Các khái niệm liên quan...19 CHƯƠNG II: SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC PHƯƠNG THỨC KHÁM CHỮA BỆNH CẢU NGƯỜI DÂN XÃ KHÁNH NAM, HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA.. Cũng chính vì
Trang 1KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI DÂN TỘC RAGLAI XÃ KHÁNH NAM HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA.
Trang 22 Mục tiêu nghiên cứu 6
3 Nguồn dữ liệu 6 4 Nội dung nghiên cứu 6
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
6 Giới hạn đề tài 7
7 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn 7
8 Kết cấu đề tài 8
PHẦN II NỘI DUNG: CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 1 Tổng quan nghiên cứu 9
2 Cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu 11
3 Câu hỏi nghiên cứu 16
4 Phương pháp nghiên cứu 17
5 Sơ đồ khung phân tích 19
6 Các khái niệm liên quan 19
CHƯƠNG II: SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC PHƯƠNG THỨC KHÁM CHỮA BỆNH CẢU NGƯỜI DÂN XÃ KHÁNH NAM, HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA 1 Sơ lược địa bàn nghiên cứu 21
1.1 Huyện Khánh Vĩnh 21
1.2 Xã Khánh Nam 23
2 Tìm hiểu phương thức khám chữa bệnh của người dân Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 27
2.1 Tình hình khám chữa bệnh của người dân Raglai 27
2
Trang 33.1 Các phương thúc khám chữa bệnh của nam, nữ giới raglai 31
3.2 Nơi khám chữa bệnh của nam, nữ giới Raglai 38
3.3 Đánh giá của nam và nữ Raglai về dịch vụ khám chữa bệnh ở địa phương 40
4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận khám chữa bệnh của nam, nữ Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa 48 4.1 Mức độ quyết định 48
4.2 Chính sách y tế 49
4.3 Thu nhập , chi tiêu 51
4.4 Học vấn 53
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận 56
2. Khuyến nghị 57
3
Trang 4triển nguồn nhân lực luôn được sự quan tâm chú ý trong chiến lược phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội nước ta
“Sức khỏe là vốn quí nhất của con người” Xã hội muốn có nguồn lực tốt về
thể chất tinh thần phải được chăm sóc tốt từ khi trong bụng mẹ, từng thế hệ nối tiếp,thế hệ sau phải tốt hơn thế hệ trước về thể chất và tinh thần, để đảm bảo duy trì chophát triển xã hội, chăm sóc nâng cao chất lượng dân số là một trong những tiêu chíhàng đầu của quốc gia Hồ Chí Minh cũng đã rất coi trọng sức khỏe con
người,Người đã từng nói: “Mỗi người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt Mỗi người dân mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe Dân cường thì nước thịnh” Trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII cũng đã nêu: “Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người đồng thời là vốn quý để tạo ra tài sản trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của bản thân
xã hội” Sức khỏe là vốn quý, có sức khỏe thì sẽ khỏe mạnh, làm giàu cho bản thân
tạo ra nhiều của cải cho xã hội, thúc đẩy đất nước phát triển.Từ đó có thể thấy chămsóc sức khỏe, khám chữa bệnh là một nhu cầu cấp thiết của mọi người Theo chủtrương xã hội hóa y tế của Nhà nước, mọi người dân đều có quyền được hiểu biếtnhiều hơn về bệnh tật, những yếu tố tác hại đến sức khỏe của mình cũng như quyềnđược hưởng các dịch vụ y tế khám chữa bệnh và phòng ngừa bệnh tật
Bên cạnh đó có một quan điểm cho rằng chăm sóc sức khỏe là quyền lợi và aicũng có quyền hưởng thụ theo như mục tiêu nhất quán của y tế Việt Nam từ trước đếnnay là “ Mọi người dân đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe” Nhưng trên thực tếviệc tiếp cận chăm sóc sức khỏe còn chưa được nhiều người dân sử dụng một cách tốt
4
Trang 5bên cạnh đó còn có mảng giới, nếu như theo người Kinh đa phần người nam là chủ
hộ trong gia đình, họ năm hết các quyền quyết định những việc quan trọng trong nhà
kể cả việc chăm sóc sức khỏe, vậy còn người Raglai thì sao? Khi mà dân tộc này theochế độ mẫu hệ vậy ai là người quyết định trong việc tiếp cận phương thức khám chữabệnh? Và có sự khác biệt nào giữa nam giới Raglai và nữ giới Raglai hay không?
Cũng chính vì những câu hỏi băn khoăn đặt ra ở trên mà tôi chọn đề tài: “ Sự khác biệt về giới trong việc tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh của người dân tộc Raglai huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa”.
5
Trang 62 Mục tiêu nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài cần đạt được những mục tiêu sau:
Nêu rõ việc tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh của người dân tộcRaglai huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa, biết được hiện nay người dân tộc ở đâykhám chữa bệnh, sử dụng các phương thức khám chữa bệnh như thế nào
Chỉ rõ lý do và đối tượng nam giới hay nữ giới tham gia nhiều hơn vào cácphương thức khám chữa bệnh đó gây nên thực trạng đã tìm hiểu trên và mức độ đápứng của các loại khám chữa bệnh
3 Nguồn dữ liệu:
Các kết quả thu được từ đợt đi thực tập là nguồn dữ liệu chính cho đề tài Từ tưliệu sẵn có đã thư được ở xã Khánh Nam đến tư liệu sẵn có của huyện Khánh Vĩnh.Bên cạnh đó dữ liệu lấy từ bảng hỏi cũng như phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũngđược trích lọc, và được sử dụng chính trong đề tài
4 Nội dung nghiên cứu:
o Tìm hiểu các phương thức khám chữa bệnh của người dân tộc Raglai huyệnKhánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
o Sự khác biệt giới trong việc tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh củangời dân tộc Raglai, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
o Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giới trong việc tiếp cận các phương thứckhám chữa bệnh
5 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Sự khác biệt về giới trong việc tiếp cận các phương
thức khám chữa bệnh của người dân Raglai Cụ thể là tình hình khám chữa bệnh củanam giới và nữ giới Raglai, việc lựa chọn các loại hình khám chữa bệnh của nam và
nữ giới, đánh giá các cơ sở y tế từ đó chỉ ra được yếu tố nào ảnh hưởng đến sự lựachọn đó
Khách thể nghiên cứu: Vì lí do muốn tìm hiểu sự khác biệt giới trong việc
lựa chọn các phương thức khám chữa bệnh của các vùng miền đặc biệt là vùng cóđồng bào dân tộc thiểu số cụ thể là dân tộc Raglai xã Khánh Nam, huyện KhánhVĩnh, tỉnh Khánh Hòa, nơi đang thực hiện chương trình nông thôn mới, như vậy tình
Trang 7tình sức khỏe cũng là tiêu chí quan trọng Chính vì lẽ đó đề tài chọn người dân tộcRaglai ( nam giới và nữ giới) là khách thể nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu: xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh
Hòa
6 Giới hạn của đề tài: Đề tài sự khác biệt giới trong việc tiếp cận các
phương thức khám chữa bệnh của người dân Raglai, xã Khánh Nam, huyện KhánhVĩnh, tỉnh Khánh Hòa Tuy là một đề tài về giới là chủ đạo nhưng trong quá trìnhchọn mẫu, lấy thông tin có phần chênh lệch khách quan về giới mẫu nam và nữkhông đồng đều nhau, tác giả sẽ cố gắng phân tích một cách khách quan nhất để hạnchế sự chênh lệch mẫu nam và nữ Raglai
7 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn:
Ý nghĩa lí luận:
Đề tài thực hiện góp phần vào nghiên cứu về người Raglai, đặc biệt là sự khácbiệt giới trong việc tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh Việc vận dụng cáccách tiếp cận và lý thuyết trong nghiên cứu xã hội học, sử dụng các phương pháp điềutre và xử lý số liệu thuộc lĩnh vực xã hội học, kết hợp với những tài liệu tham khảocủa các nghiên cứu có liên quan Đồng thời qua nghiên cứu thực nghiệm để làm sáng
tỏ và chứng minh những cách tiếp cận và lý thuyết xã hội học được áp dụng trong quatrình nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiễn:
Qua đề đề tài nghiên cứu hy vọng bước đầu chỉ ra đựợc thực trạng và nguyênnhân của vấn đề tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh của người dân tộc Raglaihuyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa dưới góc độ giới Hi vọng đề tài sẽ là tài liệu bổích cho những ai đan quan tâm đến đối tượng người dân tộc Raglai, từ đó có cái nhìnkhách quan về vấn đề tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh của nam và nữ giớingười dân tộc Raglai.Thông qua đó đề ra các giải pháp,khuyến nghị cho các banngành địa phương có liên quan
8 Kết cấu đề tài:
Trang 8Đề tài tác giả chia làm 3 phần chính đó là dẫn nhập, nội dung và kết luận,khuyến nghị.
Phần 1: Dẫn nhập tác giả sẽ nêu những phần sau:
Lí do chọn đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Và đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Ý nghĩa thực tiễn
Phần 2: Nội dung
Chương 1 Cơ sỡ lí luận và phương pháp luận
o Tổng quan nghiên cứu
o Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu
o Câu hỏi nghiên cứu
o Phương pháp luận
o Các khái niệm liên quan
Chương 2: Kết quả nghiên cứu:
Sơ lược địa bàn nghiên cứu:
Tìm hiểu các phương thức khám chữa bệnh của người dân tộc Raglaihuyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
Sự khác biệt giới trong việc tiếp cận các phương thức khám chữa bệnhcủa người dân tộc Raglai, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa
Yếu tố tác động đến sự khác biệt giới trong việc tiếp cạn các phươngthức khám chữa bệnh
Phần 3: Kết luận và khuyến nghị:
Kết luận
Khuyến nghị
PHẦN 2: NỘI DUNG.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1 Tổng quan nghiên cứu:
Trang 9Sức khỏe là mối quan tâm không hỉ của một vài người mà là của một cộngđồng người, cả một xã hội, vì thế nó là mối quan tâm của nhân dân , các nhà nghiêncứu , các nhà chức trách có thẩm quyền Cũng bởi lẽ đó mà có nhiều đề tài của nhiềunhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề sức khỏe trong đó có việckhám chữa bệnh và sức khỏe được mổ xẻ ở nhiều khía cạnh bởi những tác giả khácnhau:
Về nội dung ông James Allman đã khái quát thực trạng kinh tế - văn hóa –
xã hội Việt nam từ năm 1945 trở lại đây, trong đó đặc biệt chú ý đến vấn đề chămsóc sức khỏe Những khó khăn chính vào thời kì này là ngân sách eo hẹp, sự xuốngcấp của hệ thống y tế nói chung…Tuy nhiên từ sau chính sách đổi mới năm 1986, nhiều tổ chức phi chính phủ đã chọn Việt Nam làm mô hình chăm sóc sức khỏeban đầu, nhờ vậy hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam ngày một cải thiện
Sự ra đời của bệnh viện tư cũng tăng thêm cơ hội cho người dân tiếp cận cácphương thức khám chữa bệnh, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ.Bệnh viện tư còn khắc phục được những hạn chế của bệnh viên công như: có sựnhanh gọn, thái độ phục vụ , thuận tiện, rõ ràng Bởi vì thế mà nó đánh đúng vào tâm
lý của người khám chữa bệnh, của những người sử dụng các dịch vụ y tế Ngườinghèo cũng có thể đến đó để khám chữa và chăm sóc sức khỏe Sự ra đời của cácbệnh viện tư đó cần xét đến cùng cũng là yếu tố đảm bảo tính bình đẳng cho phía
người cung cấp dịch vụ.( theo Trịnh Hòa Bình và Đào Thanh Trường, 2004) Cuộc
khảo sát của 2 tác giả cho thấy được những mặt tốt của việc khám chữa bệnh tại bệnhviện tư nhân, còn hạn chế thì 2 tác giả nêu được là chi phí ở các bệnh viện tư khácao, đa phần người đến khám nhiều chỉ là những người có thu nhập cao, nghề nghiệp
ổn định, và là dân thành thị nhiều hơn
Tình hình tiếp cận cơ sở y tế của người nghèo Tp Hồ Chí Minh còn gặp nhiềukhó khăn đặc biệt là khó khăn về kinh tế đưa ra được nhưng phương thức khám chữabệnh của người nghèo ở TP.HCM Đề tài cũng chỉ ra được sự đánh giá cao cácchương trình chăm sóc sức khỏe mở rộng định kì vì tính thiết thực và không tốn phínhư: chương trình khám thị lực cho người trung niên và cao niên,chương trình khám
Trang 10dinh dưỡng cho phụ nữ và trẻ em, nhưng đề tài chỉ dừng lại ở việc nêu ra các thực
trạng chug của người nghèo và quan niệm về sức khỏe .( Nguyễn Thị Lê Uyên, khóa 2002-2006).
Cũng liên quan đến nội dung khám chữa bệnh thì tác giả Thái Thị Thảo Uyên
( K10, ĐH Bình Dương, năm 2011), nói rõ về việc người nông dân nông thôn khám
chữa bệnh, đề tài là một một cái nhìn của người dân tin tưởng vào các cơ sở y tế nhànước và phương pháp khám chữa bệnh bằng tay y hơn là phương thức cổ truyền, đềtài nêu ra những khó khăn khi người dân đi khám chữa bệnh
Đặc biệt quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho đòng bào dân tộc vùng sâuvùng xa để từ đó đưa ra một số kết luận và khuyến nghị có tính khả thi giúp các nhàhoạch định chính sách cùng chính quyền địa phương có sơ sở tham khảo để đề ranhững chính sách và chương trình, kế hoạch phát triển để nâng cao chất lượng chămsóc ban đầu cho dân tộc La Hủ ở địa bàn Mường Tè nói riêng và đồng bào các dântộc thiểu số, vùng sâu xa nói chung cả nước Bàn về những bất cập quanh chăm sóc
sức khỏe, các tác giả cho rằng nguyên nhân thuộc kinh tế thị trường (Trịnh Hòa Bình - Nguyễn Đức Chính, trích theo Thái Thị Thảo Uyên là sinh viên K10,ĐH Bình Dương).
Bên cạnh tình hình chung về hệ thống chăm sóc sức khỏe cả nước, cũng cónhững nghiên cứu quan tâm về sự không công bằng về y tế sức khỏe giữa các vùngmiền, nhóm thu nhập…, đặc biệt là tình hình khám chữa bệnh ở các vùng nôngthôn, vùng sâu vùng xa
Về phương pháp, mỗi một nhà nghiên cứu sử dụng một phương pháp khácnhau Người thì sử dụng một kết quả của một dự án để nói về vấn đề của tác giả quan
tâm ( theo Trịnh Hòa Bình và Đào Thanh Trường, 2004) Có tác giả thì sử dụng
phương pháp phân tích dữ liệu sẵn có, phương pháp tổng hợp (Nghiên cứu “Chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam của tác giả James Allman) Song thông tin thu
được mang tính tổng quát và nghiêng về lĩnh vực y tế hơn là xã hội học y tế Bêncạnh đó cũng có những tác giả dùng cả phương phá định lượng và định tính để làm
nổi bật, lí giải vấn đề tác giả quan tâm (Thái Thị Thảo Uyên là sinh viên K10,ĐH
Trang 11Bình Dương).
Qua những đề tài trên cho thấy mỗi tác giả có những cách tiếp cận khác nhau
về mảng y tế, mỗi đề tài đã làm phong phú thêm cho kho tàng nghiên cứu của xã hộihọc cũng như là y tế Trong đó đề tài tác giả cũng học hỏi thêm được những bậc tiềnbối đi trước về nội dung cũng như phương pháp qua đó rút kinh nghệm cũng nhưphát huy thêm các vấn đề mà các đề tài trước chưa nhắc đến hoặc chưa khai thác sâu.Nhưng những đề tài về người dân tộc thiểu số thì chưa được phổ biến, đặc biệt là sự
khác biệt giới Đây cũng là điều cần thiết để tác giả nghiên cứu đề tài:“ Sự khác biệt giới trong việc tiếp cận các phương thức khám chữa bệnh của người dân tộc Raglay, huyện Khánh Vĩnh Tỉnh Khánh Hòa”.
2. Những cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu
Quá trình phân tích giới có thể giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về vaitrò của phụ nữ, về mối liên kết và sự mất cân đối cũng như về những tác động đốivới công việc và vị trí của nữ giới và nam giới
Phân tích giới cũng giúp cho việc đánh giá những thay đổi trong điều kiệnsống và vị trí của người phụ nữ trong quá trình nghiên cứu
* Phân tích giới bao gồm 4 công cụ sau:
Công cụ 1: Vai trò giới
Phân công lao động theo giới trả lời cho câu hỏi ai làm gì? Trong hầu hết các
Trang 12xã hội, phụ nữ và nam giới tham gia vào những công việc khác nhau Bản chất vàquy mô tham gia của họ ở mỗi hoạt động phản ánh thực tế phân công lao động theogiới trong một bối cảnh cụ thể Lợi ích và vị thế xã hội mà họ có được dựa trênnhững công việc họ thực hiện cũng khác nhau.
Phân công lao động theo giới cho phép chỉ ra những khác biệt và bất hợp lí từgốc độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới Phâncông lao động theo giới có thể thực hiện ở gia đình, cộng đồng, tại một tổ chức hoặc
ở cấp vĩ mô với các loại công việc như sản xuất, tái sản xuất và cộng đồng
Trong phân tích phân công lao động theo giới, có thu thập các thông tin địnhtính và định lượng, để tìm hiểu sự phân công lao động trong gia đình và cộng đồng.Chẳng hạn để có những thông tin định lượng có thể sử dụng bảng hỏi.Ví dụ, trongphiếu điều tra kinh tế hộ gia đình, có thể lấy thông tin về phân công lao động tronggia đình và đánh giá vai trò của mỗi giới qua bảng phân công lao động và lập bảng
về các hoạt động dựa vào mô hình công việc của phụ nữ và nam giới trong 24 giờ
Có thể dùng phương pháp thảo luận nhóm chuyên đề và phỏng vấn sâu để xác địnhcác yếu tố ảnh hưởng đến phân công lao động theo giới trong cộng đồng hoặc giađình
Công cụ 2: Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực:
Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực và ích lợi trả lời câu hỏi ai có cái gì và ai được hưởng lợi?Tiếp cận là việc sử dụng các nguồn lực và lợi ích, còn kiểm soát khả
năng quyết định hoặc tham gia quyết định cách thức sử dụng nguồn lực và lợi íchđó.Tiếp cận và kiểm soát là một trong những các phưong pháp phân tích giới chophép chỉ ra những vấn đề mà phụ nữ và nam giới gặp phải trong việc sử dụng cácnguồn lực của dự án, trong việc thụ hưởng các lợi ích do dự án mang lại, cũng nhưxác định những tác động khác nhau của dự án đối với phụ nữ và nam giới bên cạnh
đó, nó cho phép phát hiện những chênh lệch bất hợp lí về phân bố nguồn lực từ gốc
độ giới Đây là cơ sở đưa ra những gợi ý thay đổi và cải tiến các hoạt động của dự
án nhằm khắc phục những bất hợp lí với mỗi giới
Trang 13Trong nghiên cứu giảm nghèo, tiếp cận và kiểm soát thường được sử dụng đểchỉ ra khả năng tiếp cận và quản lý của phụ nữ đối với các nguồn lực quan trọngnhư ruộng đất, thông tin, dịch vụ khuyến nông, tín dụng, cơ hội việc làm …Tiếp cận
là cơ hội sử dụng nguồn lực, kiểm soát là khả năng quyết định cách thức sử dụngnguồn lực đó
Công cụ 3: Quyền ra quyết định
Mô hình ra quyết định trả lời cho câu hỏi ai có tiếng nói và ai ra quyết định?Các quyết định ở đây liên quan đến việc sử dụng và phân bố nguồn lực của gia đình,của cộng đồng và xã hội Công cụ này giúp chúng ta hiểu được quá trình ra quyếtđịnh đã diễn ra như thế nào?
Mô hình ra quyết định cho rằng, sự tham gia hạn chế của phụ nữ vào việc raquyết định là lý do dẫn đến chỗ các quyền lợi và nhu cầu của phụ nữ và trẻ em gáikhông được quan tâm đầy đủ trong các quyết định ở gia đình và cộng đồng cũngnhư trong việc thực hiện các dự án phát triển
Công cụ 4: Đóng góp và hưởng thụ
Sử dụng công cụ phân tích mức độ thụ hưởng lợi ích theo giới cho phép hiểu
rõ ai là người được ưu tiên hơn trong việc thụ hưởng các lợi ích, mức độ thụ hưởng
đó có tương xứng với mức độ đóng góp vào sự phát triển của hộ gia đình không?
Có đảm bảo cho việc tái sản xuất sức lao động không? Có phù hợp với nhu cầu củatừng thành viên và mục tiêu phát triển lâu dài cảu hộ gia đình không?
Cũng giống như các nước khác trên thế giới, tổ chức xã hội truyền thống ởViệt Nam luôn đề cao vai trò của nam giới với tư cách là chủ gia đình và đề caongười già vì họ là những người gây dựng cơ sở kinh tế gia đình cho các thế hệ concháu, còn phụ nữ chỉ đóng vai trò là người lao động phụ thuộc vào quyền lực giatrưởng của người chồng Bản chất xã hội của giới chính là sự khác nhau giữa cácthuộc tính và các hoạt động đã được xem như là nam hay nữ khi mà những so sánh
đã được tạo ra qua các nền văn hóa giữa các giai cấp và các nhóm dân tộc ở trongcùng một nền văn hóa Tuy vậy, có hai nhân tố vẫn tồn tại trong xã hội mà chúng ta
Trang 14có thể quan sát thấy theo không gian và thời gian, đó chính là sự khác biệt về phâncông lao động giữa phụ nữ và nam giới, sự khác biệt về cơ hội tiếp cận và kiểm soátcác nguồn lực, và thường thì phụ nữ vẫn ít cơ hội hơn so với nam giới Chính vìvậy, để thay đổi quan hệ giới và các đặc trưng giới chúng ta cần vượt qua nhữngđịnh kiến và những quan niệm cũ, tức là cần bắt đầu từ việc đổi mới nhận thức củatừng người về mỗi giới và các quan hệ giới Thực tế sự thay đổi các quan niệm xãhội về Giới là điều hoàn toàn có thể song nó phải gắn liền với những cải thiện cả vềvật chất và tinh thần, cả về kinh tế và xã hội Điều này cũng có nghĩa là mọi cố gắngtrong các hoạt động phát triển phải hướng tới mục tiêu cải thiện điều kiện sống củacác nhóm xã hội khác nhau, trong đó có phụ nữ Việc mở rộng quyền tham gia vàocác hoạt động phát triển của mỗi người dân, chính là cơ sở kinh tế xã hội để cảithiện vị trí xã hội của các nhóm này trong đời sống xã hội.Vậy thì trong các gia đìnhdân Raglay có tồn tại sự bất bình đẳng giới hay không? Vai trò giới trong việckhám chữa bệnh của các gia đình Raglay như thế nào? Quyền ra các quyết địnhkhám chữa bệnh trong gia đình là ai? Đó là những câu hỏi đã được đặt ra và sẽđược giải quyết ở chương sau.
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới trong việc tiếp cận các phươngthức khám chữa bệnh có tồn tại hay không?
Có phải cơ sở hạ tầng là yếu tố tạo nên khó khăn cho việc tiếp cận lựachọn các phương thức khám chữa bệnh của người Raglai hay không?
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Trong đề tài nghiên cứu này tác giả dùng 2 phương pháp
chính là nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính Nhưng thiên về định lượngnhiều hơn, sau khi sử dụng câu hỏi thô và lấy thông tin về mảng y tế trong bảng hỏitác giả cho chạy bảng spss để lấy dữ liệu phân tích.Ngoài ra còn sử dụng thêm nguồn
tư liệu sẵn có, trong chuyến đi thực tập của K11- năm 2012
Phương pháp hệ
Thu thập thông tin:
Trang 15Phương pháp phân tích tài liệu nghiên cứu dựa vào tư liệu sẵn có: Những tàiliệu, thông tin có sẵn liên quan đến vấn đề y tế, các chính sách về y tế, tình hìnhkhám chữa bệnh ở Việt Nam nói chung và ở địa bàn nghiên cứu ( xã Khánh Nam,huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa) nói riêng thu được từ chuyến đi thực tập củaK11- năm 2012, ngoài ra đề tài còn nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu từ cácnguồn:
- Tài liệu tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và trườngĐại học Bình Dương: bao gồm các luận văn và đề tài nghiên cứu khoa học có nộidung liên quan
- Các đề tài nghiên cứu, báo cáo lượng giá của Bộ Y tế và Tổng cục thống kê
- Số liệu thống kê do các ban ngành cơ sở cung cấp
- Sách báo và internet, từ các cuộc hội thảo để làm tổng quan, nhằm so sánhnhững luận điểm của đề tài
Phương pháp định lượng:
Điều tra bảng hỏi:
Bảng hỏi , trong đề tài sẽ sử dụng một số thông tin trong bảng hỏi của nhómbảng hỏi đó là phần y tế sức khỏe là chính bên cạnh đó còn sử dụng thêm các phầnkhác có liên quan như: nhân khẩu, thu nhập, chi tiêu, trong đợt đi thực tập của K11,năm 2012 để làm dữ liệu, cơ sở lấy thông tin cần thiết Sử dụng bảng hỏi nhằm biếtđược mức độ, loại hình, mà người Raglai tham gia vào việc khám chữa bệnh
Phương pháp định tính:
Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm mục đích lý giải những vấn đề mà quađiều tra bảng hỏi không thu thập được, làm rõ thêm, đi sâu vào những vấn đề muốnkhai thác mà bảng hỏi không lấy được dữ liệu
Những bảng PVS đề tài sử dụng là:PVS cán bộ thôn 1 Hòn Dù.PVS gia đìnhđơn thân
Những bảng thảo luận nhóm mà đề tài sử dụng là: Thảo luận nhóm nữ trungniên.Thảo luận nhóm nam trung niên.Thảo luận nhóm cao niên.Thảo luận nhóm thanhniên
Trang 16Những dữ liệu định tính mà tác giả dùng trong bài viết với ý đồ làm rõ luậnđiểm mà tác giả khẳng định ở dữ liệu định lượng, tác giả làm rõ những quan điểm, ýkiến của người Raglai trong việc tiếp cận các phương thưc khám chữa bệnh mà trongbảng hỏi còn thiếu, hay chưa lấy đươc thông tin.
5 Các khái niệm liên quan:
5.1 Bình đẳng giới:
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và
cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụhưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. [1]
Giới : Đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mỗi quan hệ xã hội.Vai trò giới: Các chức năng của nam và nữ theo quan niệm của xã hội
Công bằng giới: Sự đối xử hợp lý với nam và nữ dựa trên việc thừa nhận cáckhác biệt giới tính nhằm đảm bảo cho nam và nữ có cơ hội và điều kiện tham gia vàhưởng lợi
5.2 Cơ sở y tế:
Cơ sở y tế là đơn vị cả hệ thống y tế, giúp thực hiện vai trò và chức năng của
hệ thống y tế Cơ sở y tế bao gồm cơ sở vật chất và đội ngũ nhân viên y tế Tùy thuộcvào mỗi cách phân chia, có nhiều cách gọi cơ sở y tế khác nhau, ví dụ như theo quy
mô, có trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám, trạm y tế hoặc theo quyền quản lýtrực tiếp có bệnh viện công, bệnh viện tư, hoặc theo cách thức chữa trị, lại có cơ sở y
tế tây y và cơ sở y tế y học cổ truyền2
5.3 Sức khỏe:
1 [ 1 ]: Theo điều 5 khoản 3 luật bất bất bình đẳng giới của Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 10, số 73/2006/QH11, ngày 29/11/2006.
2 :nguồn:my opera.com/healthyck/blog/show.dml/10521161.
Trang 17Theo định nghĩa của Tổ chức y thế giới (WHO- World Health Organization),sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứkhông phải chỉ là tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật Như vậy một cá nhân khỏemạnh phải thỏa mãn 3 yêu cầu: thể chất, tinh thần và xã hội Trong ba yếu tố trên, chỉ
có thể chất được đo lường định lượng, còn hai yếu tố còn lại: tinh thần và xã hội rấtthiên về định tính nhiều hơn, vì vậy, trên một phương diện nào đó, sức khỏe toàn diệncủa con người khó kiểm tra bằng chỉ số định lượng Bởi vì một lí do đơn giản, khôngthể định lượng một cách chính xác những niềm vui, nỗi buồn, niềm phấn khởi, sungsướng và khổ đau , mà nó là yếu tố cấu thành nên sức khỏe.
5.4 Tiếp cận:
Khái niệm tiếp cận trong đề tài này được hiểu là sự lựa chọn và những cáchthức mà người dân thực hiện nhằm sử dụng dịch vụ của các cơ sở y tế khi có nhu cầu.Tiếp cận trong trường hợp này bao gồm: cách nam giới, nữ giới đi đến cơ sở y tế, sửdụng dịch vụ tại cơ sở y tế ( khám chữa bệnh, phòng ngừa, tư vấn, phục hồi).
5.5 Tây y (khám ,chữa theo phương thức hiện đại) và y học cổ truyền (khám,chữa theo phương thức truyền thống):
Tây y là nền y học sử dụng phương pháp khám chữa bệnh hiện đại ( y họchiện đại) Phương pháp điều trị sử dụng Tây y mang tính định lượng, là ứng dụng từcông nghệ giện đại và mang lại hiệu quả nhanh
Y học cổ truyền là nền y học được khai sinh đồng thời với sự xuất hiện loàingười Nó ba gồm các phương pháp: bắt mạch, kê đơn thuốc, bốc thuốc đông y, châmcứu, xoa bóp bấm huyệt, vật lý trị liệu, dưỡng sinh Tổ chức y tế thế giới (WHO) đãđánh giá “ hiện nay, y học cổ truyền vẫn đang hoạt động chăm lo sức khỏe, đặc biệt làchăm sóc sức khỏe ban đầu cho gần 3/4 nhân loại, một bộ phận của nhân loại đang
Theo định nghĩa của tổ chức y thế giới ( WHO –World Hearth Organization, 1947).
www.binhduong.com.vn
, Trích theo tác giả Nguyễn Thị Lê Uyên, khóa 2002-2006, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 18chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế - xã hội và ít có cơ may tiếp cận, hưởng thụ nhữngthành quả mới nhất của y học cổ hiện đại”
Trích theoNguyễn Thị Lê Uyên(2006) -Người nghèo tiếp cận các cơ sở y tế ở thành phố Hồ Chí Minh ( nghiên cứu trường hợp phường 1, quận Gò Vấp, tp Hồ Chí Minh.
Trang 19CHƯƠNG 2: SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC PHƯƠNGTHỨC KHÁM CHỮA BỆNH CỦA NGƯỜI DÂN RAGLAI XÃ KHÁNH NAM,HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA:
1 Sơ lược địa bàn nghiên cứu:
Xã Khánh Nam nằm ở phía Bắc huyện Khánh Vĩnh, cách trung tâm huyệnkhoảng 2km, Ranh giới hành chính được xác định như sau: Phía Đông giáp xã DiênHồng, huyện Diên Khánh, phía Tây giáp xã Cầu Bà, xã Khánh Thượng, phía Namgiáp với giáp Sông Cái, bên kia là thị trấn Khánh Vĩnh, xã Sông Cầu, phía Bắc giápvới Khánh Trung
Diện tích tự nhiên là 4.214,81 ha, chiếm 3,61% diện tích tự nhiên của toànhuyện Khánh Vĩnh.Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu có 2 mùa
rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa, mùa nắng từ tháng 1 đến tháng 8 và mùa mưa từkhoảng tháng 9 đến tháng 12 dương lịch, lượng mưa hàng năm tương đối lớn, độ ẩmcao nên khu vực dọc sông suối rất thuận lợi cho các loại cây phát triển, tuy nhiên cónăm mưa nhiều làm ngập lụt nhiều nơi nên cũng không gây ảnh hưởng lớn đến pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27,60C
Lượng mưa trung bình từ 1.100- 1.300 mm/ năm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9
và kết thúc vào tháng 12, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm.Khoảng 20%số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7 tháng 8 hoặc kết thúc sớm vào tháng 11
10-Độ ẩm tương đối trung bình năm là 80% Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9đến tháng 11, độ ẩm thấp nhất trong năm là 36%
Đất đai xã tương đối rộng phía Đông Bắc có núi Giáng Hương, phía Tây Bắc
có núi Hòn Dù, phía Tây Nam núi Dài và có hệ thống sông Cái, sông Giang, các suối
A Xay, Cà Nuông,Chà Khê, suối Đục đan xen với những cánh rừng tạo nên phongcảnh thiên nhiên đẹp, môi trường sinh thái hấp dẫn
Diện tích đồi, núi, sông, suối, chiếm 1/3 diện tích đất sản xuất, đất đồi có độdốc dưới 150, đất bằng dùng để sản xuất nông nghiệp chiếm 2/3 tổng diện tích tự
Trang 20nhiên, đây là một đặc điểm chỉ có ở xã Khánh Nam, rất thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp cũng như quy hoạch các vùng cây trồng nguyên liệu, phân bố dân cư.
Diện tích tự nhiên là 4.214,81 ha, chiếm 3,61% diện tích tự nhiên của toànhuyện Khánh Vĩnh
Địa bàn có 3 thôn: thôn 06, thôn A Xay, thôn Hòn Dù
Dân số toàn xã là 1845 nhân khẩu tương ứng với 478 hộ gia đình: gồm 7 dântộc cùng chung sống:Raglay, Kinh, T’Rin, Tày, Nùng, Mường, Thổ ( trong đó có 3dân tộc chính đó là Raglay, Kinh, T’Rin).Mật đọ dân số bình quân toàn xã năm 2010
là 43 người/km2 nên Khánh Nam được xem là xã miền núi, đất rộng người thưa
So với các xã của huyện khánh vĩnh thì Khánh Nam là xã có dân số trung bình.Tuy nhiên, Dân số của xã phân bố không đều, chủ yếu tập trung sống ven tỉnh lộ 8B
và các trục lộ giao thông trong xã Thời gian qua do làm tốt công tác kế hoạch hóa giađình nên công tác dân số đã đạt được kết quả đáng khích lệ
Lao động trong độ tuổi toàn xã có khoảng 964 người, chiếm 52,24% tổng sốdân toàn xã; trong đó: thuần nông chiếm 96%, chỉ có 0,4% dân số lao động trong cácngành thương mại, dịch vụ, công chức, giáo viên,
Nhìn chung, nguồn lao động tại chỗ khá dồi dào, thường xuyên được các cơquan, hữu quan đào tạo nghề, mở các lớp về thâm canh lúa nước, các loại cây ăn quả,chăn nuôi gia súc, gia cầm,nhằm nâng cao kiến thức, áp dụng khoa học kỹ thuật vàocác loại cây trồng và chăn nuôi
Tuy nhiên đa số là lao động phổ thông chưa được đào tạo, trình độ dân số thấpnên việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng xuất để nâng caonăng suất cây trồng, vật nuôi còn nhiều hạn chế
Còn một số người lao động là bà con dân tộc do trình độ dân trí còn thấp nêntrong canh tác còn lạc hậu,lười nhác lao động, trông chờ ỷ lại vào Nhà nước chưa tựvươn lên, làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Hệ thống giao thông của xã có tổng chiều dài: 48 km, trong đó:
-Đường trục xã liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp
kỹ thuật của bộ giao thông vận tải gồm:
Trang 21+ Đường liên xã( đường tỉnh lộ 8B) có 3,5 km là đường thâm nhập nhựa, cómặt đường rộng 3,5m Nhưng hiện nay đường đã có nhiều chỗ xuống cấp do mặtđường hẹp, lưu lượng xe cộ và lượng người tham gia giao thông rất nhiều, nhất làthường xuyên phải chịu lưu lượng các loại xe tải hạng nặng lưu thông trên tuyếnđường này Đây là tuyến đường giao thông quan trọng nhất cho phát triển kinh tế-VănHóa-Xã Hội của xã Hiện trạng mặt đường trải nhựa 100%, đang xuống cấp còn sửdụng 70%.
+ 01 tuyến liên xã Khánh Trung – Khánh Nam – Diên Hồng: đường cấp phốiđất dài 8km rộng 10m
-Đường trục thôn xóm được cứng hóa đạt tiêu chuẩn theo cấp kỹ thuật của bộgiao thông vận tải: có 05 tuyến dài 15,5 km; trong đó có 01 tuyến dài 1,5 km đã đượcthâm nhập nhựa ( đường dân sinh thôn A Xay), 01 tuyến 1,5km ( Đường dân cư thôn6) là đường cấp phối đất nhưng đã bị xuống cấp mùa mưa thường xuyên lầy lội đi lạikhó khăn 03 tuyến liên xã, liên thôn với chiều dài là 12 km, trong đó đường đã đượcthâm nhập nhựa 2,5 km( đường Hòn Dù đi thôn 6); còn lại là đường cấp phối đất Có
04 km đã bị xuống cấp nghiêm trọng với nhiều đoạn bị xói lở đất và sình lầy
- Đường ngõ, xóm sạch không lầy lội vào mùa mưa gồm: có 02 km đườngmòn do người dân tự mở, tự phát và hiện tại lầy lội vào mùa mưa
- Đường trục chính nội đồng: toàn xã có 18 tuyến với chiều dài 27km trong đó
có 11km là đường cấp phối đất được thi công năm 2003-2004 Đến nay đã bị hư hỏngnhiều đoạn, số còn lại là đường mòn hoặc là đường do dân tự mở để các loại xe thô sơ
đi lại Do đó, việc vận chuyển hàng hóa rất khó khăn nhất là đối với các loại xe ôtô
Trang 22phổ biến nhất là bảo hiểm tự nguyện không thuộc diện hộ nghèo và bảo hiểm dànhcho người nghèo dân tộc kinh và đồng bào dân tộc Tuy nhiên, theo đánh giá củangười dân địa phương thì hiệu quả mang lại của bảo hiểm y tế chưa cao.
Ranh giới hành chính của xã Khánh Nam được phân chia thành 3 thôn Hưởngứng cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa của ban chỉ đạophong trào TD ĐKXD ĐSVH huyện năm 2008, UBND xã Khánh Nam được côngnhận là cơ quan đơn vị văn hóa, có 2 thôn được công nhận làng văn hóa Năm 2010cán bộ và nhân dân xã Khánh Nam tiếp tục phấn đấu để giữ vững những danh hiệutrên Ngoài ra hàng năm còn tổ chức các lễ hội tôn vinh các già làng, trưởng bản, cáctấm gương làm kinh tế giỏi, tăng cường công tác bài trừ tệ nạn xã hội, các hủ tục lạchậu, mê tín dị đoan, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, văn nghệ - thể dục, thể thaotrên địa bàn xã
2 Tìm hiểu các phương thức khám chữa bệnh của người dân tộc Raglai xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
2.1 Tình hình khám chữa bệnh của người dân Raglai:
Khi gặp phải vấn đề sức khỏe như bị bệnh thì vấn đề khám chữa bệnh củangười dân là tất yếu Nhưng cũng tùy thuộc vào các loại bệnh, mức độ và tính chấtcủa từng căn bệnh mà người dân có đi khám chữa hay không Trong đa phần nhữngngười được hỏi có đi khám chữa không thì còn đâu đó những trường hợp còn e ngạiviệc đi đến các cơ sở y tế
Khi được hỏi về tình hình bệnh tật trong một tháng của các gia đình Raglay thì
đã thu được phần lớn là có bệnh, con số này chiếm 64% / 182 người trả lời, còn lại làkhỏe mạnh, ít bệnh Những bệnh mà họ thường gặp đa phần do mất sức, những bệnhnhư cảm sốt, người Raglai họ lao động nhiều nhưng vấn đề về dinh dưỡng thì chưađược quan tâm cao, cho nên họ thường bị mất sức lao động là đa số
Biểu đồ 1 Gia đình trong 1 tháng qua có ai đau ốm không.
Trang 23Nguồn: “Tình hình đời sống người Raglay Huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh CNH-HĐH”, năm 2012.
Trạm ý tế xã ngày càng kịp thời khám chữa bệnh cho nhân dân hàng năm đã tổchức khám chữa bệnh cho 3000 lượt bệnh nhân, quản lý tốt mạng lưới công tác viên.Tăng cường công tác tuyên truyền chăm sóc sức khỏe dân số kế hoạch hóa gia đìnhđược thực hiện song song với công tác khám chữa bệnh Các chương trình y tế nhưphòng chống sốt rét, sốt xuất huyết, bệnh lao, chống suy dinh dưỡng trẻ em, nhândân đã ý thức hơn trong việc giữ gìn vệ sinh, chăm sóc sức khỏe và dân số KHHGĐ.Hiện nay tỉ xuất sinh là 24,64%, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn chiếm tỉ lệ cao là
43%.( số liệu từ tư liệu sẵn có trong chuyến thực tập của K11, năm 2012).
Bảng 1: Các cơ sở ( nơi) người dân khám chữa bệnh
Trang 24mình bệnh thì mình lên trạm xá khám, cho thuốc uống” ( nguồn dữ liệu thực tập năm 2012, mã PVS- 020) Ngoài ra trạm y tế được chọn là do chế độ BHYT miễn phí
K11-giành cho hộ nghèo và người dân tộc thiểu số khi đi khám bệnh không phải đóng tiền
và được cho thuốc uống miễn phí, nên trạm xá là cơ sở y tế được nhiều người chọn
nhất: “ đỡ tốn tiền khám chữa hơn, đi bệnh viện lỡ có chuyện gì thì mình đi phải tốn tiền, có bảo hiểm thì không tốn tiền” ( nguồn dữ liệu thực tập K11- năm 2012, mã PVS- 011) Trong một vài trường hợp đi trạm y tế xã mà không hết bệnh hoặc bệnh
nặng thì họ mới lựa chọn bệnh viện huyện với 50 NTL chiếm tỉ lệ 15,15%, và bệnhviện tỉnh với 22NTL chiếm 6,67% Mặt khác còn nhiều sự lựa chọn nơi khám bệnhkhác nhưng không đáng kể chẳng hạn như: tự chữa ở nhà ( NTL là 5 chiếm tỉ lệ1,52%), hay là đến nhữn phòng khám tư để khám ( với tỉ lệ 2,42%), còn kể đến đó làkhám tại nhà, nhận viên y tế đến nhà khám và khám tại nơi làm việc thì chiếm tỉ lệnhỏ ( 0,3% - 0,91%)
Trang 25Trong số những gia đình có người thân bị bệnh, 86,8% chủ hộ trả lời rằngthường đưa người bệnh đến trạm xã để khám bệnh, 9,3% ra hỏi hiệu thuốc, 1,6% tựchữa bệnh bằng thuốc nam, 1,6% khác có mời thầy cúng đến nhà và 0,5% không có ýkiến.
Bảng 2: Hình thức khám chữa bệnh của người Raglai khi trong nhà
có người bị bệnh
Ngoài việc đi ra trạm xá khám thì người dân vẫn sử dụng những phương thứckhám khác đó là thuốc nam nhưng tỉ lệ này không cao chỉ có 1,6% cho việc tự chữa
bằng thuốc nam “Dạ như thuốc nam thì mình sống ở đây lâu năm nhưng mà không biết thuốc nam gì đó Chỉ có đau bụng đau đồ thì mình hái lá ổi cho uống chứ thuốc nam mình không biết”( trích từ PVS, mã PVS- 010) và 9,3% là ra hiệu thuốc mua
thuốc
Bên cạnh đó việc mời thầy cúng để chữa bệnh vẫn còn tồn tại ở địa phươngnày nhưng con số mời thầy cúng thì chiếm tỉ lệ khá thấp chỉ có 1,6% người trả lờichọn hình thức khám chữa này Nếu như trước kia khi người dân Raglai chưa đượcphát triển như bây giờ thì việc mời thầy cúng chữa bệnh là điều tất yếu và phổ biến,bởi lẽ lúc đó họ mới xuống núi, nhận thức chưa cao, chưa được hiểu biết nhiều vấn đề
Trang 26y tế sức khỏe, còn ngày nay việc mời thấy cũng ít đi là cho thấy sự tiến bộ của đồngbào Raglai nói chung cũng như đồng bào Raglai ở xã Khánh Nam, huyện KhánhVĩnh, Tỉnh Khánh Hòa nói riêng.
Lí do vì sao họ mời thầy cúng và vào những dịp nào ? được làm rõ như sau :
Biểu đồ 2: Mời thầy cúng vào những dịp ( lí do) nào.
Nguồn:
người Raglay Huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa trong bối cảnh CNH-HĐH”, năm 2012
Thầy cúng là người trực tiếp thực hành việc cúng, khấn trong các lễ tục,
lễ hội, chữa bệnh, cầu an… Họ là người trực tiếp “nói chuyện” được với đấng tối cao,đấng siêu nhiên và với cả những người thân đã khuất trong cộng đồng Nói cách khác,
họ nói chuyện với các lực lượng mang yếu tố thần bí và quá khứ liên quan đến tất cảcác thành viên sống trong cộng đồng dân cư Thầy cúng thường cúng các nghi lễ xemtuổi, định ngày cưới hỏi, làm nhà hay làm nghi lễ tang ma, cúng cho những người bịbệnh cũng là những công việc thường nhật của thầy cúng Đến ngày lễ tết, thầy giúpdân làm lễ cúng , cúng rẩy của gia đình, cúng rừng, cúng lễ hội; lễ hội cầu mùa, cầumưa,
Trang 27So với hình thức khám chữa bệnh trước kia, người Raglai thường mời thầycũng vào những dịp lễ khác nhau Dựa vào biểu đồ 2 và bảng 3 tìm hiểu lý do mờithầy cúng của người Raglai, có đến 88,9% / trên tổng 32 người ý kiến nên mời thầycúng cho rằng vào những lúc trong gia đình có người bị ốm, họ sẽ mời thầy cúng vềcúng cho những người bị bệnh; 22,2% mời vào lúc gia đình có tang ma; có 13,9% ýkiến khác sẽ mời thầy cúng vào những dịp cưới xin; 13,9% ý kiến cho rằng sẽ mờithầy cúng vào những dịp làm nhà; 2,8% ý kiến còn lại sẽ mời vào dịp trong gia đình
có người sinh nở
Tiểu kết 1: Qua những con số trên thì có thể nói rằng việc khám chữa bệnh của
người dân Raglai ở xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa là rất cấpthiết cũng qua đó thì cần lắm các cơ sở y tế để đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa chongười dân
Những vấn đề nêu trên là tình hình chung về việc tiếp cận chăm sóc y tế sứckhỏe của đồng bào Raglai ở Xã Khánh Nam, huyện Khánh Vĩnh, Tỉnh Khánh Hòa
2.2 Tình hình khám chữa bệnh của nam giới và nữ giới Raglai:
Đứng ở góc độ giới thì thấy số lượng mẫu nam và nữ có sự chênh lệch, ở đây
có thể nói là mức độ chênh lệch cũn khá cao cụ thể là nam thấp hơn nữ xấp xỉ gấpđôi, nam chiếm 37,9% trong khi nữ chiếm 62,1% Nhưng không vì thế mà đề tài bỏqua việc xem tình hình khám chữa bệnh của nam giới hay nữ giới Raglai mặc dù đềtài có giới hạn về mẫu nghiên cứu
Trang 28Bảng 4: Tương quan giữa giới tính và gia đình có bệnh trong 1 tháng qua (
Nguồn: Dữ liệu thực tập K11 – năm 2012).
số NTL(mẫu) là nữ giới nhiều hơn được hỏi về bệnh tật trong 1 tháng qua thì thuđược kết quả có với tỉ lệ 65.5% / 113 NTL Tuy với số NTL cao hơn nam giới 113/69vậy mà lại nói không( không bị bệnh 1 tháng qua) lại chiếm tỉ lệ thấp 34.5%, qua đócũng thấy rằng nam giới có tỉ lệ bệnh cao hơn nữ mặc dù số mẫu được hỏi về nam thìthấp hơn nữ
Người dân Raglai thuộc chế độ mẫu hệ nhưng hiện nay đa phần các công việcchính như làm rẫy, làm nương, thì người đàn ông là lao động chính, thành phần dinh
dưỡng không đảm bảo (được quan sát qua hình bữa cơm gia đình của nhóm quan sát), nên việc chăm sóc cho sức khỏe không được quan tâm mấy, chỉ trừ khi có bệnh
mới biết mình bệnh và đi chữa bệnh Bên cạnh đó nữ giới cũng không kém nam giới
về các khoảng lao động, trước kia người phụ nữ Raglai còn gặp nhiều vấn đề về sứckhỏe trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, họ sinh đẻ trong rừng rồi tự ý dùng cácvật dụng rất thô sơ không an toàn như tre nứa cắt dây rốn cho con, sau đó mới mangcon về Bởi vì lẽ đó mà sức khỏe của những người phụ nữ Raglai không được quantâm tích cực, ngày nay do lao động vất vả để kiếm ăn từng bữa mà họ tối ngày tất bậtbán mặt cho đất bán lưng cho trời nên vấn đề chăm sóc sức khỏe còn kém