Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn Ủy ban nhân dân các tỉnh xây dựng đề ánhuy động vốn cho các dự án đầu tư trọng điểm của địa phương về phát triển kinh tế xãhội
TPCQĐP được phát hành qua các hình thức: bán lẻ qua KBNN (chỉ thực hiện đếnnăm 2003), đấu thầu qua TTGDCK, bảo lãnh phát hành hoặc đại lý phát hành
Sự phát triển của thị trường TPCQĐP có thể chia thành 2 giai đoạn trước và saunăm 2003