Khái niệm thuế xuất nhập khẩu Thuế xuất, nhập khẩu chủ yếu là một loại thuế gián thu, thuế xuất nhập khẩu đánh vào đối tượng là các hàng hóa được phép xuất nhập khẩu của một quốc gia..
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
TẠI VIỆT NAM
Trang 2Nhóm Phân tích chính sách thuế: Nhóm 3 TCDN đêm 2
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1: Những vấn đề cơ bản của thuế xuất nhập khẩu
I Những vấn đề cơ bản của thuế xuất nhập khẩu………1
1 Khái niệm xuất nhập khẩu ……….1
2 Phân loại thuế xuất nhập khẩu ……….1
3 Mục đích của thuế xuất nhập khẩu………6
4 Đối tượng chịu thuế ………6
5 Đối tượng ko thuộc diện chịu thuế ……… 7
6 Đối tượng nộp thuế ………7
7 Căn cứ tính thuế ………8
II Tác động của việc đánh thuế xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế ……… 8
DANH SÁCH NHÓM 3
2 Nguyễn Thị Ngọc Bích
4 Nguyễn Thị Ngọc Anh
Trang 4Chương 2: Thực trạng thuế ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt
Nam 11
I Chính sách thuế xuất nhập khẩu áp dụng tại Việt Nam 11
II Tác động của thuế ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam 1 Phân tích ảnh hưởng của thuế đến hoạt động xuất nhập khẩu qua các năm ……… 13
2 Ví dụ cụ thể về một mặt hàng chịu tác động của thuế xuất nhập khẩu …….16
Chương 3: Mục tiêu, chiến lược xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm tới Giải pháp hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu .21
I Mục tiêu, chiến lược xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2011-2020, định hướng năm 2030 ………21
1 Mục tiêu ……….21
2 Định hướng ………21
II Giải pháp hoàn thiện thuế xuất nhập khẩu ……… 22
1 Về nội dung: Hoàn thiện các quy định pháp luật về thuế xuất nhập khẩu ………22
2 Về công tác tổ chức thực hiện………25
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA THUẾ XUẤT NHẬP KHÂU
I Những vấn đề cơ bản của thuế xuất nhập khẩu
1 Khái niệm thuế xuất nhập khẩu
Thuế xuất, nhập khẩu chủ yếu là một loại thuế gián thu, thuế xuất nhập khẩu đánh vào đối tượng là các hàng hóa được phép xuất nhập khẩu của một quốc gia Đây là loại thuế có mối liên hệ trực tiếp đến hoạt động thương mại quốc tế
Trang 52 Phân loại thuế xuất nhập khẩu
a. Theo phương thức tính thuế, có các kiểu thuế quan như sau:
Thuế quan theo đơn giá hàng (ad valorem tariff): Là một tỷ lệ phần trăm nào đó củamặt hàng, chẳng hạn 10% trên giá CIF của hàng nhập khẩu, được gọi là thuế suất thuếnhập khẩu Đôi khi ở đây cũng có vấn đề do giá cả trên thị trường quốc tế của hàng hóagiảm xuống thì thuế nhập khẩu cũng giảm theo và các ngành sản xuất trong nước trởthành dễ bị thương tổn hơn trong cạnh tranh Ngược lại, khi giá hàng hóa tăng lên trên thịtrường quốc tế thì thuế nhập khẩu cũng tăng lên, nhưng khi đó thì sản xuất nội địa củamặt hàng đó thông thường cũng ít quan tâm đến việc bảo hộ khi giá cả là cao hơn Bêncạnh đó, ở đây còn có vấn đề chuyển dịch giá khi mà các tổ chức nhập khẩu khai báo giá/giá trị của mặt hàng mà họ đang kinh doanh thấp hơn nhiều so với giá thị trường, nhằmmục đích giảm nghĩa vụ thuế tổng thể
Thuế quan theo trọng lượng (specific tariff): Được tính theo trọng lượng của mặthàng, chẳng hạn $5 trên 1 tấn Kiểu tính thuế nhập khẩu này có thể là khó khăn hơn trongviệc quyết định số lượng tiền thuế phải nộp, do nó cần sự cập nhật thường xuyên vì cácthay đổi trên thị trường hay vì lạm phát
Hiện nay, nói chung hải quan thực hiện tính thuế nhập khẩu theo kiểu thuế theođơn giá hàng là chủ yếu
b. Theo mục đích đánh thuế, có các kiểu thuế quan sau:
Trang 6Thuế quan tăng thu ngân sách: Là một tập hợp các mức thuế suất được đưa ra màmục đích chính là làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, còn mục đích bảo hộ chosản xuất trong nước chỉ là thứ yếu Chẳng hạn thuế quan mà một quốc gia không trồngcũng như không chế biến cà phê đánh vào cà phê nhập khẩu có mục đích chủ yếu là tăngthu cho ngân sách
Thuế quan bảo hộ: Được đưa ra với mục đích làm tăng giá một cách nhân tạo đốivới hàng hóa nhập khẩu nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh từnước ngoài (Xem, thêm các bài Suất hiệu quả của bảo hộ và Thuế chống phá giá) Chẳnghạn, một thuế suất 20% trên giá trị máy móc nhập khẩu với giá nhập khẩu của chiếc máy
là 2.000.000 VNĐ sẽ cho giá trị của nó sau thuế là 2.400.000 VNĐ Giả sử không cókhoản thuế nào khác nữa thì các nhà nhập khẩu phải bán chiếc máy này ít nhất phải ởmức giá trên 2.400.000 VNĐ để đảm bảo có lãi Khi không có thuế nhập khẩu thì các nhàsản xuất trong nước nếu muốn bán được mặt hàng tương tự chỉ có thể tính giá ở mứckhoảng 2.000.000 VNĐ cộng với một lợi nhuận hợp lý; nhưng do nhà nước đã áp thuếnhập khẩu đối với máy móc nhập khẩu nên họ hiện nay có thể tính giá ở mức cao hơn, cóthể ở ngưỡng như giá bán ra của hàng nhập khẩu (sau khi chịu thuế) và như vậy họ sẽ cókhả năng thu được nhiều lợi nhuận hơn cũng như ổn định hơn về mặt tài chính Nói chungthuế quan bảo hộ được tính toán và đưa ra khi người ta cho rằng ở mức thuế suất thấp hơnthì sản xuất trong nước sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt từ hàng nhập khẩu và thịphần về cơ bản sẽ nằm trong tay các nhà nhập khẩu
Trang 7Thuế quan cấm đoán: Là thuế quan đưa ra với thuế suất rất cao, gần như không cònnhà nhập khẩu nào dám nhập mặt hàng đó nữa
Ranh giới giữa thuế quan tăng thu ngân sách và thuế quan bảo hộ là khá mỏng manh
và nhiều khi không thể phân biệt được Thuế quan tăng thu ngân sách thuần túy chỉ có thể
có khi quốc gia đó không có bất kỳ cơ sở sản xuất, gia công, chế biến nào có liên quanđến mặt hàng nhập khẩu đó Ngoài trường hợp này ra thì các loại thuế quan tăng thu ngânsách không nhiều thì ít đều có tính chất bảo hộ cho sản xuất trong nước, ngoài chức năngtăng thu cho ngân sách, nhưng tính chất bảo hộ không rõ nét như ở thuế quan bảo hộ
3 Mục đích của thuế xuất nhập khẩu
Thuế nhập khẩu có thể được dùng như công cụ bảo hộ mậu dịch:
Giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thaythế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại
Chống lại các hành vi phá giá bằng cách tăng giá hàng nhập khẩu của mặt hàng phágiá lên tới mức giá chung của thị trường
Trả đũa trước các hành vi dựng hàng rào thuế quan do quốc gia khác đánh thuế đốivới hàng hóa xuất khẩu của mình, nhất là trong các cuộc chiến tranh thương mại
Bảo hộ cho các lĩnh vực sản xuất then chốt, chẳng hạn nông nghiệp giống như cácchính sách về thuế quan của Liên minh châu Âu đã thực hiện trong Chính sách nôngnghiệp chung của họ
Trang 8Bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ cho đến khi chúng đủ vững mạnh để có thểcạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế
Thuế xuất khẩu có thể được dùng để:
Giảm xuất khẩu do nhà nước không khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng sử dụngcác nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị cạn kiệt hay các mặt hàng mà tính chất quantrọng của nó đối với sự an toàn lương thực hay an ninh quốc gia được đặt lên trên hết
Thuế xuất nhập khẩu có thể được dùng để tăng thu ngân sách cho nhà nước
Tùy từng nhu cầu mà một hay vài mục đích nói trên được đề cao Khi bị xác định
là có mục đích bảo hộ mậu dịch, thuế nhập khẩu có thể trở thành đối tượng bị nước ngoàiđòi cắt giảm
4 Đối tượng chịu thuế
Tất cả hàng hóa xuất, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam và hàng hóađưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan vào thịtrường trong nước đều thuộc diện chịu thuế xuất, nhập khẩu(trừ một số trường hợp đặcbiệt không thuộc diện chịu thuế xuất, nhập khẩu)
5 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế
Hàng vận chuyển quá cảnh, chuyển khẩu qua cửa khẩu, biên giới.
Trang 9Hàng hóa từ khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quanxuất khẩu ra nước ngoài.
Hàng hóa đưa từ khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quannày sang khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan khác tronglãnh thổ Việt Nam
Hàng từ nước ngoài nhập vào khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế,kho ngoại quan
Hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại
Hàng hóa là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi xuất khẩu
6 Đối tượng nộp thuế
Tất cả tổ chức, cá nhân có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuếđều là đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu
Trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu ủy thác thì tổ chức nhận ủy thác chịu trách
nhiệm nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hộ cho tổ chức ủy thác xuất, nhập khẩu.
Các đại lý làm thủ tục hải quan được đối tượng nộp thuế ủy quyền nộp thuế
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trongtrường hợp nộp thay thế cho đối tượng nộp thuế
Trang 10Trường hợp các tổ chức bảo lãnh thuế xuất nhập khẩu cho các đối tượng phải nộpthuế Nếu các đối tượng được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thì các tổ chứcbảo lãnh phải nộp thuế cho Nhà nước.
7 Căn cứ tính thuế
a Tổng số đơn vị hàng hóa thực tế xuất, nhập khẩu:
Đây là căn cứ lượng hóa quan trọng đầu tiên trong qui trình tính thuế Tổng số đơn
vị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu làm căn cứ tính thuế là tổng đơn vị từng mặt hàng thực
tế xuất khẩu, nhập khẩu
b Giá tính thuế:
Giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu: Là giá bán cho khách hàng tại cửa khẩu
xuất (giá FOB, giá DAF), không bao gồm chi phí vận tải (F) và phí bảo hiểm (I)
Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu: Là giá mua thực tế phải trả hoặc đã trả
tính đến cửa khẩu nhập khẩu đầu tiên(là cảng đích ghi trên vận tải đơn hoặc ghi trên hợpđồng)
Giá tính thuế phải qui đổi ra đồng Việt Nam Tỷ giá xác định căn cứ theo tỷ giá giaodịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Namcông bố được đăng trên Báo Nhân dân hàng ngày hoặc đưa tin trên trang điện tử hàng
Trang 11ngày của Ngân hàng Nhà nuớc Việt nam Trường hợp đối tượng nộp thuế muốn nộp thuếbằng ngoại tệ thì phải nộp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi do Ngân hàng Nhà nước ViệtNam công bố.
II Tác động của việc đánh thuế xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế
1 Khi đánh thuế nhập khẩu, người sản xuất hàng trong nước được lợi nhưng ngườitiêu dùng bị thiệt hại vì nó làm tăng giá của hàng nhập khẩu từ mức giá thế giới lên bằngvới giá thế giới cộng với thuế nhập khẩu Đồ thị này chỉ ra tác động của thuế nhập khẩu:
2 Khi thực hiện thương mại tự do cân bằng thị trường như sau: người tiêu dùng muốnmua một số lượng Qd hàng hoá ở mức giá thế giới trong khi những nhà sản xuất trongnước chỉ sản xuất một số lượng Qs ở mức giá thế giới Bằng cách nhập khẩu phần thiếuhụt (chênh lệch giữa Qd và Qs) ở mức giá thế giới, người tiêu dùng có thể thoả mãn toàn
bộ nhu cầu ở mức giá này
Trang 123 Khi có thuế nhập khẩu cân bằng thị trường như sau: giá hàng hoá trong nước bị tănglên đến mức bằng giá thế giới công với thuế nhập khẩu kích thích những nhà sản xuấttrong nước sản suất thêm, đẩy sản lượng sản xuất trong nước từ Qs lên Qs' Tuy nhiên dogiá tăng nên cầu của người tiêu dùng bị kéo từ Qd xuống Qd' Rõ ràng việc giá bị đẩy lêncao đã làm cho người tiêu dùng phải trả thêm một khoản tiền bằng diện tích của hình chữnhật CEGH để mua số lượng hàng Qd' Khoản trả thêm này một phần (bằng diện tích hìnhBCEF) được chuyển cho chính phủ dưới dạng thuế nhập khẩu thu được, một phần (bằngdiện tích hình AFGH) được chuyển thành lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước do vậyhai phần này không làm thiệt hại lợi ích tổng thể của quốc gia Tuy nhiên phần diện tíchhình ABF đã bị mất trắng, đây chính là tổn thất của xã hội để chi phí cho sự yếu kém củanhững nhà sản xuất trong nước Diện tích hình ECD lại là một tổn thất nữa khi độ thoảdụng của người tiêu dùng bị giảm sút: thay vì có thể tiêu thụ Qd hàng hoá, do có thuếnhập khẩu họ chỉ có thể tiêu dùng Qd' mà thôi
4. Tóm lại, thuế nhập khẩu dẫn đến cả thu nhập chuyển giao từ người tiêu dùng sangchính phủ và nhà sản xuất trong nước đồng thời gây tổn thất lợi ích ròng của toàn xã hội
Do những tác động ấy, nó khuyến khích sản xuất phi hiệu quả trong nước, làm cho ngườitiêu dùng giảm sút độ thoả dụng do phải tiêu dùng ít đi nhưng nó tạo ra nguồn thu chochính phủ
Trang 13CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THUẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI VIỆT NAM
I Chính sách thuế xuất nhập khẩu áp dụng tại Việt Nam:
Nền kinh tế còn tồn tại nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết Một trong những vấn
đề đó là những tồn tại trong chính sách thuế xuất nhập khẩu Trong thời kỳ sau khi xoá bỏ
cơ chế bao cấp, Chính sách thuế xuất nhập khẩu mang nặng tính bảo hộ hàng hoá trongnước, điều này là dễ hiểu vì nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ còn nhỏ yếu, lạc hậu, thiếusức cạnh tranh Việc đưa ra các chính sách thiên về bảo hộ hàng hoá trong nước vào giaiđoạn đó là tất yếu
Trong những năm sau đó, chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam đã từngbước được đổi mới để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội và chủ trương mởrộng quan hệ kinh tế đối ngoại của nhà nước ta
Nhờ đó, chính sách thuế xuất nhập khẩu đã góp phần thúc đẩy hoạt động xuất nhậpkhẩu, thực hiện chủ trương tăng nguồn thu cho ngân sách, dần trở thành công cụ quản lý
vĩ mô, khuyến khích đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu phù hợp với chính sách mở cửa,chính sách phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta trong tình hình mới
Trang 14Sau khi gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và chuẩn bị để gia nhậpWTO, việc cơ cấu lại một cách căn bản hệ thống thuế quan đã được tiến hành từ đầu năm
1999 (theo Quyết định 1983 của Bộ Tài chính, ban hành ngày 11-12-1998)
Theo cơ cấu thuế quan mới thì biểu thuế xuất nhập khẩu nước ta bao gồm hai loạithuế xuất là thuế xuất ưu đãi và thuế xuất phổ thông, được chia thành ba loại thuế suất (bathuế suất khác nhau cho cùng một hạng mục thuế):
Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng nhập khẩu từ các nước thành viên Hiệp
hội Thương mại tự do ASEAN (thuế suất ưu đãi có hiệu lực chung, CEPT)
Thuế suất ưu đãi áp dụng cho những nước mà Việt Nam được hưởng quy chế tối
huệ quốc (Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, hầu hết các nước Châu Á ngoài ASEAN, NewZealand, Australia và Mỹ)
Với điều kiện phải ghi rõ ràng từng mặt hàng, số lượng, mức thuế suất ưu đãi cụ thể
Thuế suất thông thường được áp dụng cho các loại hàng hoá nói chung không phụ
thuộc vào xuất xứ của hàng hoá từ nước nào, hàng hoá từ mọi nước dùng chung một mứcthuế.(Thuế suất danh nghĩa cao hơn cao hơn so với thuế suất ưu đãi loại hai 50% )
Năm 2007, Việt Nam đã cắt giảm thuế đối với trên 1.800 dòng thuế với mức cắtgiảm từ 1% đến 30% tùy từng loại hàng Trong đó, mặt hàng dệt may là có mức cắt giảmlớn nhất
Trang 15Từ năm 2008, Việt Nam phải thực hiện danh mục biểu thuế chung ASEAN mới(AHTN) đã được các nước xây dựng trên hệ thống mô tả và mã hóa hàng hóa HS2007 của
tổ chức Hải quan thế giới
Trong năm 2008, biểu thuế xuất nhập khẩu có nhiều thay đổi, một số mặt hàng tăngthuế nhưng một số mặt hàng thì giảm thuế ví dụ như mặt hàng xăng dầu thuế nhập khẩu
từ 15% xuống 5 hoặc 0%; tăng thuế nhập khẩu đối với xe máy phân khối lớn, điện thoại
di động và rượu Riêng mặt hàng ô tô con được đề nghị nâng thuế tiêu thụ đặc biệt từ 50lên 60-70% Tháng 10/2008, Bộ tài chính quyết định giảm thuế xuất khẩu thép xuống5%, áp dụng cho các tờ khai hải quan kể từ ngày 7/10/2008 Có thể thấy trong năm này,việc cắt giảm thuế theo lộ trình chứ không giảm đột biến như năm 2007
Năm 2009, chính phủ tiếp tục cắt giảm một số dòng thuế nhưng việc cắt giảm khôngnhiều, với mức dao động khoảng từ 1-10%
Năm 2010, số dòng thuế được giảm ít hơn và với mức giảm thêm từ 1-6%
Năm 2011 đã cắt giảm 924 dòng thuế, mức cắt giảm cao nhất là 10% Đặc biệt, thựchiện kiên định mục tiêu đã đề ra, năm 2011, Việt Nam tiếp tục giữ các mức thuế suất trầntheo cam kết WTO đối với một số nhóm hàng có mức thuế cao và mang tính chất nhạycảm như thuế thuốc lá 135%, xì gà 110%, ô tô nguyên chiếc 82% và 77% với rượu, bia.Đặc biệt, năm 2012 là năm có sự thay đổi lớn, biểu thế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưuđãi 2012 có nhiều điểm thay đổi do thực hiện theo danh mục hài hòa và mô tả mã hàng