1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh của lãi suất những nhận định cụ thể cho thị trường việt nam

47 376 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Dẫn Truyền Và Tốc Độ Điều Chỉnh Của Lãi Suất Những Nhận Định Cụ Thể Cho Thị Trường Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 708,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nhóm chúng tôi đã tìm hiểu về sự dẫn truyền của lãi suất và các yếu tố tác động đến nó cụ thể là tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, tính minh bạch của chính sách tiền tệ và

Trang 1

PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

1 Lý do chọn đề tài:

Trong thời gian vừa qua, lãi suất là một vấn đề nhức nhối không chỉ đối với người đi vay, người gởi tiền, các định chế tài chính mà còn cả Ngân hàng nhà nước Nhiều ngân hàng huy động vốn vượt trần lãi suất 14% lên đến 17%, 18% một năm cũng như hiện tượng các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay do lãi suất quá cao Vì vậy, để điều chỉnh những xáo trộn trên và góp phần ổn định tình hình kinh tế, ngân hàng nhà nước đã đưa ra những biện pháp nhằm cải thiện tình hình như điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, mà mới đây nhất là điều chỉnh trần lãi suất huy động từ 14% xuống còn 12%

Dễ dàng nhận ra rằng, lãi suất không chỉ là một công cụ điều tiết thị trường mà còn

là động thái phát tín hiệu của chỉnh phủ về phương thức điều hành chính sách tiền tệ

Hơn nữa, lãi suất đã và đang là một chỉ số kinh tế quan trọng được các nhà làm chính sách, các tỗ chức, cá nhân trong và ngoài nước quân tâm, theo dõi, giám sát chặt chẽ

Chính vì tầm quan trọng của biến lãi suất đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô, đã có khá nhiều báo cáo phân tích về chỉ số này và cụ thể hơn ở đây là vấn đề dẫn truyền

từ lãi suất chính sách sang lãi suất bán lẻ và tính minh bạch của chính sách tiền tệ

Rõ ràng, hiệu lực trong việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào sự dẫn truyền này, nếu mức dẫn truyền là nhỏ và không tương xứng với những thay đổi của NHNN thì những hành động của Ngân hàng nhà nước tác động tới thị trường sẽ không còn hiệu quả Vì vậy, nhóm chúng tôi đã tìm hiểu về sự dẫn truyền của lãi suất và các yếu tố tác động đến nó cụ thể là tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, tính minh bạch của chính sách tiền tệ và cấu trúc tài chính cũng như tốc độ điều chỉnh lãi suất là nhanh hay chậm ở Việt Nam để đánh giá hiệu quả của chính sách tiền tệ

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Bài nghiên cứu này cho ta thấy được sự dẫn truyền căn bản của lãi suất gồm hai giai đoạn, giai đoạn một từ lãi suất chính sách (lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn) sang lãi suất thị trường (lãi suất trái phiếu và lãi suất liên ngân hàng) và giai

Trang 2

đoạn hai từ lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ (lãi suất huy động và lãi suất cho vay) Bên cạnh đó, qua sự phân tích cả về mặt định tính và định lượng nhóm nghiên cứu đã đưa ra được các yếu tố tác động đến quá trình dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh Thông qua bài nghiên cứu, nhóm nghiên cứu hướng người đọc đến một số vấn đề chính sau: Thứ nhất, liệu có sự khác biệt trong dẫn truyền các loại lãi suất ở Việt Nam? Thứ hai, thông qua các yếu tố tác động như vậy, liệu rằng NHNN có thể dựa vào các mối liên hệ này để phân tích và điểu chỉnh dẫn truyền theo ý muốn được hay không? Và cuối cùng, lãi suất nào sẽ dẫn truyền nhanh hơn, hay nói cách khác là làm tăng hiệu quả chính sách tiền tệ hơn?

3 Phương pháp nghiên cứu:

Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu mô hình VECM (mô hình hiệu chỉnh sai số) để kiểm tra mức dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng của lãi suất bán

lẻ để phản ứng với sự thay đổi trong lãi suất thị trường ở Việt Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê, kiểm định nghiệm đơn vị mà cụ thể là sử dụng phương pháp Phillips-Perron và phương pháp ADF và kiểm định đồng liên kết (kiểm định tính dừng của phần dư) để có điều kiện hợp lý chạy mô hình VECM Ngoài ra, nhóm cũng sử dụng hồi quy OLS nhằm tính toán sự dẫn truyền trong dài hạn và mối quan hệ đồng lien kết giữa các biến lãi suất này

4 Nội dung nghiên cứu:

Nội dung bài viết chủ yếu xoay quanh các vấn đề sau:

Sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất bán lẻ Quá trình này gồm hai giai đoạn, từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường tiền tệ và từ lãi suất thị trường tiền tệ sang lãi suất bán lẻ Các yếu tố ảnh hưởng đến sự dẫn truyền gồm: tính minh bạch của chính sách tiền tệ, tính cạnh tranh của ngân hàng và cấu trúc tài chính của quốc gia hay hệ thống ngân hàng

Tốc độ điều chỉnh của các loại lãi suất bán lẻ để đáp ứng sự thay đổi trong lãi suất chính sách Những yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ điều chỉnh bao gồm: chi phí thực đơn, chi phí chuyển dổi, bất cân xứng thông tin và cạnh tranh không hoàn hảo

Trang 3

5 Đóng góp của đề tài:

Thực hiện đề tài này, nhóm nghiên cứu đã phân tích các yếu tố tác động đến sự dẫn truyền bao gồm tính cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, tính minh bạch của chính sách tiền tệ và cấu trúc tài chính và các yếu tố tác động đến tốc độ điều chỉnh bao gồm chi phí thực đơn, chi phí chuyển đổi, cạnh tranh không hoàn hảo, bất cân xứng thông tin và một số lý thuyết khác Từ kết quả định lượng lãi suất dẫn truyền không hoàn toàn trong cả hai giai đoạn của cơ cấu dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất bán lẻ ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu muốn định hướng những phương thức mà NHNN có thể sử dụng để làm gia tăng sự dẫn truyển hay nói cách khác chính là tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ

6 Hướng phát triển của đề tài

Do còn nhiều khó khăn trong công tác tiếp cận số liệu nên kết quả kiểm định tốc độ dẫn truyền là cân xứng hay bất cân xứng của lãi suất bán lẻ từ lãi suất liên ngân hàng là thiếu ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, chúng tôi nhận định rằng, đây là một trong những vấn đề thực nghiệm quan trọng và cần được quan tâm khi nghiên cứu

về sự dẫn truyền lãi suất ở Việt Nam Rõ ràng, dưới những yếu tố tác động mà chúng tôi đã nêu ra trong bài thì có khả năng sự điều chỉnh có thể là bất cân xứng, nhưng điều này vẫn chưa được kiểm định cụ thể và đây có thể là một trong những

hướng để phát triển đề tài hoàn thiện hơn nữa

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC BẢNG ……… Trang

Bảng 1 Kiểm định nghiệm đơn vị phương pháp Phillips-Perron (giai đoạn một) 35 Bảng 2 Kiểm định nghiệm đơn vị phương pháp ADF (giai đoạn một) 36 Bảng 3 Sự dẫn truyền trong dài hạn lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường 36 Bảng 4 Kiểm định tính dừng của phần dư trong phương trình dẫn truyền dài hạn (giai đoạn một) 37 Bảng 5 Kiểm định nghiệm đơn vị phương pháp Phillips-Perron (giai đoạn hai) 38 Bảng 6 Kiểm định nghiệm đơn vị phương pháp ADF (giai đoạn hai) 38 Bảng 7 Sự dẫn truyền dài hạn lãi suất liên ngân hàng đến lãi suất bán lẻ 39 Bảng 8 Kiểm định tính dừng của phần dư trong phương trình dẫn truyền dài hạn (giai đoạn hai) 39 Bảng 9 Sự dẫn truyền ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh của lãi suất bán lẻ theo sự thay đổi lãi suất liên ngân hàng 39

Trang 5

MỤC LỤC:

PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 1

3 Phương pháp nghiên cứu: 2

4 Nội dung nghiên cứu: 2

5 Đóng góp của đề tài: 3

6 Hướng phát triển của đề tài 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

MỤC LỤC: 5

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

TÓM TẮT 6

I.GIỚI THIỆU 6

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8

Tính minh bạch của chính sách tiền tệ 8

Sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường và lãi suất bán lẻ 8

Phân tích định lượng 13

II.CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ DẪN TRUYỀN LÃI SUẤT: 14

Tính minh bạch của chính sách tiền tệ 14

Tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng 17

Cấu trúc tài chính của ngân hàng 19

Bài học kinh nghiệm từ thực trạng New Zealand 22

III.SỰ CỨNG NHẮC TRONG TIẾN TRÌNH ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT 25

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

V.DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 34

Kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết 35

-Thực trạng tính cạnh tranh hệ thống ngân hàng, tính minh bạch trong chính sách tiền tệ và cấu trúc tài chính Việt Nam: 40

VI KẾT LUẬN 45

Danh mục tài liệu tham khảo 46

Trang 6

-PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

TÓM TẮT

Bài viết kiểm tra mức độ dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh lãi suất thông qua hai giai đoạn, giai đoạn một từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường, giai đoạn hai là từ lãi suất thị trường sang lãi suất bán lẻ (là lãi suất tiền gởi mà các ngân hàng thương mại trả cho người gửi tiết kiệm và lãi suất cho vay mà ngân hàng tính cho cho người

đi vay) đối với Việt Nam Ở đây chúng tôi xem xét các lý thuyết nền tảng về tính minh bạch của chính sách tiền tệ, tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng và cấu trúc tài chính tác động như thế nào đến sự dẫn truyền cũng như các lý thuyết chứng minh cho tốc độ điều chỉnh lãi suất là cân xứng hay bất cân xứng Hơn nữa, chúng tôi có đề cập đến New Zealand và những bài học kinh nghiệm của nước này trong quá trình làm tăng tính minh bạch chính sách (từ việc chuyển đổi từ mục tiêu số lượng sang mục tiêu lãi suất năm 1999) và cấu trúc tài chính làm hạn chế hiệu quả của mức độ dẫn truyền như thế nào để rút ra những bằng chứng thực nghiệm chứng

tỏ cho lý thuyết của mình Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chạy mô hình định lượng nhằm hai mục đích Thứ nhất, xem xét sự dẫn truyền ở giai đoạn một đối với lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trái phiếu, công cụ nào sẽ đem lại hiệu quả chính sách lớn hơn Thứ hai, ở giai đoạn hai, lãi suất cho vay hay lãi suất huy động sẽ dẫn truyền tốt hơn? Từ những kết quả trên, chúng tôi rút ra nhận xét về tình hình dẫn truyền lãi suất ở Việt Nam và đưa ra tình hình cạnh tranh của hệ thống ngân hàng, cấu trúc tài chính và tính minh bạch chính sách tiền tệ ở nước ta hiện nay như thế nào để có thể phối hợp làm tăng mức độ dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh như mong muốn của nhà làm chính sách Tuy nhiên, chúng tôi chỉ nêu các nhận định, còn việc phối hợp chúng như thế nào thì đó còn là một nghệ thuật của nhà làm chính sách muốn hướng đến

I.GIỚI THIỆU

Chính sách tiền tệ là công cụ chủ yếu để điều tiết nền kinh tế vĩ mô tại hầu hết các nước công nghiệp Khi chính sách tiền tệ cần được thắt chặt (nới lỏng), ngân hàng trung ương hoặc cơ quan có thẩm quyền tiền tệ sẽ tăng (giảm) lãi suất chính thức, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác sẽ theo đó tăng (giảm) lãi suất tiền gửi

Trang 7

và lãi suất cho vay Đối mặt với chi phí tài trợ cao hơn (hay thấp hơn), người tiêu dùng và các công ty sẽ điều chỉnh tiêu dùng và chi tiêu của họ cho phù hợp, từ

đó ảnh hưởng đến sản lượng và lạm phát Do đó, hiệu quả của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào tốc độ và mức độ các tổ chức tài chính dẫn truyền những thay đổi trong lãi suất chính thức tới khách hàng của họ

Trong khi có nhiều nghiện cứu về sự dẫn truyền của chính sách tiền tệ thì sự dẫn truyền của lại suất bán lẻ dường như chưa được tìm hiểu, ít nhất là cho đến gần đây Hầu hết các nghiện cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ giả định rằng sự thay đổi của lãi suất chính thức dẫn truyền ngay lập tức và hoàn toàn đến lãi suất bán lẻ ngân hàng (ví dụ như: Bernanke và Gertler, 1995; Kashyap và Stein, 2000; Altunbas, 2002) Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy sự dẫn truyền có thể là không hoàn toàn và tốc độ điều chỉnh có thể bị chậm lại Sự dẫn truyền và tốc

độ điều chỉnh cũng khác nhau giữa các định chế tài chính và sản phẩm tài chính khác nhau, ám chỉ rằng tốc độ của sự dẫn truyền tiền tệ khác nhau giữa các phân khúc khác nhau của khu vực ngân hàng Hơn nữa, một số nghiên cứu cũng tìm thấy rằng tốc độ điều chỉnh là khác nhau tùy thuộc vào lãi suất cao hơn hay thấp hơn mức cân bằng dài hạn (Chong và các cộng sự, 2005; Kleimeier và Sander, 2005) Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu kiến thức nền về các yếu tố tác động đến sự dẫn truyền lãi suất Có thể kể đến nhiều yếu tố, nhưng ở đây chúng tôi tập trung vào tính minh bạch của chính sách tiền tệ và cấu trúc tài chính và tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng, Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu các lý thuyết tác động đến tốc độ điều chỉnh như lý thuyết hành vi của khách hàng, sự bất cân xứng thông tin, chi phí thực đơn, chi phí chuyển đổi và cạnh tranh không hoàn hảo Bài nghiên cứu này được thực hiện với các mục đích sau đây Thứ nhất, đưa ra các kiến thức nền cho các yếu tố tác động đến sự dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh lãi suất Thứ hai, chúng tôi xem xét sự dẫn truyền dài hạn của lãi suất chính sách đến các lãi suất thị trường khác nhau (lãi suất trái phiếu và lãi suất liên ngân hàng) để xem công cụ nào dẫn truyền tốt hơn hiệu quả chính sách tiền tệ Thứ ba, chúng tôi kiểm tra sự dẫn truyền ngắn hạn và dài hạn của sự dẫn truyền lãi suất ở giai đoạn hai, từ lãi suất liên ngân hàng sang lãi suất bán lẻ bằng mô hình hiệu chỉnh sai số

Trang 8

(ECM) và đưa ra mô hình để kiểm tra liệu tốc độ điều chỉnh là đối xứng hay không đối xứng Tuy nhiên, kết quả này là không có ý nghĩa thống kê ở thị trường Việt Nam nên chúng tôi không đề cập đến trong phần chạy định lượng cho thị trường Việt Nam Cuối cùng, từ kết quả định lượng và kiến thức nền trên, chúng tôi rút ra một số ý kiến về thị trường Việt Nam hiện nay với mong muốn tạo đưa ra được một hướng nhìn mới cho việc nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ ở Việt Nam

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tính minh bạch của chính sách tiền tệ

Malcolm Edey and Andrew Stone (2004) đã làm rõ nhận thức về chính sách tiền tệ

cũng như sự minh bạch và truyền thông của chính sách tiền tệ Theo tác giả, minh bạch trong chính sách tiền tệ là một khái niệm với nhiều khía cạnh Nghiên cứu của Geraats (2001) đã phân loại các khía cạnh khác nhau của minh bạch thành năm loại chính: chính trị, kinh tế, thủ tục, chính sách và hoạt động Hơn nữa, do các loại hình này có mức độ thay thế nhau nhất định nên chúng đã được Hahn (2002) chia thành

ba loại đó là : minh bạch về mục tiêu, minh bạch về thông tin và minh bạch trong hoạt động

Guthrie và Wright (2000) đã tìm hiểu về hoạt động “Open mouth operations” Bài

viết đã trình bày một mô hình thực hiện chính sách tiền tệ mà trong đó một khi lãi suất đi lệch ra khỏi yêu cầu của cơ quan tiền tệ, một hoạt động “Open mouth operations” là tất cả những gì cần thiết để khôi phục lại chúng Sau thông báo thắt chặt của RBNZ (Ngân hàng dự trữ New Zealand), lãi suất của tất cả các kì hạn tăng Những sự thay đổi này không phải do hoạt động của thị trường mở Ông lập luận rằng thông báo thắt chặt không hạ thấp mục tiêu lạm phát của RBNZ, hay gây ra lạm phát cao hơn trong dài hạn Thay vào đó, ông cho rằng lãi suất tăng sau thông báo thắt chặt chủ yếu là bởi vì chúng báo hiệu rằng RBZN mong muốn một lãi suất cao hơn so với lãi suất trong thị trường lúc bấy giờ

Sự dẫn truyền từ lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường và lãi suất bán lẻ

Sarno, L., Thornton, D.L., (2003) đã tìm thấy có sự ổn định đáng kể trong mối quan

hệ dài hạn giữa lãi suất quỹ liên bang (lãi suất chính sách) và lãi suất tín phiếu kho bạc (lãi suất thị trường tiền tệ) trong suốt giai đoạn nghiên cứu mặc dù trải qua các

Trang 9

thay đổi trong quy trình hoạt động chính sách tiền tệ Các tác giả cũng lý luận sự hợp lý của mô hình cân bằng hiệu chỉnh VECM phi tuyến và bất cân xứng và sử dụng nó để định lượng cho mối quan hệ dài hạn ổn định giữa lãi suất quỹ liên bang

và lãi suất tín phiếu kho bạn 3 tháng đồng thời tìm hiểu tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng thông qua lãi suất quỹ liên bang, sự điều chỉnh về trạng thái cân bằng của lãi suất ở dưới mức cân bằng là nhanh hơn so với lãi suất ở trên mức cân bằng

Dan Chirleşan Marius Constantin Apostoaie (2011) đã tìm hiểu sự dẫn truyền từ lãi

suất chính sách sang lãi suất liên ngân hàng ở Romani Theo các tác giả này, sự phản ứng của lãi suất liên ngân hàng đối với sự thay đổi trong chính sách tiền tệ là chậm trong giai đoạn 2003-2008 và mạnh từ sau 10/2008 Những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến sự dẫn truyền này là: sự thay đổi vị trí của ngân hàng quốc gia Romani trong mối quan hệ với hệ thống ngân hàng, làm tăng sự không tin cậy giữa các tổ chức tín dụng, gia tăng nhận thức về rủi ro, kỳ vọng về việc suy giảm giá trị ngân hàng liên quan đến sự phát triển của lãi suất chính sách tiền tệ, sự thiếu hụt nguồn tài chính, sự giảm giá trị chỉ số kinh tế vĩ mô,…

Altunbas, Fazylov và Molyneux (2002) đã nghiên cứu bằng chứng về các kênh cho

vay ở ngân hàng châu Âu Ông cho rằng, các ngân hàng thiếu vốn có xu hướng dẫn truyền nhiều hơn những thay đổi trong chính sách tiền tệ tại các nước nhỏ trong một

hệ thống liên minh kinh tế tiền tệ (EMU)

Kashyap và Stein (2000) cho rằng hệ thống các ngân hàng nhỏ có những thay đổi

nhiều hơn đối với việc cho vay khi nội dung chính sách tiền tệ thay đổi Bài viết cũng một lần nữa khẳng định lại vai trò của các ngân hàng trong sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ

Cottarelli và Kourelis (1994) là những người đầu tiên nghiên cứu sự dẫn truyền đến

lãi suất cho vay Họ thấy rằng sự dẫn truyền lãi suất khác nhau giữa các nước và tính cứng lãi suất cho vay này có thể giảm xuống nhờ một vài nhân tố: sự tồn tại của thị trường đối với thương phiếu, lãi suất thị trường tiền tệ ít biến động và rào cản khá yếu để cạnh tranh hay gia nhập ngành

Paisley (1994) và Heffernan (1997) kiểm tra mối quan hệ giữa lãi suất thị trường và

lãi suất bán lẻ ở Anh thông qua mô hình hiệu chỉnh lỗi Bài nghiên cứu cũng cho

Trang 10

thấy thị trường ngân hàng bán lẻ là một trong những thị trường cạnh tranh không hoàn hảo phức tạp

Whilst Paisley (1994) không tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn trong lãi suất thế chấp

ở tổ chức xây dựng Anh

Heffernan (1997) tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn trong việc hoàn trả thế chấp

nhưng sự dẫn truyền không hoàn toàn cho tài khoản tiết kiệm và tài khoản vãng lai của ngân hàng Anh và tổ chức xây dựng

Hofmann và Mizen (2004) nghiên cứu 13 sản phẩm huy động và thế chấp của định

chế tài chính tư nhân Anh sử dụng mô hình phi tuyến và tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn cho lãi suất huy động nhưng không hoàn toàn cho lãi suất thế chấp

Mojon (2000) kiểm tra sự dẫn truyền ngắn hạn đến lãi suất cho vay và huy động ở 5

nước khu vực đồng tiền chung châu Âu (Bỉ, Đức, Pháp, Tây Ban Nha và Hà Lan), giả định rằng có sự dẫn truyền hoàn toàn trong dài hạn Ông thấy rằng lãi suất bán lẻ phản ứng chậm đối với thay đổi trong lãi suất thị trường tiền tệ; lãi suất dài hạn phản ánh chậm hơn so với lãi suất ngắn hạn, và có sự bất cân xứng trong mức độ dẫn truyền Sự dẫn truyền đến lãi suất cho vay cao hơn khi lãi suất thị trường đang tăng hơn là khi nó đang giảm xuống, nhưng điều ngược lại là đúng cho lãi suất tiền gởi

Bondt (2002) kiểm tra mối quan hệ giữa lãi suất trái phiếu chính phủ và lãi suất huy

động cũng như lãi suất cho vay trên cơ sở kỳ hạn phù hợp cho khu vực Euro Ông ta tìm thấy rằng sự dẫn truyền là hoàn toàn cho hầu hết lãi suất cho vay nhưng không hoàn toàn lên tác động của cả lãi suất tiền gởi và một số lãi suất cho vay

Kleimeier và Sander (2005) kiểm tra sự dẫn truyền trong thị trường bán lẻ của ngân

hàng đối với khu vực đồng Euro và thấy rằng lãi suất cho vay phản ánh nhanh hơn đối với sự thay đổi trong chính sách tiền tệ dự đoán Bài này cũng đã rút ra được một số kết luận như sau: lãi suất ngân hàng có “tính cứng” và có sự khác nhau cần xem xét trong sự dẫn truyền giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gởi ở các ngân hàng khác nhau, cụ thể là lãi suất cho vay sẽ dẫn truyền nhanh hơn Dẫn truyền là hoàn chỉnh nhất trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp và có sự khác nhau trong cơ chế dẫn truyền của các nước trong khu vực đồng tiền chung châu Âu

Trang 11

Chong và các cộng sự (2005) kiểm tra lãi suất huy động ở các kỳ hạn khác nhau và

lãi suất cho vay ở cả ngân hàng thương mại và công ty tài chính ở Singapore và thấy rằng định chế tài chính điều chỉnh lãi suất của họ tăng lên chậm hơn so với điều chỉnh giảm Họ cũng thấy rằng tốc độ điều chỉnh khác nhau qua các sản phẩm tài chính và khác nhau giữa các ngân hàng và công ty tài chính Họ không tìm thấy sự dẫn truyền hoàn toàn của lãi suất

Mark A.Weth (2002) đã nghiên cứu về sự dẫn truyền từ lãi suất thị trường sang lãi

suất cho vay ở Đức Ông cho rằng tổ chức tín dụng lớn hơn điều chỉnh lãi suất cho vay thị trường nhanh hơn tổ chức nhỏ do các tổ chức lớn tiếp cận tốt hơn với thị trường vốn và linh hoạt thay đổi để bù đắp sự thay đổi trong lãi suất chính sách

Hasan Muhammad Mohsin (2011) đã tiến hành nghiên cứu và rút ra kết luận tại

Pakistan thì đối với lãi suất cho vay, sự dẫn truyền cao nhất là cho ngân hàng nhà nước, sau đó là ngân hàng tư nhân, ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng đặc biệt khác Vì vậy, chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến lãi suất cho vay nhiều hơn lãi suất huy động ở Pakistan

Còn theo Stelios Karagiannis, Yannis Panagopoulos và Prodromos Valmis, (2010)

Có hai lí do chính để giải thích cho sự điều chỉnh bất cân xứng của lãi suất bán lẻ để đáp ứng sự thay đổi lãi suất bán buôn là do hành vi của người tiêu dùng (hay lý thuyết phản ứng của người tiêu dùng – customer reaction hypothesis – là lý thuyết liên quan đến mức độ tinh tế của người tiêu dùng liên quan đến thị trường vốn) Người đi vay hoặc người gởi tiền càng tinh tế, ngân hàng càng miễn cưỡng thực hiện sức mạnh thị trường đến lợi ích của nó Giả thuyết này cho thấy sự điều chỉnh bất cân xứng, với lãi suất cho vay là tăng nhanh còn lãi suất tiền gởi là giảm chậm Đây là trường hợp mà ngân hàng hoạt động có tính cạnh tranh cao và nó lo sợ phản ứng tiêu cực từ khách hàng khi tăng lãi suất cho vay và giảm lãi suất tiền gởi và giả thuyết thông đồng giá của ngân hàng (bank’s collusive pricing hypothesis – lý thuyết cho rằng ngân hàng có khuynh hướng giảm lãi suất huy động và tăng lãi suất cho vay khi họ có khả năng thực hiện sức mạnh thị trường và điều chỉnh lãi suất có lợi cho mình) Trường hợp này thì lãi suất cho vay là giảm chậm và lãi suất tiền gởi

là tăng chậm

Trang 12

Ben Petro, John Mcdermott (2003) đã khảo sát mối quan hệ giữa lãi suất tiền mặt,

lãi suất thị trường tiền tệ và lãi suất được tính bởi các định chế tài chính ở New Zealand Ngoài ra, tác giả còn xem xét sự khác biệt trong quy mô dẫn truyền trước

và sau khi thực hiện OCR và mức độ thay đổi trong lãi suất thị trường tiền tệ được dẫn truyền vào lãi suất cho vay nhà ở của ngân hàng Bài viết còn tranh luận rằng, với chính sách mới, thị trường trở nên minh bạch hơn, nhờ vào các hằng số OCR trong một thời gian dài Mức độ dẫn truyền hiện tại cho lãi suất thả nổi là lớn mặc

dù có các yếu tố giảm nhẹ như mức độ cạnh tranh, cấu trúc bảng cân đối kế toán của các ngân hàng và rủi ro tín dụng ảnh hưởng đến lợi nhuận

Harald Sander, Stefanie Kleimeier (3.2006) đã điều tra sự dẫn truyền lãi suất trong

bốn khu vực thị trường tiền tệ thông thường (CMA) của các nước thuộc liên minh thuế quan Nam Phi (SACU) trong khoảng thời gian từ 1991 đến 2005 Kết quả của tác giả chỉ ra rằng các thị trường cho vay ngân hàng của CMA, sự dẫn truyền thường thường nhanh và hoàn toàn Thị trường tiền gửi thì thường không đồng nhất hơn bằng việc thể hiện ra các mức độ khác nhau trong tính cứng của lãi suất và sự điều chỉnh không đối xứng trong một vài nước Vì vậy nhà làm chính sách nên chú

ý đến sự canh tranh không hoàn hảo có thể là trọng tâm của sự khác biệt giữa các nước trong sự truyền dẫn tiền tệ ở CMA

Hannan và Berger (1991) và Neuman và Sharpe (1992) là những người đầu tiên

nghiên cứu tính cứng của lãi suất tiền gởi Trong khi giả định sự dẫn truyền là hoàn toàn và lập tức cho lãi suất cho vay, họ kiểm tra sự tác động của sức mạnh thị trường trong thị trường tiền gởi dựa trên tính cứng của nó ở Mỹ Họ thấy rằng sự điều chỉnh bất cân xứng trong lãi suất tiền gởi, những ngân hàng điều chỉnh lãi suất tiền gởi tăng chậm hơn so với khi điều chỉnh xuống và họ cho rằng đó là do sức mạnh thị trường của các ngân hàng trong thị trường tiền gởi (những ngân hàng có thể chi phối lãi suất)

Marco và Alessandro (2003) nghiên cứu về tính cứng của lãi suất bán lẻ ngân hàng

ở Mỹ, trong phân tích của mình, họ ngụ ý rằng, các ngân hàng không thể gây ảnh hưởng đến hành vi cho vay vì họ chỉ là một phần tử nhỏ trong thị trường, do đó, họ cho rằng, sự dẫn truyền đến lãi suất bán lẽ là ngay lập tức và hoàn toàn

Trang 13

Dutta và các cộng sự (1999) đã đưa ra kết quả nghiên cứu là chi phí thực đơn cho

mỗi lần thay đổi giá cả của chuỗi các cửa hàng thuốc lớn ở Mỹ là tương tự với những báo cáo cho chuỗi các siêu thị lớn ở Mỹ Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn nhận thấy rằng, cả hai hình thức bán lẻ trên đều phụ thuộc rất nhiều vào chiến dịch quảng cáo và cả hai đều sử dụng quy tắc định giá phụ thuộc vào thời gian Điều này cho thấy là, ít nhất một phần nào đó của chi phí thực đơn có khả năng ảnh hưởng đối với nhiều loại sản phẩm bán lẻ khác nhau, không chỉ riêng những sản phẩm được niêm yết Chúng ta cũng có thể hình dung rằng, những kết quả trên cũng đúng trong lĩnh vực tài chính khi mà lãi suất được xem như là giá cả của những khoản vay

Claudia Kwail and Johann Scharler (1.2007) đã phân tích về tính chắc chắn của

mô hình giá có tính cứng đơn giản, thể hiện được rằng lãi suất bán lẻ điều chỉnh chậm chạp so với những thay đổi của lãi suất chính sách tiền tệ và sự dẫn truyền này

có khả năng sẽ không hoàn toàn Một kết quả chủ yếu của tác giả nữa là nếu sự dẫn truyền đến lãi suất bán lẻ là không hoàn toàn trong dài hạn, thì nguyên tắc Taylor tiêu chuẩn sẽ không còn đảm bảo cho một mức cân bằng được xác định

M van Leuvensteijn a, C Kok Sørensen b, J.A Bikkerc, A.A.R.J.M van Rixteld (2008) đã phân tích các tác động của cạnh tranh thị trường cho vay đối với lãi suất

cho vay và tiền gửi áp dụng ở các ngân hàng khu vực châu Âu trong thời gian

1994-2004, bằng cách sử dụng một biện pháp mới cạnh tranh được gọi là chỉ số Boone

Sử dụng phương pháp tiếp cận một mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để đo lường hiệu quả của cạnh tranh trên sự dẫn truyền của lãi suất thị trường sang lãi suất ngân hàng, tác giả tìm thấy rằng các ngân hàng có xu hướng định giá các khoản vay của

họ theo quy định của thị trường trong nước khi áp lực cạnh tranh mạnh hơn

Phân tích định lượng

MacKinnon(1999) đề cập đến kiểm định phân số khả năng để đánh giá tính vững

chắc của mô hình Bài nghiên cứu cũng cho rằng cách tiếp cận của Johansen đã được sử dụng rộng rãi trong công tác ứng dụng, cung cấp một khuôn khổ thống nhất

để đánh giá và thử nghiệm trong bối cảnh của một vector tự hồi qui đa biến trong

mô hình hiệu chỉnh sai số (VECM) với các lỗi thông thường

Trang 14

Phillips và Loretan (1991) đã dùng nhiều phương pháp khác nhau để ước lượng sự

cân bằng dài hạn của nên kinh tế hay mối quan hệ đồng liên kết Họ tập trung vào thực hiện bằng các phương trình đơn giản Ngoài ra họ còn sử dụng các mô hình như OLS, FM, SEECM Từ kết quả chạy mô hình và so sánh với thực tế cho thấy, kết quả của hai mô hình FM, ECM, SEECM có ý nghĩa thống kê hơn hẳn so với mô hình OLS

Henry (1995) đã phát triển một phương pháp kinh tế lượng hoạt động được thực

hiện bằng việc lập mô hình xây dựng Giáo sư Hendry giải quyết các vấn đề về phương pháp luận (tìm mô hình, đào bới dữ liệu, chiến dịch nghiên cứu hồi qui); với các công cụ chủ yếu cho việc lập mô hình (phương pháp hồi qui, sự hoàn thành, siêu ngoại sinh, kiểm định bất biến); và với các vấn đề thực nghiệm (cộng tuyến, phương sai thay đổi, đo lường sai số

II.CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ DẪN TRUYỀN LÃI SUẤT:

Tính minh bạch của chính sách tiền tệ

Một điểm khởi đầu hữu ích cho các cuộc thảo luận về sự minh bạch trong chính sách tiền tệ là việc chấp nhận rằng đầy là một khái niệm với nhiều khía cạnh Geraats (2001) đã phân loại các khía cạnh khác nhau này thành năm loại chính Đó là: chính trị, kinh tế, thủ tục chính sách và hoạt động Tuy nhiên một số nghiên cứu tiếp theo đã lập luận rằng có một mức độ thay thế nhất định giữa các khía cạnh của

sự minh bạch mà Geraats đã đưa ra Hahn(2002) đã đề suất một sự phân loại năm khía cạnh trên thành ba loại: minh bạch về mục tiêu, minh bạch về thông tin và minh bạch trong hoạt động Minh bạch về mục tiêu: liên quan đến tính minh bạch về mục tiêu tổng thể của Ngân hàng Trung ương, thể hiện qua việc mở rộng mục tiêu chính sách Cụ thể hơn nữa là mục tiêu hoạt động từng ngày, ví dụ như việc duy trì lãi suất tiền mặt qua đêm tại mức mục tiêu mong muốn Các mục tiêu nhỏ trong ngắn hạn này sẽ bao gồm đặc điểm của mục tiêu lạm phát được đưa ra Minh bạch

về thông tin: liên quan đến các thông tin mà Ngân hàng Trung ương cung cấp cho công chúng Chủ yếu về ba nhóm thông tin sau Thứ nhất, các dữ liệu mà Ngân hàng Trung ương dựa vào để xây dựng chiến lược nhằm đạt mục tiêu tổng thể gồm những gì? Tiếp đó, là việc các dữ liệu này được sử dụng như thế nào trong chiến lược tổng

Trang 15

thể Ngân hàng Trung ương để minh bạch điều này có thể phát hành định kì những

dự báo liên quan đến các biến quan trọng của thị trường như tỷ giá hay lãi suất… Hoặc việc đưa ra những lí do nhằm giải thích về những dự báo này cho công chúng biết Cuối cùng, chính là câu hỏi: Những dữ báo này của Ngân hàng Trung ương ảnh hưởng đến lập trường của chính sách hiện hành như thế nào? Minh bạch trong hoạt động: chủ yếu được thể hiện qua sự cởi mở của Ngân hàng Trung ương trong quá trình sử dụng các công cụ của mình để thực hiện chính sách tiền tệ Ví dụ, Ngân hàng Trung ương công bố cho công chúng các quyết định liên quan đến mức lãi suất mục tiêu ngắn hạn Hay vấn đề thủ tục cách thức trong quá trình ra các quyết định

về chính sách tiền tệ Ngân hàng Trung ương có thể công khai những biên bản, hồ

sơ, hay các loại giấy tờ có liên quan trong quá trình ra quyết định về chính sách tiền

tệ ra cho công chúng (Theo Malcolm Edey và Andrew Stone năm 2004)

Để đánh giá các khía cạnh kinh tế cụ thể của tính minh bạch cần lưu ý rằng, tài liệu

về vấn đề này dựa trên lý thuyết nhiều hơn thực nghiệm Những nghiên cứu lý thuyết phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của khuôn khổ mô hình được sử dụng, đặc biệt là: việc nghiện cứu về tính không chắc chắn, cách thức chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến nền kinh tế thực, tính chính xác về các mục tiêu của Ngân hàng Trung ương Các nghiên cứu thường phân tích dựa trên rất nhiều các giả định khác nhau Hai vấn đề trung tâm từ những nghiên cứu về sự minh bạch mục tiêu là: sự không thống nhất về mặt thời gian và tác động của sự minh bạch tới kì vọng hình thành Nghiên cứu củaa Eijffinger, Hoeberichts và Schaling (2000) cho thấy, trong trường hợp Ngân hàng Trung ương có sự không chắc chắn về lạm phát và sản lượng, minh bạch sẽ có lợi vì nó giúp sửa chữa kì vọng lạm phát, làm giảm lạm phát trung bình

và phương sai lạm phát Sử sụng mô hình tương tự thì Canzoneri (1985) tìm thấy rằng việc tăng tính minh bạch cũng giúp vượt qua vấn đề tiến thoái lưỡng nan khi không thống nhất về mặt thời gian mà Ngân hàng Trung ương phải đối mặt đó là sự cám dỗ tìm kiếm một kết quả cao bằng cách nói một đằng làm một nẻo Mô hình chính sách tiền tệ không thống nhất về thời gian có thể gây thiệt hại về uy tín của Ngân hàng Trung ương Tăng tính minh bạch có thể làm giảm động cơ hành xử theo cách này

Trang 16

Vấn đề tiếp theo liên quan đến hiệu quả giao tiếp của Ngân hàng Trung ương Mặc

dù nền kinh tế rất rộng lớn và phức tạp, công chúng đôi khi không thể biết được chính xác tất cả các thông tin cần thiết, nhưng họ có thể phán đoán thông qua việc quan sát hành động của Ngân hàng Trung ương Đặc biệt, Orphanides và Williams (2003a) tìm thấy rằng quá trình học tập và thích ứng công chúng khi đối mặt với những hành động của ngân hàng trung ương, có thể làm cho nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng mà trong đó lạm phát mong đợi của công chúng trở nên tách biệt với mục tiêu chính sách của Ngân hàng Trung ương dẫn đến tình trạng lạm phát đi kèm vơi suy thoái Điều này làm nổi bật giá trị của giao tiếp hiệu quả đối với một mục tiêu lạm phát của ngân hàng trung ương và chú ý cảnh giác chống lại lạm phát neo theo

kỳ vọng

Trong bài nghiên cứu của Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis and Rad (2005) về “Sự minh bạch của chính sách tiền tệ và sự dẫn truyền của lãi suất bán lẻ”, các tác giả xem xét đến ảnh hưởng của chính sách minh bạch và cấu trúc tài chính trong cơ chế dẫn truyền New Zealand là quốc gia OECD đầu tiên thông qua chế độ lạm phát mục tiêu chính thức với trách nhiệm cụ thể và các quy định minh bạch

AlirezaTourani-Tác giả phân tích liệu sự thay đổi trong chính sách tiền tệ, cụ thể là gia tăng tính minh bạch của nó, có gây ra một tác động nào đến sự dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh của các lãi suất bán lẻ ở New Zealand hay không? Chính sách tiền tệ ở New Zealand đã trải qua một sự thay đổi lớn: chuyển từ mục tiêu số lượng tiền tệ (tài khoản thanh toán) sang mục tiêu lãi suất trong điều hành thị trường Điều này được thể hiện rõ trong tiến trình 3 giai đoạn Đầu tiên là gián tiếp sử dụng tỷ giá để thực hiện chính sách tiền tệ Sau đó, từ tháng 7/ 1997 đến tháng 3/ 1999, RBNZ sử dụng

chỉ số tiền tệ có điều kiện (MCI) như một phương tiện thông tin cho các yêu cầu của

chính sách tiền tệ Cuối cùng, tháng 3 năm 1999, RBNZ điều khiển thị trường thông qua lãi suất tiền mặt chính thức (OCR) Bài viết cho rằng, sự thay đổi này làm cho chính sách tiền tệ trở nên minh bạch hơn, để kiểm tra tác động của sự thay đổi này, ông đã dùng các mô hình kinh tế lượng để phân tích sự dẫn truyền của các lãi suất bán lẻ trước và sau khi có OCR

Trang 17

Kết quả cho thấy rằng chính sách tiền tệ gây ảnh hưởng lớn hơn đối với các mức lãi suất trong ngắn hạn Gia tăng tính minh bạch trong chính sách tiền tệ làm giảm biến động đối với lãi suất chính thức và làm ngành ngân hàng trở nên cạnh tranh hơn Với sự gia tăng tính minh bạch trong chính sách tiền tệ và lãi suất biến động ít hơn dẫn đến sự thay đổi trong tương lai của lãi suất ngắn hạn sẽ trở nên ít biến động hơn,

từ đó làm tăng mức độ dẫn truyền của lãi suất chính thức đến lãi suất bán lẻ đồng thời góp phần gia tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ

Tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng

Hệ thống ngân hàng giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế, là một mắt xích không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất xã hội, trong đó có thể thấy một số vai trò chính sau đây: Thứ nhất, tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, sau đó tiến hành cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, giúp cho nguồn lực của xã hội được khai thác và sử dụng hiệu quả Thứ hai, với vị trí là một trung gian tài chính trong nền kinh tế thị trường giúp giảm chi phí giao dịch, an toàn trong thanh toán, giúp đẩy nhanh quá trình thanh toán, từ đó tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ tái sản xuất xã hội Đồng thời, sáng tạo ra các công cụ thanh toán mới, làm tăng tính tiện ích cho các khách hàng tạo nhiều cơ hội lựa chọn với các công cụ thanh toán phù hợp; điều này đồng thời cũng đem lại lợi ích lớn cho xã hội Thứ ba, hoạt động của NHTW giúp tạo lập môi trường vĩ mô ổn định lành mạnh, kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đối nội lẫn đối ngoại của đồng tiền, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Thứ tư, hoạt động của hệ thống ngân hàng giúp đất nước hội nhập kinh tế quốc tế nhanh chóng hiệu quả

Bên cạnh đó, các ngân hàng nâng cao vốn hoạt động chủ yếu thông qua cung cấp dịch vụ tiền gửi và đầu tư tài sản dài hạn, điều này tồn tại nhiều nguy cơ bất ổn và khủng hoảng hệ thống Hơn nữa sự phụ thuộc quá nhiều vào đòn bẩy tài chính và thông tin bất đối xứng có thể gây ra nhiều rủi ro Sự bất ổn tài chính làm gia tăng một chi phí lớn, vì vậy các nhà làm chính sách ưu tiên cao cho việc tránh các cuộc khủng hoảng tài chính Vì những lý do này mà trong một thời gian dài tính cạnh tranh ít được chú ý đến, thay vào đó nhà quản trị theo đuổi mục tiêu ổn định tài chính Cạnh tranh hơn thì tác động đến hiệu quả hoạt động nhưng tác động xấu cho

Trang 18

sự ổn định tài chính Lý thuyết cho rằng mức độ tập trung kinh tế trên thị trường cao hơn và cạnh tranh thấp hơn sẽ dẫn đến sự dẫn truyền nhanh hơn và mạnh hơn.( theo Harald Sander và Stefanie Kleimeier năm 2004)

Tuy nhiên trong hai thập kỷ qua xu thế đã bị đảo ngược, chính sách cạnh tranh đã được sử dụng hiệu quả trong nhiều lĩnh vực tài chính(Franklin Allen và Douglas Gale, 2003) Bởi vì trong thực tế, sự không chắc chắn về chi phí để tập trung kinh tế trên thị trường cùng với nhận thức tiêu cực về mức độ thỏa hiệp giữa cạnh tranh và

ổn định tài chính có thể khiến các nhà hoạch định chính sách tập trung vào chính sách cạnh tranh Các chi phí của cuộc khủng hoảng tài chính chắc chắn cao, nhưng không có nghĩa giảm cạnh tranh để tránh những chi phí đó Các chi phí của khủng hoảng tài chính diễn ra không thường xuyên có thể hàng thập kỷ hoặc vài thập kỷ trong khi chi phí tập trung không hiệu quả xảy ra liên tục Phạm vi dự toán chi phí hiệu quả từ sự tập trung ít phù hợp với hiệu quả của các đối thủ cạnh tranh

Có một chính sách lớn dựa trên quan điểm cho rằng có sự thỏa hiệp giữa cạnh tranh

và ổn định tài chính( xem Franklin Allen và Douglas Gale năm 2003) Kể từ khi cạnh tranh được mong đợi tỏ ra có hiệu quả, sự thỏa hiệp giữa cạnh tranh và ổn định tài chính buộc các ngân hàng phải tăng cường các quy định để điều tiết Một công

cụ hiệu quả được sử dụng là kiểm soát vốn( áp đặt các yêu cầu vốn tối tiểu đối với các ngân hàng) Ngoài kiểm soát vốn kiểm soát lãi suất huy động cũng là cần thiết Ngụ ý rằng khi có sự thỏa hiệp giữa cạnh tranh và ổn định tài chính lãi suất được kiểm soát chặt hơn làm giảm sự dẫn truyền từ lãi suất thị trường sang các loại lãi suất bán lẻ khác Tuy nhiên có ý kiến cho rằng đôi khi cạnh tranh làm gia tăng ổn định tài chính Tính cạnh tranh gia tăng buộc ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay

do vậy làm gia tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư, đồng thời tác động làm giảm rủi ro mất khả năng thanh toán do vậy làm cấu trúc tài chính ổn định hơn

Theo Harald Sander và Stefanie Kleimeiner( 2004), trong thị trường tiền gửi, biến động nhiều hơn, cạnh tranh hơn, làm tăng sự dẫn truyền cả trong ngắn hạn và dài hạn Theo Benoit Bojon( 2000), cạnh tranh có tác động đáng kể đến sự dẫn truyền của lãi suất huy động Lãi suất ngân hàng trong thị trường cạnh tranh hơn, phản ứng mạnh và nhanh hơn với sự thay đổi lãi suất thị trường Do vậy tăng tính cạnh tranh

Trang 19

để sự dẫn truyền của chính sách tiền tệ hiệu quả hơn Thị trường ngân hàng cạnh tranh hơn dẫn tới kỳ vọng lãi suất cho vay ngân hàng giảm, điều này làm tăng phúc lợi cho cá nhân và doanh nghiệp Áp lực cạnh tranh là cao hơn ở thị trường cho vay hơn là thị trường tiền gởi ở khu vực Euro, tuy nhiên ở nước ta, do hệ thống ngân hàng còn phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng có vốn góp cao của nhà nước nên lãi suất cho vay chưa được linh hoạt nhiều do nhà nước áp trần lãi suất cho vay không quá cao để cứu doanh nghiệp

Cấu trúc tài chính của ngân hàng

Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm các tụ điểm vốn và các bộ phận dẫn vốn bao gồm: tài chính doanh nghiệp, ngân sách Nhà nước, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian, tài chính dân cư và các tổ chức xã hội, tài chính đối ngoại Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó các nguồn tài chính được tạo ra, đồng thời cũng

là nơi thu hút trở lại nguồn vốn, tuy nhiên ở các mức độ và phạm vi khác nhau Trong hoạt động kinh tế, các tụ điểm vốn này có mối liên hệ thường xuyên với nhau chính thông qua những mối quan hệ nhất định Trong phạm vi bài nghiên cứu, chỉ xét đến một khía cạnh nhỏ của cấu trúc tài chính quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến sự dẫn truyền từ lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất bán lẻ là sự phụ thuộc vào nước ngoài của hệ thống tài chính quốc gia hay cụ thể là tỷ lệ nợ nước ngoài

Theo Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis and Alireza Tourani-Rad (2005), một quốc gia có nền kinh tế nhỏ, mở, nếu phụ thuộc quá nhiều vào nợ nước ngoài, sẽ làm giảm đi rõ rệt hiệu quả của chính sách tiền tệ Dẫn chứng cụ thể là New Zealand, quốc gia này có tỷ lệ nợ trên GDP lên đến 101% ( số liệu năm 2005), thực tế cho thấy, hiệu quả của việc thực hiện chính sách tiền tệ ở nước này đã giảm đi đáng kể Giải thích cho điều này, có thể dựa trên quan điểm rằng: sự dẫn truyền từ lãi suất thị trường tiền tệ sang lãi suất bán lẽ chủ yếu qua ba kênh sau: kênh lãi suất, kênh hạn mức tín dụng và kênh giá tài sản Do đó, nếu một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều, vượt xa ngưỡng an toàn cho phép, thì kênh cho vay trong nước của quốc gia

đó cũng sẽ phụ thuộc rất nhiều lãi suất cho vay của các chủ nợ của mình Một khi cần có sự thay đổi ở kênh cho vay trong nước, thì rất khó đạt được mức độ thay đổi mong muốn của các nhà làm chính sách Nói một cách dễ hiểu, khi phải chịu một

Trang 20

mức lãi suất cho vay là 15% chẳng hạn từ các ngân hàng nước ngoài, thì dù muốn

dù không các nhà làm chính sách trong nước khó lòng có thể hạ lãi suất cho vay trong nước xuống còn 12% hay 13%, điều này càng khó khăn hơn khi muốn nâng mức lãi suất cho vay trong nước Hay nói cách khác, kênh cho vay trong nước đã chịu một cái neo danh nghĩa vào lãi suất cho vay nước ngoài, dẫn đến làm giảm quy

mô dẫn truyền từ lãi suất thị trường tiền tệ đến lãi suất bán lẽ thông qua kênh cho vay Kết quả có thể thấy trước mắt là hiệu quả của chính sách tiền tệ đã giảm đi đáng kể Đã có nhiều luồng ý kiến khác nhau để khắc phục tình trạng này, nhưng nổi bật hơn cả là hai ý kiến sau

Thứ nhất, tiến hành tái cấu trúc tài chính quốc gia, dần dần thoát khỏi phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn nước ngoài Có hai phương pháp thực hiện cải cách cấu trúc tài chính là: cải cách đồng bộ hoặc cải cách từng bước hệ thống tài chính Cải cách đồng bộ hệ thống tài chính là sự chuyển hướng từ kiềm chế tài chính sang tự do hoá tài chính mà theo đó các biện pháp được tiến hành một cách đồng bộ, tức thời Các chính sách tài chính chuyển từ cố định lãi suất sang tự do hoá lãi suất, từ tỷ giá cố định sang tự do hoá tỷ giá Hệ thống các ngân hàng được cổ phần hoá hàng loạt Phương pháp này thường gây ra phản ứng sốc đối với hệ thống tài chính và nền kinh

tế Phản ứng này có thể có tác dụng tốt đối với nền kinh tế có sự chuẩn bị kỹ càng Tuy nhiên hầu hết các quốc gia khi chuyển đổi từ kiềm chế tài chính sang tự do hoá tài chính đều có hệ thống tài chính rất yếu kém Chính vì vậy biện pháp này nhiều khi lại gây ra tác động xấu dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính của các quốc gia áp dụng biện pháp này Biện pháp cải cách từng bước hệ thống tài chính thường được các quốc gia lựa chọn vì nó không gây ra các phản ứng sốc quá mạnh đối với các hệ thống tài chính và nền kinh tế của các quốc gia Tuy nhiên, để biện pháp này tiến hành có hiệu quả thì tiến độ thực hiện cải cách hệ thống tài chính phải được đẩy nhanh tránh để lâu dài sẽ không hiệu quả vì sức ỳ của nền kinh tế quá lớn Tóm lại, mỗi phương pháp cải cách hệ thống tài chính đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Tuỳ vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi nước mà việc áp dụng phương pháp nào cho phù hợp là hết sức quan trọng

Trang 21

Thứ hai, thực hiện các nghiệp vụ nhằm giảm thiểu rủi ro ngoại hối Ví dụ như, áp dụng các công cụ chứng khoán phái sinh: thông qua các giao dịch hoán đổi ngoại hối và hoán đổi lãi suất chéo, chi phí vay có hiệu quả ở nước ngoài sẽ tương tự như lãi suất trong nước với cùng kỳ hạn, bỏ qua chi phí giao dịch liên quan tới rào cản thương mại giữa các quốc gia Trong thực tế, rủi ro ngoại hối ngắn hạn có thể được bảo đảm dễ dàng thông qua giao dịch hoán đổi ngoại hối, hoán đổi tiền tệ, bảo hiểm rủi ro chống lại rủi ro tiền tệ dài hạn thì tốn kém và ít hiệu quả hơn, làm giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ trong nước Hơn nữa, nếu bảo hiểm rủi ro được thực hiện bằng cách sử dụng quyền chọn, sự biến động tiền tệ cũng như lãi suất trong nước có thể ảnh hưởng đến chi phí bảo hiểm rủi ro và do đó có chi phí thực sự, ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách tiền tệ lên lãi suất bán lẻ Vì vậy, đây được xem như một liều thuốc tức thời, rất tốt nếu được áp dụng trong ngắn hạn, nhưng về dài hạn

sẽ mang lại tác dụng ngược

Ngoài ra, cấu trúc tài chính còn có thể được hiểu theo nghĩa sức mạnh thị trường tiền tệ Trong thị trường vốn, nếu các ngân hàng có một sức mạnh quá lớn, thì sẽ rất không tốt cho việc thực hiện chính sách tiền tệ Lúc này, ngân hàng được ví von như hoàn toàn nắm đằng chuôi trong thị trường, bằng việc liên kết với nhau trong việc làm giá, họ có thể thao túng thị trường để làm lợi cho mình mà không cần quan tâm đến quan điểm của chính sách tiền tệ, Việt Nam là một thị trường thể hiện rõ ràng điều đó Ngược lại với một thị trường vốn cạnh tranh, các ngân hàng không có quyền lực thị trường, bắt buộc họ phải hoạt động theo nguyên tắc cạnh tranh công bằng, việc điều chỉnh lãi suất của ngân hàng lúc này sẽ phụ thuộc phần lớn vào cung cầu thị trường Lẽ dĩ nhiên, chính sách tiền tệ sẽ dễ dàng đạt được hiệu quả mong muốn vì sự dẫn truyền từ lãi suất thị trường tệ đến lãi suất bán lẽ lúc này gần như là hoàn toàn Đây là trường hợp của thị trường tài chính Mỹ Marco và Alessandro (2003) nghiên cứu về tính cứng của lãi suất bán lẻ ngân hàng ở Mỹ, trong phân tích của mình, họ ngụ ý rằng, các ngân hàng không thể gây ảnh hưỡng đến hành vi cho vay vì họ chỉ là một phần tử nhỏ trong thị trường, do đó, họ cho rằng, sự dẫn truyền đến lãi suất bán lẽ là ngay lập tức và hoàn toàn

Trang 22

Bài học kinh nghiệm từ thực trạng New Zealand

New Zealand là quốc gia OECD đầu tiên chính thức thông qua chế độ lạm phát mục tiêu với trách nhiệm cụ thể và các quy định minh bạch Bên cạnh đó, không giống như hầu hết các nước khác, có sự thay đổi chính trong cơ chế kiểm soát tiền tệ ở New Zealand từ việc rời bỏ mục tiêu số lượng ( số dư tài khoản thanh toán) sang lãi suất OCR Ngân hàng dự trữ New Zealand (RBNZ) có trách nhiệm điều hành chính sách tiền tệ độc lập để đạt được sự ổn định giá cả, điều này được định rõ trong Thỏa thuận về các mục tiêu chính sách (PTA) PTA là một hợp đồng cụ thể giữa thống đốc ngân hàng dự trữ và bộ trưởng bộ tài chính trên danh nghĩa của chính phủ PTA hiện tại, ký kết vào tháng 9 năm 2002, yêu cầu ngân hàng dự trữ giữ cho lạm phát được đo bằng sự tăng trưởng CPI hằng năm cân bằng ở mức 1-3% trong trung hạn Trước đây, ngân hàng dự trữ đặt ra chính sách để tránh lệch khỏi phạm vi mục tiêu căn cứ vào hiệu ứng dẫn truyền trực tiếp từ giá cả nước ngoài thông qua tỷ giá lên lạm phát (xem Huang, Margaritis và Mayes, 2001) Điều này nhằm để thiết lập hệ thống tỷ giá như một mục tiêu trung gian Từ tháng 7/ 1997 đến tháng 3/ 1999, RBNZ sử dụng chỉ số tiền tệ có điều kiện (MCI) như một phương tiện thông tin cho các yêu cầu của chính sách tiền tệ Kể từ tháng 3 năm 1999, RBNZ đã thay đổi công

cụ chính của chính sách quản lý số lượng tiền mặt qua đêm để thiết lập mức lãi suất cho nó (lãi suất OCR) Lãi suất này được xem xét lại tám lần một năm

MCI là chỉ số tiền tệ có điều kiện, chỉ số này được tính từ một sự kết hợp tuyến tính của 1 số lượng nhỏ các biến trong nền kinh tế có liên quan đến chính sách tiền tệ Trong đó chủ yếu là hai biến lãi suất ngắn hạn và tỷ giá hối đoái Theo bài viết cùa Alfred V Guender, ban Kinh tế của Đại học Canterbury, lý do cho việc xây dựng MCI này được căn cứ vào giả định rằng một ngân hàng trung ương có mức kiểm soát đáng kể trong điều kiện tiền tệ, và trong một nền kinh tế mở thay đổi nhỏ trong các điều kiện tiền tệ được phản ánh chủ yếu bởi những thay đổi trong lãi suất và tỷ giá lần lượt tác động vào tổng cầu Mức độ của tổng cầu là yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định tỷ lệ lạm phát.Trước tháng 3/1999, RBNZ điều khiển điều kiện thị trường bằng cách định rõ lãi suất tín phiếu ngân hàng 90 ngày để phù hợp với mục tiêu ổn định giá cả kết hợp với 1 phạm vi cho tỷ giá hoái đoái , đây là sự kết hợp lãi suất và tỷ giá hối đoái trong 1 chỉ số MCI

Trang 23

Ngân hàng thiết lập chính sách thông qua hoạt động “Open mouth operations” (Guthrie và Wright, 2000) Thông thường việc tuyên bố chính sách tiền tệ hàng quý như là phương tiện được sử dụng nhưng khi xảy ra sốc giữa 2 quý hoặc thị trường di chuyển quá xa các thống đốc hay các thành viên cao cấp của các ngân hàng sẽ phát hành một tuyên bố ngắn gọn nói về những gì các ngân hàng muốn Thay đổi bất ngờ hiếm khi xảy ra và các quyết định của ngân hàng sẽ được thị trường thông qua Bằng cách thay đổi một OCR ngân hàng thông qua một quy ước tỷ lệ tiền lệ thay thế cho mục tiêu định lượng

Theo thông tin mở rộng từ webside của RBNZ, hầu hết các ngân hàng thương mại đều đăng ký tài khoản thanh toán tại RBZN Thông thường các cá nhân trên thị trường thanh toán với nhau qua tài khoản tại các ngân hàng khác nhau Các ngân hàng này thực hiện nghĩa vụ thanh toán với nhau, thay cho khách hàng, thông qua tài khoản thanh toán đăng ký tại ngân hàng dự trữ Để ngăn chặn việc tích trữ tiền mặt quá nhiều trong tài khoản thanh toán, RBZN qui định 1 hệ thống phân tầng số lượng tiền mặt Nghĩa là mỗi ngân hàng thương mại chỉ được giữ 1 số lượng tiền mặt xác định phù hợp với nhu cầu thanh toán Vào cuối ngày, sẽ có 1 số ngân hàng

có thặng dư tiền mặt( số lượng tiền mặt cao hơn nhu cầu), trong khi 1 số ngân hàng khác thâm hụt tiền mặt

Đối với các ngân hàng có thặng dư tiền mặt, RBZN sẽ trả 1 mức lãi suất dưới mức OCR cho số lượng thặng dư này Đối với các ngân hàng thiếu hụt, RBZN sẽ cho vay với mức lãi suất trên mức OCR Ngân hàng trung ương hoạt động như một người tạo thị trường trong thị trường tiền tệ ngắn hạn mà không có bất kỳ giới hạn áp đặt trên số tiền giao dịch mua bán, không có ngân hàng thương mại có khả năng cung cấp các khoản vay ngắn hạn tại một tỷ lệ cao hơn đáng kể so với mức OCR Trong một hệ thống tài chính cạnh tranh, các ngân hàng khác đưa ra giá rẻ hơn bằng cách vay mượn tiền từ ngân hàng dự trữ Tương tự, một tổ chức tài chính không cho vay ngắn hạn tại mức thấp hơn nhiều so với OCR từ khi nó có thể cho vay từ ngân hàng

dự trữ ở mức OCR, mà không có bất kỳ rủi ro tín dụng nào

Bằng cách cho vay hoặc vay tiền qua đêm không hạn chế, ngân hàng dự trữ có thể duy trì tỷ lệ lãi suất liên ngân hàng ngắn hạn tại mức OCR Bằng cách thiết lập OCR, ngân hàng dự trữ có ảnh hưởng đáng kể đến các loại lãi suất ngắn hạn, ví dụ, lãi suất

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp Phillips-Perron - Sự dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh của lãi suất  những nhận định cụ thể cho thị trường việt nam
Bảng 1. Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp Phillips-Perron (Trang 36)
Bảng 3. Dẫn truyền dài hạn lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường - Sự dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh của lãi suất  những nhận định cụ thể cho thị trường việt nam
Bảng 3. Dẫn truyền dài hạn lãi suất chính sách sang lãi suất thị trường (Trang 37)
Bảng 7. Sự dẫn truyền trong dài hạn lãi suất liên ngân hàng đến lãi suất bán lẻ - Sự dẫn truyền và tốc độ điều chỉnh của lãi suất  những nhận định cụ thể cho thị trường việt nam
Bảng 7. Sự dẫn truyền trong dài hạn lãi suất liên ngân hàng đến lãi suất bán lẻ (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w