Thị trường dịch vụ Ngân hàng Việt Namtrước xu thế hội nhậpI/ Hệ thống ngân hàng và dịch vụ ngân hàng Việt Nam 1/ Hệ thống ngân hàng Việt Nam: 1.1/ Lịch sử phát triển: Ngân hàng với vai
Trang 1Thị trường dịch vụ Ngân hàng Việt Nam
trước xu thế hội nhậpI/ Hệ thống ngân hàng và dịch vụ ngân hàng Việt Nam
1/ Hệ thống ngân hàng Việt Nam:
1.1/ Lịch sử phát triển:
Ngân hàng với vai trò là trung gian tài chính đã xuất hiện từ thời thượng cổ Lịch sửcủa tổ chức này gắn liền với lịch sử của nền sản xuất hàng hóa Qua nhiều giai đoạn thăngtrầm, tổ chức này đã phát triển thành một hệ thống quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.Các ngân hàng hiện nay đang cung cấp trên dưới 6.000 dịch vụ tài chính đáp ứng và phục
vụ cho nhu cầu của mọi lĩnh vực hoạt động
Ở Việt Nam, hệ thống ngân hàng vẫn còn rất non trẻ Trước năm 1951, chỉ có cácngân hàng nước ngoài hoạt động nhằm phục vụ cho chính sách thuộc địa của chính phủPháp và làm giàu cho giai cấp tư bản Pháp Phải đến ngày 06/05/1951, Ngân hàng Quốc giaViệt Nam mới chính thức thành lập, và sau này đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước ViệtNam
Năm 1986 có thể xem là năm đầu tiên đánh dấu sự thay đồi toàn diện của hệ thốngngân hàng Việt Nam Đến năm 1990, Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng,hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệthống ngân hàng Việt Nam từ “một cấp” sang “hai cấp” Tháng 12/1997, Luật về ngânhàng Việt Nam cũng ra đời và mở đường cho sự phát triển của ngành Ngân hàng Việt Namtrong tiến trình đổi mới
Sau gần 60 năm hoạt động, hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển ngày một lớnmạnh, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới công nghệ Đặc biệt sau khiHiệp định thương mại Việt - Mỹ và sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO (ngày11/01/2007), hệ thống ngân hàng nước ta ngày càng được hoàn thiện và hội nhập với thếgiới
1.2/ Cơ hội và thách thức sau khi gia nhập WTO:
Tính đến nay, Việt Nam đã gia nhập WTO được 3 năm Theo các cam kết,lĩnh vực ngân hàng sẽ phải mở cửa theo lộ trình 7 năm, gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ thamgia cổ phần của các định chế tài chính nước ngoài theo những cam kết trong Hiệp địnhThương mại với Hoa Kỳ và “mở” toàn bộ các quy định về việc khống chế tỷ lệ tham giagóp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài theo các cam kết trongkhuôn khổ Hiệp định khung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nướcASEAN
Với những quy định trong quá trình hội nhập này, các ngân hàng Việt Nam đãdần thích nghi và phát triển mạnh mẽ Tính đến 30/6/2009, hệ thống Ngân hàng thương mạiViệt Nam bao gồm 5 NHTMNN, 39 NHTMCP, 40 chi nhánh NHNNg, 5 ngân hàng 100%vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng đã trảirộng tới nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước
1.2.1 Cơ hội:
Khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến sựhình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân chia lại thị phần giữa cácnhóm ngân hàng theo hướng cân bằng hơn
Trang 2 Kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cũng buộc các NHTM phải có cơ chế quản lý
và sử dụng lao động thích hợp, đặc biệt là hoạt động quản trị ngân hàng, qua đó nâng caohiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh trên thị trường tài chính Hội nhập quốc tế sẽ làmtăng uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhất là trên thị trường tài chính khuvực
Có cơ hội khai thác và sử dụng hiệu quả lợi thế của các hoạt động ngân hàng hiện đại
đa chức năng, có thể sử dụng vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ ngân hàng các nướcphát triển Ví dụ như việc bắt tay với các ngân hàng nước ngoài làm đối tác chiến lược nhưmối lương duyên giữa ACB và Standard Chartered Bank, Techcombank và HSBC,Sacombank và ANZ…Các đối tác này giúp cho NHTM hiện đại hóa công nghệ, đặc biệt làgiúp đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng
Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài chính quốc
tế dễ dàng hơn, hiệu quả tăng lên trong huy động và sử dụng vốn Các ngân hàng trongnước sẽ phản ứng nhanh nhạy, điều chỉnh linh hoạt hơn theo tín hiệu thị trường trong nước
và quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro
Hội nhập còn tạo ra động lực thúc đẩy trong việc nâng cao tính minh bạch của hệthống ngân hàng Việt Nam
1.2.2 Thách thức:
Mở cửa thị trường tài chính làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tàichính, công nghệ và trình độ quản lý Áp lực cạnh tranh cũng tăng dần theo lộ trình nớilỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài,
Mở cửa thị trường tài chính trong nước cũng làm tăng rủi ro do những tác động từbên ngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỉ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và thịtrường quốc tế giảm dần Hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng phải đối mặt với các cơn sốckinh tế, tài chính quốc tế và nguy cơ khủng hoảng Trong trường hợp đó, thị trường vốnchưa phát triển sẽ khiến hệ thống ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do rủi rogây nên
Nguồn nhân lực vốn đã hạn hẹp của các ngân hàng Việt Nam có thể buộc phải chia xẻcho các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng- tiền tệ nước ngoài sau hội nhập, bởi họ thường cóchế độ thu hút nhân lực cao thông qua chế độ lương và các ưu đãi khác Một sự dịchchuyển nguồn nhân lực chất lượng cao có thể diễn ra theo hướng bất lợi làm suy giảm khảnăng cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam
Nguy cơ khủng hoảng tín dụng cao tập trung trong một số lĩnh vực làm gia tăng nguy
cơ của hệ thống ngân hàng, khiến rủi ro thua lỗ và giảm vốn ngân hàng trở nên khó dự báo
1.3/ Lợi thế và yếu điểm trong quá trình hội nhập:
1.3.1 Lợi thế:
Các ngân hàng Việt Nam có lợi thế về đồng cảm văn hóa kinh doanh Niềm tin vànhững đồng cảm văn hóa là sức hút chủ yếu của các ngân hàng thương mại trong nướctrong việc tiếp tục củng cố mối quan hệ truyền thống với khách hàng khi mà các đối thủcạnh tranh tỏ rõ sự hơn hẳn về nhiều phương diện
Hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã xây dựng được hệ thống phân phốirộng khắp, đặc biệt là thị trường nông thôn Hiểu biết và khả năng thâm nhập thị trườngvẫn sẽ là thế mạnh vượt trội của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nướcngoài
Trang 3 Thị phần ổn định, đối tượng khách hàng mục tiêu đã tương đối định hình cũng là mộtlợi thế lớn của ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.3.2 Yếu điểm:
Vốn điều lệ NHTM Việt Nam so với NHNNg còn khá khiêm tốn, tuy mới bổ sungthêm hai đại gia là Vietcombank và Vietinbank, dự định sắp tới là BIDV Điều này làm hạnchế khả năng kinh doanh của NHTM
Công nghệ đã được cải thiện với core-banking (phần mềm quản lý lõi) giúp giao dịchtrong nội bộ ngân hàng cực kỳ nhanh chóng, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu khách hàng,đặc biệt là đối với sản phẩm thẻ
Khả năng quản trị rủi ro còn yếu Hầu hết các NHTM, đặc biệt là ngân hàng có vốnnhỏ do áp lực doanh thu từ các nhà đầu tư nên không quan tâm nhiều đến các yếu tố rủi ro,nên khi nền kinh tế có biến động hoặc khủng hoảng, ngân hàng thường chính là nguồn khởiphát
Nguồn nhân lực ngân hàng thường đạt tỷ lệ 70-80% thuộc trình độ đại học, nhưngkhả năng ứng dụng kiến thức kinh tế được học và kỹ năng làm việc chưa chuyên nghiệp.Hầu hết đều phải được tái đào tạo lại để phù hợp với nhu cầu thực tế của đơn vị Nguồn lực
có hiểu biết và chuyên môn cao về tài chính và thị trường tài chính chưa nhiều
2/ Dịch vụ ngân hàng Việt Nam:
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp cácdịch vụ tài chính cho công chúng Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vàonăng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch
vụ đó một cách có hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh Chính vì thế, hệthống ngân hàng ở Việt Nam đang bước vào cuộc cạnh tranh mới về phát triển dịch vụ vớimục tiêu đem đến nhiều tiện ích cho khách hàng và giảm rủi ro kinh doanh
2.1/ Những thành tựu
Môi trường pháp lý cho hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng đã được hìnhthành và đang ngày càng hoàn thiện Các chiến lược và chính sách từ phía Nhà nước đã vàđang định hướng một cách hiệu quả cho hoạt động của hệ thống ngân hàng
Cùng với các TCTD là những chủ thể chính trong cung cấp dịch vụ ngân hàng, đãxuất hiện thêm nhiều trung gian tài chính của các chủ thể nước ngoài, các tổ chức kháckhông phải ngân hàng cũng tham gia cung cấp dịch vụ ngân hàng Tất cả đã tạo nên sựcạnh tranh mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên thị trường Việt Nam
Các dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam ngày càng trở nên đa dạng và phong phú Cơ cấulợi nhuận đang có những chuyển biến mới Thay vì lệ thuộc vào các hoạt động truyềnthống như tín dụng và huy động vốn, các dịch vụ mới như dịch vụ thanh toán, hối đoái, bảohiểm, tư vấn… đã được đầu tư phát triển để khai thác tiềm năng to lớn của thị trường
Đối tượng được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế được mởrộng hơn, bên cạnh các khách hàng là doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức kinh tế đã xuấthiện rất nhiều khách hàng là các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ
Sự liên minh, liên kết giữa các ngân hàng đã dần được hình thành và phát triển, tạomột hệ thống kênh phân phối đa dạng nhằm phục vụ và nâng cao chất lượng của các dịch
vụ ngân hàng Ví dụ như liên minh thẻ Smartlink của Vietcombank với 15 ngân hàng thànhviên, mạng thanh toán Paynet…
Trang 4 Sản phẩm dịch vụ ngân hàng dù đã cố gắng phát triển, nhưng còn mang tính truyềnthống, nghèo nàn về chủng loại, chưa có tính đột phá Bên cạnh đó, các ngân hàng chạy đuacạnh tranh nhau về số lượng sản phẩm nhưng chưa chuẩn bị tốt về cơ sở hạ tầng, nên chấtlượng dịch vụ cung cấp thường thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầukhách hàng.
Các dịch vụ ngân hàng chưa đáp ứng căn bản nhu cầu của các nhóm đối tượng khácnhau, trong đó phải kể tới các đối tượng là người có thu nhập thấp, người nghèo, người dân
ở vùng sâu, vùng xa rất khó tiếp cận với dịch vụ ngân hàng Đơn cử như tại các thành phốlớn như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng…thì chi nhánh ngân hàng rất nhiều, thậm chí có trênmột con đường của Hà Nội có đến 8 chi nhánh của 8 ngân hàng, trong khi tại nông thôn thìphải đi hơn hai chục cây số mới tìm ra được một điểm
Thị trường dịch vụ ngân hàng phát triển dưới mức tiềm năng Mức độ thoả mãn nhucầu xã hội nói chung và đặc biệt nhu cầu của dân cư về dịch vụ ngân hàng còn nhiều hạnchế do khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàng còn chưa vươn kịp với nhu cầu của xã hội
Kênh phân phối của các ngân hàng không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giaodịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, các hình thức giaodịch từ xa dựa trên nền tảng công nghệ thông tin chưa phổ biến Dịch vụ ngân hàng điện tửchưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít, nhiều ngân hàng mới chỉhoạt động ở mức độ thử nghiệm, chưa đảm bảo mức độ an toàn cho giao dịch nên hiện tạigiao dịch thanh toán thương mại điện tử vẫn còn hạn chế
*** Nguyên nhân chủ yếu:
Quy mô vốn của hệ thống ngân hàng nội địa còn thấp, khó tạo được năng lực cạnhtranh cho các ngân hàng
Trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp, trình độ nhận thức của số đôngdân cư về các hoạt động ngân hàng còn hạn chế
Thói quen của người dân Việt nam khi sử dụng tiền mặt trong thanh toán chưa thểthay đổi được một mặt do các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt namchưa thực sự tiện ích và chưa tiếp cận được mọi người dân (do cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưahoàn thiện)
Thị trường tài chính Việt nam chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầucủa các tổ chức tín dụng về huy động vốn và đầu tư làm hạn chế khả năng cung cấp dịch vụcủa các ngân hàng
Khuôn khổ thể chế liên quan đến phát triển dịch vụ ngân hàng còn bất cập, chưa hoànchỉnh và đồng bộ Năng lực điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất của Ngân hàng nhànước còn hạn chế Chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá còn bất cập Cơ chếquản lý, giám sát hoạt động ngân hàng chưa theo kịp tiến trình hiện đại hoá ngân hàng vàchưa phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế
Hạ tầng công nghệ nói chung,công nghệ thông tin nói riêng và viễn thông quốc giacòn nhiều bất cập, phân tán, nhỏ lẻ và thiếu đồng bộ do đó đã không thể hỗ trợ cho quátrình phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng
2.3/ Tiềm năng:
Sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong những năm qua nếu bỏ qua sự cố ảnh hưởngcủa cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ thì được đánh giá là có những kết quả vượt bậc Điềunày dẫn đến sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam cũng trở nên sôi động nhằmđáp ứng tốt và đầy đủ vốn và nhu cầu lưu thông tiền tệ của các đơn vị kinh tế
Trang 5 Dân số Việt Nam hiện nay đã hơn 85 triệu người Mức sống của người dân ngày càngnâng cao, thu nhập bình quân đầu người đã vượt con số 1.000 USD/người, sức mua (chitiêu dùng) cũng tăng lên, tạo điều kiện cho các dịch vụ ngân hàng phát triển, mở rộng nhằmđáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.
Quan điểm của người Việt Nam đối với các dịch vụ ngân hàng đã có nhiều thay đổi.Những người trẻ tuổi đã và đang tích cực tiếp cận với các tiện ích của các dịch vụ ngânhàng
Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khingân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ Tuy nhiên, áp lực cạnhtranh cũng đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ trong tương lai
II/ Sự phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng:
1/ Dịch vụ huy động vốn:
1.1/ Giới thiệu
Huy động vốn là một trong số những nghiệp vụ chính của ngân hàng TheoLuật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX, các tổ chức tín dụng được phép huy động vốndưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi: của tổ chức, cá nhân, TCTD khác với các kỳ hạn khác nhau…
- Phát hành giấy tờ có giá: như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, giấy tờ có giá khác…
- Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng: các TCTD được vay vốn của nhau
- Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước: dưới hình thức tái cấp vốn
Trong số các hình thức huy động này, hình thức huy động vốn dưới dạngtiền gửi là hình thức chiếm tỷ trọng cao nhất và đem lại nguồn cung tiền lớn trong tổngnguồn vốn huy động tại các ngân hàng
Vào những năm gần đây, dịch vụ huy động tiền gửi của các ngân hàngngày càng trở nên đa dạng và linh hoạt hơn Từ các hình thức tiền gửi truyền thống nhưtiền gửi tiết kiệm định kỳ, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, , các hình thức tiết kiệmkhác như tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút gốc và lãi linhhoạt….cũng ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và đối phó với những diễn biếncủa nền kinh tế Không những thế, nguồn vốn huy động từ dân cư đã tăng mạnh, chiếm35-40% vốn huy động, tạo tiềm lực rất lớn cho sự phát triển các dịch vụ huy động của cácngân hàng
1.2/ Thành tựu
Từ những năm 90, lượng vốn huy động được qua hệ thống ngân hàng tăngtrưởng không ngừng với tốc độ nhanh và vững chắc Trung bình mỗi năm, lượng vốn nàytăng thêm đến 25-30% Với sự ổn định của hệ thống đồng tiền Việt Nam và việc giảm mứclạm phát từ phi mã xuống còn một con số, các ngân hàng Việt Nam đã phát huy được hiệuquả trong các chiến lược huy động vốn của mình
Cho đến những năm gần đây, khi phải đối diện với xu thế hội nhập của nềnkinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng, sự nỗ lực trong việc gia tăng nguồnvốn huy động từ các nguồn khác nhau của các ngân hàng vẫn không hề tụt giảm Lượngvốn huy động vẫn không ngừng tăng thêm với tốc độ nhanh, năm 2005 là 32,08%, năm
Trang 62006 là 36,53% và năm 2007 là 47,64% Năm 2008, do suy thoái kinh tế nên tốc độ này cósụt giảm nhưng vẫn ở mức 22,87% và đến năm 2009, ước tính tốc độ tăng trưởng nhẹ trởlại lên 28,7%
Biểu đồ 1: Huy động vốn từ nền kinh tế
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn
Tổng vốn Huy động vốn bằng VNĐ Huy động vốn bằng ngoại tê
Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước
Biểu đồ 3: Tỷ trọng huy động vốn
NHTMNN và NH chính sách xã hội
Khối NH cổ phần, Phi NH và Quỹ tín dụng
Khối chi nhánh nước ngoài và liên doanh
Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước
Trang 7 Trong tổng số vốn huy động của hệ thống ngân hàng, các NHTMNN vẫnluôn dẫn đầu về tỷ trọng huy động Lượng vốn mà nhóm các ngân hàng này huy độngchiếm trên 50% tổng vốn huy động Trong khi đó, các NHTM cổ phần khác chỉ huy độngđược khoảng trên 30%, còn lại là các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh.Với tỷ trọng này, có thể thấy các ngân hàng nước ngoài vẫn còn giữ một thị phần khákhiêm tốn trong cuộc cạnh tranh về huy động vốn trên thị trường
1.3 Khó khăn và tồn tại:
Bên cạnh sự tăng trưởng của lượng tiền huy động được, hệ thống ngân hàng ViệtNam vẫn còn gặp rất nhiều hạn chế trong việc phát triển các dịch vụ huy động vốn củamình Cụ thể như:
Lãi suất huy động vốn : Việc tăng hay giảm lãi suất huy động đối với một ngân hàngkhông phải là chuyện đơn giản bởi sự ràng buộc của các mức lãi suất cho vay và lãi suấttrần do NHNN quy định (đang có kiến nghị bỏ lãi suất trần này vào năm 2010) Tuy nhiên,
để cạnh tranh, các ngân hàng Việt Nam thường không tính toán hiệu quả kinh tế khi đưa racác mức lãi suất huy động khác nhau Đặc biệt, vào các thời điểm vốn vay vượt mức vốnhuy động, các NHTM trước nhu cầu về vốn lại càng chạy đua lãi suất Trong năm 2008 và
2009 vừa qua, sự biến động một cách chóng mặt của lãi suất huy động (lên đỉnh 19%/ nămrồi giảm xuống mốc 8% năm và đến thời điểm gần cuối năm 2009 lại lên mức10,499%/năm) đã phản ánh tình trạng bất ổn của hệ thống lãi suất này Với cuộc chay đuanày, vô hình chung đã làm sụt giảm mức tỷ lệ lãi biên của các ngân hàng (năm 2009 chỉcòn 1%), đồng thời, tăng mức rủi ro cho các hoạt động huy động
Khách hàng: Trước đây, quan niệm ngân hàng là nơi giữ tiền an toàn và có lãi củakhách hàng đã giúp cho lượng vốn huy động của ngân hàng luôn ở mức cao Nhưng ngàynay, người khách hàng đã có trình độ cao hơn, nhạy cảm hơn với lãi suất và thích nhữngsản phẩm có tính thuận tiện và linh hoạt cao Chính vì thế, để giữ chân được khách hàng,các ngân hàng cần phải nắm bắt được nhu cầu và phải đảm bảo các năng lực đáp ứng nhucầu đó một cách hiệu quả
Sự phát triển của các kênh huy động khác : Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộdiện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân.Trước kia chưa có chứng khoán thì người dân sẽ gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngânhàng nhằm kiếm các khoản lợi tức Nhưng nay, chứng khoán đã làm giảm lượng huy độngvốn nhàn rỗi của các ngân hàng Những người dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào đầu
tư chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng (tuy có rủi ro caohơn)
=> Có thể thấy, hoạt động huy động vốn của ngân hàng Việt Nam vẫn tiếp tục gặt háinhững thành công Với lợi thế về hệ thống chi nhánh rộng khắp và những hỗ trợ từ phíaNhà nước, các NHTM Việt Nam thời gian vừa qua đã nắm giữ miếng bánh lớn của thịtrường này Tuy nhiên, kênh huy động vốn ngày càng đa dạng và tâm lý thích giữ tài sảncủa khách hàng đang là những rào cản lớn cho thị trường dịch vụ này
2/ Dịch vụ tín dụng
2.1 Giới thiệu:
Theo khoản 8 và khoản 10, điều 20, Luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tíndụng được định nghĩa là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huyđộng để thoả thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng cácnghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ
Trang 8khác Như vậy, có thể thấy tín dụng là hoạt động quan trọng và tạo nguồn thu lớn cho cácngân hàng.
Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay còn quá non trẻ Khôngnhững thế, các ngân hàng Việt Nam lại trải qua một thời gian dài “độc canh” trong lĩnh vựctín dụng với nội dung chính là huy động vốn, cho vay, chưa chú trọng đến lĩnh vực cungcấp các dịch vụ khác Chính vì thế, sản phẩm và loại hình dịch vụ còn tẻ nhạt chưa có sứchấp dẫn khách hàng Cho đến thời gian gần đây, khi cạnh tranh gia tăng theo xu thế hộinhập, các ngân hàng mới bắt đầu quan tâm đến chất lượng tín dụng Hoạt động tín dụngcủa các NHTM đã được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, dưới các hình thức chovay ngày một đa dạng: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, tín dụng thuê mua, Đặc biệt, việc chuyển hướng mở rộng cho vay tiêu dùng thực sự là một hướng kích cầu cóhiệu quả
2.2/ Thành tựu
Cùng với sự gia tăng của hoạt động huy động vốn, các hoạt động tín dụng củacác ngân hàng cũng gặt hái nhiều thành thành quả từ khi hệ thống ngân hàng tiến hành đổimới Và sau khi gia nhập WTO, hệ thống ngân hàng vẫn đang vững bước trên con đườngphát triển của mình Năm 2007, dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng tăng 53,89% so vớinăm 2006, cao hơn nhiều so với mức tăng 25,44% của năm 2006 Năm 2008, tăng trưởngtín dụng có phần giảm sút nhưng vẫn đạt mức 25,43% Đến đầu năm 2009, tăng trưởng tíndụng tiếp tục giảm khiến Chính phủ phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ dưới30% xuống mức 25-27%, song mục tiêu này nhanh chóng bị phá vỡ chỉ Những tín hiệu lạcquan cuối năm đã kéo mức tăng trưởng tín dụng của năm này lên vượt mức mong đợi, ướctính là 37,73% Với sự phục hồi này, Nhà nước cũng đã đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụngcủa năm 2010 là 25%
Biểu đồ 4: Tín dụng đối với nền kinh tế
Trang 9Biểu đồ 5: Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước
Tăng trưởng tín dụng cao nhất năm 2008 tập trung ở khối NHNNg và liêndoanh, khối TCTD khác với mức tăng 46,55% và 46,27% Trong khi đó, NHTMNN chỉtăng có 19,25% và NHTM cổ phần là 22,49% Tuy nhiên, về tỷ trọng cho vay, khốiNHTMNN vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, trên 50%, các NHTMCP chiếm khoảng 33% vàkhối ngân hàng nước ngoài xấp xỉ 9%
Biểu đồ 6: Tỷ trọng cho vay
NHTMNN và NH chính sách xã hội
Khối NH cổ phần, Phi NH và Quỹ tín dụng
Khối chi nhánh nước ngoài và liên doanh
Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước
Về cơ cấu tín dụng, tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông thôn (gồmngành nông – lâm – thuỷ sản) chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu cho vay theo ngành của
hệ thống ngân hàng, khoảng 28,84% Tỷ trọng cho vay ngành thương nghiệp chiếm18,67%; tỷ trọng cho vay các ngành công nghiệp, xây dựng, vận tải, kho bãi năm 2008được duy trì ổn định, chiếm 25,81%, 13,76%, 5,29% tổng dư nợ cho vay toàn ngành.Những lĩnh vực thu hút khối lượng lớn vốn tín dụng ngân hàng trong năm 2007 đó là đầu
tư các dự án xây dựng nhà máy điện, dự án đóng tàu, cảng biển, hàng không, dự án đầu tư
cơ sở hạ tầng, đầu tư bất động sản mà đặc biệt là các dự án khu nhà ở mới và khu đô thị mới, đầu tư vốn trong lĩnh vực xuất khẩu và dịch vụ, nuôi trồng và chế biến thuỷ hải sản,
Trang 10sản xuất và chế biến một số loại nông sản chủ lực khác, dịch vụ du lịch, Bên cạnh đó đốitượng đầu tư chứng khoán, vàng, tiêu dùng, cũng thu hút một khối lượng rất lớn vốn tíndụng ngân hàng.
2.3/ Khó khăn và tồn tại:
Tương tự như hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng tuy là hoạt độngtruyền thống của các ngân hàng nhưng vẫn còn bộc lộ rất nhiều yếu điểm và ẩn chứa cácrủi ro trong đó:
Rủi ro tín dụng: Tuy trong những năm gần đây, các ngân hàng đã tích cực hơn trongviệc kiểm soát rủi ro tín dụng, nhưng vẫn có một số tổ chức tín dụng vẫn chưa tuân thủ cácđiều kiện quy định về các biện pháp đảm bảo tiền vay Điều này làm phát sinh nhữngkhoản nợ xấu và những khoản nợ không còn khả năng thu hồi Từ năm 2004 đến 2007, tỷ
lệ nợ xấu có phần nào giảm sút nhưng trong năm 2008, 2009, tỷ lệ này đang có chiềuhướng tăng trở lại
Biểu đồ 7: Tỷ lệ nợ xấu trong tổng tín dụng ngân hàng
Lãi suất: Lãi suất đã được ổn định dần trong thời kỳ kinh tế Việt Nam phát triển.Nhưng đến năm 2008, biến động của nền kinh tế thế giới đã buộc nhà nước ta phải tiếnhành điều chỉnh lãi suất cơ bản với 3 lần lên và 5 lần xuống Khái niệm “lãi suất cho vaytối đa” cũng xuất hiện trên thị trường Các lãi suất khác như lãi suất tái cấp vốn, lãi suấtchiết khấu cũng có tần suất tương ứng Đến năm 2009, lãi suất đã có phần ổn định với mộtlần điều chỉnh nhưng vẫn còn ẩn chứa rất nhiều rủi ro Vậy việc điều chỉnh mức lãi suất vớitần suất lớn như vậy liệu có phát huy vai trò của công cụ chính sách tiền tệ hay không? Cácquy định lãi suất cơ bản đến nay vẩn chưa được hoàn thiện, vẫn còn những ý kiến khácnhau, tuy nhiên, để nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập thì việc quản lý có hiệu quảcông cụ này cần phải có sự quan tâm hợp lý và đúng mức
Lạm phát: Lãi suất cơ bản của hoạt động tín dụng có mối quan hệ mật thiết với chỉ
số lạm phát của một quốc gia Mâu thuẫn giữa việc gia tăng lãi suất với việc kiềm chế lạmphát luôn là một vấn đề lớn đối với chính sách tiền tệ của hệ thống ngân hàng Hiện nay,Việt Nam vẫn đang cố gắng điều hòa mối quan hệ này, tuy nhiên, xu thế hội nhập sẽ buộccác chính sách Việt Nam sẽ phải nới lỏng hơn, và khả năng kiềm chế lạm phát từ công cụnày có thể sẽ giảm trong tương lai
Cạnh tranh của các NHNNg: Đến cuối tháng 10/2009, hầu hết các TCTD nước ngoàiđều hoạt động có lãi (chênh lệch thu chi lũy kế của các ngân hàng nước ngoài đạt 2.947,5
tỷ đồng) Nguồn vốn huy động của các TCTD này tại Việt Nam tăng đến 17,8%, tổng dư
nợ tín dụng tăng 14%, tổng tài sản có tăng 14,9% so với cuối năm 2008; trong đó, tỷ lệ nợxấu chiếm dưới 1% trong tổng dư nợ Có thể thấy, bên cạnh việc hoạt động hiệu quả, các
Trang 11TCTD nước ngoài luôn đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và trích lập dự phòng rủi rođúng quy định, nên nợ quá hạn rất thấp, dư nợ tăng trưởng lành mạnh Với thế mạnh này,tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong tương lai có thể là rất lớn.
=> Hoạt động tín dụng của các ngân hàng trong thời gian vừa qua luôn đạt mức tăngtrưởng tốt Tuy nhiên, chất lượng tín dụng luôn là vấn đề hàng đầu đối với của các ngânhàng nội địa Các NHNNg với tiềm lực về vốn mạnh, kinh nghiệm và thương hiệu, sẽ làmối đe dọa rất lớn trên thị trường dịch vụ này trong quá trình mở cửa hội nhập
3/ Dịch vụ thanh toán
3.1/Giới thiệu:
Với yêu cầu chủ động hội nhập với khu vực và thế giới, các ngân hàng đã bắtđầu đổi mới hạ tầng công nghệ thông tin từ năm 1986 Giai đoạn 1990- 1998, được xem làgiai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới ngành ngân hàng và các dịch vụ thanh toán như: mở tàikhoản và thanh toán qua ngân hàng, lắp đặt máy ATM, tham gia hệ thống chuyển tiền quốc
tế SWIFT, thanh toán bù trừ điện tử, chuyển tiền điện tử… Tuy nhiên, sự đón nhận củakhách hàng đối với những sản phẩm mới này còn rất hạn chế
Ngày 29/12/2006 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 291/2006/QĐ-TTg quy định về hạn mức thanh toán bằng tiền mặt, phí giao dịch tiền mặt và việc rúttiền mặt với số lượng lớn bằng Đồng Việt Nam trong giao dịch, thanh toán tại Việt Namgiai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020 Việc ban hành Quyết định này cùng với
sự đầu tư mạnh cho quá trình hiện đại hóa ngân hàng đã hỗ trợ rất lớn cho việc thúc đẩyhoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, giúp cho các dịch vụ thanh toán ngày càng trởnên đa dạng hơn đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khác nhau Cụ thể như, Ngân hàngĐông Á đã tung ra thị trường nhiều loại thẻ với nhiều tiện ích giành cho các chủ thể thamgia: thẻ Shopping card, thẻ đa năng bác sỹ, thẻ tín dụng DongA Bank, thẻ đa năng CKCard, thẻ đa năng Richard Hill, thẻ liên kết sinh viên; Ngân hàng Á Châu với thẻ ghi nợquốc tế Visa Debit, thẻ ghi nợ nội địa 365 styles, thẻ ACB Card, thẻ tín dụng nội địa ACB,thẻ tín dụng quốc tế ACB Visa/Master Card, thẻ ACB Visa Electron/MasterCardElectronic, thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Prepaid/MasterCard Dynamic
Các phương tiện thanh toán và dịch vụ thanh toán dựa trên nền tảng côngnghệ hiện đại đã và đang tạo ra một diện mạo mới cho dịch vụ thanh toán của ngân hàngViệt Nam
3.2/ Thành tựu:
Tổng phương tiện thanh toán của nước ta trong những năm gần đây vẫn tiếptục tăng trưởng và phát triển không ngừng Tuy nhiên, tốc độ tăng này có phần chậm lại.Năm 2007, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán đạt 46,12% nhưng đến năm 2008 chỉcòn 20,31% Trong đó, tài sản nước ngoài ròng chỉ tăng rất nhẹ, chủ yếu là tài sản có trongnước ròng
Biểu đồ 8: Tổng phương tiện thanh toán
Trang 12Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước
Mặc dù, tốc độ tăng trưởng có giảm sút, tổng phương tiện thanh toán vẫn tiếptục ghi nhận sự thay đổi tích cực của tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán Năm
2001, tỷ trọng này là 23,7%, năm 2002 là 22,56%, năm 2003 là 22,03%, năm 2004 là20,35%, năm 2005 là 19,01%, năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36% và năm 2008giảm xuống còn 14,6%
Biểu đồ 9: Tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán từ 2001-2008
Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước
Bằng việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp, các ngânhàng đã thu hút khá lớn lượng tiền mặt dưới dạng tiền gửi thanh toán và đáp ứng lại cho thịtrường nhiều loại thẻ thanh toán tiện ích Hệ thống máy QTM và số diểm ch6a1p nhận thẻcũng tăng nhanh chóng Đến năm 2009, ngành ngân hàng đã đạt tỷ lệ thanh toán khôngdùng tiền mặt là 86%, tốc độ quay vòng đồng vốn của NHTM giảm từ 3-5 ngày trong năm
2001 xuống chỉ 20 phút năm 2009 mà thôi
Bảng 1: Hệ thống thanh toán các ngân hàng