Vì vậy, những giá trị cốt lõi của lý luận giá trị thặng dư không nhữnggiúp cho các thế hệ sau hiểu được những vấn đề kinh tế chính trị cơ bản của nềnkinh tế thị trường, mà còn giúp cho n
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
-
-Tiểu luận
Môn: Kinh tế chính trị Mác- Lênin
ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC VÀ VẬN DỤNG VÀO NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Họ và tên sinh viên: Bạch Thị Tú
Ngày sinh: 10- 01- 2002
Mã sinh viên: 2055270050
Lớp hành chính: Quản lý kinh tế A1 K40
Lớp tín chỉ: k40_kT01001_7
Trang 2Hà Nội, 2021
MỤC LỤC Trang A Mở đầu : 3
B Nội dung Chương 1 lý luận giá trị thặng dư của C.Mác 4
1.1 Giá trị thặng dư 4
1.2 Sự sản xuất giá trị thặng dư của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa 6
1.3 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường 12
Chương 2 Thực trạng việc nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay 15
2.1 Thực trạng 15
2.2 Ưu điểm 18
2.3 Nhược điểm 19
Chương 3 Giải pháp nghiên cứu và vận dụng giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay 20 C Kết luận 21
Trang 3A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kinh tế chính trị Mác- Lênin có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Nhất làtrong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay yêu cầu học tập nghiên cứu kinh tếchính trị Mác- Lênin càng được đặt ra một cách bức thiết nhằm khắc phục lạc hậu
về lý luận kinh tế, sự giáo điều tách rời lý luận với cuộc sống góp phần hình thành
tư duy kinh tế mới Và theo V.I.Lênin, lý luận giá trị thặng dư là” một hòn đá tảngcủa học thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C.Mác là nội dung cănbản của chủ nghĩa Mác Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa dưới tác động củacác quy luật kinh tế mà trọng yếu là quy luật giá trị cùng với tích lũy nguyên thủy
tư bản đã tạo ra những điều kiện hình thành nền kinh tế thị trường với hình thái đầutiên là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở kế thừa những thành tựu
cơ bản trong nghiên cứu khoa học kinh tế chính trị của các thế hệ đi trước và cùngvới phát kiến vĩ đại là học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã hoàn thiện lý luận kinh
tế chính trị về nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Sản xuất giá trị thặng dư tối
đa cho nhà tư bản là nội dung chính của quy luật giá tri thặng dư Nó tác động đếnmọi mặt của xã hội tư bản Nó quyết định đến sự phát sinh, phát triẻn của chủ nghĩa
tư bản và sự thay đổi của nó bằng một xã hội khác cao hơn, là quy luật vận độngcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Như chúng ta đã biết, sau chính sách đổi mới năm 1986, kinh tế Việt Namchuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó cũng đồng nghĩa phạm trù giá trị thặng
dư hay nói cách khác sự tồn tại của giá trị thặng dư là một tất yếu khách quan ởViệt Nam Vì vậy, những giá trị cốt lõi của lý luận giá trị thặng dư không nhữnggiúp cho các thế hệ sau hiểu được những vấn đề kinh tế chính trị cơ bản của nềnkinh tế thị trường, mà còn giúp cho nhận thức những quy luật kinh tế cơ bản, vấn
đề bất cập nảy sinh trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
Trang 4nghĩa ở Việt Nam, từ đó nhận thức sâu sắc hơn về nền tảng tư tưởng của ĐảngCộng sản Việt Nam, nhận thức đúng đắn về con đường đi lên xây dựng Chủ nghĩa
xã hội Việt Nam mà Đảng và Nhà nước ta đã chọn Và chỉ có phát triển kinh tế thịtrường mới làm cho nền kinh tế của nước ta phát triển năng động Phát triển nềnkinh tế thị trường là phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, cũng
có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng củamọi người
Tuy nhiên hiện nay mặc dù chúng ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường nhiềuthành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng trong chừng mực nào đó vẫntồn tại thành kiến đối với các thành phần kinh tế tư nhân tư bản, coi các thành phầnkinh tế này là bóc lột Những nhận thức này không chỉ xảy ra với các một số cán
bộ đảng viên làm công tác quản lý mà còn xảy ra ngay trong những trực người trựctiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta, mà theo lý luận Mác thì vấn đề bóc lột lại liênquan đến giá trị thặng dư
Do đó, nhận thức về lý luận giá trị thặng dư của C.Mác và biểu hiện của giá trịthặng dư trong nền kinh tế thị trường là những tri thức vô cùng quan trọng đối vớisinh viên Việt Nam các chuyên ngành lý luận chính trị sau khi tốt nghiệp và bướcvào lập nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Với những lý do trên em đã chọn đề tài” Lý luận giá trị thặng dư của C.Mác và vận dụng vào nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”.
2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là: Nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư và làm rõ quá trìnhvận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển kinh tế thị trường Việt Nam Nhiệm vụ nghiên cứu là: Làm rõ lý luận giá trị thặng dư, phân tích quá trình vàvận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển thị trường ở Việt Nam
B NỘI DUNG
Trang 5CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C.MÁC
Lý luận giá trị thặng dư của C.Mác được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Tưbản” có nội dung vô cùng rộng lớn, bao gồm sự luận giải khoa học sâu sắc vềnhững điều kiện căn bản để hình thành, các quy luật vận động, xu hướng phát triểncủa nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, biểu hiện trong toàn bộ các khâu củaquá trình tái sản xuất, trong đó những vấn đề quan trong hàng đầu là sản xuất giá trịthặng dư và các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
1.1 Giá trị thặng dư
1.1.1 khái niệm của giá trị thặng dư
Kế thừa có phê phán những quan điểm của Adam Smith và David Ricardo, CácMác đã xây dựng nền học thuyết giá trị thặng dư- học thuyết đã chỉ rõ nguồn gốcbản chất của lợi nhuận Khi xem xét quá trình lưu thông trong chủ nghĩa tư bản,Mác thấy rằng tiền với tư cách là tư bản vận động theo công thức:
T-H-T
Ta thấy rằng nếu số tiền thu về là( T’) bằng số tiền ứng ra( T) thì quá trình vậnđộng trở nên vô nghĩa, mục đích của lưu thông tiền tệ ở đây không phải là giá trị sửdụng mà là giá trị tăng thêm, ở đây giá trị thặng dư với tư cách là nguồn làm giàucho giai cấp các nhà tư bản Bởi vậy tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra do đócông thức chung của tư bản phải là
T - H -T’, trong đó T’ = T + ∆t
C.Mác gọi ∆t là giá trị thặng dư
->Như vậy, giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
do công nhân làm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản Sở dĩ là dôi ralaf vì người laođộng chỉ cần một phần nhất định thời gian hao phí sức lao động đã được thỏa thuậntheo nguyên tắc ngang giá để bù đắp giá trị hàng hóa sức lao động của mình
Giá trị thặng dư cũng như tỷ suất giá trị thặng dư phản ánh quan hệ sản xuất tưbản chủ nghĩa, mức độ bóc lột công nhân làm thuê của nhà tư bản Sản xuất giá trịthặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Một mặt nó thúc đẩy nền
Trang 6sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển ngày càng mạnh mẽ; mặt khác nó làm tăngnhững mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản Trong đời sống kinh tế- xã hội hiệnthực của chủ nghĩa tư bản giá trị thặng dư biểu hiện với những hình thức khácnhau: lợi nhuận, lợi tức, địa tô tư bản chủ nghĩa.
Nội hàm khái niệm giá trị thặng dư được tiếp nhận từ lý luận kinh tế của Mác cóthể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của côngnhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bảnchiếm đoạt toàn bộ Việc sản sinh và chiếm và giá trị thặng dư là sự phản ánh quan
hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phản ánh quy luậtkinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản
1.1.2 Bản chất của giá trị thặng dư
Về mặt kinh tế kỹ thuật giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới do lao động tạo ra dôi ra ngoài giá trị sức lao động
Về mặt kinh tế - xã hội giá trị thặng dư biểu hiện quan hệ giai cấp trong đó giai cấp các nhà tư bản bộc lộ sức lao động của người làm thuê
->Giá trị thặng dư không chỉ là một vật mà nó còn là một quan hệ xã hội
1.2 Sự sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Sản xuất tư bản là sản xuất hàng hóa lớn( Quy mô lớn, tính chất xã hội cao và trình độ kỹ thuật phát triển) Để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn của tư bản
chủ nghĩa cần phải có hai điều kiện: Tiền phải chuyển hóa thành tư bản và sức laođộng trở thành hàng hóa
1.2.1 Công thức chung của tư bản và hàng hóa sức lao động
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột sức lao động củangười làm thuê Tiền chưa phải là tư bản, mà tiền là sản phẩm cuối cùng của quátrình lưu thông hàng hóa và là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản, muốn trởthành tư bản tiền phải được sử dụng để bóc lột lao động làm thuê, lượng tiền phải
đủ lớn theo quy định của pháp luật Tiền được coi là tiền thông thường thì vận dụng
Trang 7theo công thức H- T- H Ở đây tiền không phải là tư bản mà đơn thuần chỉ làphương tiện để đạt tới mục đích bên ngoài lưu thông, nhằm thỏa mãn những nhucầu nhất định Như vậy quá trình này là hữu hạn nó sẽ kết thúc khi nhu cầu đượcthỏa mãn Mà để chuyển hóa chất của tiền phải vận động theo công thức chung của
tư bản của C.Mác, đã chỉ rõ đó là T- H- T’( Tiền- Hàng- Tiền) tức là sự chuyển hóa
từ tiền thành hàng hóa rồi hàng hóa vận chuyển và ngược lại thành tiền và đặc biệt
là giá trị thặng dư với tư cách là nguồn làm giàu cho giai cấp các nhà tư bản Mụcđích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng như trong lưu thông hànghóa đơn giản mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm Vì vậy nếu số tiền thu vềbằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa Do đó số tiền thu vềphải lớn hơn số tiền ứng, nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T- H- I’trong đó T’ = T + ∆t Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra( ∆t) được C.Mác gọi làgiá trị thặng dư số tiền ứng ra ban đầu đã chuyển hóa thành tư bản. Vậy tư bản làgiá trị mang lại giá trị thặng dư nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn vì
sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn
Tiền đưa qua lưu thông, thì được giá trị thặng dư mà lưu thông không tạo ra giátrị nên không tạo ra giá trị thặng dư, tiền rút khỏi lưu thông làm chức năng lưuthông thì làm chức năng cất trữ thì không thu được giá trị thặng dư Như vậy cùngvới lưu thông và lại không cùng với lưu thông đây chính là mâu thuẫn của côngthức chung của tư bản Để có được giá trị thặng dư mà vẫn tuân thủ các quy luậtkhách quan của nền kinh tế hàng hóa, đặc biệt là quy luật giá trị, thì trên thị trườngcần xuất hiện phổ biến một loại hàng hóa có giá trị sử dụng đặc biệt là tạo ra giá trịmới lớn hơn giá trị của bản thân nó Hàng hóa đó là hàng hóa sức lao động
“ Sức lao động hay năng lực là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tạitrong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vậndụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị nào đó” Sức lao động là yếu tố cơ bản của quátrình lao động sản xuất trong mọi thời đại Sức lao động không phải bao giờ cũng làhàng hóa nó chỉ tiến thành hàng hóa khi đầy đủ 2 điều kiện:
Trang 8Một là, “ người chủ sức lao động phải có thể bán được nó với tư cách là hànghóa, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động ấy, do đó người ấyphải là kẻ tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thế của mình”, đồng thời”người sở hữu sức lao động bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong một thờigian nhất định”
Hai là, “người chủ sức lao động phải không còn có khả năng bán những hànghóa trong đó lao động của anh ta được vật hóa, mà trái lại, anh ta buộc phải đembán, với tư cách là hàng hóa, chính ngay cái sức lao động chỉ tồn tại ở trong cơ thểsống của anh ta thôi”
Người lao động không có tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để sống họ phải bánsức lao động Giống như mọi hàng hóa khác sức lao động có hai thuộc tính tính giátrị và giá trị sử dụng Giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm giá trị của những tưliệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động ở mức giản đơn Nó được xácđịnh gián tiếp qua giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sốngvật chất tinh thần của bản thân người lao động và gia đình Khác với các hàng hóathông thường sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần lịch sử, số lượng và cơ cấunhu cầu tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên văn hóa, xã hội, và có đặc tính làm tănggiá trị Giá trị sử dụng của sức lao động mà người chủ nhận được khi trao đổi, chỉthể hiện ra trong quá trình sử dụng thực sự, tức là trong quá trình tiêu dùng sức laođộng Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa “quá trình tiêu dùng sức laođộng đồng thời cũng là quá trình sản xuất ra hàng hóa và giá trị thặng dư”
1.2.2 Quá trình xuất giá trị thăng dư dưới chủ nghĩa tư bản
Để sản xuất giá trị thặng dư, nền sản xuất xã hội phải đạt trình độ nhất định Sản xuất giá trị thặng dư trước hết là sản xuất hàng hóa, là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra một giá trị sử dụng với quy cách, phẩm chất giữasức lao động với tư liệu sản xuất mà nhà tư bản đã mua được, nên có những đặc điểm khác biệt so với sản xuất hàng hóa giản đơn: công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản Đồng
Trang 9thời đó là quá trình sản xuất giá trị và giá trị thặng dư dựa trên cơ sở của quy luật giá trị
Ta có thể nghiên cứu quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư bằng một quá trình sản xuất sợi
Để sản xuất ra 10 kg sợi nhà tư bản phải bỏ ra (mua đúng giá trị):
10 kg bông: 10 USD
Khấu hao máy: 2 USD
Thuê công nhân một ngày 3 USD
-Như vậy tổng chi phí là 15 USD
Trong quá trình sản xuất và lao động cụ thể người, người công nhân biến bôngthành sợi Theo đó giá trị của bông và hao mòn của máy móc được chuyển vào giátrị của sợi Bằng lao động trừu tượng người công nhân tạo ra giá trị mới, giả địnhtrong 4 giờ lao động công nhân đã chuyển hoàn toàn 10 kg bông thành sợi giá trị sợgồm
Giá trị của 10kg sợi là:
Giá trị cũ - giá trị của tư liệu sản xuất dịch chuyển vào: 12 USD
Giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra trong 4 giờ (mỗi giờ 0,5 USD): 3USD
Tổng giá trị 10kg sợi là 15 USD
Nhà tư bản ứng ra 15 USD, bán sợi thu về 15 USD Nếu quá trình lao động dừnglại tại điểm này thì không có giá trị thặng dư, tiền ứng ra chưa trở thành tư bản
Nhà tư bản không thu được gì, cuộc vận động không đạt mục đích
->Kết luận: Nếu giá trị mới tạo ra bằng giá trị sức lao động thì không có giá trịthặng dư
Do đó, để có giá trị thặng dư, thời gian lao động phải vượt quá cái điểm bù lại giátrị sức lao động Nhà tư bản mua sức lao động của công nhân để sử dụng trong 8giờ chứ không phải 4 giờ Công nhân phải tiếp tục làm việc trong 4 giờ nữa, nhà tư
Trang 10bản chỉ phải tốn thêm 10 USD để mua 10 kg bông và 3 USD hao mòn máy móc.Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu Số sợi được tạo ra trong 4giờ lao động sau cũng có giá trị 15 USD Tổng cộng, nhà tư bản ứng ra 20 USD +4USD + 3USD = 27 USD, Nhà tư bản bán 20kg sợi đúng giá trị thu được 30USD,
so với tư bản đã bỏ ra 30-27=3 USD, nhà tư bản thu dôi ra 3 USD đó gọi là giá trịthặng dư
Chủ nghĩa tư bản dựa trên sản xuất công nghiệp, năng suất lao động cao thì ngàylao động (8 giờ) được chia thành hai phần:
Thời gian lao động cần thiết (4 giờ) tạo ra giá trị bằng giá trị sức lao động V=3
để tái sản xuất sức lao động
Thời gian lao động thặng dư (4 giờ) tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản m=3
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư, xét từ phía nhà tư bản, là quá trình ứng ra và
sử dụng tư bản với tư cách là giá trị mang lại giá trị thặng dư Để tiến hành sảnxuất, nhà tư bản phải ứng tư bản ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động
Tư bản bất biến( C) là : Bộ phận tư bản ứng trước tồn tại dưới hình thức tư liệusản xuất; giá trị lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển chuyểnnguyên vẹn vào giá trị sản phẩm;không tạo ra giá trị thặng dư như là điều kiện hếtsức cần thiết để tạo ra giá trị thặng dư Tư bản bất biến là điều kiện quan trọng đểsản xuất ra hàng hóa, xuất ra giá trị và giá trị thặng dư Không có máy móc hiện đại
sẽ không có năng suất lao động cao và cũng không tạo ra giá trị thặng dư Nhưng tựmáy móc không tự khấu hao, không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư
Tư bản khả biến( v) là: bộ phận tư bản ứng trước tồn tại dưới hình thức tiềncông; giá trị thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên; là nguồngốc tạo ra giá trị thặng dư tuần hoàn và chu chuyển của tư bản
Để có giá trị thặng dư, nhà tư bản không những cần phải thực hiện quá trình sảnxuất giá trị thặng dư, mà còn cần phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình
đó và thực hiện giá trị tư bản, giá trị thặng dư chứa đựng trong những hàng hóa đãđược sản xuất ra Tổng thể những hoạt động đó biểu hiện sự vận động tuần hoàn
Trang 11của tư bản Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản lần lượt trải qua ba giaiđoạn dưới ba hình thái kế tiếp nhau (tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hànghóa) gắn với thực hiện những chức năng tương ứng (chuẩn bị các điều kiện cầnthiết để sản xuất giá trị thặng dư, sản xuất giá trị thặng dư, thực hiện giá trị tư bản
và giá trị thặng dư) và quay trở về hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư
Chu chuyển tư bản là tuần hoàn tư bản được xét là quá trình định kỳ, thườngxuyên lặp đi lặp lại và đổi mới theo thời gian( n= CH/ch)
Xét theo phương thức chu chuyển giá trị của tư bản sản xuất vào giá trị sảnphẩm, tư bản được chia thành các bộ phận là tư bản cố định và tư bản lưu động Tưbản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động thamgia toàn bộ vào quá trình sản xuất những giá trị của nó chỉ chuyển dần dần, từng
phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn.
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao độngnguyên nhiên vật liệu, vật liệu phụ ., giá trị của nó được chuyển một lần, toànphần vào giá trị sản phẩm khi kết thúc từng quá trình sản xuất
Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không
những chỉ dừng lại ở mức có được giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu đượcnhiều giá trị thặng dư, do đó cần có thước đo cụ thể để đo lường giá trị thặng dư vềlượng C.Mác đã sử dụng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng để đo lường giá trị
thặng dư.
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả
biến Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư là: m’=m/v x 100%
Tỷ suất giá trị thặng dư cũng có thể tính theo tỷ lệ phần trăm giữa thời gian laođộng thặng dư (t’) và thời gian lao động tất yếu (t): m’=t’/t x 100%
Tỷ xuất giá trị thặng dư phản ánh trình độ bóc lột của tư bản, chủ nghĩa tư bảnphát triển càng cao bao nhiêu thì tỷ xuất giá trị thặng dư càng cao bấy nhiêu