QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ 3 BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC CỦA NHÓM 1 Nguyễn Thị Ánh Ngọc Quy định pháp luật về Dự trữ bắt buộc & tập hợp bài word của nhóm Hoàn thà
Trang 1QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NG ẠI HỐI
6 Nguyễn Thị Kim Như
7 Nguyễn Hoàng Oanh
8 Phạm Thị Ngọc Phương
Trang 2QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC CỦA NHÓM
1 Nguyễn Thị Ánh Ngọc Quy định pháp luật về
Dự trữ bắt buộc & tập hợp bài word của nhóm
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
2 Đặng Thị Thu iền Quy định pháp luật về lãi
suất cơ bản
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
3 guyễn Thị Kim hư Quy định pháp luật về
chính sách tái cấp vốn
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
4 Phạm Thị iếu Quy định pháp luật về cơ
chế tỷ giá hối đoái và quản lý dự trữ ngoại hối
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
5 Trần oàng gân Quy định pháp luật về sử
dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam và kiều hối; mang ngoại tệ vàng khi xuất nhập cảnh
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
6 Trần Thị Ái Linh Quy định pháp luật về sử
dụng vàng trên lãnh thổ Việt Nam và mang vàng miếng, vàng nguyên liệu khi xuất nhập cảnh
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
7 Phạm Thị gọc Phương Quy định pháp luật về
hoạt động thanh toán ngoại thương
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
8 guyễn oàng Oanh Quy định pháp luật về
hoạt động đầu tư vốn ngoại tệ
Hoàn thành bài đúng nộp dung và thời gian nhóm đề ra
Trang 3QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
I QUI ĐỊ P ÁP LUẬT VỀ QUẢ LÝ TIỀ TỆ:
Để có thể thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng thông qua việc cung ứng tiền và điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) có thể sử dụng các công
cụ khác nhau: dự trữ bắt buộc, lãi suất, chính sách chiết khấu,
1 Dự trữ bắt buộc:
1.1 Lý do về quy định dự trữ bắt buộc:
Dự trữ bắt buộc là một phần số dư tiền gửi các loại mà các ngân hàng thương mại (NHTM) phải dự trữ dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại NHTƯ Trong hoạt động kinh doanh của mình, các NHTM sử dụng các khoản tiền gửi của khách hàng để cho vay hoặc đầu tư một cách khá linh hoạt Nếu như các khoản cho vay đều có thời hạn, một ngày hay cho vay qua đêm cũng đều có thời hạn, thậm chí thời hạn có thể còn kéo dài hơn dự kiến vì đến hạn thu nợ, có thể ngân hàng vẫn không thu được nợ - trong khi đó, đối với nguồn tiền gửi của khách hàng thì các ngân hàng lại rất khó khăn trong việc kiểm soát thời hạn, ngay cả khi gửi tiết kiệm có kỳ hạn thì khách hàng gửi tiền vẫn có thể rút tiền trước khi đến hạn; tình trạng tiền cho vay ra chưa thu hồi về nhưng khách hàng gửi tiền lại
có nhu cầu rút tiền trước hạn là hiện tượng luôn có thể Điều này cho thấy rủi ro thanh khoản luôn
là mối lo của các NHTM Mặt khác, trên thực tế, thời hạn cho vay còn dài hơn thời hạn của nguồn tiền gửi, nói khác đi là kỳ hạn gửi tiền của mỗi loại tiền gửi không phải lúc nào cũng là cơ sở để xem xét và quyết định thời hạn cho vay, mà ngân hàng có thể khai thác tính ổn định tương đối của tổng số dư tiền gửi không kỳ hạn để cho vay có thời hạn, dùng nguồn tiền gửi thời hạn ngắn để cho vay với thời hạn dài hơn nên nguy cơ rủi ro cao hơn Khi rủi ro thanh khoản xảy ra, ngân hàng mất khả năng thanh toán - các khoản tiền gửi ở các ngân hàng sẽ nhanh chóng “bay hơi”, không những thế nó còn làm “bay hơi” giá trị tài sản và các khoản dự trữ của ngân hàng đó và theo phản ứng dây chuyền thì rủi ro này sẽ làm chấn động toàn hệ thống ngân hàng
Dự trữ bắt buộc là công cụ để NHTƯ các nước sử dụng để điều tiết tiền tệ trong nền kinh tế Nói cách khác, dự trữ bắt buộc làm tăng khả năng kiểm soát của NHTƯ đối với quá trình cung ứng tiền Thông qua việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTƯ có thể tác động vào nguồn dự trữ, thay đổi vốn khả dụng của các ngân hàng để làm thay đổi tiềm năng tín dụng của các ngân hàng - nhưng NHTƯ không phải là người quyết định việc sử dụng các tiềm năng ấy
Mặc dù lịch sử ra đời của dự trữ bắt buộc là từ những năm đầu của thế kỷ 20, song hệ thống ngân hàng Việt Nam mới chỉ làm quen với khái niệm này vào tháng 5/1990, sau khi “Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam”, “Pháp lệnh Ngân hàng, các hợp tác xã tín dụng và công
ty tài chính” được ban hành thì các NHTM Việt Nam mới bắt đầu thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc
1.2 Tác động của dự trữ bắt buộc:
- Dự trữ bắt buộc và tiềm năng tín dụng của các ngân hàng: Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc thay
đổi, nó trực tiếp tác động đến nguồn vốn khả dụng của mỗi ngân hàng Với tổng số nguồn tiền gửi huy động được, tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng thấp thì phần chênh lệch còn lại - vốn khả dụng của bản
Trang 4QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
thân ngân hàng này càng cao, khả năng cho vay ra của ngân hàng càng lớn và ngược lại Bên cạnh
đó, mỗi động tác cấp tín dụng cho một đối tượng nào đó thông qua chuyển khoản của ngân hàng - hoạt động này mở ra một nguồn vốn mới cho một ngân hàng kế tiếp, sự tiếp tục của quá trình này chính là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng làm cho tổng nguồn có thể cho vay của toàn hệ thống được nhân lên nhiều lần so với số tiền gửi ban đầu, mức độ được nhân lên chính là hệ số nhân tiền Qua đó cho thấy, tỷ lệ dự trữ bắt buộc có quan hệ chặt chẽ với nguồn vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, vốn khả dụng chỉ thể hiện được tiềm năng tín dụng, còn thực sự nó có làm cho khối lượng tín dụng tăng lên hay không lại phụ thuộc vào thái độ sẵn sàng cấp tín dụng của
các ngân hàng và nhu cầu tín dụng của nền kinh tế
- Dự trữ bắt buộc và lãi suất
Dự trữ bắt buộc có thể tác động đến lãi suất bằng hai cách:
Thứ nhất, do dự trữ bắt buộc có thể mở rộng hay thu hẹp tiềm năng tín dụng cho nên lãi suất
thị trường cũng vì thế mà có thể giảm xuống hoặc tăng lên
Thứ hai, khi dự trữ bắt buộc tăng lên thì lãi thu được từ hoạt động cho vay giảm xuống làm
giảm lợi nhuận của các NHTM Điều này được các ngân hàng khắc phục bằng cách điều chỉnh tăng lãi suất cho vay trên thị trường tín dụng
- Dự trữ bắt buộc và khối lượng tiền cung ứng
Khối lượng tiền cung ứng thay đổi là kết quả tất yếu của việc thay đổi tiềm năng tín dụng, thay đổi lãi suất trên thị trường, nó cũng là mục tiêu cuối cùng mà NHTƯ muốn đạt được khi điều chỉnh dự trữ bắt buộc Tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ được nâng lên nếu NHTƯ thực hiện việc thắt chặt tiền tệ, hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát và ngược lại, để mở rộng tiền tệ nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động thì NHTƯ sẽ hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động ngược chiều đến khối lượng tiền cung ứng thể hiện qua công thức tính hệ số nhân tiền:
1.3 Qui định pháp luật về dự trữ bắt buộc:
Tùy vào mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ mà tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau Điều này được chứng minh rất rõ ở nước ta trong thời gian qua:
Trang 5QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3%1 - 1%2 379/QĐ-NHNN ngày 24/02/2009
( 1 ): đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 12 tháng
( 2 ): đối với tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên
Nguồn: http://www.sbv.gov.vn
Bảng 01 cho thấy từ tháng 01/2008 - 01/2011 đến nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được điều chỉnh giảm, việc điều chỉnh này của NHNN, nhằm đưa ra tín hiệu nới lỏng tiền tệ; mặt khác, thông qua việc nâng cao hệ số nhân tiền chính thức mở rộng khả năng cho vay, kích thích các ngân hàng thương mại đẩy mạnh hoạt động tín dụng, tích cực cung ứng vốn cho nền kinh tế
Những căn cứ cụ thể sau thường được sử dụng để đưa ra yêu cầu về tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
- Tính chất kỳ hạn của mỗi loại tiền gửi - tùy vào tính chất kỳ hạn của tiền gửi mà nghĩa vụ
dự trữ bắt buộc khác nhau; thông thường kỳ hạn càng dài thì mức độ ổn định càng cao và độ rủi ro thanh khoản càng thấp và vì thế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với loại tiền gửi này thường thấp hơn so với loại tiền gửi có kỳ hạn ngắn hơn
- Mức độ của các khoản nợ - quy mô của các nguồn tiền gửi Thông thường quy mô của các nguồn tiền gửi càng cao thì khả năng rủi ro càng cao và vì thế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tỷ lệ thuận với quy mô nguồn tiền gửi
- Loại tiền gửi khác nhau cũng chứa đựng khả năng an toàn thanh khoản khác nhau nên NHTƯ có thể quy định tỷ lệ khác nhau cho tiền gửi của các đồng tiền khác nhau (Xem bảng 02)
Bảng 02: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo Quyết định 379 và Quyết định 79
Loại hình tổ chức tín dụng
Tiền gửi VND không kỳ hạn
và dưới 12 tháng
Tiền gửi ngoại
tệ từ 12-24 tháng
1 NHTM nhà nước, NHTMCP đô
thị, chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
ngân hàng liên doanh, công ty cho
thuê tài chính
Trang 6QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
2 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
3 NHTMCP nông thôn, ngân hàng
Nguồn: http://www.sbv.gov.vn
Ngoài ra, tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn có thể quy định tùy theo quy mô và mức độ an toàn chung của mỗi ngân hàng
Ở nước ta, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng được phân chia tùy theo tính chất kỳ hạn, loại tiền gửi
và thông thường, loại tiền gửi kỳ hạn ngắn, tiền gửi bằng ngoại tệ phải duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao hơn Bên cạnh đó, sự khác biệt về tỷ lệ dự trữ bắt buộc giữa các ngân hàng cũng được quan tâm Theo quy định tại Quyết định số 379/QĐ-NHNN áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND) và Quyết định 79/QĐ-NHNN áp dụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ) thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc được quy định như sau:
Để khuyến khích một số NHTM cho vay nông nghiệp và nông thôn ngày 08/12/2010, NHNN
đã ban hành các thông báo số 457; 458; 459; 460; 461 về việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng có tỷ trọng cho vay nông nghiệp và nông thôn cao theo Thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010 của NHNN Theo đó, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương được áp dụng tỷ
lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, NHTM cổ phần Quốc Tế Việt Nam, NHTM cổ phần Kiên Long, NHTM cổ phần Mê Kông được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/5 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường (www.sbv.gov.vn) Với quy định này NHNN đã bổ sung thêm một cơ sở mới cho việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đó là tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn tùy thuộc vào đối tượng đầu tư của các NHTM
Ở nước ta, để ngăn ngừa sự tăng trưởng tín dụng quá nóng nhằm kiểm soát lạm phát, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được điều chỉnh khá mạnh vào năm 2007 (từ 5% lên 10%) và năm 2008 - khi tình hình dần bình ổn trở lại, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được điều giảm dần một cách linh hoạt Tuy nhiên, gần như suốt năm 2009 và 2010, kể cả những tháng đầu năm 2011 - lạm phát không còn là nỗi lo mà
là thực tế đang phải đối mặt thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với VND vẫn không thay đổi (Xem bảng 01)
2 Lãi suất:
2.1 Khái niệm lãi suất:
Trong hầu hết các hợp đồng cho vay tiền, người vay thường phải trả thêm một phần giá trị ngoài phần vốn gốc ban đầu Tỉ lệ phần trăm của phần tăng thêm này so với phần vốn vay ban đầu được gọi là lãi suất Lãi suất phải được trả bởi lẽ đồng tiền ngày hôm nay có giá hơn đồng tiền nhận được ngày mai khi tính đến giá trị thời gian của tiền tệ
Trang 7QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
Theo Quy định phương pháp tính và hoạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng Ban hành kèm theo Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/05/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì Lãi là khoản tiền bên vay, huy động vốn hoăc bên thuê trả cho bên vay, đầu tư chứng khoán, gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn huy động hoặc tài sản cho thuê Lãi được tính toán căn cứ vào số vốn, thời gian sử dụng vốn và lãi suất
Lãi suất thường được tính theo tuần, tháng hoặc năm do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định Căn cứ vào lãi suất, số tiền vay và thời gian vay mà bên vay phải trả một số tiền nhất định
Số tiền này tỉ lệ thuận với lãi suất, số tiền đã vay và thời gian vay
* Phân biệt lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu của TW:
Lãi suất cơ bản Lãi suất tái chiết khấu Lãi suất tái cấp vốn
sách tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam trong
ngắn hạn
Nam
công bố, làm cơ sở cho các
TCTD ấn định lãi suất kinh
doanh Đây là công cụ trực
tiếp để kiểm soát lãi suất kinh
doanh của các NHTM
suất cho vay tối đa bằng 150%
lãi suất cơ bản do NHNN công
bố theo từng thời kỳ
đối tượng là các giấy tờ có giá
VD: Hối phiếu, lệnh phiếu, Trái phiếu ,
trả tiền cho người cầm (hoặc sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoản lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanh toán ghi trên đó khi đến hạn
Các ngân hàng này lại cần tiền nhưng các giấy tờ đó chưa đến hạn thanh toán họ bán lại các khoản sẽ thu này cho NH TW để đổi lấy tiền mặt và bớt lại cho NHTW một khoản, ta gọi đó là lãi suất tái chiết khấu
- Giống lãi suất tái chiết khấu, khác nhau về đối tượng
ở đây là các khoản cho vay của các NHTM, và sau đó họ bán lại các khoản này co NH
TW để đổi lấy lương tiền mặt
Các mức lãi suất hiện nay được NHNN công bố như sau:
+ Lãi suất cơ bản: 9%
+ Lãi suất tái chiết khấu: 8%
+ Lãi suất tái cấp vốn: 10%
2.2 Vai trò của lãi suất:
a Lãi suất với sự phân bổ các nguồn lực:
Lãi suất là một loại giá cả, nghĩa là lãi suất có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xă hội Để quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, một dự án hay là một tài sản nào đó chúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thu được từ ngành kinh tế
đó, dự án đó hay tài sản đó so với chi phí ban đầu Điều này có nghĩa là phải xem xét một ngành, một dự án kinh doanh có đem lại lợi nhuận, đảm bảo hiệu quả kinh doanh và đủ để trả khoản tiền lãi
Trang 8QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
b Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm:
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng và tiết kiệm
Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập, tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong đó tiền tệ và lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó
Khi lãi suất thấp, chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều hơn cho việc mua sắm các hàng hoá, nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn Ngược lại, khi lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng
c Lãi suất với đầu tư:
Hoạt động đầu tư chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều nhân tố như thu nhập, chi phí kỳ vọng trong kinh doanh Trong đó lãi suất thể hiện chi phí đầu tư là yếu tố quan trọng quyết định đầu tư
Khi lãi suất ở mức cao, ít khoản đầu tư vào vốn hiện vật sẽ mang lại thu nhập nhiều hơn chi phí lãi trả cho các khoản đi vay, do vậy chi tiêu cho đầu tư giảm, ngược lại khi lãi suất giảm các doanh nghiệp sẽ quyết định đầu tư cho vốn hiện vật nhiều hơn, chi tiêu đầu tư sẽ tăng
Ngay cả khi một doanh nghiệp có dư thừa vốn và không muốn vay để đầu tư vào vốn hiện vật thì chi tiêu đầu tư vẫn bị ảnh hưởng của lãi suất do doanh nghiệp có thể mua chứng khoán Lãi suất cao, chi phí cơ hội của một khoản đầu tư sẽ cao, chi tiêu đầu tư giảm do các doanh nghiệp mua chứng khoán sẽ tốt hơn vào đầu tư vốn hiện vật Khi lãi suất chi phí cơ hội của đầu tư giảm, chi tiêu đầu tư sẽ tăng lên vì đầu tư vào vốn hiện vật rất có thể đem lại thu nhập lớn hơn cho doanh nghiệp
so với mua chứng khoán
d Lãi suất với tỉ giá hối đoái và lạm phát
Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước khác Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá
cả, thuế quan, quota, sự ưa thích hàng nội, hàng ngoại, năng suất lao động Ngoài ra tỷ giá trong ngắn hạn còn chịu ảnh hưởng của lãi suất: Lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát dự tính tăng (lãi suất thực không đổi) thì tỷ giá giảm Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phát không đổit) thì giá đồng tiền trong nước tăng, tỷ giá tăng Khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ tăng, đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngược lại
Trang 9QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
Lý luận và thực tiễn đă thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm phát Những nước trải qua lạm phát cao cũng chính là những nước có mức lãi suất cao Lạm phát là hiện tượng mất giá của đồng tiền, là tình trạng tăng liên tục mức giá chung của nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khác nhau Do vậy cũng có nhiều biện pháp khác nhau để kiểm soát lạm phát, trong đó giải pháp về lãi suất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể thu hút phần lớn
số tiền có nhiều trong lưu thông khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm, lạm phát được kiềm chế Như vậy, lãi suất cũng góp phần chống lạm phát
Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ lãi suất trong chống lạm phát không thể duy trì lâu dài vì lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu tư, giảm tổng cầu và làm giảm sản lượng Do vậy lãi suất phải được sử dụng kết hợp với các công cụ khác thì mới có thể kiểm soát được lạm phát, ổn định giá cả, ổn định đồng tiền Một chính sách lãi suất phù hợp là sự cần thiết cho sự phát triển lành mạnh của nền kinh
tế
2.3 Quy định của pháp luật Việt am về lãi suất cơ bản:
Theo Luật NHNN Việt Nam 2010: Lãi suất là một trong những Công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia (bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường
mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ)
Điều 12 luật NHNN Việt Nam 2010 quy định:
- Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi
- Trong trường hợp thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác
Điều 43 Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 37-LCT/HĐNN8 ngày 23/05/1990 về NHNN Việt Nam cũng quy định: Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tối thiểu về
tiền gửi, tối đa về cho vay của các tổ chức tín dụng
Có thể thấy Nhà nước không phải lúc nào cũng kiểm soát được hết mọi quan hệ pháp luật cho nên có tình trạng nhiều vi phạm pháp luật nằm ngoài vòng kiểm soát của pháp luật Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi các văn bản pháp luật của nước ta còn thiếu cụ thể, tính khả thi không cao, hơn nữa luật nước ta là luật khung, muốn thi hành được trên thực tế phải có Nghị định hướng dẫn thi hành Vấn đề lãi suất trong hợp đồng vay cũng rơi vào tình trạng này Trong BLDS 2005 chỉ quy
định duy nhất một điều về lãi suất một cách trực tiếp: “Điều 476 Lãi suất
- Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản
do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng
Trang 10QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
- Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”
BLDS 1995 cũng như BLDS 2005 quy định một điều duy nhất về lãi suất nhưng so với Bộ
luật này, BLDS 2005 có những thay đổi căn bản Đối với BLDS 1995 thì chỉ quy định “lãi suất vay
do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng” Thực tế cho thấy khi áp dụng quy định này trong nhiều năm có nhiều bất cập và không còn phù hợp nữa, thay vào đó là quy định “Lãi suất vay
do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”
Việc quy định lãi suất quá cao sẽ không chỉ gây ảnh hưởng cho nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến chính bên cho vay Khi lãi suất của bên cho vay cao sẽ khiến các doanh nghiệp, các cá nhân… (bên vay) không vay dẫn đến tình trạng tiền bị đọng lại và không phát huy được giá trị sinh lời của nó Và như vậy nguồn tiền trong các Ngân hàng, nguồn tiền dự trữ trong nhân dân không những không đem lại hiệu quả mà còn gây khó khăn cho các doanh nghiệp, các cá nhân … muốn vay
Việc quy định lãi suất thấp so với sự phát triển và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng không ổn Việc quy định lãi suất thấp chỉ áp dụng cho các đối tượng ưu tiên mà pháp luật quy định còn mặt bằng chung phải phù hợp với mọi nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất (lạm phát hay giảm phát, kinh tế phát triển hay chậm phát triển…) Lãi suất thấp sẽ làm giảm hiệu quả của đồng tiền, làm giảm sự phát triển kinh tế, làm giảm nguồn thu của bên cho vay Nhìn một cách khách quan, lãi suất thấp chỉ có lợi trước mắt cho bên vay
Như vậy, việc quy định lãi suất quá cao hay quá thấp đều không mang lại hiệu quả Nhà nước tính toán làm sao để pháp luật có những quy định hợp lý không làm giảm hiệu quả của giá trị đồng tiền mang lại cũng không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng vay, đem lại sự phát triển bền vững và lâu dài cho nền kinh tế
2.4 Quy định của pháp luật Việt am về việc tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với các TCTD:
a Căn cứ pháp lý: Thông tư 15/2012/TT-NHNN ngày 04/05/2012
Thông tư này gồm có 4 Mục và 22 Điều, quy định cụ thể việc NHNN tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sô tín dụng đối với các TCTD
b ội dung cụ thể:
Các vấn đề cần lưu ý của thông tư 15:
- Quy định về Hồ sơ tín dụng và tiêu chuẩn các khoản cho vay, cho thuê tài chính trong hồ sơ tín dụng tại điều 3:
1 Hồ sơ tín dụng để tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước bao gồm hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, hợp đồng cho thuê tài chính được ký kết giữa tổ chức tín dụng với khách
Trang 11QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
hàng theo quy định của pháp luật và các tài liệu cần thiết khác theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước
2 Tiêu chuẩn các khoản cho vay, cho thuê tài chính trong hồ sơ tín dụng:
Tại thời điểm đề nghị tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước, các khoản cho vay, cho thuê tài chính trong hồ sơ tín dụng phải đảm bảo các điều kiện sau:
a) Các khoản cho vay phải có bảo đảm bằng tài sản theo quy định của pháp luật và giá trị tài sản bảo đảm không thấp hơn dư nợ khoản cho vay
b) Được phân loại nợ vào nhóm 1 theo quy định về phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước; c) Thời hạn còn lại phải lớn hơn thời hạn đề nghị tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước ít nhất
30 ngày;
d) Không bao gồm các khoản cho vay, cho thuê tài chính trong các lĩnh vực Ngân hàng Nhà nước không khuyến khích
- Quy định về Thẩm quyền ký văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn tại điều 4:
1 Người có thẩm quyền thay mặt tổ chức tín dụng ký các văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn là một trong những người sau đây:
a) Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng;
b) Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng
2 Người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều này có thể ủy quyền cho cấp phó của mình ký các văn bản đề nghị tái cấp vốn tại Ngân hàng Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về sự ủy quyền này Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba
- Quy định về thời hạn tái cấp vốn tại Điều 6:
1 Thời hạn tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng là dưới 12 tháng
2 Căn cứ mục đích đề nghị tái cấp vốn của tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước quyết định thời hạn tái cấp vốn trong từng trường hợp cụ thể
3 Trường hợp tổ chức tín dụng không có khả năng trả nợ đúng hạn và có đề nghị gia hạn, Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét gia hạn nợ vay tái cấp vốn trên cơ sở khả năng phục hồi thanh khoản, định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ; thời gian gia hạn không vượt quá thời hạn vay tái cấp vốn
- Quy định về mức tái cấp vốn được quy định tại Điều 11 và Điều 16 của thông tư, cụ thể:
+ Đối với Tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng nhằm hỗ trợ khả năng chi trả tạm thời: Mức tái cấp vốn tối đa bằng 60% tổng dư nợ thực tế của các khoản cho vay, cho thuê tài chính trong hồ sơ tín dụng tại thời điểm đề nghị tái cấp vốn
+ Đối với Tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng nhằm hỗ trợ phát triển kinh tế trong từng thời kỳ; Mức tái cấp vốn tối đa bằng 80% tổng dư nợ thực tế của các khoản cho vay, cho thuê tài chính trong hồ sơ tín dụng tại thời điểm đề nghị tái cấp vốn
II QUI ĐỊ P ÁP LUẬT VỀ QUẢ LÝ NGOẠI HỐI:
1 Cơ chế tỷ giá hối đoái và quản lý dự trữ ngoại hối:
1.1 Cơ chế tỷ giá hối đoái: có 3 loại:
Trang 12QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
+ Tỷ giá hối đoái thả nổi: là một cơ chế trong đó tỷ giá do các lực lượng thị trường quyết định mà không hoặc rất ít có sự can thiệp của các cơ quan chính phủ quản lý Trong cơ chế tỷ giá thả nổi, giá tỷ giá tự do thay đổi theo cung cầu ngoại tệ, NHTW ít can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối
+ Tỷ giá hối đoái cố định: là kiểu chế độ tỷ giá mà giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền khác, hoặc với một rổ tiền tệ, hoặc với một thước đo giá trị khác (vàng, quyền rút vốn đặc biệt - SDR) Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền
cố định
+ Tỷ giá thả nổi có sự điều tiết: là một cơ chế tỷ giá hối đoái hỗn hợp giữa thả nổi và cố định Với cơ chế tỷ giá này NHTW sẽ công bố một mức tỷ giá nào đó và thường xuyên điều chỉnh theo những thay đổi trong cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối quốc gia, và tín hiệu trên thị trường chợ đen
Điều 30- Pháp lệnh ngoại hối 2005- quy định về cơ chế tỷ giá hối đoái của đồng Việt
1.2 Quản lý dự trữ ngoại hối:
Điều 32 – pháp lệnh ngoại hối 2005 –Thành phần dự trữ ngoại hối:
1 Ngoại tệ bằng tiền mặt, tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài
2 Chứng khoán và các giấy tờ có giá khác bằng ngoại tệ do chính phủ ,tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế phát hành
3 Quyền rút vốn đặc biệt, dự trữ tại quỹ tiền tệ quốc tế
4 Vàng
5 Các loại ngoại hối khác
Cụ thể về quản lý ngoại hối được quy định tại nghị định 86/1999/NĐ-CP về quản lý dự trữ nhà nước, và quyết định 563/2001 về việc ban hành quy chế tổ chức thực hiện những nhiệm
vụ về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước
*Công tác quản lý ngoại hối còn những tồn tại:
Hành lang pháp lý cho hoạt động quản lý DTNH còn bộc lộ nhiều bất cập Về tổ chức thực hiện quản lý DTNH, Khoản 1, Điều 6 của Quy chế tổ chức thực hiện những nhiệm vụ về quản lý DTNH nhà nước về xây dựng tiêu chuẩn, hạn mức đầu tư DTNH Nhà nước quy định:
“Định kỳ 6 tháng một lần hoặc khi cần thiết, Vụ Quản lý ngoại hối chủ trì, phối hợp với Sở Giao dịch đánh giá lại tiêu chuẩn, hạn mức đầu tư DTNH nhà nước của kỳ trước, xây dựng tiêu chuẩn
và hạn mức mới và trình Thống đốc quyết định” Cũng tương tự, tại Khoản 5, Điều 7 của Quy chế này về xây dựng phương án, quyết định, thực hiện đầu tư DTNH nhà nước quy định: “Định
kỳ 6 tháng một lần hoặc khi cần thiết, Sở giao dịch chịu trách nhiệm đánh giá tình hình thực
Trang 13QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ TIỀN TỆ và NGOẠI HỐ
3
hiện các tiêu chuẩn, hạn mức, tỷ lệ đầu tư…; Phối hợp với Vụ Quản lý ngoại hối xây dựng và điều chỉnh các tiêu chuẩn, hạn mức, tỷ lệ đầu tư cho phù hợp với thực tế đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình đầu tư” Trong khi đó, tại Khoản 4, Điều 7 quy định: “Sở giao dịch chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các phương án đầu tư, theo dõi diễn biến hoạt động…” Nếu thực hiện như vậy, Vụ Quản lý ngoại hối và Sở Giao dịch vừa là những đơn vị ban hành quy định vừa
là đơn vị thực hiện các tiêu chuẩn, hạn mức đó Điều này dẫn đến các tiêu chuẩn, hạn mức đầu
tư DTNH đề ra không còn là chuẩn mực vì nó có thể bị điều chỉnh cho phù hợp với kết quả của những hoạt động quản lý yếu kém Điều đó có thể dẫn đến những tổn thất rủi ro, thua lỗ, hoặc giảm hiệu quả đầu tư DTNH và gây khó khăn cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý DTNH Tại Điều 12 của Nghị định 86/1999/NĐ-CP quy định “Các tổ chức đối tác được lựa chọn để gửi ngoại tệ và vàng, ủy thác đầu tư phải là tổ chức được xếp hạng tín nhiệm quốc tế cao” Trong Quy chế hướng dẫn không có quy định thêm về nội dung này Như vậy, điều này gây mơ hồ trong việc thực hiện và không có cơ sở đánh giá hoạt động quản lý dự trữ…
Về nghiệp vụ kiểm soát, quản lý nội bộ hoạt động quản lý DTNH, Khoản 5, Điều 23 quy định: “Vụ Tổng kiểm soát chịu trách nhiệm định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra việc thực hiện quản
lý DTNH nhà nước của các Vụ, Sở Giao dịch theo các nhiệm vụ được giao và chấp hành các quy định tại Nghị định 86/1999/NĐ-CP…”; Điểm a, Khoản 3, Điều 23 quy định: “Sở giao dịch chịu trách nhiệm xây dựng các nguyên tắc quản lý nội bộ để tổ chức thực hiện quản lý DTNH nhà nước theo quy định tại quy chế này” Như vậy, Vụ Tổng kiểm soát chỉ kiểm soát về mặt hành chính, chấp hành quy định, quy chế,… còn hoạt động quản lý nội bộ do Sở Giao dịch vừa xây dựng vừa thực hiện Điều đó gây ra sự thiếu khách quan, có thể dẫn đến tổn thất, mất mát do việc kiểm soát hoạt động dự trữ không chặt chẽ, đặc biệt là các hoạt động nghiệp vụ đầu tư, kinh doanh dự trữ trên thị trường quốc tế
Chương VI, Pháp lệnh Ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQH11, ngày 13/12/2005, có hiệu lực 1/6/2006, ra đời mới chỉ quy định những nội dung cơ bản về quản lý DTNH như thành phần DTNH, nguồn hình thành DTNH nhà nước, cơ quan quản lý DTNH Những bất cập trong Nghị định số 86/1999/NĐ-CP, ngày 30/8/1999, của Chính phủ về quản lý ngoại hối nhà nước như đã nêu ở trên cần được bổ sung, sửa đổi để tạo hành lang pháp lý cho việc quản lý, thực hiện
2 Sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt am, mang ngoại tệ vàng khi xuất nhập cảnh và kiều hối:
Một trong những điều kiện để gia nhập WTO là Việt Nam phải mở cửa nhanh hơn đối với hệ thống ngân hàng, tự do hóa các giao dịch vãng lai Việc thu hẹp sự bất tương thích giữa pháp luật về ngoại hối của Việt Nam với quốc tế là một ưu tiên hàng đầu Pháp lệnh về quản lý ngoại hối đã quy định: "Tất cả các giao dịch thanh toán và chuyến tiền đối với giao dịch vãng lai giữa người cư trú và người không cư trú được tự do thực hiện Người cư trú được lựa chọn đổng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi và các đồng tiền khác được tổ chức tín dụng được phép chấp nhận làm đồng tiền thanh toán trong giao dịch vãng lai "
Pháp lệnh đã dành riêng một chương để quy định việc quản lý ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam theo hướng từng bước hạn chế đô la hoá: "Nghiêm cấm triệt để các giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo bằng ngoại tệ giữa các tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam (trừ các giao dịch với tổ chức tín dụng, các trường hợp thanh toán thông qua trung gian gồm thu hộ, ủy