1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường mở việt nam – thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay

25 961 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Mở Việt Nam – Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Trong Giai Đoạn Hiện Nay
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 191,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này thúc đẩy Ngân hàng Anh tìm kiếm công cụ có hiệuquả hơn để điều chỉnh lãi suất thị trường theo hướng mong muốn.Cách thức đầu tiênđược áp dụng để nhằm làm tăng lãi suất thị trường

Trang 1

PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU

Việt nam đã chuyển sang thời kỳ đổi mới kinh tế từ nền kinh tế tập trung quan liêu baocấp sang nên kinh tế thị trường được hơn 10 năm trong việc góp phần đạt được các mụctiêu ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chính sách tiền tệ của Ngân hàngnhà nước Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng, kìmchế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền Sự đổi mới kinh tế đòi hỏi phải nhanh chóng tiếpcận những lý luận và thực tiễn quản lý kinh tế của các nước tiên tiến trên thế giới Hiệnnay với nền kinh tế thị trường đang phát triển thì công cụ thị trường mở được coi là mộtcông cụ linh hoạt và hiệu quả nhất trong việc đièu hành chính sách tiền tệ Nghiệp vụ thịtrường mở có thể điều tiết các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ : nó là nhân tốđầu tiên có thể làm thay đổi lãi suất hoặc cơ sở tiền tệ Nguồn gốc chính làm thay đổiviệc cung ứng tiền của ngân hàng trung ương thông qua viêc mua bán các giấy tờ có giátrên thị trường mở ( hành động làm tăng cơ số tiền tệ ) và vì thế làm tăng cung ứng tiền ,giảm lãi suất ngắn hạn Ngược lại , việc bán giấy tờ có giá trên thị trường mở làm giảm

cơ số tiền tệ , giảm cung ứng tiền và làm tăng lãi suất ngắn hạn

Tuy nhiên, bên cạnh đó việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia còn nhiều bấtcập, hạn chế, chưa tỏ ra nhạy bén và các chính sách của Ngân hàng nhà nước chưa linhthoạt Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế ngày càng sôi động thì việc điều hành chínhsách tiền tệ từ các công cụ trực tiếp chuyển sang các công cụ gián tiếp trong đó có việc ápdụng nghiệp vụ thị trường mở ngày càng trở nên cấp bách Điều này là phù hợp với quátrình cải cách hệ thống Ngân hàng, với việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệtrong giai đoạn mới Nghiệp vụ thị trường mở cho tới nay mới được thực hiện ở Việt

Nam do các điều kiện khách quan và chủ quan vừa chín muồi Vì vậy đề tài “ Thị

Trường Mở Việt Nam – Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Trong Giai Đoạn Hiện Nay” là một đề tài hết sức cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn để góp phần nâng

cao hiệu qủa chính sách tiền tệ

Trang 2

PHẦN II : NỘI DUNG A- CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ

I KHÁI NIỆM NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ.

1 Sự ra đời và phát triển của Nghiệp vụ thị trường mở.

Nghiệp vụ thị trường mở được áp dụng đầu tiên bởi Ngân hàng Anh từ nhữngnăm 30 của thế kỷ 19 Vào thời gian này, lãi suất tái chiết khấu của Ngân hàng Anh được

sử dụng như một công cụ chủ yếu để kiểm soát lượng tiền cung ứng Tuy nhiên, công cụnày tỏ ra kém hiệu lực khi lãi suất thị trường tiền tệ giảm liên tục vượt khỏi sự chi phốicủa lãi suất tái chiết khấu Điều này thúc đẩy Ngân hàng Anh tìm kiếm công cụ có hiệuquả hơn để điều chỉnh lãi suất thị trường theo hướng mong muốn.Cách thức đầu tiênđược áp dụng để nhằm làm tăng lãi suất thị trường là:

- Bán chứng khoán chính phủ đồng thời hứa mua lại nó vào một ngày xác định trongtương lai

-Vay trên thị trường _ thực chất là một khoản vay từ người chiết khấu hoặc từ người môigiới với đảm bảo bằng chứng khoán chính phủ

-Bán hẳn các chứng khoán chính phủ

-Vay từ các Ngân hàng thương mại

-Vay từ người gửi tiền đặc biệt

Bằng các cách này, lượng tiền trung ương giảm đi tương ứng với khối lượng vayhoặc bán chứng khoán, lãi suất thị trường vì thế tăng lên

Cùng thời gian này, Ngân hàng Trung Ương (NHTW ) Thuỵ Sỹ cũng sử dụngnghiệp vụ bán các chứng khoán chính phủ nhằm thu hút lượng vốn khả dụng dư thừa.Vào năm 1913, lúc đầu Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ cũng sử dụng Nghiệp vụ thịtrường mở như một công cụ bổ xung cho chính sách tái chiết khấu Tuy nhiên, trong vàsau Chiến tranh thế giới thứ nhất Nghiệp vụ thị trường mở ở những nước này được sửdụng như công cụ để tài trợ cho các chi phí chiến tranh và các hoạt động điều chỉnh kinh

tế sau chiến tranh Cùng với các hoạt động này, lượng chứng khoán chính phủ nằm trongtay các NHTW tăng lên Đến năm 1920, Nghiệp vụ thị trường mở ở những nước nàycũng vẫn chỉ được sử dụng như công cụ bổ trợ cho chính sách lãi suất tái chiết khấu vàlàm cho lãi suất tái chiết khấu trở nên hiệu quả Nhưng sau đó, hiệu quả và tầm quan

Trang 3

trọng của Nghiệp vụ thị trường mở ngày càng tăng lên, nó được sử dụng như công cụchính sách tiền tệ ở ba nước ban đầu này và sau đó trở thành xu hướng ở hầu hết NHTWcác nước khác Điều này suất phát từ: hạn chế chính sách tái chiết khấu; sự mở rộng vàhoàn thiện của hệ thống thị trường tái chính; sự tăng lên của lượng chứng khoán chínhphủ và các chứng khoán có tính thanh khoản cao Cho đến nay Nghiệp vụ thị trường mởđược sử dụng như một công cụ Chính sách tiền tệ hiệu quả nhất ở hầu hết các NHTW củacác nước.

2 Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở.

a Quốc Tế :

Theo nghĩa gốc thì cụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở” chỉ các hoạt động giao dịchchứng khoán của các NHTW trên thị trường mở Thông qua hành vi mua , bán chứngkhoán này, NHTW có thể tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống Ngân hàng và giántiếp đến lãi suất thị trường, từ đó mà có thể ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng thôngqua tác động cả về mặt lượng và về mặt giá Về lý thuyết, các chứng khoán là đối tượnggiao dịch của NHTW, có thể là chứng khoán chính phủ, các chứng khoán được phát hànhbởi các doanh nghiệp hoặc Ngân hàng gồm cả chứng khoán ngắn hạn và dài hạn Các chủthể trong giao dịch Nghiệp vụ thị trường mở có thể là Ngân hàng, các doanh nghiệp hoặccác tổ chức phi tài chính khác Về mặt thực tế, Nghiệp vụ thị trường mở là hành vi giaodịch của NHTW trên thị trường mở Xét về hình thức thì thị trường mở là thị trường giaodịch các chứng khoán nợ ngắn và dài hạn Tuy nhiên, khác với các khái niệm có phạm vi

và công cụ giao dịch rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ,thị trường

mở ở các nước khác nhau về phạm vi, về loại hình công cụ và thời hạn của các công cụgiao dịch trên thị trường

Chẳng hạn, thị trường mở của Nhật Bản chỉ bao gồm các chứng khoán nợ ngắnhạn và những người tham gia chỉ gồm các tổ chức tín dụng Như vậy, ở Nhật thị trường

mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ Ngược lại ở Mỹ hoặc Đức cho phép giao dịch

cả các chứng khoán dài hạn trên thị trường mở Xét theo thời hạn của chứng khoán nợthì thị trường mở ở những nước này bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán.Theo cách này, khái niệm “ Nghiệp vụ thị trường mở” có ý nghĩa kinh tế khi nó gắn vớicụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở” Có nghĩa là, các giới hạn khác nhau về đối tượng và

Trang 4

các chủ thể giao dịch của NHTW trong nghiệp vụ thị trường mở sẽ quyết định khái niệm

cụ thể về thị trường mở ở từng nước

b Việt Nam

Tại Việt nam Quy chế Nghiệp vu thi trường mở được ban hành theo Quyết định01/2007/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước VN ngày 05.01.2007 có cácnội dung chủ yếu sau :

Nghiệp vụ thị trường mở là việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua, bán ngắn

hạn các loại giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng thông qua hình thức đấu thầu

Thành viên tham gia thị trường mở: gồm các tổ chức tín dụng thành lập và

hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện sau:

- Có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặcNgân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố);

- Có đủ phương tiện cần thiết để tham gia nghiệp vụ thị trường mở gồm máy FAX, máytính có nối mạng internet;

- Có giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ thị trường mở;

Ngân hàng Nhà nước cấp giấy công nhận là thành viên tham gia thị trường mở cho các tổchức tín dụng đáp ứng đủ các điều kiện

Các loại giấy tờ có giá sử dụng trong giao dịch nghiệp vụ thị trường mở :

Ngân hàng Nhà nước quy định các loại giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịchnghiệp vụ thị trường mở gồm:

(1) - Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước

(2) - Trái phiếu Chính phủ, bao gồm: Tín phiếu Kho bạc; Trái phiếu Kho bạc; Trái phiếucông trình Trung ương; Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu Chính phủ do Ngân hàngPhát triển Việt Nam (trước đây là Quỹ Hỗ trợ phát triển) được Thủ tướng Chính phủ chỉđịnh phát hành

(3) - Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, bao gồm: Trái phiếu do Ngân hàng Phát triểnViệt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành được Chính phủ bảo lãnh thanhtoán 100% giá trị gốc, lãi khi đến hạn

(4) - Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủyban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành

Trang 5

(5) - Riêng đối với giao dịch mua có kỳ hạn Ngân hàng Nhà nước chỉ giao dịch đối với:Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàngChính sách xã hội phát hành được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc, lãikhi đến hạn; Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành

Điều kiện các giấy tờ có giá được giao dịch trong thị trường mở:

- Có thể mua, bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá được giao dịchqua nghiệp vụ thị trường mở ;

- Được phát hành bằng đồng Việt Nam;

- Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký bán (bao gồm giấy tờ có giá do

tổ chức tín dụng lưu ký trực tiếp tại Ngân hàng Nhà nước và lưu ký tại tài khoản củaNgân hàng Nhà nước mở tại Trung tâm giao dịch chứng khoán);

- Giấy tờ có giá được mua hẳn có thời hạn tối đa là 91 ngày

Danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểmđịnh giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thịtrường mở do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước qui định trong từng thời kỳ

Các phương thức mua hoặc bán giấy tờ có giá trong nghiệp vụ thị trường mở: Gồm giao dịch mua có kỳ hạn; giao dịch bán có kỳ hạn; giao dịch mua hẳn; giao

dịch bán hẳn

Phương thức đấu thầu giấy tờ có giá trong nghiệp vụ thị trường mở:

Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượnghoặc đấu thầu lãi suất Tại mỗi phiên đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng mộtphương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất

Đấu thầu khối lượng: Là việc xét thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín

dụng, khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán và lãi suất doNgân hàng Nhà nước thông báo

Đấu thầu lãi suất: Là việc xét thầu trên cơ sở lãi suất dự thầu, khối lượng dự thầu của

các tổ chức tín dụng và khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặcbán

Trang 6

B - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ

CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN

QUA

Bắt đầu từ ngày 12/7/2000, Ngân hàng nhà nước (NHNN) tiến hành đưa công cụ

nghiệp vụ thị trường mở (OMO) vào hoạt động Đây là một bước tiến mới trong điều

hành CSTT của NHNN theo hướng từ sử dụng các công cụ trực tiếp sang các công cụ

gián tiếp, để phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của đất nước Nó đã mở ra một

kênh cung ứng và điều tiết vốn khả dụng của các TCTD cho NHNN và tạo điều kiện cho

các TCTD sử dụng linh hoạt các loại GTCG của mình Công cụ OMO liên tục được

NHNN cải tiến trong những năm qua và dần trở thành một công cụ CSTT chủ yếu của

NHNN

1 Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở

Ngay từ khi triển khai, NHNN đã xác định OMO sẽ là một công cụ chủ yếu trong

điều hành CSTT của NHNN Để đạt được mục đích đó, NHNN đã tập trung thực hiện

việc điều hoà lưu thông tiền tệ thông qua công cụ này Doanh số trúng thầu OMO tăng

mạnh qua các năm, trung bình từ năm 2000 đến 2007, tốc độ này tăng 1,9573 lần/năm,

qua đó tăng khả năng điều tiết của công cụ này đến vốn khả dụng của TCTD cũng như

các điều kiện tiền tệ Riêng trong năm 2008, 2010 trong giai đoạn từ năm 2008 đến 6

tháng đầu năm 2011, tổng doanh số mua bán trên thị trường này đạt tốc độ tăng trên

Doanh số bình

Trang 7

Trong 6 tháng đầu năm 2011, NHNN đã thực hiện 241 phiên giao dịch mua có kỳhạn Để đảm bảo khả năng thanh khoản cho các tổ chức tín dụng nên NHNN chỉ chào cácphiên giao dịch mua có kỳ hạn và chủ yếu là kỳ hạn ngắn, chỉ có 7 ngày và tất cả cácphiên đều là phiên đấu thầu khối lượng.

Các chủ thể tham gia thị trường trong 6 tháng đầu năm 2011 cũng tăng mạnh, gầnnhư các chủ thể đăng ký tham gia thị trường, nếu có đủ điều kiện đều được giao dịch vàđáp ứng nhu cầu vốn kịp thời Các chủ thể tham gia gồm: 05 NHTMNN, 32 NHTMCP,

01 NH liên doanh, 07 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 04 công ty tài chính

Doanh số giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở liên tục tăng, năm sau hơn nămtrước theo cả hai chiều mua và bán Năm 2008, tổng doanh số trúng thầu là 2.108.715 tỷđồng Trong các hình thức giao dịch thị trường mở thì hình thức NHNN mua các GTCG– “bơm” tiền ra là chủ yếu, có thời điểm là gần 100% trong tổng doanh số trúng thầu như

6 tháng đầu năm 2009 và năm 2010 Khối lượng giao dịch trong từng phiên cũng ngàycàng tăng từ bình quân 2.577 tỷ đồng/ phiên năm 2008 lên 3.240 tỷ đồng/ phiên năm

2010 và 9.544 tỷ đồng/ phiên năm 2011 Trong năm 2008, trước những biến động bấtthường của thị trường, nhằm đáp ứng khả năng thanh toán cho các tổ chức tín dụng,doanh số giao dịch có phiên là 10.000 tỷ đồng – 15.000 tỷ đồng, sang năm 2010, gần đếnthời điểm cuối năm, có phiên có doanh số giao dịch là 20.000 tỷ đồng Những tháng đầunăm 2011, có phiên giao dịch lên đến 25.000 tỷ đồng

Riêng trong năm 2008, trong bối cảnh những phức tạp chưa từng có của kinh tếtoàn cầu, kinh tế Việt Nam cũng gặp phải nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng từ kinh tế thếgiới với hàng loạt vấn đề nóng như lạm phát, nhập siêu,… Trong tình hình đó, tình trạngkhan hiếm vốn trên thị trường đã xảy ra Từ Quý I đến Quý III năm 2008, nhu cầu về vốncủa các tổ chức tín dụng là xu hướng chính trên thị trường mở với 100% lượng tiền dựkiến đưa ra thị trường trong các phiên giao dịch thị trường mở đều được các tổ chức tíndụng đấu thầu sử dụng hết NHNN đã tăng số lượng phiên giao dịch so với năm 2007 vớitổng doanh số giao dịch năm 2008 là 1.036.066 tỷ đồng, tăng 618.083 tỷ đồng, tươngđương 148% so với năm 2007 (417.983 tỷ đồng) Trong đó, giao dịch mua có kỳ hạn tăng886.072 tỷ đồng, gấp 15 lần so với mức 61.133 tỷ đồng năm 2007, trong khi giao dịchbán hẳn chỉ còn 76.837 tỷ đồng, giảm gần 4,6 lần so với mức 356.850 tỷ đồng năm 2007

Trang 8

Như vậy, khi các tổ chức tín dụng thiếu hụt nghiêm trọng vốn khả dụng thì thịtrường mở thực sự là “phao” hỗ trợ cho các tổ chức tín dụng này, đảm bảo khả năngthanh toán cho các tổ chức tín dụng trong trường hợp thị trường có những biến động độtxuất Điều này đã góp phần ổn định thị trường tiền tệ, đáp ứng yêu cầu điều tiết vốn khảdụng của các thành viên tham gia thị trường mở

Thông qua hoạt động OMO, NHNN không chỉ mua GTCG để bơm thêm vốn khảdụng khi thị trường thiếu hụt vốn khả dụng và mà còn bán GTCG để hút tiền nhàn rỗi khithị trường dư thừa vốn nhằm thực hiện mục tiêu CSTT

2 Tần suất và phương thức giao dịch trên thị trường mở

2.1 Tần suất giao dịch

Để tăng cường khả năng tác động của công cụ này, NHNN đã tăng tần suất giaodịch thị trường mở Trong thời gian đầu khi mới triển khai, các phiên OMO được tổ chứcvới tần suất 10 ngày/phiên Ngày giao dịch OMO được tính theo ngày làm việc Từ phiênthứ 14 vào ngày 29/11/2000, OMO được thực hiện với tần suất 1 tuần/phiên vào ngày thứ

Tư hàng tuần Điều này đã giúp cho các TCTD chủ động điều chỉnh kịp thời, linh hoạtvốn khả dụng của mình Từ năm 2001, Ban điều hành OMO đã tăng định kỳ tổ chức cácphiên giao dịch OMO 2 phiên/1 tuần vào ngày thứ 3 và thứ 5 hàng tuần Ngoài ra để đápứng kịp thời vốn khả dụng cho TCTD, NHNN đã tổ chức các phiên đấu thầu đột xuấttheo ngày, cá biệt 2 phiên/ngày trong thời gian giáp Tết Nguyên đán Việc tổ chức cácphiên đột xuất đã hỗ trợ kịp thời cho các TCTD khắc phục khó khăn về thiếu hụt vốn khảdụng, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ Bắt đầu

từ tháng 11/2004, giao dịch OMO đã được thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, vào ngày thứ

2, 4 và 6, góp phần điều tiết kịp thời vốn khả dụng của TCTD Trong năm 2005, NHNN

đã tổ chức được 158 phiên thị trường mở, tăng 28,5%so với năm 2004 Mặc dù hiện nay

đã giao dịch với tần suất 3 phiên/tuần nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được nhu cầugiao dịch vốn của các ngân hàng Vì thế năm 2006 và 2007 được nâng lên là 5 phiên /tuần

Trang 9

Bảng 2 Số lượng các phiên giao dịch OMO

Năm

Số phiên

Số phiên mua Số phiên bán Tần suất giao

dịch Mua

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

NHNN chủ yếu thực hiện các giao dịch nhằm cung ứng vốn khả dụng cho TCTD, chiếm tới 79,2% tổng số phiên OMO Các phiên giao dịch nhằm hấp thụ vốn dư thừa của

hệ thống ngân hàng được tổ chức rất ít, điều này xuất phát từ thực tế của hệ thống ngân hàng là thường xuyên thiếu hụt vốn để đáp ứng nhu cầu tín dụng và thanh toán của nền kinh tế Trong giai đoạn từ năm 2000 - 2007, NHNN chỉ tổ chức 22 phiên bán GTCG trong tổng số 281 phiên OMO.

2.2 Phương thức đấu thầu, xét thầu

Bảng 3 Phương thức đấu thầu, xét thầu trên thị trường mở

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Về phương thức giao dịch trên thị trường mở, NHNN chủ yếu sử dụng phương thứcđấu thầu lãi suất và phương thức xét thầu riêng lẻ Phương thức đấu thầu lãi suất đã đượcNHNN sử dụng trong 86,2% số phiên giao dịch trong các năm từ năm 2000 đến 2007 và

Trang 10

tới 100% số phiên trong 2 năm 2006, 2007 Điều này xuất phát từ lý do NHNN đang điềuhành CSTT theo khối lượng tiền tăng thêm nên nhu cầu giao dịch GTCG của NHNNthường được xác định trước Ngoài ra, NHNN cũng sử dụng phương thức xét thầu riêng

lẻ trong 65,3% số phiên giao dịch Trong nửa cuối năm 2005, NHNN hầu như chỉ ápdụng phương thức xét thầu thống nhất trong các phiên OMO Hoạt động thị trường mởtrong năm 2006 và 2007 được tiến hành duy trì một cách đều đặn

Xét riêng về mặt lãi suất trong nghiệp vụ thị trường mở, nhìn chung, lãi suất OMOkhá bám sát các lãi suất khác của NHNN công bố như lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn

và lãi suất chiết khấu Lãi suất trúng thầu thường nằm giữa mức lãi suất tái cấp vốn và lãisuất chiết khấu Lãi suất trúng thầu, trong các phiên đấu thầu lãi suất, thể hiện khá chínhxác và phù hợp với diễn biến thị trường

Trước khi thực hiện các phiên đấu thầu khối lượng, Ban điều hành OMO công bốlãi suất để các thành viên đặt thầu mua bán GTCG Lãi suất công bố này là lãi suất trúngthầu trong các phiên Vì vậy, lãi suất trúng thầu trong các phiên đấu thầu khối lượngthường chỉ có một lãi suất nhất định Tuy nhiên, do lãi suất trúng thầu đã được NHNNxác định nên các thành viên không có sự lựa chọn về lãi suất khi giao dịch với NHNN vàlãi suất này chưa phản ánh được nhu cầu về vốn của các thành viên trên thị trường Đây

là một nhược điểm của phương thức đấu thầu khối lượng trong giao dịch thị trường mở

Vì thế, trong các năm từ 2004 đến 2007, NHNN đã hạn chế áp dụng phương thức đấuthầu khối lượng trong các phiên OMO, năm 2004 đến 2006 là không áp dụng

* Tuy nhiên, từ năm 2008, do thiếu vốn, các tổ chức tín dụng đã tham gia thị trường

mở với mức lãi suất đặt thầu rất cao Điều này thể hiện sự thiếu hụt vốn của các tổ chứctín dụng và sự khó khăn trong việc huy động vốn trên thị trường Cá biệt, trong một sốphiên giao dịch Mua kỳ hạn với thời hạn lãi suất là 07 ngày, lãi suất đăng ký đã lên tớikhoảng 40%/năm và lãi suất trúng thầu khoảng 30%/năm Trước tình hình đó, từ giữatháng 2/2008, NHNN đã áp dụng đấu thầu khối lượng, lãi suất thống nhất cho tất cả các

kỳ hạn giao dịch Nhờ đó, tình hình lãi suất trên thị trường dần ổn định Mức lãi suấtthống nhất được sử dụng trong tuần đầu tiên là 15% nhằm tạo định hướng thị trường.Trong các tuần tiếp theo, lãi suất thông báo được giảm xuống các mức 14%, 13%, 10%

và 9%, phù hợp với lãi suất cơ bản của NHNN

Trang 11

Từ đó, tình hình lãi suất trên thị trường cũng có nhiều biến động: năm 2009, mua có

kỳ hạn 7 ngày lãi suất bình quân là 7,23%/năm, 14 ngày là 7,51%/năm; năm 2010, đãtăng tương ứng là 8,35%/năm và 7,69%/năm Trong tháng 01/2011, lãi suất mua có kỳhạn 7 ngày đã tăng lên 10%/năm; từ ngày 22/2 tăng lên 12%; ngày 01/04 là 13%; ngày4/5, đã được đẩy lên mức 14%/năm Không dừng ở đó, ngày 17/5, NHNN đã nâng lãisuất trên thị trường mở lên 15% Đây là lần thứ 8, NHH điều chỉnh mức lãi suất trên thịtrường mở kể từ tháng 01/2010 Từ ngày 04/07/2011, lãi suất trên nghiệp vụ thị trường

mở đã giảm nhẹ xuống 14%/năm Điều này cho thấy năm 2008 và 2011, nền kinh tế cólạm phát cao, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến tình hình thanh khoảncủa các NHTM khó khăn, đặc biệt là các NHTM cổ phần quy mô nhỏ Trước diễn biến

đó, NHNN sử dụng linh hoạt thị trường mở, kết hợp với cho vay tái cấp vốn để hỗ trợthanh khoản cho các NHTM có khó khăn về thanh khoản

Như vậy, tất cả những sự điều chỉnh trên đều cho thấy quyết tâm kiềm chế lạm phát

mà hiện nay đang được Chính phủ ưu tiên hàng đầu

3 Kết quả đạt được của hoạt động nghiệp vụ thị trường mở

Thứ nhất, nếu tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2011, và trong giai đoạn

2008-2011, NHNN đã điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả công cụ nghiệp vụ thị trường

mở Cùng với các công cụ chính sách tiền tệ khác, bước đầu đã góp phần kiềm chế lạmphát và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu khác của chính sách tiền tệ Lượng tiền cungứng và rút về của thị trường mở có sự phối hợp chặt chẽ với các công cụ khác của chínhsách tiền tệ nhằm phát tín hiệu điều hành và đạt được mục tiêu của chính sách tiền tệ

Thứ hai, các cơ chế và quy trình OMO đã được không ngừng cải tiến và hoàn thiện

Dưới sự chỉ đạo của Ban điều hành OMO, các Vụ Cục chức năng của NHNN đãkịp thời sửa đổi, bổ sung cơ chế, quy chế, quy trình kỹ thuật có liên quan Về cơ bản, cácvướng mắc về cơ chế, quy trình và hạ tầng kỹ thuật đã được từng bước xử lý, khắc phục.Công tác tổ chức, điều hành hoạt động OMO của NHNN được thực hiện bài bản, bảođảm an toàn tuyệt đối trong các phiên giao dịch

Các GTCG được sử dụng trong OMO đã được mở rộng theo tinh thần Luật sửa đổi

bổ sung một số điều của Luật NHNN năm 2003 Đến nay các GTCG được giao dịch

Trang 12

không chỉ gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN mà còn cả các loại trái phiếu dài hạn

do ngân sách trung ương thanh toán

Quy trình thanh toán từng bước được rút ngắn Từ thanh toán sau 2 ngày kể từ ngàyđấu thầu (T+2) năm 2000, thanh toán sau ngày đấu thầu 1 ngày (T+1) năm 2001 và từnăm 2002 đến nay việc thanh toán được thực hiện ngay trong ngày đấu thầu (T+0) Hệthống thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN đưa vào vận hành từ tháng 5/2003 đãtạo điều kiện cho các giao dịch trên thị trường liên ngân hàng và OMO được thanh, quyếttoán tức thời, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các TCTD

Tần suất giao dịch cũng được từng bước tăng cường từ 10 ngày/phiên trong thờigian bắt đầu hoạt động lên 1 tuần/phiên trong năm 2001, 2 phiên/tuần năm 2002 Từtháng 11/2004 hoạt động OMO đã thực hiện định kỳ 3 phiên/tuần, góp phần điều tiết kịpthời vốn khả dụng của TCTD Trong những dịp giáp Tết, NHNN đã thực hiện giao dịchhàng ngày và tổ chức thêm các phiên giao dịch đột xuất (cá biệt 2 phiên/ngày), giúp cácTCTD đáp ứng kịp thời vốn đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo ổn định thị trườngtiền tệ và an toàn hệ thống

Thủ tục đấu thầu ngày càng được cải tiến Nhất là từ ngày 15/12/2004, NHNN đãbắt đầu áp dụng công nghệ trang Web trong giao dịch OMO, cho phép thành viên kết nốitrực tuyến với NHNN, không phải đầu tư máy chủ, tiết kiệm chi phí đầu tư khi tham gianghiệp vụ này Điều này đã tạo điều kiện thu hút thêm thành viên tham gia thị trường,qua đó nâng cao vai trò điều tiết của công cụ này Từ năm 2006 và 2007 áp dụng là 5phiên / tuần

Thứ ba, OMO được kết hợp chặt chẽ và đồng bộ với các công cụ khác nhằm phát tín hiệu điều hành CSTT và thực hiện mục tiêu CSTT.

Từ tháng 7/2000 đến năm 2002, việc NHNN mua bán GTCG thông qua OMO đãgóp phần điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các TCTD theo mục tiêu CSTT trong từngthời kỳ Nhất là trong thời điểm các TCTD gặp khó khăn về vốn khả dụng, OMO đã đượckết hợp sử dụng đồng bộ với các công cụ CSTT khác như nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ,nghiệp vụ cho vay cầm cố để hỗ trợ kịp thời cho các TCTD đảm bảo khả năng thanhtoán, góp phần duy trì ổn định tiền tệ và thực hiện mục tiêu CSTT

Tỷ trọng doanh số mua qua OMO trong tổng doanh số hỗ trợ vốn của NHNN quacác kênh (TCV, OMO và Swap) ngày càng tăng qua các năm, từ khoảng 45% năm 2001

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1. Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm - Thị trường mở việt nam – thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay
ng 1. Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm (Trang 6)
Bảng  3. Phương thức đấu thầu, xét thầu trên thị trường mở - Thị trường mở việt nam – thực trạng và giải pháp phát triển trong giai đoạn hiện nay
ng 3. Phương thức đấu thầu, xét thầu trên thị trường mở (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w