Tính cấp thiết của đề tài Xã hội là sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đến cao của các phương thức sản xuất do sự tác động của nhiều quy luật, trong đó có quy luật quan hệ sản xuất phù
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu 7
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 8
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu 9
5 Những đóng góp mới về khoa học của đề tài 9
6 Kết cấu của đề tài 9
CHƯƠNG 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT10 1.1 Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất 10
1.1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất 10
1.1.2 Kết cấu của lực lượng sản xuất 14
1.1.2.1 Người lao động 14
1.1.2.2 Tư liệu sản xuất 17
1.1.2.3 Khoa học công nghệ 20
1.2 Các yếu tố tác động tới sự biến đổi của lực lượng sản xuất 24
1.2.1 Tác động của các nhân tố cấu thành lực lượng sản xuất 24
1.2 2.Tác động của các nhân tố bên ngoài lực lượng sản xuất 25
1.2.2.1 Quan hệ sản xuất 25
1.2.2.2 Dân số 27
1.3 Vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển xã hội 28
1.3.1 Lực lượng sản xuất là phương tiện để tiến hành sản xuất vật chất cho xã hội 28
1.3.1.1 Vai trò của nhân tố con người đối với sự phát triển xã hội 28
1.3.1.2 Vai trò nền kinh tế tri thức - khoa học công nghệ đối với xã hội 29
1.3.2 Vai trò quyết định của lực lựợng sản xuất đối với quan hệ sản xuất làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn 31
1.3.3 Thúc đẩy khoa học phát triển 33
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH NGHỆ AN 35
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ở Nghệ An 35
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
Trang 42.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
2.2 Thực trạng phát triển lực lượng sản xuất trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An hiện nay 39
2.2.1 Thực trạng nguồn lao động ở Nghệ An hiện nay 39
2.2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng dân số ở Nghệ An 39
2.2.1.2 Thực trạng nguồn lao động ở Nghệ An 40
2.2.2 Thực trạng tư liệu sản xuất ở Nghệ An hiện nay 43
2.2.2.1 Thực trạng tư liệu lao động ở Nghệ An 43
2.2.2.2 Thực trạng đối tượng lao động 46
2.2.3 Thực trạng khoa học công nghệ phục vụ cho việc phát triển ở Nghệ An 51
2.3 Khuynh hướng biến đổi của lực lượng sản xuất trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay 55
2.4 Một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay 60
2.4.1 Một số giải pháp nhằm phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An 60
2.4.2 Một số kiến nghị nhằm phát triển lực lượng sản xuất trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội là sự phát triển kế tiếp nhau từ thấp đến cao của các phương thức sản xuất do sự tác động của nhiều quy luật, trong đó có quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, khi lực lượng sản xuất thay đổi sẽ khiến cho quan hệ sản xuất thay đổi theo Vì vậy lực lượng sản xuất có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người Xã hội loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất cơ bản tương ứng với năm hình thái kinh tế - xã hội nhất định Khi hình thái kinh tế
- xã hội mới xuất hiện thay thế cho hình thái kinh tế - xã hội cũ thì cũng chính là lúc lực lượng sản xuất được cải tiến sang một bước mới
Cuộc cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại đã có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất và mở đầu một thời đại mới của xã hội loài người Từ một nước Nga lạc hậu, xuất hiện một Liên Xô siêu cường mà thành tựu của nó còn có ý nghĩa và vai trò to lớn Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và một số nước Đông Âu là các phát minh, các sáng chế cải tiến, đổi mới công nghệ của các nhà khoa học, các nhà kinh tế không được xem xét và áp dụng, dẫn đến lạc hậu về kinh tế Nghĩa là họ đã sai lầm trong việc phát triển lực lượng sản xuất, gây tổn hại cho nền kinh tế Đặc biệt, trong thời đại của sự bùng nổ khoa học và kĩ thuật như hiện nay chúng ta phải có nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn lí luận về lực lượng sản xuất đối với đời sống xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử quan niệm rằng, sự vận động và phát triển của xã hội loài người, xét đến cùng, do lực lượng sản xuất xã hội quyết định, trong đó lực lượng sản xuất là yếu tố giữ vai trò tiên quyết Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, mọi con đường, mọi biện pháp đều phải dẫn đến thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất
Ở Việt Nam trước đổi mới chúng ta đã sai lầm khi phát triển lực lượng sản xuất trên cơ sở quan hệ sản xuất vượt quá xa Điều đó không những không thúc đẩy mà còn kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất khiến nền kinh tế bị trì trệ trong một thời gian dài Điều đó đòi hỏi chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, xác định rõ nguyên nhân, xem xét lại cả về nhận thức, phương pháp tiến hành xây dựng phát triển lực lượng sản xuất và
Trang 6từ đó đề ra được đường lối đúng đắn cho công cuộc phát triển lực lượng sản xuất trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta
Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đã đạt được những thành tựu rất to lớn và quan trọng, thế và lực của đất nước đã đủ vững mạnh để chuyển sang một giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu đến năm 2020 đưa đất nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp, từng bước hiện thực hóa lí tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh như tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đề ra
Văn kiện Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định một trong những nhiệm vụ hàng đầu ở nước ta là “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [8.29] Để thực hiện nhiệm
vụ trên, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định phát triển lực lượng sản xuất
là vấn đề quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo tiềm lực kinh tế đủ mạnh từng bước hội nhập kinh tế quốc tế để từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội - con đường mà chúng ta đã lựa chọn Trên cơ sở đó từng bước xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất ở mỗi giai đoạn cụ thể
Vào giai đoạn mới, trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất cần phải phát triển nhanh hơn so với trước đây Việc phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đồng thời từng bước cải tạo quan hệ sản xuất sao cho phù hợp trình độ phát triển mới của nó là một yêu cầu tất yếu khách quan với những khó khăn và thách thức rất lớn
Cùng với cả nước, tỉnh Nghệ An đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa với những đặc điểm riêng của mình Là một tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nghệ An có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí quan trọng về chính trị, quốc phòng và an ninh Do vậy việc tổng kết thực tiễn, vận dụng lí luận vào cuộc sống rút ra những bài học kinh nghiệm để phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề có ý nghĩa quan trọng
và cấp thiết đối với cả lí luận và thực tiễn
Với ý nghĩa trên, Tôi chọn vấn đề “Sự phát triển lực lượng sản xuất
Trang 7làm đề tài khóa luận tốt nghiệp, với hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ của mình cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua xoay quanh vấn đề “Phát triển lượng sản xuất thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa” đã có rất nhiều công trình khoa học, bài viết nghiên cứu đề cập đến Những kết quả nghiên cứu này có giá trị lịch
sử nhất định Tuy nhiên, thực tiễn luôn vận động, biến đổi và phát triển nên mọi kết luận tổng kết vẫn cần được bổ sung, phát triển
Luận án tiến sĩ của Vi Thái Lang “Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc nước ta”, tác giả đã trình bày những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò của lực lượng sản xuất trong sự phát triển xã hội, làm rõ thực trạng đặc điểm và những xu hướng biến đổi của lực lượng sản xuất vùng núi phía Bắc, chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ở miền núi phía Bắc nước ta
Luận văn thạc sĩ của Tống Tất Đường (2007) “Phát triển nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An hiện nay”, tác giả tập trung làm rõ quan điểm của triết học Mác - Lênin về lực lượng sản xuất và nhân tố con người trong lực lượng sản xuất Từ đó đưa ra phương hướng, nội dung, giải pháp phát triển nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở Nghệ An hiện nay
Luận văn thạc sĩ của Dương Văn Anh Dũng (2008) “Vai trò kinh tế tư bản tư nhân nhà nước đối với sự phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” Tác giả đã làm rõ lí luận kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản nhà nước với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tuấn Ngọc (2008) “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thừa Thiên Huế, luận văn làm rõ lí luận về phương thức sản xuất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Thừa Thiên Huế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trong cuốn sách “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng, xã hội ở Việt Nam” của tác giả Lương Xuân Qùy đã đề cập đến hệ quan điểm, phương hướng, chính sách giải pháp
Trang 8xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội trên đất nước ta
“Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” (2002) là cuốn sách của tác giả Hồ Anh Dũng, cuốn sách đã trình bày một số nội dung cơ bản của khái niệm lực lượng sản xuất, các yếu tố của lực lượng sản xuất, yếu tố con người trong lực lượng sản xuất Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Nhiều công trình, bài viết phân tích vấn đề lực lượng sản xuất từ nhiều góc độ khác nhau Khi bàn về vai trò của yếu tố khoa học công nghệ trong kết cấu của lực lượng sản xuất hiện nay có các bài viết như: Lê Xuân Đình, Tạp chí triết học, số 2 [02/2002]; “Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất”, Tạp chí cộng sản, số 5 [03/1999]; Lê Huy Ngọ, “Khoa học công nghệ
là động lực mạnh mẽ đưa nông nghiệp, nông thôn sang bước phát triển mới”, Tạp chí cộng sản, số 3 [02/1999] Nguyễn Cảnh Hồ, “Có phải khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”; Phạm Ngọc Quang, “ Kinh
tế tri thức- xét từ giác độ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất”, Tạp chí triết học, số 3, [03/2003]; Đỗ Thế Tùng, “Quan điểm của C.Mác về sự phát triển của hệ thống máy móc và ý nghĩa của nó đối với nền kinh tế tri thức”, Tạp chí triết học, số 2 [03/2003]; Lê Huy Thực, “Về luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”, Tạp chí triết học số 2 [03/2003]
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh về phát triển lực lượng sản xuất, đưa ra nhiều tư tưởng, quan điểm khá sâu sắc như “Vấn đề đổi mới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí triết học, số 1 [01/2002]; Đoàn Quang Thọ, “Lí luận hình thái kinh tế -
xã hội của C.Mác và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, Tạp chí triết học, số 3, [03/2003];
Tuy nhiên cho đến nay chưa có bài viết công trình nghiên cứu nào chuyên bàn về việc phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An trong thời
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa dưới dạng một luận văn khoa học
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích đề tài:
+ Trên cơ sở phân tích thực trạng vấn đề phát triển lực lượng sản xuất
ở tỉnh Nghệ An thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, luận văn phát hiện vấn đề nảy sinh và đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát
Trang 9triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Nghệ An
+ Đề tài nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, lí luận hình thái kinh tế - xã hội Cùng với các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển lực lượng sản xuất Đề tài còn kế thừa
có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, các bài viết đã được công bố có liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử để phân tích, đánh giá sự phát triển của lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An Ngoài ra luận văn còn sử dụng những phương pháp khác như thống kê, khảo sát, tổng hợp, so sánh
5 Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Đánh giá đúng thực trạng sự phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An, xu hướng vận động và phát triển của lực lượng sản xuất thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An
- Đưa ra những phương hướng, giải pháp đặc thù sự phát triển lực lượng sản xuất ở tỉnh Nghệ An
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn có 2 chương, 6 tiết
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
1.1 Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất
1.1.1 Khái niệm lực lượng sản xuất
Con người cũng giống như con vật luôn tồn tại trong quan hệ với môi trường Trong quan hệ ấy, họ chỉ tồn tại khi thiết lập được sự cân bằng với môi trường Song quan hệ sống giữa con người và môi trường luôn có bản tính hoạt động, làm cho con người trong quan hệ này cũng thường xuyên rơi vào tình trạng mất cân bằng với môi trường Khi rơi vào tình trạng này ở con người sẽ nảy sinh ra những đòi hỏi về những điều kiện và phương tiện sinh tồn Những đòi hỏi đó của con người chính là nhu cầu, mà trước hết là nhu cầu tồn tại và
về sau còn nảy sinh ra cả nhu cầu phát triển Từ đó, thúc đẩy con người hoạt động để được thỏa mãn nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
Lịch sử loài người là lịch sử của các phương thức sản xuất kế tiếp nhau C.Mác đã phát hiện ra rằng trước hết con người ta phải ăn, uống, ở, mặc trước khi lo đến việc chính trị, khoa học nghệ thuật, tôn giáo Nhưng muốn có cái để ăn, để ở, để mặc thì con người phải lao động Tuy nhiên lao động của con người không thể tùy tiện được mà phải có cách thức lao động,
đó chính là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất ở một giai đoạn lịch sử nhất định Phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng hai mối quan hệ của con người Một là mối quan hệ của con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Hai là mối quan hệ giữa con người với nhau trong quá trình sản xuất Hai mối quan hệ này thống nhất biện chứng với nhau và được gọi là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lần đầu tiên Mác đã đưa ra luận chứng cho lí luận về lực lượng sản xuất theo quan điểm duy vật của mình Mác cho rằng lực lượng sản xuất không phải là cái bản chất tinh thần nào đó mà nó là sức mạnh vật chất Khi phân tích các yếu tố của lực lượng sản xuất Mác chia chúng thành hai loại
đó là sức sản xuất tự nhiên và sức sản xuất của bản thân con người Theo Mác con người với tư cách là một lực lượng sản xuất không chỉ sáng tạo ra của cải vật chất mà chủ yếu hơn lực lượng sản xuất xã hội đó cùng với sức sản xuất tự nhiên trở thành một lực lượng cách mạng thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Trang 11C.Mác và Ăngghen nêu ra thuật ngữ “lực lượng sản xuất” lần đầu tiên trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” Những nội dung khái niệm lực lượng sản xuất đã được các ông tiếp tục phát triển, mở rộng trong các tác phẩm của mình sau này như “Sự khốn cùng của triết học”, “Lao động làm thuê và
tư bản”, “Tiền công, giá cả và lợi nhuận” và đặc biệt là trong bộ “Tư bản” Thông qua sự phân tích các yếu tố của quá trình sản xuất, C.Mác đã vạch ra bản chất của lực lượng sản xuất, cho chúng ta cơ sở khoa học để hiểu đúng đắn nội dung khái niệm lực lượng sản xuất
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845-1846) C.Mác đã có sự phân tích về lực lượng sản xuất Theo ông “Sự sản xuất ra đời sống - đời sống bản thân mình bằng lao động cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái - biểu hiện là quan hệ song trùng, một mặt là quan
hệ với tự nhiên mặt khác là quan hệ về xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó
là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là trong những điều kiện nào và nhằm mục đích gì Do đó chúng ta thấy rằng một phương thức sản xuất nhất định hay một giai đoạn xã hội nhất định là luôn luôn gắn bó với một phương thức hợp tác nhất định hay một giai đoạn xã hội nhất định, rằng bản thân
của một phương thức sản xuất ấy là một “sức sản xuất” [20.81] Có khi
C.Mác nói rằng “ bản thân phương thức hợp tác nhất định cũng là lực lượng sản xuất” Quan niệm của Mác về lực lượng sản xuất có nội dung cơ bản là
về mối liên hệ giữa con người và tự nhiên vì đó là mối liên hệ căn bản tạo nên các lực lượng sản xuất của con người Đồng thời C.Mác xác định lực lượng sản xuất bao giờ cũng có một trình độ nhất định, được biểu hiện rõ nhất trong phân công lao động và là yếu tố cơ bản của phương thức sản xuất
và do đó của toàn bộ đời sống xã hội
Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” khi nói về lực lượng sản xuất C.Mác chú ý đến yếu tố công cụ lao động, xem như là cái đặc trưng cho trình độ của lực lượng sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử C.Mác nói rằng
“Cái cối xay quay bằng tay” được xem là đặc trưng cho lực lượng sản xuất đạt được trong xã hội phong kiến, còn “cái cối xay chạy bằng hơi nước” thì
đặc trưng cho giai đoạn phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội tư sản”
Trang 12phương thức sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất, công cụ lao động chẳng qua là những lực lượng của chính chủ thể ấy Tiến trình thay đổi của lịch sử
xã hội loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, nguồn gốc sâu xa đó chính là sự thay đổi của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất như thế nào sẽ tạo ra xã hội tương ứng với nó như thế đó Nó chính
là động lực của sự phát triển xã hội
Trong bộ “Tư bản” theo C.Mác lực lượng sản xuất cần được hiểu như
là sự thống nhất của yếu tố vật chất và yếu tố người, nó thể hiện mối quan
hệ giữa con người và tự nhiên Nhưng không phải mọi mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên đều là lực lượng sản xuất Vì con người còn có nhiều mối quan hệ khác nhau với tự nhiên như: quan hệ thẩm mĩ, quan hệ tình cảm, quan hệ nhận thức Chỉ có mối quan hệ mà con người cải tạo được những sự vật của tự nhiên thành những sản phẩm vật chất cho xã hội mới là biểu hiện của lực lượng sản xuất
Phương tiện sản xuất đầu tiên của con người là những sức mạnh cơ bắp của họ Song vì con người là một sinh vật xã hội có trí tuệ Nhờ có lao động và cùng với lao động tư duy con người được nảy sinh và phát triển Vậy là ngoài sức mạnh cơ bắp, con người còn đem vào lực lượng sản xuất
cả trí tuệ, tâm lí, ý thức của mình
Con người là một lực lượng sản xuất Con người tham gia vào lực lượng sản xuất bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ, do trí tuệ chỉ đạo Con người đã cải tạo, biến đổi tự nhiên cho phù hợp với hoạt động sản xuất của mình Con người là động vật biết chế tạo những công cụ lao động Và nhờ việc kế thừa lực lượng sản xuất của các thế
hệ đi trước để làm cơ sở duy trì và phát triển lực lượng sản xuất mà lực lượng sản xuất được phát triển liên tục trong quá trình lao động sản xuất của
xã hội
Tóm lại lực lượng sản xuất có những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là những lực lượng do xã hội tạo ra để chinh phục tự nhiên Đó
là kết quả năng lực thực tiễn của con người trong quá trình tác động vào giới
tự nhiên tạo ra của cải vật chất cho sự phát triển
Thứ hai lực lượng sản xuất là một thể thống nhất hữu cơ giữa yếu tố người và yếu tố vật chất của quá trình sản xuất trong đó con người là chủ thể tích cực sáng tạo và quyết định với trí tuệ là chủ đạo, họ biết vận dụng
Trang 13và sử dụng các phương tiện công cụ sản xuất tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra những vật phẩm cần thiết cho xã hội
Thứ ba lực lượng sản xuất luôn có sự kế thừa và phát triển liên tục, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hôi loài người
Từ những phân tích trên cho ta định nghĩa về lực lượng sản xuất như
sau: “ Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên trong quá trình sản xuất Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuât bao gồm người lao động với kĩ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất”[3.351-352]
Như vậy để tiến hành sản xuất thì con người phải dùng các yếu tố vật chất và kĩ thuật nhất định Tổng thể các nhân tố đó là lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Nghĩa là trong quá trình thực hiện sản xuất xã hội con người chinh phục tự nhiên bằng các sức mạnh hiện thực của mình, sức mạnh đó được chủ nghĩa duy vật lịch sử khái quát trong khái niệm lực lượng sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người Lực lượng sản xuất nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất tạo nên của cải cho xã hội đảm bảo sự phát triển của con người
Lí giải sâu sắc phạm trù lực lượng sản xuất cần phải nắm vững các phương diện quan trọng của nó như: trình độ, tính chất, thực trạng và sự phát triển của lực lượng sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất là khái niệm nói lên khả năng của con người thực hiện quá trình biến đổi và thích nghi với giới tự nhiên nhằm bảo đảm cho sự sinh tồn và phát triển của mình thông qua công cụ lao động Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sản phẩm của sự kết hợp giữa các nhân tố: trình độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, trình độ kinh nghiệm và kĩ năng lao động của con người, trình độ phân công lao động Tính chất của lực lượng sản xuất là khái niệm nêu lên tính chất xã hội hóa của tư liệu sản xuất và của lao động Ứng dụng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội được thể hiện thông qua sự phát triển của công cụ lao động Tình trạng của lực lượng sản xuất là sự thống nhất của cả trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất, nó biểu hiện trạng thái tiến hành hoặc động thái phát triển của lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất
Trang 14yêu cầu giữa ba mặt đó của lực lượng sản xuất phải có mối liên hệ mật thiết với nhau
1.1.2 Kết cấu của lực lượng sản xuất
Khi bàn về vấn đề kết cấu của lực lượng sản xuất đã có nhiều ý kiến
khác nhau được đưa ra:
Có ý kiến cho rằng lực lượng sản xuất bao gồm: yếu tố con người và
các phương tiện lao động
Có ý kiến khác lại cho rằng lực lượng sản xuất bao gồm: yếu tố con
người, các phương tiện lao động, đối tượng lao động
Ý kiến khác lại cho rằng khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp nên nó là một yếu tố độc lập và là yếu tố thứ tư trong lực lượng sản xuất
Theo quan niệm của triết học Mác-Lênin, trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, lực lượng hàng đầu đó là người lao động Họ chính là chủ
thể của quá trình lao động sản xuất Cùng với người lao động đó là tư liệu sản xuất Đây là yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất Trong sự phát triển
của lực lượng sản xuất, khoa học ngày càng đóng vai trò quan trọng Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay khoa học đã thâm nhập sâu vào quá trình sản
xuất và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Như vậy khi xem xét kết cấu của lực lượng sản xuất phải bao gồm ba phận đó là: người lao động, tư liệu sản xuất và khoa học công nghệ
1.1.2.1 Người lao động
Trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất thì người lao động là yếu tố hàng đầu, giữ vị trí trung tâm và quyết định Lê-nin đã viết: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao
động.”[14.340]
Vì con người là thành tố chủ đạo của lực lượng sản xuất, chính nhờ
hoạt động có ý thức, sự hoạt động hướng vào đối tượng lao động và làm cho đối tượng trở nên hữu ích đối với con người và đối với xã hội loài người nói chung Các yếu tố vật chất của tự nhiên chỉ trở thành tư liệu sản xuất khi con người sử dụng với mục đích và khả năng nhất định Các yếu tố khác cũng chỉ là sản phẩm lao động của người lao động, đồng thời giá trị thực tế của yếu tố tư liệu sản xuất, khoa học như thế nào trong lực lượng sản xuất cũng là cái được quyết định bởi năng lực sử dụng của người lao động trong thực tế sản xuất “Con người không chỉ chế tạo ra công cụ lao động không
Trang 15chỉ đề ra kế hoạch, lựa chọn phương pháp lao động mà còn trực tiếp sử dụng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất” [26.370]
Khi tiến hành hoạt động sản xuất vật chất, con người phải sử dụng các năng lực vốn có của mình, trước hết là những sức mạnh vật chất để tác động vào các đối tượng vật chất, làm thay đổi tính chất, cấu trúc, hình thái của chúng Nghĩa là con người phải tiến hành các quá trình trao đổi vật chất với những đối tượng khách quan Những sức mạnh vật chất của mà con người dùng để trao đổi với các đối tượng khách quan, được Mác gọi là
“năng lực thuộc về bản chất”- cái mà ngay từ đầu giới tự nhiên đã phú cho con người và về sau ngày càng phát triển thêm nhờ lao động Con người sẽ không thực hiện được bất kì một sự trao đổi vật chất nào với các đối tượng khách quan trong hoạt động của mình nếu không có cái năng lực thuộc về
bản chất ấy
Trong “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” và “Tư bản” Mác
đã chỉ rõ năng lực đó của con người chính là sức lao động Vấn đề là sức lao động được con người sử dụng và phát huy như thế nào và ở mức độ nào trong sản xuất vật chất, thì điều đó phụ thuộc vào mục đích, và nhu cầu, năng lực và trình độ của họ, phụ thuộc vào những đối tượng tư liệu và phương tiện hoạt động của họ, phụ thuộc vào cách thức họ tổ chức quá trình sản xuất, phụ thuộc vào những điều kiện khách quan trong đó diễn ra hoạt
động sản xuất của họ
Sức lao động, theo C.Mác là một thể thống nhất giữa thể lực và trí lực Sự thâm nhập của sức lao động vào mọi khâu của quá trình sản xuất, làm cho các yếu tố khác trong lực lượng sản xuất đều trở thành hình thức vật thể hóa của sức lao động, tính chất, trình độ, sức mạnh, và vai trò của chúng cũng do sức lao động quy định Trong hai yếu tố hợp thành sức lao động là thể lực và trí lực, thì trí lực ngày càng thâm nhập sâu, rộng vào mọi yếu tố khác của lực lượng sản xuất và do đó, vai trò của nó cũng tăng lên cùng với sự phát triển của sản xuất vật chất
Khi đi vào hoạt động sản xuất vật chất, con người đưa vào quá trình sản xuất các sức mạnh khác của mình như kinh nghiệm và kĩ năng lao động,
sở thích và thị hiếu, tình cảm và niềm tin Những sức mạnh này tuy không giữ vai trò quyết định, song chúng luôn ảnh hưởng theo những mức độ khác nhau đến quá trình sản xuất vật chất Về sau lao động của con người ngày càng mở rộng và nâng lên, thì những lực lượng đó sẽ thâm nhập sâu vào sản xuất vật chất và vai trò của chúng sẽ tăng lên
Trang 16Chính người lao động là chủ thể của quá trình sản xuất với sức mạnh
và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh, kĩ năng lao động của con người ngày càng được tăng thêm, đặc biệt trí tuệ của con người không ngừng được phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao
Khi nhắc đến con người trong lực lượng sản xuất chúng ta thường chú trọng đến kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm thành thạo của người lao động
“Người lao động là con người nhưng không phải tất cả mọi người đều là người lao động Người lao động là người có kinh nghiệm sản xuất, kĩ năng lao động và kiến thức nhất định, có thể vận dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động, tức là có năng lực lao động nhất định, đồng thời làm công tác sản xuất thực tiễn Người lao động có khả năng lao động, không chỉ cần có thể lực nhất định, mà còn phải có trí lực nhất định, bởi vì sản xuất vật chất là hoat động có mục đích, có ý thức, vừa có sự tổn hao về thể lực, vừa cần sự tổn hao về trí lực, hơn nữa cùng với việc ngày cang phát triển sức lao động và tiến bộ của khoa học kĩ thuật, nhân tố trí lực chiếm tỉ
lệ ngày càng cao, vai trò của lao động trí óc ngày càng lớn và rõ rệt [4.407]
Ngày nay, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại đòi hỏi con người trong lực lượng sản xuất phải là con người phát triển cao về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, giàu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức…trong đó trí tuệ không phải là những tri thức trừu tượng mà trước hết phải có năng lực chuyên môn được đào tạo, qua đào tạo lại trình độ tay nghề
và các thao tác thuộc về kĩ thuật cần thiết không thể thiếu được của người lao động Thể chất không chỉ đơn giản cường tráng về thể lực mà còn bao hàm trong đó cả sự phát triển tốt về trí lực, tư chất thông minh, sự nhạy bén của thần kinh, và cả tâm lí và sáng tạo trong lao động
Con người là yếu tố năng động nhất, quyết định lực lượng sản xuất Bởi vì, chỉ có yếu tố con người mới có trí tuệ và cũng chỉ có con người mới
có năng lực tự phát triển và hoàn thiện mình Mỗi thế hệ đi sau bao giờ cũng tiếp thu những lực lượng sản xuất của các thế hệ trước, trong đó có những phương tiện công cụ vật chất và những tri thức khoa học kinh nghiệm sản xuất của thế hệ trước để lại con người làm ra lực lượng sản xuất đến đâu thì cũng tự nâng cao năng lực sản xuất của mình đến đó
Như vậy nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất luôn luôn là con
Trang 17Chỉ con người mới là nhân tố năng động, sáng tạo ra công nghệ mới và sử dụng công nghệ để tạo ra của cải vật chất Vì vậy phải đầu tư vào việc phát huy nguồn lực con người
1.1.2.2 Tư liệu sản xuất
Để tiến hành sản xuất con người cần có những tư liệu sản xuất Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động
Đối tượng lao động
Đối tượng lao động là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Ví dụ ruộng đất là đối tượng lao động của người nông dân, gỗ là đối tượng lao động của người thợ mộc Đó là yếu tố vật chất của sản phẩm tương lai Đối tượng lao động có hai nhóm:
Thứ nhất là nhóm có sẵn trong tự nhiên như các loại khoáng sản trong lòng đất, lâm sản, đất đai, rừng, biển, sông ngòi…Loại đối tượng này con người chỉ cần dùng lao động của mình, tác động vào để tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình và của xã hội Nói cách khác loại đối tượng này con người chỉ cần làm cho chúng tách khỏi mối liên
hệ trực tiếp với tự nhiên là có thể sử dụng được Chúng là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp khai thác
Thứ hai là nhóm đối tượng đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của lao động trước đó gọi là nguyên liệu Loại đối tượng này thường là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chế biến Đó là những sản phẩm không có sẵn trong tự nhiên mà do con người bằng lao động của mình tạo ra như các loại hóa chất, sợi tổng hợp, các chất hợp kim…Những vật phẩm này rất đa dạng, phong phú và ngày càng hoàn thiện gắn liền với sự phát triển của sản xuất và những thành tựu mới của khoa học kĩ thuật
“Nhóm thứ hai ngày càng tăng lên và dần dần chiếm đa số, còn nhóm thứ nhất ngày càng giảm đi và dần dần trở thành thiểu số”[29.43] Những đối tượng này trở thành đối tượng sản xuất khi được đặt đối diện với lao động của con người, được họ tác động vào (gián tiếp hay trực tiếp) và nhất thiết phải có một ý nghĩa nào đó trong quá trình sản xuất của họ Xét theo ý nghĩa nào đó, mọi đối tượng sản xuất đều do con người tạo ra Nhóm thứ nhất không bao giờ mất hẳn trong mọi quá trình sản xuất vật chất, mặt khác, trong mọi hoàn cảnh và ở bất kì trình độ nào con người cũng luôn phải dựa
vào giới tự nhiên để tìm kiếm hoặc taọ ra đối tượng lao động cho mình
Trang 18Trong các yếu tố cấu thành lượng sản xuất, đối tượng lao động gần như là một lực lượng độc lập một cách tương đối với các yếu tố còn lại, bởi
vì các yếu tố còn lại đều do con người ít nhiều thể hiện vai trò, sức mạnh của con người trước tự nhiên Khi tham gia vào quá trình sản xuất thì gọi là đối tượng lao động nhưng khi xem xét trong quan hệ với tự nhiên thì nó đóng vai trò là lực lượng của tự nhiên, là nơi ghi nhận trình độ của con người trong sự phát triển của mình đạt được Mọi đối tượng lao động đều bắt nguồn từ tự nhiên, nhưng không phải mọi yếu tố của tự nhiên đều là đối tượng của lao động Bởi vì những yếu tố tự nhiên mà con người tác động trong quá trình sản xuất nhằm biến đổi nó phù hợp với mục đích của mình thì mới gọi là đối tượng lao động Những yếu tố tự nhiên mà con người chưa biết đến, chưa khám phá, chưa tác động thì chưa trở thành đối tượng lao động
Khi xã hội phát triển, trình độ con người ngày càng cao thì đối tượng lao động ngày càng được mở rộng và không có điểm dừng Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang và sẽ tạo ra nhiều vật liệu mới có các tính năng mới, có chất lượng tốt hơn, đó là các vật liệu nhân tạo Song cơ sở của các vật liệu nhân tạo này vẫn có nguồn gốc từ tự nhiên, vẫn lấy ra từ đất và lòng đất Đúng như W.Petty, nhà kinh tế học cổ điển người Anh, đã viết: Lao động là cha còn đất là mẹ của mọi của cải vật chất
Tư liệu lao động
Hoạt động sản xuất vật chất đòi hỏi những tư liệu và phương tiện làm khâu trung gian truyền tải sức lao động từ con người đến đối tượng gọi là tư
liệu lao động
“Tư liệu lao động là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi
đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu của con người [2.11]
Tư liệu lao động là bộ phận trực tiếp để con người tác động vào tự nhiên vào đối tượng lao động, vì vậy nó thường xuyên có sự biến đổi Sự thay đổi của tư liệu lao động là tùy thuộc vào yêu cầu và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà nó đảm nhiệm Ngày nay khi khoa học công nghệ phát triển các tư liệu lao động đang dần dần được hiện đại hóa, nó không đơn thuần là bộ phận truyền dẫn các hoạt động của con người nữa, mà đang góp phần vào định hướng hoạt động lao
động của con người một cách có hiệu quả
Trang 19Với sự phát triển cao của khoa học kĩ thuật, tư liệu lao động được cải tiến ngày càng thuận tiện hơn cho quá trình thực hiện tác động vào đối tượng lao động, đồng thời có thể mang lại năng suất lao động cao hơn Tư liệu lao động không còn là phương tiện mà con người phải trực tiếp tiếp cận nữa, mà thay vào đó là các dây chuyền sản xuất với sự giám sát của các phương tiện trung gian Sự phát triển cao của tư liệu lao động, công cụ lao động hiện đại phần nào thay thế con người trong quá trình trực tiếp tiếp xúc với đối tượng lao động
Tư liệu lao động của sản xuất vật chất bao gồm hai thành phần chủ yếu: công cụ lao động và các phương tiện khác hỗ trợ cho con người khi sử dụng công cụ cũng như khi tiến hành lao động nói chung Trong đó công cụ lao động là hệ thống “xương cốt”, “bắp thịt” của sản xuất và là chỉ tiêu quan trọng nhất trong quan hệ của xã hội với giới tự nhiên đạt được do lao động sản xuất Công cụ lao động do con người sáng tạo ra là “Sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”, nó “nhân” sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất, nó là yếu tố động nhất, cách mạng nhất, có ý nghĩa quyết định năng suất lao động Công cụ lao động trực tiếp dẫn truyền tác động của con người tới đối tượng lao động, làm tăng hiệu lực tác động của con người trong lực lượng sản xuất Trong quá trình sản xuất công cụ lao động không ngừng được cải tiến và hoàn thiện chính điều này đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi của xã hội “Cái cối xay quay bằng tay sinh ra chế độ lãnh chúa phong kiến, còn máy hơi nước thì sinh ra chế độ tư bản”
Cùng với việc cải tiến và hoàn thiện công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất của con người cũng được phát triển phong phú thêm Trình
độ phát triển của tư liệu lao động mà chủ yếu là công cụ lao động là thước
đo trình độ chinh phục tự nhiên của loài người, là cơ sở xác định trình độ phát triển của sức sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế này với thời đại kinh tế khác C.mác viết: “ Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ họ sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ sản
xuất bằng cách nào với những tư liệu lao động nào” [17.338]
Bộ phận phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình sản xuất như nhà xưởng, kho, băng truyền, đường sá, bến cảng, sân bay, phương tiện giao thông vận tải, điện nước, bưu điện, thông tin liên lạc…Trong đó hệ thống đường sá, cảng biển, cảng hàng không, các phương tiện giao thông vận tải hiện đại và thông tin liên lạc được gọi là kết cấu hạ tầng sản xuất Kết cấu
Trang 20hạ tầng sản xuất cũng có vai trò quan trọng, đặc biệt trong nền sản xuất hiện đại Kết cấu hạ tầng có tác động tới toàn bộ nền kinh tế, trình độ tiên tiến hoặc lạc hậu của kết cấu hạ tầng sản xuất sẽ thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Ngày nay khi đánh giá trình độ của mỗi nước thì trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng là một chỉ tiêu không thể bỏ qua Vì vậy, đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất là một hướng được ưu tiên và đi trước so với đầu tư trực tiếp Sự phong phú của đối tượng lao động là điều kiện thuận lợi cho con người tác động, khai thác cũng như sáng tạo các giá trị vật chất mới
Mọi tư liệu lao động đều do con người chế tạo ra Cho nên, trước khi trở thành khâu trung gian truyền tải sức lao động của con người đến đối tượng, thì tư liệu lao động đã là sản phẩm lao động của họ Ngay cả những
tư liệu được con người tìm thấy ở dạng có sẵn trong tự nhiên cũng có ý nghĩa là cái do con người tạo ra Con người chế tạo được tư liệu lao động khi có hai điều kiện
Điều kiện thứ nhất, con người phải ý thức được ở mức độ nhất định tính quy luật của mối quan hệ vận động của đối tượng Nếu không như vậy, việc con người sử dụng được một công cụ nào đó thì đều chỉ mang tính ngẫu nhiên và tình cờ Thiếu điều kiện này, con người không thể chế tạo được công cụ phù hợp với đối tượng hoặc sử dụng được công cụ thì rất ít có hiệu quả
Điều kiện thứ hai, con người phải ý thức được mức độ nhất định tính quy luật của mối quan hệ hoạt động của mình với đối tượng nếu không như vậy con người tất yếu cũng không chế tạo được công cụ, nên họ không hành động hay hành động mà không phù hợp với đối tượng hoặc là sử dụng công
cụ có sẵn nhưng không thể thực hiện được những hành động và những thao tác phù hợp với công cụ
Tuy nhiên tư liệu lao động dù có tinh xảo hiện đại đến đâu đi chăng nữa thì cũng không thể phát huy được tác dụng của nó nếu không kết hợp với lao động sống Chính con người với kinh nghiệm và trí tuệ của mình đã tạo ra tư liệu lao động và sử dụng nó để thực hiện quá trình sản xuất Tư liệu lao động dù có lớn lao đến đâu, nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũng không thể phát huy được tác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuất của xã hội
1.1.2.3 Khoa học công nghệ
Trang 21Ngày nay, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn trong sự phát triển của lực lượng sản xuất và đang dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của xã hội
Khoa học kĩ thuật mà đặc biệt là cuộc cách mạng khoa kĩ thuật nó là
“một lực lượng cách mạng có tác dụng thúc đẩy sự tiến lên của lịch sử” C.Mác đã thừa nhận rằng: “Khoa học là đòn bẩy mạnh mẽ của lịch sử”, là “ lực lượng cách mạng có ý nghĩa tối cao” Bốn phát minh lớn thời cổ đại của Trung Quốc đã có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình phát triển lịch sử nhân loại, đặc biệt là có tác dụng thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất của các xã hội Châu Âu thời cận đại C.Mác đã coi ba phát minh: kĩ thuật làm thuốc nổ, kĩ thuật la bàn và kĩ thuật in ấn là những phát minh báo hiệu
sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Kĩ thuật thuốc súng đã làm tan rã giai tầng quý tộc và kị sĩ thời phong kiến, kĩ thuật la bàn đã giúp cho giúp cho giai cấp tư sản mở rộng thị trường và xác lập chủ nghĩa thực dân, còn kĩ thuật in
ấn là phương tiện để phục hưng khoa học Những ứng dụng kĩ thuật cơ giới, máy hơi nước và sự phân công thời cận đại đã trở thành ba đòn bẩy vĩ đại cho việc tạo lập nền công nghiệp hồi giữa thế kỉ XVIII
Từ thời cận đại cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã có tác dụng vô cùng mạnh mẽ tới sự tiến bộ của lịch sử xã hội Cuộc cách mạng khoa học
kĩ thuật vào những năm 70 của thế kỉ XVIII khiến cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa quá độ nhanh chóng sang nền đại công nghiệp cơ khí, tạo lập cơ
sở vật chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hồi đầu thế kỉ XX, khiến cho lực lượng sản xuất xã hội lại một lần nữa đạt tới sự phát triển với tốc độ mãnh liệt Sự xuất hiện của các ngành kĩ thuật cao như kĩ thuật thông tin, kĩ thuật vật liệu mới, năng lượng mới, chương trình sinh học, hải dương học đã thúc đẩy xã hội loài người quá độ từ hình thái kinh tế công nghiệp sang hình thái kinh tế tri thức Mỗi một cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đều dẫn tới sự biến đổi sâu sắc của phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt và phương thức tư tưởng Nó
đã làm cải biến các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, làm cho trình
độ tự động hóa quá trình sản xuất được đề cao, trí năng của người lao động được nâng cao, làm thay đổi đáng kể tỉ lệ giữa lao động trí óc và lao động chân tay hướng theo xu thế trí năng hóa
C.Mác và Ăngghen khẳng định rằng, tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Cụ thể trong “ Phê phán khoa kinh tế chính trị”, bản sơ thảo đầu tiên của bộ “Tư bản” được viết trong những năm 1857-
Trang 221858, C.Mác đã nhấn mạnh “ Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy; những lực lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức mà cả là những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực” [18.372-373]
Như vậy, theo quan điểm của C.Mác tri thức (khoa học) đã làm cho tư bản cố định (nhà máy, máy móc, công cụ…được dùng trong sản xuất) chuyển hóa đến mức độ nhất định nào đó thì trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
C.Mác đã nhiều lần nói đến điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong bản sơ thảo đầu tiên của bộ “Tư bản” C.Mác viết:
“Sự phát triển của hệ thống máy móc trên con đường ấy chỉ bắt đầu khi nền đại công nghiệp đã đạt đến một trình độ phát triển cao hơn và tất cả các bộ môn khoa học đều được đưa vào phục vụ tư bản, còn bản thân hệ thống máy móc hiện có thì có những nguồn lực to lớn Như vậy, phát minh trở thành một nghề đặc biệt, và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích [18.367] Để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì phải có phát minh, sáng tạo, phải có sự phát triển của hệ thống máy móc Hơn nữa, theo C.Mác khoa hoc chỉ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi tồn tại dưới dạng lao động được vật hóa thành máy móc: “ Có một lực lượng sản xuất khác mà tư bản có được không mất khoản chi phí nào -
đó là sức mạnh của khoa học… Nhưng tư bản chỉ có thể chiếm hữu được sức mạnh ấy của khoa học bằng cách sử dụng máy móc (phần nào cả trong quá trình hóa học) Sự tăng dân số là một lực lượng sản xuất mà tư bản có được không phải chi phí gì cả…Nhưng vì để có thể sử dụng được trong quá trình sản xuất trực tiếp, bản thân những lực lượng ấy cần đến một bản thể do
lao động tạo ra Nghĩa là tồn tại dưới dạng lao động vật hóa” [18.483-484]
Như vậy theo C.Mác, khoa học chỉ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi tồn tại dưới dạng lao động được vật hóa thành máy móc
Như vậy ngay từ những năm giữa thế kỉ XIX, C.Mác đã khẳng định khoa học có vai trò cực kì to lớn đối với sự phát triển của lực lượng sản
Trang 23xuất, và nó trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi được “chuyển hóa”, ứng dụng ở một mức độ nhất định nào đó
Khoa học vốn là sản phẩm của tư duy, của trí tuệ Nếu không thông qua hoạt động của người lao động mà chỉ tự bản thân nó thôi, thì như C.Mác nói khoa học không thể biến thành cái gì cả, không thể sinh ra tác động tích cực hay tiêu cực
Khoa học kĩ thuật có thể ứng dụng vào quá trình sản xuất, thẩm thấu vào trong các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất mà biến thành năng lực sản xuất thực tế Những phát minh sáng chế trên phương diện khoa học kĩ thuật có thể dẫn đến những biến đổi sâu sắc và tiến bộ về chất lượng của các
tư liệu lao động, đối tượng lao động và người lao động Sự ứng dụng của khoa học vào lĩnh vực tổ chức quản lí quá trình sản xuất có thể nâng cao hiệu suất quản lí trên một mức độ cao Người lao động nắm vững khoa học
kĩ thuật có thể cho phép nâng cao hiệu suất lao động sản xuất Trong xã hội hiện đại, khoa học kĩ thuật biến đổi rất nhanh chóng, chu kì ứng dụng khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất cũng được rút ngắn Có tác dụng với quá trình sản xuất ngày càng lớn, ngày càng trở thành yếu tố quyết định quá trình phát triển của sản xuất
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội Tự nó không thể gây nên một biến đổi nào cho lực lượng sản xuất Khoa học vốn bắt nguồn từ hoạt động lao động sản xuất và là kết quả lao động nhận thức của con người, gắn liền và phụ thuộc vào con người, khoa học trở thành lực lượng vật chất là nhờ được con người vận dụng nó trong lao động để nâng cao và không ngừng hoàn thiện, kĩ năng, kĩ xảo
Nói tóm lại, khoa học không phải là bản thân công cụ lao động và sức lao động, nhưng cũng không nằm ngoài hai thành tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất Mặc dù không thể thay thế nhưng có thể làm thay đổi mạnh
mẽ, nhanh chóng tính năng hiệu lực của công cụ lao động, sức lao động, và
do đó phương thức con người tác động đến giới tự nhiên theo chiều hướng ngày càng tăng cường sức mạnh, vai trò và tự do của con người trước thiên nhiên Tuy nhiên với tính cách là sản phẩm, giá trị đã được sáng tạo ra, đã
có sẵn thì khoa học không còn là kết quả mà lại đóng vai trò như là một trong những nguyên nhân, động lực bên trong, trực tiếp thúc đẩy mạnh nhất
sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong điều kiện “thông tin hóa”, “ toàn cầu hóa” ngày nay, nhiều thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ có thể được chuyển giao, tiếp nhận tương đối nhanh chóng, dễ dàng
Trang 24tạo ra cơ hội khách quan thuận lợi cho sự phát triển đột biến, nhảy vọt và bứt phá về kinh tế ở những dân tộc, quốc gia hay khu vực nhất định trong thời điểm, thời kì hay giai đoạn nhất định Nhưng để tranh thủ tận dụng và phát huy được hết tiềm năng của cơ hội bên ngoài này thì điều kiện tất yếu
và tối thiểu là ở bên trong phải chuẩn bị cơ sở vật chất - kĩ thuật và bồi dưỡng nhân tố con người lao động ở một mức độ tương ứng thích đáng
1.2 Các yếu tố tác động tới sự biến đổi của lực lượng sản xuất 1.2.1 Tác động của các nhân tố cấu thành lực lượng sản xuất
Trong quá trình sản xuất, con người vận dụng sức lao động, kinh nghiệm, thói quen lao động, trí thức khoa học kĩ thuật, sử dụng tư liệu lao động, tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội Quá trình phát triển của sản xuất cũng là quá trình con người cải tiến công
cụ lao động, bổ sung và hoàn thiện tư liệu lao động, nhằm đạt năng suất cao
và tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất Cùng với sự cải tiến, phát minh công cụ lao động mới và mở rộng tư liệu sản xuất, trình độ kĩ thuật cũng phát triển nhiều ngành nghề mới xuất hiện, do đó phân công lao động xã hội tiến triển không ngừng Trình độ phát triển khác nhau của tư liệu lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người và cũng là tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại trong lịch sử
C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với
những tư liệu nào” [15.388]
Ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trở thành điểm xuất phát trực tiếp cho những biến đổi to lớn trong kĩ thuật sản xuất và tạo ra những ngành sản xuất mới đồ sộ Cuộc cách mạng khoa học -
kĩ thuật hiện đại đã kết hợp khoa học và kĩ thuật thành một thể thống nhất không thể tách biệt được, đã đưa đến những phương pháp sản xuất mới Khoa học còn phát hiện và đề ra những phương pháp khai thác những nguồn năng lượng mới và chế tạo vật liệu nhân tạo có tác dụng nhiều mặt mà trước đây không thể biết được Khoa học lại đề ra phương tiện kĩ thuật và quá trình công nghệ mới trong sản xuất Trước kia khoa học chủ yếu là tổng kết
từ thực nghiệm và sản xuất trực tiếp, nhưng ngày nay việc nghiên cứu khoa học dẫn đến tạo ra kĩ thuật sản xuất, ngược lại muốn giải quyết những vấn
đề kĩ thuật sản xuất đòi hỏi phải nghiên cứu cơ bản từ khoa học Tri thức
Trang 25sản xuất- từ trong đối tượng lao động, công cụ lao động, kĩ thuật và quá trình công nghệ và cả trong những hình thức tổ chức tương ứng của sản xuất Người lao động sản xuất tiến lên vận dụng tri thức khoa học để điều khiển, kiểm tra quá trình sản xuất, đề xuất sáng kiến, sử dụng hợp lí thiết bị, nguyên liệu, năng lượng và để tổ chức hoạt động của mình một cách có hiệu quả nhất
Chúng ta biết rằng tư liệu lao động dù có ý nghĩa đến đâu nhưng nếu không được con người sử dụng thì không thể phát sinh tác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuất có ích cho xã hội Bởi vậy trong các yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất, người lao động giữ địa vị hàng đầu Chính con người chế tạo ra công cụ lao động, cải tiến và sử dụng nó để tiến hành sản xuất Sự tiến bộ của tư liệu lao động thể hiện năng lực sáng tạo của con người trong thực tiễn
Ngày nay năng suất lao động không ngừng nâng cao, đó là do sự cải tiến công cụ lao động và sự phát triển của khoa học kĩ thuật Vì vậy năng suất lao động được xem là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá sự tiến bộ của kĩ thuật sản xuất, đánh giá trình độ lực lượng sản xuất của một xã hội
Như vậy, Lực lượng sản xuất do con người tạo ra, song nó vẫn là một
nhân tố khách quan, là nền tảng vật chất của toàn bộ lịch sử loài người Lực lượng sản xuất được kế thừa và phát triển liên tục từ thế hệ này đến thế hệ khác Mỗi một thế hệ khi mới sinh ra, thích ứng với một trình độ lực lượng
và tinh thần, quy định các hệ thống tổ chức quản lí sản xuất, quản lí xã hội, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến tổ chức và ứng dụng khoa học công nghệ Chính trên cơ sở quan hệ sản xuất tiến bộ hay lạc hậu mà hình thành một hệ thống những nhân tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sản xuất Do
đó khi quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
Trang 26xuất thì nó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, và ngược lại khi quan hệ sản xuất đã lỗi thời thì nó lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Song tác dụng kìm hãm của quan hệ sản xuất đã lỗi thời đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan cuối cùng nó sẽ bị thay thế bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, tạo địa bàn cho lực lượng sản xuất phát triển
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất bao giờ cũng chịu sự chi phối của quy luật kinh tế cơ bản và các quy luật kinh tế khác của xã hội đó Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, sự tác động đó được thực hiện thông qua hoat động kinh tế - xã hội của các giai cấp bóc lột, tùy thuộc vào việc họ đầu tư nhiều hay ít vào sản xuất, có mở
rộng quy mô sản xuất hay không
Trong các xã hội có giai cấp đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đang lớn lên với quan hệ sản xuất đã lỗi thời, thể hiện ra thành đấu tranh giai cấp và cuối cùng phải được giải quyết bằng cách mạng xã hội Quyền lợi của các giai cấp suy tàn trong xã hội bao giờ cũng gắn bó việc duy trì quan hệ sản xuất đã lỗi thời, cho nên các giai cấp đó ra sức đấu tranh để bảo vệ quan hệ sản xuất đó Ngược lại, giai cấp tiên tiến đại biểu cho lực lượng sản xuất đang lớn mạnh là người đứng lên kiên quyết đấu tranh xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập phương thức sản xuất mới, vì lợi ích của giai cấp mình và phù hợp với
sự tiến bộ lịch sử Ngày nay, giai cấp công nhân là giai cấp trung tâm của thời đại, đang thực hiện sứ mệnh lịch sử là tiến hành cuộc cách mạng vô sản, xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa cùng quan hệ sản xuất lỗi thời khác xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất có sự phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, nên thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên dưới chủ nghĩa xã hội, vẫn xảy ra sự không phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất, bởi vì lực lượng sản xuất là nhân tố động nhất, cách mạng nhất nên nói chung phát triển nhanh hơn quan hệ sản xuất Muốn cho quan hệ sản xuất luôn tạo địa bàn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất thì phải không ngừng hoàn thiện nó nhất là trong lĩnh vực tổ chức quản lí và phân phối Phải kịp thời thay đổi những phương pháp kinh doanh đã lỗi thời, những chế độ quản lí
và phân phối không còn thích hợp, gây cản trở sự phát triển
Trang 27Từ những phân tích trên giúp ta hiểu đựợc sự tác động của quan hệ sản xuất tới lực lượng sản xuất Tuy nhiên, quan hệ sản xuất mới chỉ là một
bộ phận của cơ sở hạ tầng Nếu có một cơ sở hạ tầng tốt sẽ hình thành nên toàn bộ những quan hệ sản xuất tốt từ đó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Ngựợc lại nếu cơ sở hạ tầng thấp kém sẽ dẫn đến sự thấp kém của quan hệ sản xuất từ đó kìm hãm lực lựợng sản xuất phát triển
Cũng như vậy nếu kiến trúc thượng tầng (bao gồm toàn bộ các quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội) được hình thành trên cơ sở hạ tầng tiên tiến sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Đại hội Đảng lần thứ VI với nhận định: Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Từ đó, Đảng ta đã từng bước tạo lập được một lực lượng sản xuất tiên tiến
1.2.2.2 Dân số
Dân số là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của lực lượng sản xuất Mỗi quốc gia dân tộc phải có một dân số nhất định để có được một số lượng người lao động cần thiết cho việc tổ chức sản xuất, mới đảm bảo duy trì được đời sống xã hội Dân số, tốc độ phát triển của dân số của một nước ít nhiều có ảnh hưởng đến sinh hoạt vật chất, đến tồn tại và phát triển của nước đó Vì dân số là điều kiện để đảm bảo lực lượng sản xuất của xã hội (người lao động) và lực lượng chiến đấu, bảo vệ tổ quốc Số lượng dân cư và mật độ dân cư ảnh hưởng đến nguồn lao động, đến sự phân công lao động xã hội Nó có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội Bởi vai trò của điều kiện dân số luôn tác động lên sự phát triển của xã hội trên cả hai bình diện số lượng và chất lượng
Ở những nước có điều kiện xã hội và tự nhiên tương tự như nhau, nhưng yếu tố dân số khác nhau có thể đẩy nhanh hoặc làm chậm trễ tốc độ phát triển kinh tế và sự tiến bộ của xã hội (vì phải giải quyết yêu cầu đầu tư lao động để mở rộng ngành nghề, khai thác tài nguyên, khai khẩn đất hoang, đẩy mạnh phân công lao động xã hội…)
Tuy vậy, không thể kết luận rằng dân số là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội Dân số không thể là căn cứ để giải thích tính chất của chế độ xã hội, và sự chuyển biến chế độ xã hội từ hình thái kinh tế - xã
Trang 28hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác Không phải cứ nước nào có dân
số đông hơn những nước khác thì có chế độ xã hội tiến bộ hơn, trong thực
tế, có những nước dân số thấp lại thực hiện được sớm một chế độ xã hội tiến
bộ hơn, một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn
Dân số không chỉ là một nhân tố sinh vật mà còn là một nhân tố xã hội Sự tăng dân số phụ thuộc vào tính chất chế độ xã hội, vào bản chất của hình thái kinh tế - xã hội Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có đặc thù về dân số của nó, không thể đồng nhất một cách trừu tượng quy luật về dân số trong các xã hội khác nhau
Sự phân tích trên để chứng minh rằng dân số (người lao động) là một điều kiện để đảm bảo lực lượng sản xuất xã hội phát triển Người lao động
là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội
1.3 Vai trò của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển xã hội 1.3.1 Lực lượng sản xuất là phương tiện để tiến hành sản xuất vật chất cho xã hội
Lực lượng sản xuất có vai trò hết sức to lớn Bởi vì các bộ phận hợp thành lực lượng sản xuất quyết định trực tiếp đến sự phát triển của mỗi quốc gia Đó là sức lao động và tư liệu sản xuất Trong yếu tố sức lao động thì công nhân, người lao động đóng một vai trò rất quan trọng Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội
1.3.1.1 Vai trò của nhân tố con người đối với sự phát triển xã hội
Muốn sống, người ta trước hết phải ăn, mặc, ở Để đáp ứng những nhu cầu đó con người phải sản xuất Vì vậy, loài người tác động tích cực vào tự nhiên, chế tạo ra công cụ để sản xuất ra thức ăn, vật dùng cần thiết cho cuộc sống, cải tạo thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ mình Sản xuất vật chất là điều kiện căn bản, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
C.Mác cho rằng tiền đề đầu tiên cho mọi sự tồn tại của con người đó
là việc: “Con người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử” Muốn vậy, con người cần có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo…những thứ đó chỉ có thể được tạo ra từ sản xuất vật chất Như vậy hành
vi lịch sử đầu tiên của con người là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, đó là hoạt động cơ bản của con người, là cái để phân
Trang 29người không chỉ có quan hệ với tự nhiên mà phải có quan hệ với nhau và trên cơ sở quan hệ sản xuất đó mà phát sinh các quan hệ khác như: chính trị, đạo đức, pháp luật Vì vậy trong quá trình sản xuất, con người không những làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội đồng thời làm biến đổi cả bản thân mình Do đó sản xuất vật chất không ngừng phát triển tất yếu làm cho xã hội không ngừng phát triển
Loài người làm nên lịch sử của mình bắt đầu từ việc chế tạo, sử dụng công cụ, để sản xuất của cải vật chất từ đây con người mới từ loài vật bước sang thế giới loài người Lịch sử loài người bắt đầu từ đó
Vì vậy trong quá trình sản xuất, loài người ngày càng thu thập, tích lũy được nhiều kinh nghiệm sản xuất, cải tiến công cụ và chế tạo công cụ sản xuất ngày càng tinh xảo, làm cho lực lượng sản xuất phát triển không ngừng dẫn tới sự thay đổi phương thức sản xuất và toàn bộ đời sống xã hội
Như vậy, lịch sử xã hội loài người, trước hết là lịch sử phát triển sản xuất, lịch sử của sự thay đổi các phương thức sản xuất khác nhau qua các thời đại Hoạt động sản xuất của con người là điều kiện cơ bản quyết định
sự tồn tại và phát triển của xã hội
Trong những năm qua con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực quan trọng của sự phát triển Các nghiên cứu về con người theo hướng này đã chỉ ra rằng, so với các nguồn lực khác, nguồn lực con người
có vai trò quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định Phát triển nguồn lực con người là giải pháp cơ bản hàng đầu để thực hiện chiến lược phát triển xã
hội theo con đường “ rút ngắn”
1.3.1.2 Vai trò nền kinh tế tri thức - khoa học công nghệ đối với xã hội
Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kĩ thuật rồi cách mạng khoa học công nghệ cũng như để sử dụng có hiệu quả những thành tựu do các cuộc cách mạng đó mang lại, năng lực trí tuệ của người lao động không ngừng được nâng cao, phần giá trị do lao động trí tuệ của họ tạo ra trong quá trình sản xuất và được kết tinh ở sản phẩm ngày càng tăng Từ chỗ chiếm một tỉ trọng không đáng kể ở các thời kì tiền cách mạng công nghiệp, ngày nay ở các nước phát triển, đối với một số loại sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng giá trị do trí tuệ tạo ra và được kết tinh trong sản phẩm đạt tới 80-90% tổng giá trị sản phẩm Còn lại là giá trị nguyên vật liệu năng lượng lao động cơ bắp tạo ra
Trang 30Sự thay đổi đó là xu thế khách quan, mang tính tiến bộ và ngày càng mở rộng, nó làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động cơ bắp mặc dù vẫn là những thứ không thể thiếu được trong nền sản xuất xã hội nhưng ngày càng bị mất giá Mức đóng góp của tri thức và kĩ thuật đối với tăng trưởng kinh tế ngày càng lớn Do vai trò và vị trí ngày càng lớn của tri thức trong nền kinh tế, nên
cơ cấu đầu tư để phát triển lực lượng sản xuất có những thay đổi rất lớn
C.Mác đã nhấn mạnh: “thiên nhiên không chế tạo ra máy móc, đầu máy xe lửa, đường sắt, điện báo, máy sợi, con dọc di động…Tất cả những cái đó đều là những cơ quan của bộ óc con người, do bàn tay con người tạo
ra, đều là sức mạnh đã vật hóa của tri thức Sự phát triển của tư bản cố định
là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng chỉ là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức
độ nào đó sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy, những lực lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá
trình sống hiện thực” [18.372-373]
Mối tương quan giữa các yếu tố cơ bản cấu thành tư liệu sản xuất có
sự thay đổi rất lớn trong nền kinh tế tri thức Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Trong các nền kinh tế trước, đối tượng lao động chủ yếu là những bộ phận của tự nhiên, trong nền kinh tế tri thức đối tượng lao động ngày càng là sản phẩm của lao động, của khoa học - công nghệ mà hàm lượng vật liệu tự nhiên trong đó ngày càng giảm Lao động quá khứ được kết tinh trong máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…liên quan tới những nhân tố này, trong nền kinh tế tri thức có hai điểm chú ý Một là hàm lượng trí tuệ trong những nhân tố đó ngày một gia tăng; hai là nhiều thao tác vốn thuộc lao động cơ bắp do lao động sống thực hiện được thay thế bằng máy móc do lao động quá khứ đã được vật hóa thực hiện Tuy nhiên máy móc dù hiện đại như thế nào chăng nữa cũng do con người làm
ra và vận hành cải tiến nó Mặt khác trình độ của máy móc, thiết bị, trình độ của trí tuệ được kết tinh trong chúng lại đóng vai trò quyết định hiệu quả của lao động sống Chỉ trong chừng mực đáp ứng nhu cầu đó, chu kì sản xuất tiếp theo mới có sự phát triển tương ứng với xu thế khách quan của lưc lượng sản xuất
Trang 31Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm cho năng suất lao động cao, thời gian lao động cần thiết rút ngắn đến mức tối thiểu, thời gian nhàn rỗi cho xã hội nói chung và cho từng thành viên nhiều hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân Sự phát triển toàn diện của mỗi
cá nhân lại tạo ra khả năng rộng rãi để phát triển một cách hoàn toàn đầy đủ lực lượng sản xuấtNgày nay, với sự phát triển của nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật diễn ra trên nhiều lĩnh vực đã đem lại những bước tiến tiến to lớn Đặc biệt là những phát hiện mới, ngày càng nhiều trong lĩnh vực vật lí học, sinh học và hóa học, những bước tiến lớn trong khoa học xã hội đã làm cho bức tranh của loài người trở nên hết sức phong phú, vượt xa hình dung của họ ở thế kỉ trước
1.3.2 Vai trò quyết định của lực lựợng sản xuất đối với quan hệ sản xuất làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn
Qúa trình phát triển của lịch sử xã hội loài người gắn liền với các hình thái kinh tế - xã hội, hình thái kinh tế - xã hội sau phát triển hơn hình thái kinh tế xã hội trước Trong đó phải kể đến vai trò của lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kĩ thuật cho mỗi hình thái kinh tế -
xã hội Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau Suy đến cùng, sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội
Khuynh hướng sản xuất của xã hội là luôn biến đổi và phát triển Sự phát triển đó bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của lực lựợng sản xuất, trước hết là công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạnh nhất của phương thức sản xuất Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi theo cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, sự phù hợp đó tạo địa bàn cho lực lượng sản xuất phát triển Khi lực lượng sản xuất đã phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp nữa việc xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là sự diệt vong của cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của một phương thức sản xuất mới
C.Mác đã viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có…mà trong đó từ trước đến nay, các lực lượng sản xuất vật chất vẫn phát triển Từ chỗ là hình thức phát triển của lực lựợng sản xuất, những quan hệ
Trang 32ấy trở thành xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng xã hội” [16.439].Tính chất của lực lượng sản xuất thể hiện ở tính chất của tư liệu sản xuât và của lao động Chế độ chủ nghĩa
tư bản công cụ sản xuất như búa, rìu, cày, bừa, đều do một người sử dụng không cần tới lao động tập thể Một người nông dân hay một người thợ thủ công có thể một mình sản xuất ra vật dùng
Đến khi máy móc ra đời, lực lượng sản xuất mới mang tính chất xã hội hóa Tư liệu sản xuất có tính chất cá nhân trở thành tư liệu sản xuất có tính chất xã hội đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều người, mỗi người làm một bộ phận công việc, mới hoàn thành được sản phẩm ấy
Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động, của kĩ thuật, trình độ kinh nghiệm, kĩ năng lao động của con người, mức độ tập trung công nhân trong một xí nghiệp, quy mô sản xuất, trình độ phân công lao động trong xã hội…Trình độ lực lượng sản xuất càng cao thì
sự phân công lao động càng tỉ mỉ Trình độ phát triển mà sự phân công lao động đã đạt được thể hiện rõ ràng nhất trong trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Khi nói tới các chế độ trước chủ nghĩa tư bản các nhà kinh điển thường chỉ nói đến mâu thuẫn của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất Đến xã hội tư bản, các nhà kinh điển mới nêu lên mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với tính chất của lực lượng sản xuất
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã tác động trong lịch sử loài người, làm cho xã hội chuyển
từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn
Trong xã hội công xã nguyên thủy, lực lượng sản xuất rất thấp kém, công cụ sản xuất thì thô sơ lạc hậu như đồ đá, cung tên, họ cùng nhau sản xuất,… tất cả của cải làm ra đều tiêu dùng hết, không còn dư thừa nên không thể có sự chiếm đoạt làm của riêng, không có chế độ bóc lột Quan hệ sản xuất thời kì này phù hợp với trình độ quá thấp kém của lực lượng sản xuất thời bấy giờ Khi công cụ bằng sắt xuất hiện, lực lượng sản xuất phát triển hơn, nghề trồng trọt và chăn nuôi được đẩy mạnh, người lao động có khả năng sản xuất đủ mức sống tối thiểu và dư thừa đôi chút Từ đó mới có điều kiện xuất hiện chế độ tư hữu, chế độ bóc lột người mà hình thức đầu tiên là chế độ chiếm hữu nô lệ Tuy vậy, quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ
đã đóng vai trò thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển lên một bước
Trang 33Về sau quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Để duy trì và phát triển lực lượng sản xuất, hình thức bóc lột nô lệ được thay bằng hình thức bóc lột nông nô, xã hội nô lệ chuyển thành xã hội phong kiến Quan hệ sản xuất phong kiến ra đời lại làm cho lực lượng sản xuất phát triển lên một bước mới
Cuối thời kì trung cổ, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành trong lòng xã hội phong kiến, đã từng bước làm xuất hiện những yếu
tố xã hội hóa trong lực lượng sản xuất Đến khi máy móc xuất hiện, lao động tập thể phát triển với quy mô ngày càng lớn Tất cả những yếu tố đó làm cho lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ngày càng rõ nét
Nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa đã hình thành Nhưng đến một trình độ nhất định, sự phát triển của lực lượng sản xuất trên cơ sở tập trung
tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động cao đã làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trở nên chật hẹp, không thể chứa đựng lực lượng sản xuất to lớn được tạo ra trong lòng nó nữa Sự không phù hợp của quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất đã xã hội hóa cao đưa đến những xung đột gay gắt và khủng hoảng kinh tế trầm trọng, phá hoại sản xuất Mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết thông qua cách mạng vô sản để xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và thay thế bằng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất từ đó hình thành hình
thai kinh tế xã hội cao hơn – hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
1.3.3 Thúc đẩy khoa học phát triển
Khoa học là hệ thống các tri thức của nhân loại về các quy luật vận động và phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người
Đó là một loại hình hoạt động tư duy đặc thù nhằm tiến tới các hiểu biết mới
và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất, vào đời sống trong những điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội nhất định Khoa học phát triển mạnh mẽ tác động vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là nhờ con người, cùng với các
cơ sở vật chất mà con người tạo ra qua quá trình lao động sản xuất Điều đó
có ý nghĩa là sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của khoa học kĩ thuật
Lực lượng sản xuất phát triển tạo ra nhu cầu, điều kiện vật chất như: nhà xưởng, máy móc, và các phương tiện cần thiết cho nghiên cứu khoa học Lực lượng sản xuất trở thành tiêu chuẩn thực tiễn chứng minh cho tính đúng đắn của các tri thức khoa học
Trang 34Sự phát triển cao của lực lượng sản xuất đã tạo ra các nhu cầu khách quan để phát triển khoa học kĩ thuật Chẳng hạn, trong nền sản xuất thủ công nghiệp, đó là nền sản xuất với lao động thủ công nặng nhọc, năng suất lao động rất thấp Song chính nền sản xuất thủ công đã chứa đựng trong nó những tiền đề khách quan cho sự ra đời và phát triển của một ngành khoa học mới nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất và nhu cầu ngày càng tăng lên của nhân loại
Lực lượng sản xuất phát triển tạo mọi điều kiện cho khoa học phát triển, lực lượng sản xuất trở thành điểm xuất phát, cơ sở, động lực, mục tiêu của nghiên cứu khoa học, đến lượt nó nghiên cứu khoa học lại thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển hơn nữa
Như vậy mối liên hệ giữa lực lượng sản xuất và khoa học đã tạo thành mối quan hệ biện chứng, trong đó khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là nguồn gốc của tái sản xuất Hơn nữa trình độ phát triển của nền sản xuất, mà trước hết đó là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
đã đạt đến mức độ cao thúc đẩy khoa học phát triển Nhờ sự tác động và phát triển của mối quan hệ này mà thời gian từ nghiên cứu đến sản xuất, quá trình sáng tạo và đổi mới sản xuất được rút ngắn lại, khoa học trở thành lực lượng dẫn đường cho sản xuất, quá trình sáng tạo và đổi mới kĩ thuật công nghệ và sản phẩm mới cũng được đẩy mạnh và rút ngắn
Nói tóm lại việc phát triển lực lượng sản xuất vừa có thể theo trình tự phát triển, vừa có thể rút ngắn Để phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, trước hết phải tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao gồm các nhà quản lí giỏi, các chuyên gia đầu ngành, các nhà doanh nghiệp lớn và đội ngũ công nhân tay nghề bậc cao, đảm bảo tỉ lệ hợp lí về cơ cấu giữa các thành phần đó luôn thích ứng với đòi hỏi của lực lượng sản xuất đang phát triển
Sử dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ là phương thức hữu hiệu để “rút ngắn” tiến trình phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta Nhưng trong quá trình đó, cũng phải đề phòng nguy cơ biến nước
ta trở thành “ bãi rác công nghệ” của các nước phát triển hơn
Trang 35CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH NGHỆ AN
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ở Nghệ An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tên gọi Nghệ An có từ thời nhà Lí (năm 1036) Năm 1831, triều Nguyễn cắt phần đất phía Nam của Nghệ An lập ra tỉnh Hà Tĩnh Ngày 2/12/1975, tại kì họp thứ 2, Quốc hội khóa V ra nghị quyết hợp nhất tỉnh Nghệ An và tỉnh Nghệ Tĩnh mới, lấy tên là tỉnh Hà Tĩnh Ngày 12/8/1991, Nghị quyết kì họp thứ 2, Quốc hội khóa VIII lại quyết định chia tỉnh Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh, lấy tên là tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh
a Vị trí địa lí
Tỉnh Nghệ An thuộc Bắc Trung Bộ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với đủ các vùng thành thị, đồng bằng, ven biển, trung du miền núi và vùng cao Tọa độ địa lí từ 18o33’10’’ đến 19o24’43’’ vĩ độ Bắc và từ
103o52’53’’ đến 105o45’50’’kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa với đường biên giới dài 196,13 km Phía Nam giáp với tỉnh Hà Tĩnh với đường biên giới dài 92,6 km Phía Đông nhìn ra biển rộng, phía Tây dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ
b Địa hình
Nghệ An là tỉnh lớn, chiều dài và chiều rộng gần 200km Đây là vùng đất có cấu tạo địa hình, địa chất đa dạng, phức tạp, bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) Ở huyện Kì Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2m so với mặt nước biển Địa hình gồm có núi, đồi, thung lũng Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh
c Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ thàng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) Khí hậu khắc nghiệt, mưa nhiều, lượng mưa trung bình hàng năm: 1.670 mm, nhiệt độ
Trang 36trung bình: 25,2oc nắng to, số giờ nắng trong năm: 1.420 giờ, độ ẩm tương đối trung bình: 86-87%, gió lớn, nổi tiếng là những đợt gió Lào khô nóng thổi vào mùa hè, dễ xảy ra hạn hán gay gắt
d Sông ngòi
Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là sông Cả bắt nguồn từ huyện Mường Pec tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ
An có chiều dài là 361 km) Diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An
là 17.730 km2) Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3
trong đó có 14,4.109 km2 nước mặt Các dòng sông không ổn định, gập ghềnh và khá dốc, khi có mưa lớn thường trở nên hung dữ, gây lũ lụt đe dọa những bản làng mùa màng, và người dân sống hai bên bờ Nhìn chung nguồn nước khá dồi dào, đủ để đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân
e Biển, bờ biển
Hải phận rộng 4.230 hải lí vuông, từ độ sâu 40m trở vào nói chung đáy biển tương đối bằng phẳng, từ độ sâu 40m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp hẫn, đó là lợi thế cho việc phát triển ngành du lịch ở Nghệ An Bờ biển Nghệ An có chiều dài 82 km, có 6 cửa lạch thuận lợi cho việc vận tải biển, phát triển cảng biển
và nghề làm muối
Những đặc điểm thiên nhiên trên đã rèn luyện, tôi đúc nên con người Nghệ An linh hoạt, nghị lực, cần kiệm, chịu khó Nhưng đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho Nghệ An khai thác tối đa đối tượng lao động, phát triển kinh tế ổn định, vững chắc, hiệu quả hơn
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Hiện nay các đơn vị hành chính của Nghệ An gồm có: Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò, Thị xã Thái Hòa và 17 huyện (7 huyện miền xuôi, 5 huyện miền núi và 5 huyện vùng cao), 25 phường, 17 thị trấn, 437 xã Diện tích 16490.7 km2, dân số khoảng 2919.2 người, mật độ 177 người/km2
(năm 2009) Là một cộng đồng đa dân tộc, Nghệ An có 26 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh, kế theo là các dân tộc Thái, Tày, Hmông, Mường, Dao, Nùng, Hoa, Ngài, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Bru - Vân Kiều, Khơ Me, Chăm, Mơ Nông, Xơ Đăng…mỗi dân tộc có nếp sống văn hóa riêng rất đặc sắc, góp