Từ đó, có thể kết luận rằng trong Duy thức học, ngoài những khái niệm thuần túy phục vụ cho tín ngưỡng Phật giáo, còn có những khái niệm phản ánh hiện tượng tâm lý của con người đã được
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN
Trang 2LỜI TRI ÂN
Kính thưa Quý Thầy Cô,
Hôm nay, tôi đã tương đối hoàn thành Luận văn Cao học của mình Tôi xin được bày tỏ lòng tri
ân đến Quý Thầy Cô đã nhiệt tình hướng dẫn trong suốt thời gian tôi tham dự khoá học Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS TS Trần Tuấn Lộ - ngưòi hướng dẫn khoa học - đã tận tình hướng dẫn một đề tài mà tôi ấp ủ từ lâu Chúng tôi cũng không quên gửi lời cảm ơn đến các vị giáo sư, các giảng viên mà tôi từng đến tham khảo ý kiến
Cuối cùng, tôi xin gửi lời kính chúc sức khoẻ và thành công Một lần nữa, tôi xin được gửi lời tri ân đến tất cả Quý vị
Học viên Đỗ Thanh Xuân
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Học viên
ĐỖ THANH XUÂN
Trang 41 Lý do chọn đề tài
Trong các trường Phật học, ở nước ta, hiện nay, vừa có dạy Tâm lý học đại cương vừa có dạy
Duy thức học Nhưng hai môn đó được dạy mà không có sự liên hệ và so sánh với nhau
Nhiều vị tăng ni hiện nay được đào tạo trong các trường đại học thế tục lẫn các trường Phật học, do đó, họ được học cả hai môn nói trên Trong quá trình thuyết pháp ở các cơ sở Phật giáo, nhiều nhà sư muốn vận dụng cả Tâm lý học lẫn Duy thức học, vì trong đồng bào Phật tử cũng có những người hiểu biết ít nhiều về Tâm lý học, nên việc thuyết pháp như vậy sẽ càng thuyết phục hơn đối với những phật tử đó
Thực tế nêu trên đã thúc đẩy tôi lựa chọn đề tài này (So sánh một số khái niệm trong Tâm lý học và Duy thức học) để nghiên cứu
2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
2.1/ Mục đích nghiên cứu
2.1.1/ Phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn Tâm lý học đại cương và môn Duy thức học trong các trường Phật học của nước ta hiện nay
2.2.2/ Phục vụ cho việc thuyết pháp của các nhà sư ở những cơ sở Phật giáo
2.2.3/ Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu và so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa Tâm
lý học và Duy thức học
2.2/ Mục tiêu nghiên cứu
Nêu lên được sự giống nhau và sự khác nhau giữa một số khái niệm trong Tâm lý học và trong Duy thức học liên quan tới nhận thức và ý thức về mặt giải phẫu, sinh lý, khái niệm (định nghĩa, phân loại, cấu trúc, đặc điểm, thuộc tính, sự hình thành và phát triển, các cấp độ)
Từ đó, có thể kết luận rằng trong Duy thức học, ngoài những khái niệm thuần túy phục vụ cho tín ngưỡng Phật giáo, còn có những khái niệm phản ánh hiện tượng tâm lý của con người đã được nêu lên trong Tâm lý học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1/ Khách thể: tài liệu Tâm lý học và Duy thức học nói về những khái niệm liên quan tới nhận thức và ý thức
3.2/ Đối tượng nghiên cứu:
Trang 5Sự giống nhau và khác nhau trong một số khái niệm nói trên của Tâm lý học và Duy thức học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1/ Tìm hiểu các khái niệm về tâm lý vừa có trong Duy thức học vừa có trong Tâm lý học và lựa chọn một số trong số đó để so sánh với nhau theo từng đôi một
4.2/ Phân tích và so sánh các cặp khái niệm đã lựa chọn để thấy sự giống nhau và sự khác nhau
4.3/ Tham khảo ý kiến của một số chuyên gia Tâm lý học và Phật học cũng như của một số giảng viên Tâm lý học và Duy thức học trong các trường Phật học để hạn chế những sai sót và nâng cao thêm chất lượng nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1/ Các phương pháp nghiên cứu tài liệu:
5.1.1/ Lựa chọn các tài liệu và các khái niệm để nghiên cứu
5.1.2/ Phân tích từng khái niệm
5.1.3/ So sánh các cặp khái niệm
5.1.4/ Tổng hợp sự phân tích và so sánh ở trên để thấy được sự giống nhau và sự khác nhau
5.2/ Các phương pháp nghiên cứu với chuyên gia:
Tác giả đã phỏng vấn và trao đổi ý kiến với một số chuyên gia Tâm lý học và Duy thức học ở Thành phố Hồ Chí Minh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1/ Duy thức học là một hệ thống tư tưởng vừa về triết lý vừa về tâm lý của Phật giáo Trong
luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến một số thuật ngữ, khái niệm về tâm lý của Duy thức học mà thôi,
không đề cập đến những quan niệm có tính chất tôn giáo – tín ngưỡng và triết học trong Duy thức học của Phật giáo
6.2/ Tâm lý học là khoa học và môn học đang được nghiên cứu và giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng v.v… trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có Tâm lý học đại cương, Tâm lý học phát triển, Tâm lý học nhân cách, Tâm lý học xã hội v.v…; riêng môn Tâm lý học đại cương cũng
đang được giảng dạy ở các trường Phật học Trong luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến một số thuật
Trang 6ngữ, khái niệm của Tâm lý học tương ứng với một số thuật ngữ, khái niệm về tâm lý của Duy thức học
mà thôi
6.3/ Những khái niệm mà tác giả của luận văn này nghiên cứu để phân tích và so sánh chỉ là tám cặp khái niệm tương ứng (mỗi cặp khái niệm gồm một khái niệm của Tâm lý học và một khái niệm của Duy thức học) sau đây:
Những khái niệm Tâm lý học Những khái niệm Duy thức học
6.5/ Trong luận văn này, những từ Tâm lý học đều có nghĩa chung là khoa học tâm lý học đang
được nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân do Bộ Giáo dục
và Đào tạo quản lý Còn những từ Duy thức học, dù có thể hiểu là Tâm lý học Phật giáo, nhưng không bao giờ được thay thế bằng từ Tâm lý học để người đọc khỏi hiểu lầm là khoa học tâm lý học đã nói ở
trên
7 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 7Vì Tâm lý học và Duy thức học đều có nội dung nói về tâm lý con người, nên có thể so sánh
với nhau ngoài những cái riêng khác nhau, có thể có những cái chung gần gũi với nhau, thậm chí giống nhau trong một số khái niệm và quan niệm
8 Cái mới của luận văn
-Trên cơ sở phân tích nội hàm của 8 khái niệm tương ứng với nhau giữa Tâm lý học và Duy thức học, cái mới mà luận văn này đóng góp là sự so sánh 8 cặp khái niệm nói trên để thấy được những
gì là tương đối giống nhau và những gì là khác nhau giữa chúng trong từng cặp
9 Cấu trúc của luận văn
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Giới hạn nghiên cứu
7 Giả thuyết nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Lịch sử nghiên cứu những vấn đề và cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài 1.1/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2/ Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
Chương 2: Phân tích một số khái niệm trong Tâm lý học và Duy thức học
2.1/ Phân tích tám khái niệm trong Tâm lý học
2.2/ Phân tích tám khái niệm trong Duy thức học
Chương ba: So sánh một số khái niệm trong Tâm lý học và Duy thức học
Trang 83.1/ So sánh “5 loại cảm giác – tri giác” trong Tâm lý học và “5 thức trước” trong Duy thức học
3.2/ So sánh “ý thức” trong Tâm lý học và “ý thức” trong Duy thức học
3.3/ So sánh “tự ý thức” trong Tâm lý học và “mạt-na thức” trong Duy thức học
3.4/ So sánh “vô thức” trong Tâm lý học và “tàng thức” trong Duy thức học
Trang 9Chương 1: Lịch sử nghiên cứu vấn đề và cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
sự trình hiện để phân biệt nhị nguyên nên nhầm lẫn có chủ thể và khách thể và vì vậy, chủ thể và khách
thể đều không thật Nếu sự phân biệt nhị nguyên đó được nhận diện (tức là khi thức (consciousness) chuyển thành trí (direct cognition) thông qua thiền định), thì tất cả mọi nhầm lẫn về chủ thể và khách
thể chấm dứt, đó là giác ngộ, tức là không bị thức phóng chiếu
Theo Duy thức học, mọi sự vật, hiện tượng là sự trình hiện Trong quan niệm này thì trình hiện
là trình hiện cho một chủ thể, không có chủ thể thì không có trình hiện, cũng như không có người mơ
thì không có giấc mơ Trong vũ trụ, mọi sự vật không có tính chất riêng tư, chúng không đến không đi, chúng không thật có sinh có diệt, chúng chỉ xuất hiện trong tương quan với mọi sự xung quanh và với người đang tương tác với chúng Vì thế giới là một sự trình hiện, một dạng xuất hiện dưới mắt của một chủ thể nên cái “khách quan” phải cần một chủ thể nhận thức mới có Vì vậy, theo Duy thức học, người
ta có thể tìm hiểu được thế giới thực tại nếu nắm bắt được tính chất của chủ thể, nghĩa là nếu biết rõ
chủ thể, thì sẽ biết rõ thực tại của chủ thể đó Như vậy, trình hiện là sự xuất hiện của thế giới trong
tương quan với chủ thể
Theo Duy thức học thì mọi hiện tượng tâm vật, thực tại bên ngoài lẫn hoạt động tâm lý dựa
trên ba trình hiện của thức: thứ nhất là sáu thức nhận biết (cũng gọi là sáu thức trước), thứ hai là thức
tư duy (cũng gọi là thức thứ bảy hay Mạt-na thức) và thứ ba là thức tàng chứa (cũng gọi là thức thứ tám hay Tàng thức hay A-lại-da thức)
Như vậy, thức chỉ toàn bộ hoạt động “tinh thần”, từ năm giác quan, ý thức đến các tầng lớp
tiềm thức, vô thức mà thuật ngữ gọi là mạt-na thức, tàng thức Tàng thức là nguồn gốc của các thức khác Đặc tính của nó là nhận thức được sự vật và chính mình Nó là chỗ tàng chứa những kinh nghiệm
Trang 10của cá thể với cảm xúc, ước mong, tư duy…, nơi chứa đựng những thói quen cố hữu, những khả năng
đã thuần thục, những mơ ước chưa thành Tàng thức chính là động lực, là năng lực của tái sinh
Vì thế, trong triết học Phật giáo, thức vừa có vai trò của năng lượng, vừa là nguồn gốc của cái biết, cái thấy, nó làm chủ thể “cảm ứng” với khách thể Cả chủ thể lẫn khách thể đều là sự biến hiện của thức khi thức vô minh vọng động mà tự tách mình ra làm đôi, làm một chủ thể nhận thức và một
khách thể bị nhận thức Trên một mặt nhất định, ta có thể nói: chính thức là yếu tố tạo tác ra thế giới, mặt khác ta cũng có thể nói thức thấy thế giới đúng như “nghiệp cảm” của nó
Hạt giống1 (chủng tử) ở trong tàng thức biến hiện thành thế giới mà ta gọi là thực tại vật lý Hạt giống cũng biến hiện trong mỗi cá thể để thành các dạng tâm lý như nhận thức, khả năng, ý thích, ước
vọng, tư tưởng Xuất phát từ vọng thức sai lầm, người ta thấy mình có một cái tôi, đồng thời thấy thế
giới bên ngoài tồn tại khách quan Trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể đó (mà tất cả chung quy chỉ là thức biến hiện), cá nhân càng tiếp tục gieo rắc và nuôi dưỡng chúng để cung cấp lại cho tàng thức
Thân mạng của một cá nhân bao gồm thân thể, điều kiện tâm lý, khả năng và trình độ, nó nói
lên biệt nghiệp của cá nhân đó Môi trường xung quanh, gồm có gia đình, xã hội, thế giới, trong đó cá thể đang sống, nó phản ánh cộng nghiệp của cá nhân đó Biệt nghiệp và cộng nghiệp đó có mối liên hệ
mật thiết với nhau và đều là biến hiện của thức Thức của mỗi cá thể như thế nào thì thân của nó được tạo ra thế đó, vũ trụ được “vẽ vời”, được trình hiện như thế đó
Nghiệp và các tác động của nghiệp là: tất cả mọi kinh nghiệm của con người trong cuộc sống
được lưu giữ trong tàng thức như một thứ vết tích và những vết tích đó cần phải được chứng thực
Theo đạo Phật, mỗi hoạt động trong đời sống của chúng ta, trong thế giới ba chiều cũng như trong các thực tại phi vật chất khác, đều để lại “dấu vết” cả Tất cả các biến cố đem lại hiểu biết và kinh nghiệm, dù đó là năng lực, tư duy, thói quen, hành động, yêu thương, thù hận, xúc cảm, ức chế… cũng thế Nói chung là toàn bộ đời sống trên ba bình diện thân, khẩu, ý đều để lại dấu vết, đều để lại hạt giống trong tàng thức cả Một khi chúng để lại hạt giống thì tàng thức biến hiện cho cá thể đó được chứng thực, nếm trải, chứng nghiệm những dấu vết đó trong thế giới riêng của mình và chiêu cảm những hoàn cảnh nhất định đến với mình
1
Hạt giống là những thông tin được tích luỹ trong tàng thức, đó cũng chính là nghiệp
Trang 11Vì thế, theo quan niệm nghiệp lực, kẻ giết người sẽ bị giết hại, kẻ dối trá sẽ bị lừa đảo, kẻ ích
kỷ sẽ bị cô đơn, kẻ bủn xỉn sẽ bị nghèo khổ, kẻ ham học sẽ được sáng dạ… (thiện ác đáo đầu chung hữu báo) Những hoàn cảnh đó xuất hiện một cách “tự động”, không cần ai xem xét và dàn xếp Chúng đều là những sự trình hiện của thức đối với cá thể và cơ chế cộng nghiệp sẽ đem những cá thể có liên
hệ với nhau lại gần nhau, trong đó nhiều thế giới cùng trình hiện, lồng vào nhau mà không hề ngăn ngại
Trong sự tác động này của nghiệp, điều bí nhiệm nhất là mối quan hệ giữa cộng nghiệp (nghiệp chung của một nhóm người, một xã hội và cả loài người) và biệt nghiệp (nghiệp riêng của mỗi cá thể) Chúng đan kết vào nhau vô ngại, biến hóa thiên hình vạn trạng và tạo cảm tưởng như chỉ có một thế giới, một thực tại Nghiệp lực tạo thành tâm lý và thể chất của mỗi cá thể, nghiệp lực tạo thành môi trường xung quanh, kết thành gia đình và xã hội Từ đó tạo nên những giả hợp to lớn hơn như quốc gia, loài người, các hành tinh và toàn bộ vũ trụ
Con người có một cộng nghiệp là kiếp người nên thân thể của họ giống nhau, với tất cả các bộ phận, với những số lượng chính xác về cơ bắp và khớp xương, về các cơ quan nội tạng, về sự vận động của cơ thể Những phát hiện về “gen” của con người cho thấy mức độ “giống nhau” giữa loài người lên trên mức 99,9% Điều này làm ta có thể nghĩ genom là sự thể hiện về mặt vật chất của “nghiệp” Phải chăng con số 99,9% nói lên mức độ “cộng nghiệp về mặt thân thể” của loài người?
Dưới tác dụng của vô minh, của hạt giống, của nghiệp lực, tàng thức biến hiện là cho cá thể đó cảm nhận có thế giới bên ngoài như một thực thể khách quan và có đời sống của chính mình, của người nhận thức chủ quan Mỗi cá thể thông thường lại chấp chặt thế giới đó là thực có, bản thân mình là một
cái tôi thực có Qua đó mà cá thể lại thu nhận thêm kinh nghiệm, tạo tác thêm ước vọng, bồi dưỡng
thêm năng lực, tăng trưởng thêm nghiệp lực và tiếp tục chứa chấp nó vào trong tàng thức
Một biến cố xảy ra vừa là kết quả của một biến cố cũ, vừa là nguyên nhân một biến cố tương lai Cuộc sống là một dòng tâm thức bất tận, không đầu không đuôi Nếu hôm nay ta nhức đầu thì có lẽ tại hôm qua ta uống rượu quá nhiều chứ không do một lẽ bất công nào cả Và ngay hôm nay ta có thể chấm dứt uống rượu để ngày mai ta khỏi nhức đầu, đó là sự tự do mà mỗi cá thể đều có và có ngay bây giờ
Theo đạo Phật thì quả thật mỗi cá thể cảm nhận một thế giới riêng với thời gian và không gian riêng, thế nhưng các thế giới đó lồng vào nhau không bị ngăn ngại Tùy theo nghiệp lực của cá thể hay từng nhóm cá thể mà các biến cố tác động lẫn nhau, thúc đẩy để sự vật sinh thành và hoại diệt theo thuyết duyên khởi Thời gian và không gian là những cộng nghiệp then chốt nhất Những biến cố đó sẽ
Trang 12“lọt” vào thế giới của một cá thể nhất định (thí dụ cá thể nọ gặp được người bạn tốt, tìm được một việc làm như ý) hay “lọt” vào thế giới của một nhóm cá thể (thí dụ một tai nạn xảy ra chung cho cả nhóm)
Thế giới chúng ta có thể đồng thời được xem là một thế giới hay nhiều thế giới Nếu lấy cái
chung của mọi vọng thức làm nền tảng thì chỉ có một thế giới duy nhất, nếu lấy cái riêng của mỗi dòng tâm thức thì mỗi cá thể là một thế giới Cái chung và cái riêng, cái đồng và cái dị đều không có tự tính,
đều do quan hệ, theo góc nhìn mà đặt tên, đều là giả danh cả Vì thế, vấn đề có một thế giới hay nhiều
thế giới, có một hay nhiều thức tàng thức là điều mà ta chỉ có thể đứng trên lập trường Trung quán mới thấy rõ được Tất cả đều chỉ là sự cảm nhận, thế giới cũng như thức không có tự tính gì cả
Duy thức học cho rằng thực tại chỉ là những hình ảnh xuất hiện trong thời gian và không gian Chúng tác động lẫn nhau để sinh thành theo những quy luật nhất định, nhưng chúng không có một chủ thể, một chất liệu chung Chúng chỉ là củi và tro, hai trạng thái nối tiếp nhau, không có một cái gì đi từ củi qua tro Thế giới hiện tượng không hề độc lập tồn tại trên cơ sở tự tính riêng, mà nó là khách thể xuất hiện cùng một lúc với chủ thể Khách thể không có tự tính riêng biệt, nếu chủ thể diệt thì nó diệt theo
Mỗi cá nhân có một thế giới riêng, có một thực tại riêng, không có một thực tại nào là tuyệt đối cho tất cả cá thể, cho tất cả loài hữu tình Mỗi thực tại của mỗi cá thể vì thế đều là tương đối Thế nhưng, dựa trên cộng nghiệp của một nhóm cá thể (một xã hội, một quốc gia hay cả loài người), một thực tại nhất định được trình hiện, phù hợp với cộng nghiệp đó và được xem là có giá trị cho nhóm đó
Theo đó, thực tại vật lý mà nhà khoa học cứ đinh ninh là độc lập với chính mình chẳng qua là một thế
giới được trình hiện chung cho cả loài người, cho loài hữu tình có một nghiệp chung là mang thân
người
Cộng nghiệp của loài người làm ta cảm nhận một thực tại vật lý, với vũ trụ, thế giới đa dạng đang hiển hiện trước mắt ta Mỗi người cảm nhận nó một cách riêng biệt, nhưng hành xử trong nó và ngôn ngữ về nó thì lại như nhau Đó là lý do sâu kín làm cho mọi người nhầm tưởng có một thực tại độc lập ở bên ngoài
Vì lẽ trên, muốn hiểu tính chất của thế giới “bên ngoài”, ta cần biết rõ cơ chế nào, tiêu chuẩn nào đã làm cho mỗi cá thể thấy một vật nhất định là thực tại, vật khác không phải là thực tại
Đạo Phật cho rằng có nhiều thực tại trong vũ trụ Từ trong thức của ta lưu xuất vô số dạng hình của thức Tất cả các dạng hình đó đều có thực tại riêng của chúng và có “giá trị”, tức là hễ chúng có tác động là có thực tại Như thế, giấc mơ vẫn là thực tại Thế nhưng chúng ta không xem chúng là thực tại
Trang 13vì chúng ta chỉ tập trung lên một thứ thực tại duy nhất Đó là thực tại phù hợp với thân của chúng ta
Thân thể của con người là thân vật chất, nó là một tập hợp của những phần tử mà ta gọi là tế bào, nguyên tử và phân tử Thân thể của con người có thể nhận thức được bằng năm giác quan nên chỉ những gì được nhận thức bằng năm giác quan mới được ta thừa nhận là “thực tại”
Vì thế, Thân thể của con người có một thực tại phù hợp với nó, đó là một thực tại có thể được nhận thức bằng năm giác quan Năm giác quan vốn dựa vào thân mà tồn tại Thân người còn có một điều đặc biệt nữa là chỉ cảm nhận một không gian ba chiều và một thời gian trôi chảy có trước có sau Thực tại là gì cũng mặc, thân ta chỉ biết cảm nhận như thế, không thể khác Thế nên ta phải nói chính
xác là, thực tại trình hiện với chúng ta như thế, thực tại “lọt” vào không gian ba chiều của chúng ta để chúng ta thấy nó như thế, để chúng ta cảm nhận nó có diễn biến theo thời gian Cuối cùng, vật gì được năm giác quan nhận thức được và được cộng nghiệp thừa nhận là thực tại thì nó là có Vì thế mà ta
thấy những gì diễn ra lúc tỉnh táo là thực còn trong mơ là giả
Ngày nay khi nền vật lý hiện đại xem khối lượng là một dạng của năng lượng, xem một vật nằm im thật ra là năng lượng đang tụ hội, xem vật thể là một “biến cố”, ta có thể nói cách nhìn đó rất phù hợp với quan điểm Duy thức học Vì đối với Duy thức học, mọi biến cố và vật thể trong thế giới ba chiều của chúng ta đều là sự phóng chiếu, sự biến hiện của thức cả Chúng là những hoạt động của thức trong tầm nhìn của ta vốn chỉ tập trung trong thế giới vật chất, điều đó có nghĩa là phần lớn thực tại đều không được chúng ta biết đến, chúng nằm dưới một mức độ mà chúng ta cho là “thực có” Thế nhưng thực tại vật chất cũng không hề bị tách lìa khỏi toàn bộ thực tại đó mà ngược lại, thực tại vật lý phản ánh một cách trung thực sự hoạt động của cái toàn thể
Vì thế, theo Duy thức học, không ai khác giúp ta, ngoài chính chúng ta Nếu thay đổi bản thân mình thì thế giới và cả thực tại vật lý cũng thay đổi theo Kết luận này không đơn thuần là xuất phát từ những nguyên tắc luân lý hay từ lòng hiếu hòa như nhiều người thường nghĩ, mà đó là nhận thức luận
về tính chất của thế giới và con người Thế giới hiện tượng là thế giới trình hiện với bản thân ta, không thể bỏ nó mà về với ta được Nó chính là ta, chính xác hơn là một phần của ta Đạo Phật quan niệm hãy nhìn thế giới xung quanh (y báo) và thân thể (chánh báo) mà thấy chúng chính là tấm gương phản ánh
đúng như tâm thức của ta đang là. 1
Duy thức học chia sự vật, hiện tượng ra làm năm nhóm:
1
II.1, 301-307, 322, 323, 329, 335-337, 367, 368
Trang 14-Tâm pháp (hay còn gọi là tâm vương): gồm có 8 loại hiện tượng tâm lý chủ đạo Đây cũng là
tám khái niệm của Duy thức học được đề cập đến trong luận văn này để so sánh với tám khái niệm của Tâm lý học
-Tâm sở hữu pháp (hay còn gọi là tâm sở): gồm có 51 loại hiện tượng tâm lý phụ thuộc
-Sắc pháp: gồm có 11 sự vật thuộc về vật lý
-Tâm bất tương ưng hành pháp: gồm có 24 sự vật, hiện tượng không thuộc tâm lý cũng không
thuộc vật lý
-Vô vi pháp: gồm có 5 sự vật, hiện tượng không bị các điều kiện chi phối
1.1.2/ Lịch sử nghiên cứu Duy thức học và vấn đề so sánh với Tâm lý học
Duy thức học được nghiên cứu và trình bày bởi nhiều nhà Phật học nổi tiếng, tiêu biểu là:
-Vô Trước sinh sống trong khoảng thế kỷ thứ tư sau Tây lịch, ở phía Bắc Ấn Độ, là người đặt nền móng cho Duy thức học Các tác phẩm tiêu biểu có liên quan đến Duy thức học là: Nhiếp Đại thừa
luận, Hiển dương thánh giáo luận, Thuận trung luận, Kim cương kinh luận, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tập luận, Lục môn giáo thọ tập định luận
-Thế Thân (315 – 395) là người ở phía Bắc Ấn Độ, là em của Vô Trước Các tác phẩm tiêu biểu
có liên quan đến Duy thức học là: A-tỳ-đạt-ma Câu xá luận, Duy thức nhị thập tụng (20 bài kệ về thức),
Duy thức tam thập tụng (30 bài kệ về thức), Luận Tỳ-bà-sa, Thành nghiệp luận Các tác phẩm này phân
loại và phân tích các yếu tố cơ bản của sự chứng nghiệm và thực tại, gồm: thiền định, quan niệm vũ trụ luận, học thuyết về nhận thức, nguyên nhân và sự chuyển hóa các vấn đề đạo đức, học thuyết về luân hồi và quan trọng nhất là học thuyết về nghiệp Theo Thế Thân, những gì mà con người nhận thức về thế giới khách quan không gì khác hơn là sự phóng chiếu của tâm thức Theo đó, đối với ông, con người thường nhầm lẫn sự nhận biết về thế giới với chính bản thân thế giới Từ đó, ông đề nghị cần phải giác ngộ, tránh khỏi những phóng chiếu sai lầm của thức
-An Huệ (sống vào khoảng thế kỷ thứ tư) là người miền Nam Ấn Độ Các tác phẩm tiêu biểu có liên quan đến Duy thức học là: Đại thừa trung quán thích luận, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận, Duy
thức tam thập tụng thích luận Các tác phẩm của ông phân tích sâu Duy thức tam thập tụng và cố gắng
giữ lại nguyên trạng học thuyết của Vô Trước và Thế Thân
Trang 15-Hộ Pháp (530-561) là người Nam Ấn Độ Các tác phẩm tiêu biểu có liên quan đế Duy thức học là: Quảng ngũ uẩn luận, Nhị thập Duy thức luận thích, Tam thập Duy thức luận thích Các tác
phẩm của ông chủ yếu là chú thích và mở rộng các tác phẩm về Duy thức học đã có trước
-Huyền Trang (600 – 664) là người Trung Quốc Các tác phẩm dịch thuật tiêu biểu có liên quan đến Duy thức học là: Hiển dương thánh giáo luận tụng, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận, Đại thừa
ngũ uẩn luận, Du-già sư địa luận, Giải thâm mật kinh,Duy thức tam thập luận, A-tỳ-đạt-ma Câu xá luận, Đại thừa thành nghiệp luận, Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tập luận, Thành Duy thức luận, Duy thức nhị thập luận, Bát thức quy củ tụng Các tác phẩm của ông chủ yếu là dịch, soạn dịch, hệ thống và cô đọng
lại những vấn đề tinh túy của Duy thức học
-Khuy Cơ (632 – 682) là người Trung Quốc, là đệ tử của Huyền Trang Ông dịch Duy thức nhị
thập tụng, Duy thức tam thập tụng ra Hán ngữ và và hệ thống hóa lại và viết Thành Duy thức luận để
phát triển Duy thức học và được gọi với một tên khác tại Trung Quốc là Pháp tướng tông lấy mạch tư
tưởng của Hộ Pháp làm chủ đạo
-Nhất Hạnh (Việt Nam) nghiên cứu Duy thức học và biên soạn thành 50 bài tụng mang tính thực tế và được gọi với một tên khác là Duy biểu học
Trong tác phẩm Duy biểu học, Nhất Hạnh đã soạn lại và đưa ra 50 bài kệ về Duy thức học có
tính thực tế để áp dụng cho các thiền sinh Trong tác phẩm này, nổi bật là luận điểm: trong tiếng Phạn
có hai từ ‘vijñàna’ và ‘vijnapti’ có thể dịch thành thức Tiền tố từ ‘vi’ có nghĩa là phân biệt (perception), xét đoán, nhận thức ‘Vijnapti’ có thể dịch là biểu (manifestation, perception, announcing), mà cũng có thể dịch là thức Vì vậy, nếu gọi là duy thức thì chỉ mới lột tả được nghĩa
phân biệt trong khi từ nguyên vừa có nghĩa phân biệt vừa có nghĩa biểu hiện, cho nên ông đề xuất dịch
là duy biểu để bổ sung nghĩa biểu hiện
Suốt quá trình nổ lực hiện đại hóa Duy thức học, khái niệm ý thức (nghĩa hẹp) trong Tâm lý học được ông sử dụng tương đương với khái niệm chánh niệm để trị liệu các nội kết Khái niệm nội kết
được ông sử dụng rất nhiều để chỉ cho các hiện tượng tâm lý bị dồn nén vốn không xa lạ gì với Tâm lý
học Ngoài ra, ông còn khẳng định một phần của tàng thức trong Duy thức học tương đương với vô
thức trong Tâm lý học, ông đề cập thường xuyên đến vấn đề tự biểu, cộng biểu với cốt lõi là nghiệp
bằng cách diễn đạt khá giống với vô thức cá nhân, vô thức tập thể của C Jung và E Fromm
Như vậy, có thể thấy rằng Nhất Hạnh ít nhiều đã có sự liên hệ giữa ý thức và chánh niệm, giữa
vô thức và tàng thức Đối với 6 khái niệm còn lại (nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức và
Trang 16mạt-na thức), trong tác phẩm của ông, người ta thấy sự liên hệ với Tâm lý học là không rõ ràng về mặt giải phẫu, sinh lý và khái niệm
-Thích Tâm Thiện (Việt Nam)
Cũng với nổ lực hiện đại hóa Duy thức học, Thích Tâm Thiện, với Tâm lý học Phật giáo, đã cố
gắng trình bày theo logic mới, khác hẳn với các logic trong lịch sử Duy thức học Tác phẩm của ông thể hiện mong muốn giải quyết các vấn đề có tính quy mô rộng lớn của thực tiễn xã hội hơn là giải quyết các vấn đề chuyên môn thuật ngữ Do đó, cả 8 khái niệm (nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và tàng thức) trong tác phẩm của ông không có sự rõ ràng khi liên hệ với Tâm lý học về mặt giải phẫu, sinh lý và khái niệm
Tóm lại, trong lịch sử nghiên cứu, một số nhà nghiên cứu Duy thức học đã có sự so sánh với Tâm lý học nhưng không nhiều lắm Đặc biệt, sự so sánh đó chủ yếu là so sánh tổng thể, so sánh về mặt Triết học chứ không thuần tuý chuyên môn về Tâm lý học
1.2/ Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1/ Cơ sở lý luận của việc lựa chọn đề tài
a) Tâm lý học hiện đại, nhất là Tâm lý học Mác-xít, đã phê phán tính duy tâm, tính siêu hình hoặc tính duy vật máy móc của các học thuyết Tâm lý học trước và sau Mác; qua đó, khẳng định rằng
“tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong não thông qua chủ thể”, “tâm lý là chức năng của não”, v.v… Sự phê phán đó phải được tiến hành trên cơ sở so sánh Tâm lý học Mác-xít và Tâm lý
học phi Mác-xít (trong đó có Tâm lý học Phật giáo), nhưng sự so sánh đó vẫn là sự so sánh về mặt triết
học của Tâm lý học Như thế, có thể nói rằng, chưa có sự so sánh về mặt tâm lý học thuần túy, hiểu
theo nghĩa là sự so sánh giữa khái niệm này với khái niệm kia (từ định nghĩa khái niệm cho đến các
kiến thức Tâm lý học thuộc về khái niệm đó) Đề tài này là đề tài so sánh không phải về mặt triết học
mà là về mặt Tâm lý học thuần túy giữa một số khái niệm của Tâm lý học hiện đại và một số khái niệm
tương ứng của Duy thức học (Tâm lý học Phật giáo)
b) Duy thức học là môn Phật học về thức, do đó, ngoài những khái niệm và quan niệm về triết học, đạo đức, tôn giáo v.v… còn có cả những khái niệm và quan niệm về tâm lý
c) Khi trong một trường Phật học vừa dạy Duy thức học vừa dạy Tâm lý học cho tăng ni sinh, thì tất yếu sẽ có các câu hỏi phát sinh trong giảng viên cũng như trong học viên là: “Tại sao lại phải học thêm Tâm lý học (một môn không thuộc về Phật học)?” và “Những khái niệm và quan niệm giữa hai môn này có liên quan gì với nhau, có gì giống nhau và có gì khác nhau?” Việc so sánh nếu được đặt ra
Trang 17và thực hiện thì chất lượng của việc học tập hai môn này sẽ được cao hơn; cũng có thể nói, hiểu biết về
sự so sánh cũng rất bổ ích cho các nhà nghiên cứu và các giảng viên Tâm lý học và Duy thức học
d) Một luận điểm nữa thúc đẩy tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu là luận điểm cho rằng việc dạy Tâm lý học đại cương trong các trường Phật học là sự tạo tiền đề khoa học cho sự dạy và học Duy thức học, một môn học mang tính tôn giáo Và đó cũng là luận điểm cho rằng Phật giáo – với tính chất vô thần – là tôn giáo duy nhất có thể song hành với khoa học, trong đó có khoa học tâm lý
1.2.2/ Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn này được nghiên cứu và viết với tính chất là đề tài của một luận văn tốt nghiệp Cao học Tâm lý học của trường Đại học Sư phạm TPHCM, chứ không phải là một luận văn về Duy thức học trong một trường Phật học Do đó, cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài này vẫn là quan niệm về tâm
lý, về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu tâm lý đã và đang được giảng dạy ở bậc cao học Tâm lý học của trường Đại học Sư phạm TPHCM mà cơ sở triết học của nó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Cụ thể là những luận điểm sau đây:
-Mỗi con người là sự thống nhất của 3 mặt sinh lý (cơ thể), xã hội (lý lịch) và tâm lý
-Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể và do đó,
có tính phản ánh, tính xã hội, tính lịch sử và tính chủ quan của chủ thể
-Mọi hiện tượng tâm lý đều có cơ sở tự nhiên (sinh lý thần kinh) và cơ sở xã hội (nền văn hóa của xã hội, các quan hệ xã hội, giao tiếp xã hội và hoạt động xã hội) của từng cá nhân và từng nhóm
xã hội
-Những khái niệm Tâm lý học như: nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính, ý thức, tự ý thức, vô thức là cơ sở lý luận để nghiên cứu những khái niệm Duy thức học được đề cập để so sánh (tám khái niệm: nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức và tàng thức)
-Ngoài những kiến thức được học trong các tài liệu Tâm lý học Việt Nam, tác giả luận văn cũng tham khảo thêm những giáo trình Tâm lý học hiện đại của Mỹ để có thêm những kiến thức mới, hiện đại về Tâm lý học nói chung và về những khái niệm được đề cập tới trong luận văn này nói riêng
Trang 18Chương 2: Phân tích một số khái niệm trong Tâm lý học và Duy thức học
Những khái niệm trong Tâm lý học và Duy thức học được phân tích trong chương này là
những khái niệm có sự giống nhau và khác nhau nhất định Đó là tám khái niệm thị giác, thính giác,
khứu giác, vị giác, mạc giác, ý thức, tự ý thức, vô thức trong Tâm lý học và tám khái niệm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt-na thức, tàng thức trong Duy thức học
2.1/ Phân tích tám khái niệm trong Tâm lý học
Trong tám khái niệm đã nêu ở trên của Tâm lý học thì thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác,
mạc giác là những cảm giác (và tri giác) thuộc về nhận thức cảm tính Vì thế, trước hết, tác giả luận
văn xin được nêu ở đây quan niệm của Tâm lý học về cảm giác, tri giác, sự chuyển hóa từ cảm giác thành tri giác và nhận thức cảm tính
Có hai loại cảm giác:
-Những cảm giác bên ngoài, gồm: cảm giác nhìn (thị giác), cảm giác nghe (thính giác), cảm
giác ngửi (khứu giác), cảm giác nếm (vị giác), cảm giác da (mạc giác)
-Những cảm giác bên trong, gồm: cảm giác cơ thể, cảm giác vận động và cảm giác thăng bằng
Trang 19-Tri giác được hình thành từ nhiều loại cảm giác: tri giác không gian, tri giác thời gian, tri giác
vận động, tri giác xã hội, tri giác con người
2.1.1.3/ Sự chuyển hóa cảm giác thành tri giác
Sự chuyển hóa này thường nhanh đến mức ta không cảm thấy được rằng cảm giác có trước, tri giác có sau, mà ta tưởng rằng cảm giác và tri giác là một Tuy nhiên, quá trình này diễn ra theo 4 bước sau: các giác quan tiếp nhận kích thích, chuyển hóa năng lượng vật lý thành xung thần kinh, phát sinh những cảm giác trên vùng tương ứng của vỏ não, các xung thần kinh lan truyền sang vùng liên hợp để các cảm giác liên hợp và tổng hợp lại thành ấn tượng hay hình ảnh trọn vẹn có ý nghĩa gọi là tri giác
2.1.1.4/ Nhận thức cảm tính
Nhận thức là quá trình hoạt động tâm lý của con người để biết được một sự vật hay một hiện
tượng nào đó là như thế nào
Có hai loại nhận thức:
-Nhận thức cảm tính (gồm những cảm giác và tri giác) là nhận thức chỉ phản ánh những thuộc
tính bề ngoài, cụ thể của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan.1
-Nhận thức lý tính là nhận thức cao hơn, được thực hiện trên cơ sở đã có nhận thức cảm tính về
sự vật hay hiện tượng đó và bằng sự tư duy hoặc tưởng tượng để phản ánh bản chất bên trong của sự
vật hay hiện tượng đó
2.1.2/ Thị giác (cảm giác và tri giác nhìn)
2.1.2.1/ Cơ sở sinh lý của cảm giác nhìn
a) Giải phẫu mắt
* Cấu tạo của cầu mắt
Cầu mắt nằm trong hốc mắt của xương sọ, phía ngoài được bảo vệ bởi các mí mắt, lông mày và lông mi nhờ tuyến lệ luôn luôn tiết nước mắt làm mắt không bị khô Cầu mắt vận động được là nhờ cơ vận động mắt
Cầu mắt gồm ba lớp: Lớp ngoài cùng là màng cứng có nhiệm vụ bảo vệ phần trong của cầu
mắt, phía trước của màng cứng là màng giác trong suốt để ánh sáng đi qua vào trong cầu mắt; tiếp đến
là lớp màng mạch có nhiều mạch máu và các tế bào sắc tố đen tạo thành một phòng tối trong cầu mắt
1
I.12, 67
Trang 20(như phòng tối của máy ảnh); lớp trong cùng là màng lưới (võng mạc), trong đó chứa tế bào thần kinh thị giác, bao gồm hai loại: tế bào nón và tế bào que
* Cấu tạo của màng lưới
-Các tế bào nón tiếp nhận các kích thích ánh sáng mạnh và màu sắc Các tế bào que có khả năng tiếp nhận kích thích ánh sáng yếu giúp ta nhìn rõ về ban đêm Các tế bào nón tập trung chủ yếu ở
điểm vàng (nằm trên trục mắt), càng xa điểm vàng số lượng tế bào nón càng ít và chủ yếu là các tế bào
que Mặt khác, ở điểm vàng, mỗi tế bào nón liên hệ với một tế bào thần kinh thị giác qua một tế bào hai cực, nhưng nhiều tế bào que mới liên hệ được với một tế bào thần kinh thị giác Chính vì vậy, khi muốn quan sát một vật cho rõ phải hướng trục mắt về phía vật quan sát để ảnh của vật hiện trên điểm vàng
Còn điểm mù là nơi đi ra để vào não của các sợi trục các tế bào thần kinh thị giác, không có tế
bào thụ cảm thị giác nên nếu ảnh của vật rơi vào đó, ta sẽ không nhìn thấy gì cả
Trang 21b) Sinh lý của sự tạo ra cảm giác nhìn:
Ta nhìn thấy được vật là do các tia sáng phản chiếu từ vật đó đi vào mắt qua lỗ đồng tử tới tận màng lưới, qua một môi trường trong suốt gồm màng giác, thủy dịch, thể thủy tinh, dịch thủy tinh
Lượng ánh sáng vào trong phòng tối của cầu mắt nhiều hay ít là nhờ lỗ đồng tử ở mống mắt (lòng đen) dãn rộng hay co hẹp (điều tiết ánh sáng)
Nhờ khả năng điều tiết của thể thủy tinh (như một thấu kính hội tụ) mà ta có thể nhìn rõ vật ở
xa cũng như khi tiến lại gần Vật càng gần mắt, thể thủy tinh càng phồng lên để nhìn cho rõ
Các tia sáng từ vật qua thể thủy tinh tới màng lưới sẽ tác động lên các tế bào thụ cảm thị giác làm hưng phấn các tế bào này và truyền tới tế bào thần kinh thị giác, xuất hiện luồng thần kinh theo
dây thần kinh thị giác về vùng vỏ não tương ứng ở thùy chẩm của đại não cho ta cảm nhận về hình ảnh
của vật, tức là hình ảnh tâm lý ở trong não, là cảm giác nhìn (thị giác) về vật đó Hình ảnh trên màng
lưới là hình ảnh vật lý lộn ngược so với sự vật ở bên ngoài
Ta nhìn được là nhờ các tia sáng từ vật tới mắt đi qua thể thủy tinh tới màng lưới sẽ kích thích các tế bào thụ cảm ở đây vào não (thùy chẩm) để cho ta nhận biết về vị trí, hình dạng, độ lớn và màu sắc của vật
Ở phía sau não có một vùng được gọi là vỏ não thị giác nguyên thủy, vùng này nằm tại vỏ não vùng chẩm chuyên xử lý các thông tin đã được mã hóa thần kinh từ hai mắt truyền tới Tại đây, não
“nhìn thấy” cái mà mắt đã thu thập được Những xung động thần kinh từ các tế bào thị giác trên được truyền đi theo dây thần kinh thị giác để tới vùng chẩm của vỏ não trong đó có một dây của con mắt này
phải đi qua chéo thị giác để giao nhau theo hình chữ X với một dây của con mắt kia; như vậy, phần bên
trái của thùy chẩm xuất hiện hình ảnh của các sự vật ở bên phải của chủ thể và ngược lại
2.1.2.2/ Cảm giác nhìn:
Cảm giác nhìn là loại cảm giác nảy sinh do ánh sáng tác động vào mắt Theo lý thuyết vật lý hiện đại, cảm giác thị giác là cảm giác hình thành do tác động của sóng điện từ có bước sóng từ 390 đến 780 Mm lên mắt.1 Cảm giác này cho biết vị trí, hình thù, khối lượng, độ sáng, độ xa, màu sắc của
sự vật Nó giữ vai trò cơ bản trong nhận thức thế giới bên ngoài của con người (90% lượng thông tin từ bên ngoài đi vào não là qua mắt) Cảm giác nhìn có đặc điểm không mất ngay sau khi một kích thích mạnh ngừng tác động (được gọi là hậu ảnh hay lưu ảnh, kéo dài chừng 1/5 giây).2
Trang 22Tóm lại, cảm giác nhìn là một quá trình tâm lý phản ánh một thuộc tính riêng lẻ của sự vật
hiện tượng khi sóng ánh sáng (sóng điện từ) phát ra từ sự vật đó tác động vào mắt
Trải nghiệm thị giác là một quá trình chọn lọc Có nhiều tín hiệu đến và cạnh tranh với nhau để được xử lý trong não thì làm thế nào ta có thể tránh khỏi nhầm lẫn và tập trung vào cái gì là quan trọng? Các đối tượng được ta chú ý lựa chọn như thế nào, mắt và tay ta hướng tới như thế nào để thao tác chúng? Khả năng với lấy, nắm lấy và thao tác các đối tượng được tri giác là một kỳ công do có những tế bào đặc hiệu trong hệ thần kinh trung ương Một số tế bào giúp ta hướng sự chú ý đến một số vật nào đó, một số tế bào khác lại giúp ta hướng cặp mắt về một vật được quan tâm nhiều nhất, còn một
số khác nữa lại giúp ta cử động các chi để nắm giữ và thao tác các vật
Trong giai đoạn đầu của quá trình chọn lọc này có sự tách biệt hình với nền Hệ thị giác phân
tích khung cảnh để biết các ranh giới và sự tương phản nhằm phân biệt hình với nền Trong giai đoạn hai của quá trình này, những bộ phận hoặc những nét đặc biệt của những hình được chọn lọc để phân tích kỹ hơn Đó là giai đoạn chú ý của tri giác diễn ra bằng cách tập trung vào một hoặc hai vật cùng một lúc
Như vậy, tri giác nhìn là một quá trình tâm lý được chuyển hóa từ những cảm giác nhìn, phản
ánh trọn vẹn những thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào mắt sau khi tách biệt hình ra khỏi nền và chọn lọc đối tượng
2.1.2.4/ Thị giác
Thị giác là một loại nhận thức cảm tính phản ánh một hoặc nhiều thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng khi sóng ánh sáng (sóng điện từ) phát ra từ sự vật, hiện tượng đó đang trực tiếp tác động vào mắt và tạo ra ở trong não (thùy chẩm) những cảm giác hoặc tri giác về sự vật, hiện tượng đó
2.1.3/ Thính giác (cảm giác và tri giác nghe)
2.1.3.1/ Cơ sở sinh lý của cảm giác nghe
Trang 23a) Giải phẫu tai
Tai được chia ra: tai ngoài, tai giữa, tai trong
-Tai ngoài gồm: vành tai có nhiệm vụ hứng sóng âm, ống tai hướng sóng âm Tai ngoài được giới hạn với tai giữa bởi màng nhĩ (có đường kính khoảng 1cm)
-Tai giữa là một khoang xương, trong đó có chuỗi xương tai bao gồm xương búa, xương đe và
xương bàn đạp khớp với nhau Xương búa được gắn vào màng nhĩ, xương bàn đạp áp vào một màng
giới hạn tai giữa với tai trong (gọi là màng cửa bầu dục, có diện tích nhỏ hơn màng nhĩ 18 – 20 lần)
Khoang tai thông với hầu nhờ có vòi nhĩ nên bảo đảm áp suất hai bên màng nhĩ được cân bằng
-Tai trong gồm có hai bộ phận:
+Bộ phận tiền đình và các ống bán khuyên thu nhận các thông tin về vị trí và sự chuyển động
của cơ thể trong không gian
+Ốc tai thu nhận các kích thích của sóng âm Ốc tai bao gồm ốc tai xương, trong có ốc tai
màng Ốc tai màng là một ống màng chạy dọc suốt ốc tai xương và cuốn quanh trụ ốc hai vòng rưỡi,
gồm màng tiền đình ở phía trên, màng cơ sở ở phía dưới và màng bên áp sát vào vách xương của ốc tai xương Màng cơ sở có khoảng 24.000 sợi liên kết dài ngắn khác nhau: dài ở đỉnh ốc và ngắn dần khi xuống miệng ốc Chúng giăng ngang từ trụ ốc sang thành ốc
Trên màng cơ sở có cơ quan Coocti, trong đó có các tế bào thụ cảm thính giác
b) Sinh lý của sự tạo ra cảm giác nghe
Trang 24Sóng âm từ nguồn âm phát ra được vành tai hứng lấy, truyền qua ống tai vào làm rung màng nhĩ, rồi truyền qua chuỗi xương tai vào làm rung màng “cửa bầu” và cuối cùng làm chuyển động ngoại dịch rồi nội dịch trong ốc tai màng, tác động lên cơ quan Coocti
Tùy theo sóng âm có tần số cao (âm bổng) hay thấp (âm trầm), mạnh hay yếu mà sẽ làm cho các tế bào thụ cảm thính giác của cơ quan Cooti ở vùng này hay vùng khác trên màng cơ sở hưng phấn, truyền về vùng phân tích tương ứng ở não cho ta nhận biết về các âm thanh đó
Như vậy, tai là bộ phận tiếp nhận âm thanh Sóng âm vào tai làm rung màng nhĩ, truyền qua chuỗi xương tai vào tai trong gây sự chuyển động ngoại dịch rồi nội dịch trong ốc tai màng và tác động lên các tế bào thụ cảm thính giác của cơ quan Cooti nằm trên màng cơ sở ở vùng tương ứng với tần số
và cường độ của sóng âm làm các tế bào này hưng phấn chuyển thành xung thần kinh truyền về vùng thính giác ở thùy thái dương của não cho ta nhận biết về âm thanh đã phát ra
2.1.3.2/ Cảm giác nghe
Sóng âm thanh tác động lên bộ máy thính giác Từ đó, cảm giác nghe có thể được tạo ra bởi quá trình dao động chu kỳ cũng như bởi quá trình dao động phi chu kỳ với tần số và biên độ dao động thay đổi không đều Loại dao động chu kỳ phản ánh trong âm nhạc, còn loại dao động phi chu kỳ phản ánh trong tạp âm1 Cảm giác nghe phản ánh những thuộc tính của âm thanh, tiếng nói: cao độ (tần số dao động), cường độ (biên độ dao động) và âm sắc (hình thức dao động)2 Ngoài ra, cảm giác âm thanh thay đổi theo độ thăng trầm, độ to nhỏ và theo âm sắc.3
Như vậy, cảm giác nghe là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật
thông qua cao độ, cường độ và âm sắc của sóng âm thanh đang được phát ra từ sự vật đó và đang tác động vào tai
2.1.3.3/ Tri giác nghe
Tri giác nghe là một quá trình tâm lý được chuyển hóa từ cảm giác nghe, phản ánh trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật thông qua những cảm giác đã có về cao độ, cường độ và âm sắc của
âm thanh đang được phát ra từ sự vật đó và đang tác động vào tai
Trang 25Thính giác là một loại nhận thức cảm tính phản ánh một hay nhiều thuộc tính bề ngoài của sự vật thông qua cao độ, cường độ và âm sắc của âm thanh phát ra từ sự vật đó đang trực tiếp tác động vào giác quan tai
2.1.4/ Khứu giác (cảm giác và tri giác ngửi)
2.1.4.1/Cơ sở sinh lý của cảm giác ngửi
a) Giải phẫu mũi
Mũi là giác quan để ta có cảm giác ngửi thấy mùi Trong mũi có xoang mũi là nơi có các tế bào
thần kinh khứu giác chuyên tiếp nhận các kích thích của các phân tử hóa học của vật chất bốc hơi hoặc của các hạt rất nhỏ trong không khí được hít vào mũi và chạm vào xương mũi
Khả năng ngửi mùi là kết quả của sự hoạt hóa các tế bào nhận cảm khứu giác ở mũi, các tế bào này được chứa trong lớp màng nhầy khứu giác ở khoang mũi
b) Sinh lý của sự tạo ra cảm giác ngửi
Cảm giác ngửi bao gồm một chuỗi các hoạt tính sinh hóa học phát sinh các xung động thần kinh và truyền tín hiệu điện vào não để phát sinh ở đó cảm giác ngửi thấy mùi gì đó (thơm, thối, hôi, tanh, v.v…) Mùi, dưới dạng những phân tử hóa học tương tác với protein thụ thể trên màng của các tế bào lông rung ở mũi Một khi khởi động, các xung động thần kinh này truyền thông tin mùi đến hành khứu nằm ngay trên các thụ thể và ngay dưới thùy trán của vỏ não làm nhiệm vụ chuyên môn hóa trong
xử lý thông tin về mùi là khứu não, một trong những bộ phận nguyên thủy của não Những tín hiệu khứu giác trực tiếp đi tới trung tâm khứu giác của não
Hệ thống khứu giác đóng một vai trò rõ ràng qua việc kích thích khẩu vị và tập tính ăn uống
2.1.4.2/ Cảm giác ngửi
Cảm giác ngửi là một quá trình tâm lý phản ánh một thuộc tính riêng lẻ của sự vật thông qua các mùi (hay các phân tử hóa học) của sự vật đó đang tác động vào mũi
2.1.4.3/ Tri giác ngửi
Tri giác ngửi là một quá trình tâm lý được chuyển hóa từ các cảm giác ngửi, phản ánh trọn vẹn thuộc tính bề ngoài của sự vật thông qua các mùi (hay các phân tử hóa học) của sự vật đó đang tác động vào mũi
2.1.4.4/ Khứu giác
Trang 26Khứu giác là một loại nhận thức cảm tính phản ánh thuộc tính bề ngoài của sự vật thông qua mùi (hay các phân tử hóa học) của sự vật đó đang tác động vào giác quan mũi
2.1.5/ Vị giác (cảm giác và tri giác nếm)
2.1.5.1/ Cơ sở sinh lý của cảm giác nếm
a) Giải phẫu lưỡi
Lưỡi là giác quan góp phần tạo ra cảm giác nếm Trên lưỡi có những gai lưỡi chứa các tế bào
thần kinh chuyên tiếp nhận các kích thích của các phân tử hóa học của các chất trong thức ăn, thức uống Sự kích thích đó tạo ra xung thần kinh trong các tế bào và truyền tín hiệu điện vào tới não (khu vị giác trên thùy thái dương) để phát sinh ở đó cảm giác nếm
b) Sinh lý của sự tạo ra cảm giác nếm
Những tế bào thụ thể vị giác tụ tập tại những nụ vị giác, tập trung thành đám nhô lên của màng nhầy gọi là nhú vị giác Nhú được phân bố khắp khoang miệng đặc biệt ở phía trên của lưỡi.1
Khả năng nếm thức ăn của con người là kết quả sự hoạt hóa của các tế bào cảm nhận vị giác trong lưỡi Những tế bào này tìm ra những hóa chất liên kết với bốn tính chất cơ bản của vị giác là ngọt, mặn, chua và đắng
Đầu lưỡi bao gồm các thụ quan nhạy cảm với chất ngọt, hai phần bên gần đầu lưỡi nhạy cảm với chất mặn, hai phần bên cuối lưỡi nhạy cảm với chất chua Phần giữa cuống lưỡi nhạy cảm với chất đắng Các cơ quan cảm nhận vị giác còn có ở hầu và vòm miệng
1
I.8, 204
Trang 272.1.5.4/ Vị giác
Vị giác là một loại nhận thức cảm tính phản ánh thuộc tính bề ngoài của sự vật thông qua các
vị (hay các phân tử hóa học) đang tác động vào giác quan lưỡi
2.1.6/ Mạc giác (cảm giác và tri giác da)
2.1.6.1/ Cơ sở sinh lý của cảm giác da
a) Giải phẫu da
Da là giác quan để có cảm giác xúc giác, cảm giác đau, và cảm giác nóng lạnh do sự vật gây ra khi chúng và chủ thể tiếp xúc với nhau Trong da có các tế bào thần kinh chuyên tiếp nhận các kích thích là sự đụng chạm, cọ xát và các tế bào thần kinh chuyên tiếp nhận kích thích của áp lực
Trang 28Da cũng chứa những tận cùng dây thần kinh - mà khi bị kích thích do tiếp xúc với các vật bên ngoài - sẽ tạo ra những cảm giác về áp lực, nhiệt độ Các cảm giác này gọi là xúc giác
Tính nhạy cảm của da với áp lực biến thiên trên cơ thể Tính nhạy cảm tỏ ra mạnh nhất tại mặt, lưỡi và bàn tay Sự phản hồi giác quan tỏ ra chính xác từ lưỡi và bàn tay Sự phản hồi giác quan chính xác từ các phần đó của cơ thể giúp con người hoạt động có hiệu quả trong các động tác ăn nói, nắm giữ.1
b) Sinh lý của sự tạo ra cảm giác da
Mỗi loại cảm giác được các thụ quan tương ứng phát hiện ra
-Thụ quan xúc giác: còn gọi là thụ quan cơ học, phát hiện ra sự đụng chạm, áp lực và những
rung động tác động vào da
-Nhiệt thụ quan: nóng và lạnh
Các thụ quan cảm giác phản ứng lại nhiệt độ gọi là nhiệt thụ quan, có hai loại: một loại phản ứng nhiệt độ dưới 30oC và loại kia phản ứng lại nhiệt độ trên 30oC
Các nhiệt thụ quan này có khả năng tự điều chỉnh cho phù hợp với môi trường bên ngoài
-Thụ quan cảm giác đau: va chạm mạnh và nhiệt độ
Nhìn chung có hai thụ quan cảm giác đau: thể nhận cảm giác đau cơ học được kích hoạt bởi tác nhân kích thích cơ học (như vết dao cắt trên cánh tay, hoặc cú đập vào đầu) và thể nhận cảm giác đau
do nhiệt phản ứng lại nhiệt độ trên 45oC
-Thụ quan bản thể: vị trí và sự vận động
1
I.8, 205
Trang 29Thụ quan bản thể nhận biết vị trí các chi của cơ thể Một loại thụ quan bản thể nhận biết vị trí
cố định của các chi trong không gian đối với các phần khác của cơ thể Các loại thụ quan bản thể khác truyền thông tin về sự vận động của các chi để chuyển thành cảm giác về sự vận động Não cần thông tin này để xác định vị trí của chân và tay để tính toán chúng còn cần thực hiện bao nhiêu động tác nữa
Căn cứ vào trạng thái hoạt động độc lập mà Tâm lý học phân loại ý thức như sau:
a) Chú ý: là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng, để định hướng
hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả Thiền định cũng là một dạng chú ý mà bước đầu là chú ý và kiểm soát hơi thở có tác dụng thư giãn tinh thần
và thể xác
b) Mơ mộng: là trạng thái đặc biệt của ý thức khi trong não con người tự động diễn ra những
sự mơ tưởng lan man lúc thức
Trang 30c) Giấc ngủ: là một trạng thái thay đổi của ý thức gồm năm giai đoạn khác nhau, trong đó mỗi
giai đoạn ứng với một mức độ nhất định của sự kích thích sinh lý Giai đoạn sâu nhất của giấc ngủ (ngủ say) là giai đoạn tiếp giáp với vô thức
d) Giấc mơ: là một quá trình tâm lý diễn ra trong giấc ngủ kèm theo các hình ảnh thị giác
Trong giấc mơ, có những thay đổi ý thức đặc trưng: giảm khả năng phản ánh hiện thực và nhận biết bản thân như là chủ thể nhận thức
e) Thôi miên: là một trạng thái tạm thời của ý thức, đặc trưng bởi sự co lại tới mức tối đa miền
ý thức và áp lực mạnh mẽ của nội dung ám thị Trạng thái này gắn liền với những thay đổi về chức năng kiểm tra của cá nhân và tự ý thức
f) Ảo giác: là những cảm giác khi không có kích thích khách quan nào của môi trường bên
ngoài tới các giác quan Đó là tình trạng méo mó, rối nhiễu trong ý thức khi con người thấy hoặc nghe những điều không có trong thực tế
2.1.7.3/ Các thuộc tính cơ bản của ý thức
a) Ý thức thể hiện nhận thức cao nhất của con người về thế giới xung quanh:
-Nhận thức cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ
-Dự kiến trước kế hoạch hành vi, kết quả của nó làm hành vi mang tính có chủ định
b) Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới xung quanh:
Ý thức không chỉ là nhận thức sâu sắc của con người đối với thế giới mà còn thể hiện thái độ của con người đối với nó
c) Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hoạt động của con người
Trên cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ rõ thái độ với thế giới, ý thức điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người đạt tới mục đích đề ra Vì thế, ý thức có khả năng sáng tạo
d) Khả năng tự ý thức: con người không chỉ ý thức về thế giới chung quanh mà còn ở mức độ
cao hơn, con người có khả năng tự ý thức Đó là khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình
2.1.7.4/ Cấu trúc của ý thức
a) Mặt nhận thức của ý thức
-Nhận thức cảm tính mang lại những thông tin đầu tiên cho ý thức là tầng bậc thấp của ý thức
Trang 31-Nhận thức lý tính là bậc tiếp theo trong mặt nhận thức của ý thức, đem lại cho con người những hiểu biết bản chất, khái quát về thực tại khách quan
a) Sự hình thành ý thức của con người (về phương diện loài)
* Vai trò của lao động
-Con người hình dung ra trước mô hình và phương thức làm ra sản phẩm trên cơ sở huy động toàn bộ vốn hiểu biết, năng lực trí tuệ Đó là ý thức về sản phẩm
-Trong khi lao động, con người chế tạo, sử dụng công cụ, tiến hành các thao tác và hành động lao động
-Kết thúc quá trình lao động, con người có ý thức đối chiếu sản phẩm với mô hình
* Vai trò của ngôn ngữ và giao tiếp đối với sự hình thành ý thức
-Ngôn ngữ giúp con người xây dựng và hình dung các mô hình tâm lý của sản phẩm Hoạt động ngôn ngữ giúp con người sử dụng công cụ lao động, tiến hành hệ thống các thao tác hành động lao động và giúp phân tích, đánh giá sản phẩm
-Giao tiếp giúp trao đổi thông tin, phối hợp cùng làm ra sản phẩm
Trang 32- Ý thức cá nhân được hình thành bằng con đường tự nhận thức, tự đánh giá, tự phân tích hành
vi của mình
2.1.7.6/ Các cấp độ của ý thức
a) Cấp độ chưa ý thức hoặc không ý thức được
- Vô thức: Bản năng vô thức (bản năng dinh dưỡng, tự vệ, sinh dục…) tiềm tàng ở tầng sâu, dưới ý thức, mang tính bẩm sinh, di truyền
-Trong mối quan hệ giao tiếp và hoạt động: ý thức nhóm, ý thức xã hội, ý thức tập thể…
Tóm lại, các cấp độ khác nhau của ý thức luôn tác động lẫn nhau, chuyển hóa và bổ sung cho nhau làm tăng tính đa dạng và sức mạnh của ý thức Ý thức thống nhất với hoạt động; hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động Ý thức chỉ đạo, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, làm cho hoạt động
Tự ý thức, trước hết, là sự phát triển cao của ý thức Trong quá trình hoạt động, giao tiếp trong
xã hội, cá nhân hình thành ý thức về bản thân mình (ý thức bản ngã – tự ý thức) trên cơ sở đối chiếu mình với người khác, với chuẩn mực xã hội Do vậy, tự ý thức được xem là mức độ phát triển cao của
ý thức
b) Phân loại:
Trang 33Trong tự ý thức có:
-Tự ý thức về ngoại hình của mình
-Tự ý thức về sức khỏe của mình
-Tự ý thức về vai trò, vị trí xã hội, thân phận của mình
-Tự ý thức về nhân cách (đạo đức, tài năng) của mình
-Tự ý thức về quá khứ và tương lai của mình
c) Chức năng:
-Tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi theo mục đích tự giác
-Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình
2.1.8.2/ Cái tôi
2.1.8.2.1/ Cái tôi trong Tâm lý học phát triển
Cái tôi trong Tâm lý học phát triển được nghiên cứu như quá trình phát triển ý thức và tự ý thức thông qua nhu cầu và các hoạt động chủ đạo của từng giai đoạn
-Vườn trẻ (3 tuổi): muốn độc lập, muốn được khen ngợi, hoạt động cùng nhau
-Mẫu giáo (3-6 tuổi): khát vọng tiếp xúc với thế giới người lớn, hoạt động vui chơi, theo sự chỉ dẫn của người lớn
-Thiếu nhi (6-12 tuổi): hoạt động học tập
-Thiếu niên (12-16 tuổi): phát triển tự ý thức, tự đánh giá
-Thanh niên (16-18 tuổi): nhu cầu tự khẳng định; tự đánh giá một cách tỉ mỉ, nghiêm khắc; đời sống tình cảm phát triển; chín muồi sinh lý nhưng tâm lý, xã hội, kinh nghiệm chưa trưởng thành
-Sinh viên (18-25 tuổi): tự đánh giá phát triển mạnh: phê phán, phản tỉnh, định hướng giá trị; tình cảm phát triển vào giai đoạn đẹp nhất
-Trưởng thành: (25-40 tuổi): xây dựng gia đình, tay nghề khá cao, nếu nghề nghiệp không ổn định thì tuổi này thường bi quan, bất mãn, tự ti
-Trung niên (40-60 tuổi): cống hiến tài năng và sức lực cho xã hội
-Cao niên (60 tuổi trở lên): hồi tưởng về quãng đời đã qua, gắn bó với đời sống tâm linh