Đề tài nghiên cứu khoa học mang tính chất vi mô ở phạm vi cấp trường này hy vọng sẽ tạo sự gợi mở cho việc nâng cao hứngthú học tập các môn văn hoá của học sinh Trung cấp nghề hệ 9/12, q
Trang 1SKKN: ĐỀ TÀI: Các biện pháp nâng cao hứng thú học tập các môn văn hoá
cho học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12)
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tình trạng học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12) liên tục bỏ học đang là vấn
đề có tính thời sự của trường Cao đẳng nghề Tìm hiểu nguyênnhân và giải pháp là vấn đề quan trọng của Ban giám hiệu, của bộ phận quản lý vàcủa toàn giáo viên trong trường Từ sự phân tích những nguyên nhân chủ quan vàkhách quan cho thấy việc nâng cao hứng thú học tập các môn văn hoá cũng là mộttrong những giải pháp có ý nghĩa trong việc hạn chế học sinh bỏ học
1.2 Nếu nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn
để tồn tại và phát triển thì hứng thú chính là yếu tố làm nảy sinh khát vọng hànhđộng Hứng thú làm tăng sức làm việc để cùng với nhu cầu trở thành một hệ thốngđộng lực của nhân cách Do đó, hứng thú không chỉ có ý nghĩa đối với cuộc sống
mà nó còn có vai trò quan trọng đặc biệt đối với học sinh trong quá trình học tập,hoạt động và rèn luyện Bởi vậy, việc nâng cao hứng thú học tập cho học sinh làviệc rất cần thiết của các nhà giáo dục Đề tài nghiên cứu khoa học mang tính chất
vi mô ở phạm vi cấp trường này hy vọng sẽ tạo sự gợi mở cho việc nâng cao hứngthú học tập các môn văn hoá của học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12), qua đó sẽ tạo
cơ sở tiền đề cho việc quản lý, giáo dục học sinh
1.3 Hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ là ba mục tiêu mang tính phổquát mà bất cứ môn học, bài học nào giáo viên và học sinh cũng cần phải dự kiến
để đạt được Do đó, đề tài này góp phần vào việc thoả mãn cả ba mục tiêu thànhphần trên, đặc biệt đối với mục tiêu kiến thức Hình thành những tri thức văn hoá
Trang 2cơ sở còn giúp ích trong việc hình thành và tạo tiềm năng tri thức nghề nghiệp chohọc sinh.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng biện pháp nâng cao hứng thú học tập các môn văn hoá của họcsinh Trung cấp nghề (hệ 9/12) nhằm góp phần tích cực vào việc nâng cao chấtlượng dạy học và nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục học sinh Qua đó, việc họcsinh bỏ học vô lý do sẽ dần được hạn chế
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nâng cao hứng thú học tập các môn văn hoá cho học sinhTrung cấp nghề (hệ 9/12) trường Cao đẳng nghề
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình học tập các môn văn hoá của học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12)trường Cao đẳng nghề
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn bỏ học cũng như thực tiễn hứng thú họctập các môn văn hoá của học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12)
- Tiến hành một số thực nghiệm để biết được hứng thú học tập các môn vănhoá của học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12) và rút ra nguyên nhân của thực trạngnày
- Đề xuất các biện pháp để khơi dậy và nâng cao hứng thú học tập các mônvăn hoá cho học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12) trường Cao đẳngnghề nhằm hạn chế việc học sinh bỏ học
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp đàm thoại (trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinhtrong trường)
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm (thu thập và xử lý số liệu; đối chiếu, so sánhkết quả)
6 Đóng góp của đề tài:
Đề tài đưa ra cái nhìn khá toàn diện và có hệ thống về hiện tượng bỏ học củahọc sinh Trung cấp nghề hệ 9/12) trường Cao đẳng nghề Qua đómạnh dạn đề xuất những giải pháp sư phạm có tính khả thi và tính ứng dụng để hạnchế việc bỏ học của đối tượng học sinh này Những đề xuất sư phạm đó cũng cóthể mở rộng phạm vi ở các Trường dạy nghề khác đang giảng dạy các môn văn hoá
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được triển khai trong ba
chương:
Chương1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2 Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 Một vài biện pháp nâng cao hứng thú học tập các môn văn hoá cho họcsinh Trung cấp nghề (hệ 9/12)
Ở các chương có thể sẽ có những vấn đề được kiến giải theo nhiều góc độ, tácgiả coi đó như là những mặt cắt khác nhau để đạt đến cái nhìn toàn diện về đốitượng
Sau cùng là mục Tài liệu tham khảo
Trang 4NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm hứng thú – một vài nét khái lược
Theo tâm lý học, hứng thú (Interest) là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với
đối tượng nào đó, nó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lạikhoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động Hứng thú chính là sự hấp dẫncủa đối tượng với chủ thể mà nó có khả năng mang lại những khoái cảm đặc biệt
Vì sự hứng thú, con người sẽ luôn vươn tới để đạt được nó bằng hành động tíchcực, có ý thức và tình cảm mạnh mẽ của mình Hứng thú của con người mang nộidung xã hội - lịch sử và có sự khác biệt nhau theo trình độ của từng nhân cách Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê hấp dẫn bởi nộidung hành động ở chiều rộng và chiều sâu của nó Chú ý (attention) lại là một trong
những động cơ học tập cần vươn tới để đạt được kết quả nhất định Chú ý được coi
là sự tập trung ý thức của chủ thể vào một đối tượng, sự vật để định hướng chohoạt động nhằm đảm bảo những điều kiện thần kinh - tâm lý cần thiết cho nó được
tiến hành phản ánh có kết quả Có loại chú ý chủ yếu do các tác động bên ngoài
gây ra Có loại chú ý chủ yếu lại do chính bản thân chủ động tạo nên Người ta
Trang 5phân thành chú ý có chủ định và chú ý không chủ định, dựa trên trạng thái tâm lý
do tác động của khách hay chủ quan đó Giáo viên lúc này phải thực sự nắm vững
những trạng thái tâm lý của học sinh để khéo léo lôi kéo học sinh vào ngay từ chú ý
không chủ định Chú ý không chủ định được xuất hiện là tuỳ thuộc vào một số đặcđiểm của kích thích như sự mới lạ, tác động mạnh và hấp dẫn Độ mới lạ của sựkích thích càng sinh động và hấp dẫn thì nó càng dễ gây ra chú ý không chủ định.Cao hơn nữa, giáo viên phải kích thích và tạo sự hứng thú để dẫn dắt và hình thànhcho học sinh Trung cấp nghề hệ 9/12 vốn không hứng thú học hành ngay cả sự chú
ý có chủ định Tức là đã tạo nên sự định hướng hoạt động do chính bản thân chủ thểhọc sinh tự đặt ra, khi bản thân học sinh đã xác định rõ mục đích hành động Đểkhông bị tuỳ thuộc vào đối tượng kích thích có mới lạ hay quen thuộc, có cường độmạnh hay yếu, hấp dẫn, sinh động hay không mà chúng vẫn sẽ tập trung hoàn toànđược ý thức vào đối tượng là những tri thức khoa học cụ thể
Sự hứng thú còn được cụ thể hoá ở các phẩm chất của sự chú ý Đó là sức tập trung của chú ý Sức tập trung của chú ý nghĩa là chủ thể có khả năng vượt qua
những tác nhân gây nhiễu để định hướng ý thức của mình vào mục tiêu mà tiến
hành hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu Đó còn là việc hợp lý hoá Sự phân phối của chú ý Nó biểu hiện ở cường độ của chú ý tức trong một khoảng thời gian
nhất định, chủ thể hoàn toàn có khả năng duy trì đồng thời những sức mạnh của sự
định hướng vào một đối tượng Cường độ này có thể diễn ra mạnh hoặc yếu Năng
lực của chủ thể biết duy trì sự chú ý một cách đầy đủ đến nhiều đối tượng khácnhau trong cùng một thời gian xác định biểu hiện sự phân phối của chú ý Đó là
tính bền vững của chú ý Sự bền vững của chú ý là một thuộc tính biểu thị khả năng
duy trì tính lâu dài của chú ý vào một hoặc một số đối tượng của hoạt động Đó còn
là sự di chuyển của chú ý Sự di chuyển chú ý biểu hiện bằng hiện tượng chấm
dứt sự chú ý tới đối tượng này để chuyển ý thức sang đối tượng khác nhằm kịpthời chuẩn bị ý thức, phục vụ cho việc giải quyết một nhiệm vụ khác của hoạt
Trang 6động mới Như vậy biểu hiện đầu tiên và cũng quan trọng nhất của hứng thúchính là sự chú ý
Hứng thú có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo hiệu quả của các côngviệc nói chung, trong quá trình dạy học nói riêng Nó làm nảy sinh khát vọng hànhđộng, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc Chính vì thế,cùng với nhu cầu, hứng thú là một trong các hệ thống động lực của nhân cách
1.1.2 Hứng thú học tập các môn văn hoá
Những học sinh học trường nghề phải tham gia đầy đủ các đơn vịhọc trình trong cấu trúc các khối kiến thức ở Trường dạy nghề theo quy định hiện
hành Để có thể tham gia học tập khối kiến thức kỹ thuật cơ sở cũng như khối kiến thức chuyên nghề và kỹ năng thực hành nghề, học sinh phải thực hiện đầy đủ khối kiến thức chung Khối kiến thức chung được cụ thể hoá qua những môn học chung
bắt buộc: Chính trị, Pháp luật, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng Đặc biệtnhững học sinh mới tốt nghiệp THCS cần có các kiến thức văn hoá bổ trợ Các mônvăn hoá bổ trợ phải được lựa chọn tối thiểu là 3 môn trong chương trình PTTH.Thời gian học các môn trên từ 200- 500 tiết và có tỷ lệ sau:
Thời gian khoá học Tỷ lệ thời gian học văn hoá so với thời gian học
Nếu như khối kiến thức kỹ thuật cơ sở cung cấp những kiến thức và kỹ năngnền tảng của nghề và nhóm nghề để học các kiến thức chuyên môn, khối kiến thứcchuyên nghề và kỹ năng thực hành nghề cung cấp kiến thức nghề, thực hành kỹnăng cơ bản và thực hành chuyên sâu cũng như thực tập tốt nghiệp thì các môn vănhoá thuộc khối kiến thức chung lại cung cấp những kiến thức cơ bản, tối thiểumang tính phổ biến của Khoa học tự nhiên cũng như Khoa học xã hội Thời gian
Trang 7trong kế hoạch đào tạo kiến thức cơ sở nghề từ 15- 25%, Thời gian của kiến thứcchuyên môn nghề từ 45-65% thì thời gian học tập của các môn văn hoá cũng chiếm10- 12% thời gian của khoá học Như vậy, học các môn văn hóa ngoài ý nghĩa hìnhthành tri thức cơ sở và phần nào tham gia rèn luyện nhân cách cho học sinh, nó còn
là nhiệm vụ bắt buộc đối với những học sinh mới tốt nghiệp THCS
Hứng thú học tập của học sinh nói chung biểu hiện ở sự lôi cuốn, say mê vớiđối tượng tri thức mà nó có khả năng mang lại cho chủ thể những khoái cảm đặcbiệt khi chinh phục được kiến thức và cả trong quá trình đang chinh phục tri thức
Cụ thể hơn ở việc tập trung ý thức của chủ thể vào một đối tượng tri thức để địnhhướng cho hoạt động Hứng thú học tập thể hiện ở việc chủ thể có khả năng vượtqua những tác nhân gây ngược, những cám dỗ cản trở để định hướng ý thức học tậpcủa mình vào mục tiêu học tập đã đề ra Hứng thú học tập sẽ điều hoà để tập trungcường độ của chú ý ở mức độ mạnh với đối tượng học tập Năng lực của chủ thể
còn biết tạo sự bền vững của chú ý khi thể hiện khả năng duy trì tính lâu dài của
chú ý vào một hoặc một số đối tượng của hoạt động học tập Đặc biệt hứng thú họctập còn biểu hiện bằng hiện tượng chấm dứt sự chú ý tới các đối tượng xungquanh để chuyển ý thức sang đối tượng học tập mình đang hướng tới
Hứng thú học tập các môn văn hoá ở các lớp Trung cấp nghề (hệ 9/12) đượcbiểu hiện cụ thể ở việc học sinh trật tự, chú ý lắng nghe và tập trung cao độ vàoviệc tiếp nhận kiến thức Một giờ học được đánh giá là tích cực khi học sinh có nhucầu, hứng thú học tập các môn văn hoá không chỉ trên lớp, không chỉ những buổi
có giờ học mà hứng thú học tập có ở mọi lúc, mọi nơi Điều đó còn được biểu hiện
ở việc học sinh hào hứng chờ đón giờ học, thích thú với công việc tìm kiếm nhữngkiến thức mới Điều này được chứng minh rõ rệt ở những biểu hiện của các họcsinh đạt học lực khá, đặc biệt là ở một học sinh đạt loại giỏi - điều hiếm thấy trongkết quả học tập các môn văn hoá của hệ trung cấp nghề Một trong những chứngminh sáng rõ nhất của việc hứng thú học tập đối với chủ thể học đặc biệt này là
Trang 8không bỏ học, bỏ giờ mà tự giác, tích cực tham gia học tập đầy đủ Con số thống kênguyên nhân bỏ học của học sinh do chán học chiếm %, và do học sinh khônghiểu gì chiếm % đã là những con số biết nói để thể hiện luận điểm này Điềunày cũng giải thích tại sao trong một số giờ học, môn học, học sinh luôn tham dựkhá đông đủ Ngược lại, ở một số môn học khác số học sinh lại bỏ học nhiều.
1.1.3 Mối quan hệ giữa hứng thú học các môn văn hoá và tính tích cực nhận thức
Tính tích cực là phẩm chất vốn có của con người Nó được biểu hiện tronghoạt động, nhất là trong hoạt động nhận thức Đó là một trạng thái hoạt động đặctrưng bởi sự nỗ lực tự nguyện đi học đầy đủ, đúng giờ mà không cần một áp chếnào Tính tích cực còn đồng nghĩa với việc người học chủ động trong quá trình tiếpthu, chiếm lĩnh kiến thức; tìm tòi, phát hiện và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới
sự hướng dẫn của giáo viên
Theo Sukina G.I thì tính tích cực của học sinh có 3 cấp độ từ thấp đến cao:
Cấp độ 1 Tích cực bắt chước: Kinh nghiệm được tích lũy qua kinh nghiệm của
người khác hoặc theo mẫu
Cấp độ 2 Tích cực tìm tòi: Học sinh hiểu vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề đó.
Ở cấp độ này, học sinh có tính độc lập cao hơn cấp độ 1
Cấp độ 3 Tích cực sáng tạo: Có thể đặt ra vấn đề và tự tìm tòi con đường, cách
thức để giải quyết vấn đề Các cách thức này không theo khuôn mẫu và luôn có tínhsáng tạo
Ở học sinh Trung cấp nghề hệ (9/12) tính tích cực nhận thức đóng vai tròquan trọng trong việc tích lũy kiến thức, chiếm lĩnh những kiến thức cơ bản củachương trình PTTH Nó tạo tiền đề cơ sở cho việc học lý thuyết và thực hành nghềsau này Điều đó có nghĩa là giữa tính tích cực nhận thức và hứng thú học tập cómối liên hệ gắn bó qua lại, mật thiết với nhau
Trang 91.2.Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng bỏ học và thực trạng hứng thú học tập các môn văn hóa của học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12) trường Cao đẳng nghề
Các môn văn hóa được trở lại giảng dạy ở các trường trung cấp nghề từ năm
2008 Kể từ đó, trường Cao đẳng nghề đã và đang thực hiện quátrình dạy học các môn văn hóa ở 3 lớp K38, 9 lớp K39 (Đ1, Đ2, Đ3) Số lượng họcsinh ngày càng tăng nhưng điều này không đồng nghĩa với việc do hứng thú họctập mà học sinh tham gia học ngày càng đông
Khi tổng kết từng tháng học thì vấn đề nổi cộm nhất mà tất cả các giáo viênđều phải băn khoăn đó chính là hiện tượng học sinh Trung cấp nghề hệ 9/12 bỏ họcquá nhiều Thậm chí tình trạng này đã trở nên phổ biến và có hệ thống Khi đi khảosát cụ thể thực trạng học tập của học sinh Trung cấp nghề hệ 9/12 thì đều thấy toát
lên một thực trạng đó là học sinh bỏ học với số lượng rất lớn Trung bình quân mỗi
buổi học ở mỗi lớp tối thiểu cũng phải 6-7 học sinh bỏ học Thậm chí có lớp họctrong vòng một tuần học đã có tới hơn 60 công vắng, trong vòng một tháng có khilên tới hơn 200 công vắng Mỗi khi dự những giờ tổng kết đầu tuần hoặc đầu thángrất nhiều giáo viên không khỏi giật mình với những con số bỏ học rất lớn đó Đốivới những giáo viên phải trực tiếp giảng dạy những lớp học này thì quả thực luônphải chịu áp lực về tâm lý, khi mà học sinh ngồi dưới lớp chỉ lèo tèo vài em vạ vậtmỗi bàn một góc ngồi Bảng biểu tổng số công vắng trong năm học 2008 – 2009được tổng hợp theo sổ Trực ban của khoa KH Cơ bản dưới đây sẽ bộc lộ thực trạngnghỉ học của học sinh một cách trực tiếp
Tổng số công vắng trong năm học 2008 – 2009 Khoa KH Cơ
bản
Trang 10Giáo viên chủ nhiệm của các lớp cụ thể như sau:TCN CNÔtô-ĐiệnCN 39Đ1
do Cô Đỗ Thị Thu Hằng làm giáo viên chủ nhiệm học kỳ I, thày Vũ Ánh Dương
làm giáo viên chủ nhiệm học kỳ II, LớpTCN Xúc 39Đ1 cô Nguyễn Thị Minh Đức,
lớp TCN Hàn-Điện nước 39Đ1 làthày Lâm Quang Vũ, lớp Hàn - Điện nước 39Đ2
cô Ninh Thị Liên, lớp TCN CNÔtô 39Đ2 cô Lê Thị Vân Nga, lớp TCN Điện CN 39Đ2 thày Nguyễn Ngọc Kiên, lớp TCN Xúc 39Đ2 thày Ngô Anh Tuấn, lớp TCN Xúc2 39Đ1 Thầy Lê Xuân Định làm chủ nhiệm Nhìn vào bảng tổng hợp ta thấy
những con số đáng lo ngại và tình trạng bỏ học ngày càng trở nên phổ biến của họcsinh
So sánh với những lớp hệ Cao đẳng cùng do khoa Khoa học Cơ bản quản lýthì tỷ lệ học sinh bỏ học ít hơn rất nhiều Ở các lớp Cao đẳng cùng do khoa Khoa
Trang 11học Cơ bản quản lý tổng số công vắng trong cả năm học chỉ bằng 1/3 so với các lớp
Trung cấp hệ 9/12 Cụ thể như Cao đẳng Kế toán doanh nghiệp1 tổng số công vắng trong cả năm học là 99 công, Cao đẳng Kế toán doanh nghiệp 2 là 188 công, Cao đẳng Kế toán doanh nghiệp 3 là 149 công, Cao đẳng Lập trình máy tính là 187
công Cùng một đơn vị quản lý, cùng những quy định và thiết chế chung nhưng tỷ
lệ nghỉ học của hai hệ học, hai đối tượng học sinh là hoàn toàn khác nhau điều nàycàng cha thấy nguyên nhân chủ yếu của việc bỏ học là do chính bản thân của chủthể học
Việc bỏ học này còn toát lên một thực trạng nổi bật là thường rơi vào một
số cá nhân học sinh Có những lớp sở dĩ số công vắng hàng tuần chiếm số lượng
đến mức giật mình là bởi có khi chỉ 1 đến 2 học sinh trong lớp thường xuyên nghỉhọc Có những học sinh cả tháng có khi không có mặt một buổi học nào Như vậy
vô hình chung chỉ riêng mình học sinh này đã chiếm số công vắng rất lớn của lớphọc đó và thành tích mà giáo viên và học sinh lớp này phấn đấu để đạt được coinhư đã bị chính học sinh đó phá hỏng Theo điều tra, những cá nhân học sinhthường xuyên nghỉ học thường là những em theo quán tính lười học, ham chơi cốhữu Những em chưa có một chút ý thức trách nhiệm nào với bản thân cũng như giađình, phổ biến nhất là những học sinh cá biệt, học kém và bất cần Trong khoá 39nổi lên một số trường hợp hữu danh vô thực, có nghĩa là có tên nhưng không hềthấy người đến lớp Tiêu biểu như Vũ Văn Vương, Nguyễn Hồng Thanh ở lớp TCNXúc 2 K39Đ2, Bùi Văn Mã, Nguyễn Anh Tuấn ở lớp TCN Hàn, điện nướcK39Đ1…
Bên cạnh hiện tượng bỏ học với số lượng lớn, bỏ học rơi vào một số cá nhântiêu biểu của học sinh Trung cấp nghề hệ 9/12 thì thực trạng bỏ học còn diễn ra
theo quy luật đó là bỏ học theo chiều tăng tiến, tức là lúc đầu bỏ học rơi vào một
vài học sinh cá biệt nhưng sau đó lại nhân thành thiết diện rộng, lây lan cả sangnhững học sinh lúc đầu vốn chán học nhưng vẫn còn chưa dám bỏ học đi chơi Bỏ
Trang 12học cá nhân rồi dần dần còn dẫn tới bỏ học cả nhóm học sinh, bỏ học cả tập thể.Thường là một nhóm học sinh trong giờ ra chơi rủ nhau ra quán xá ngoài cổngtrường rồi nghe bạn bè rủ rê bỏ học luôn buổi học đang dở dang đó Đáng nói hơn
là nhiều giáo viên đang hăng say bước lên lớp thì lại được nhận cảm giác hẫng hụt,
bẽ bàng khi lớp học chỉ chỏng trơ mỗi quyến sổ lên lớp, bởi lẽ giản dị rằng: cả lớp
rủ nhau bỏ học hết Hiện tượng này không phải chỉ diễn ra một lần, ở một lớp
Một hệ luận nữa từ thực trạng bỏ học của học sinh trung cấp nghề hệ 9/12 đó
là đối tượng học sinh này thường bỏ học theo quy luật thời gian nhất định Quy luật
này được thể hiện ở những ngày, buổi trong một thời gian nhất định Thường là
trước hoặc sau những những ngày học sinh được nghỉ ngày lễ Học sinh thường
viện cớ tranh thủ nghỉ tận dụng thêm một số buổi nhân dịp về quê, nhưng thực chất
là lý do lười học và không có một chút hứng thú học các môn văn hoá Ngoài raquy luậ bỏ học theo thòi gian còn thể hiện ỏ việc học sinh bỏ học ở một số môn học
mà các em không thích và tham gia học mà không hiểu gì
Qua thống kê con số bỏ học khi học văn hoá như trên thì nguyên nhân do
chán học chiếm tới 36%, học không hiểu gì cũng chiếm 36% điều này chứng tỏ
việc hứng thú học tập các môn văn hoá là rất hạn chế ở học sinh
Bên cạnh việc học sinh bỏ học nhiều thì nạn học sinh thường xuyên lơ là,làm việc riêng, mất trật tự hay ngủ gật trong lớp… cũng phản ánh thực trạng không
có sự hứng thú trong học tập các môn văn hoá
Nếu có một số học sinh thường xuyên chịu khó đến lớp thì thực tế việc thamgia quá trình học tập của không ít học sinh này còn mang tính hình thức, chưa cótác động của sự ham muốn học tập Những học sinh này đến lớp chỉ là để chấmcông hoặc là do sự quản lý gắt gao của giáo viên chủ nhiệm và của gia đình
Như vậy, hứng thú học tập các môn văn hoá là hầu như không có ở các emhọc sinh
Trang 131.2.2.Nguyên nhân của thực trạng
Thực trạng học sinh Trung cấp nghề hệ (9/12) bỏ học nhiều và thực trạng
không có sự hứng thú học tập các môn văn hoá của đối tượng này là hai vấn đềmang tính chế định lẫn nhau Do đó, nguyên nhân học sinh Trung cấp nghề hệ(9/12) thường xuyên bỏ học và nguyên nhân không có sự hứng thú học tập cácmôn văn hoá của đối tượng học sinh này có mối quan hệ qua lại, biện chứng Haynói một cách khác, giữa chúng có mối quan hệ nhân - quả Vấn đề này là nguyên
nhân của vấn đề kia, bên cạnh các nguyên do khác Ở đây xin được bàn sâu đến nguyên nhân không hứng thú học các môn văn hoá của học sinh Trung cấp nghề hệ (9/12) Vì xét cho cùng khi “bắt mạch” được căn bệnh này cũng có nghĩa đã tìm ra
phần lớn nguyên nhân bỏ học của học sinh Từ đó mới có các phương thuốc hữuhiệu để tạo hứng thú học tập các môn văn hoá cũng chính là giải pháp để hạn chếviệc bỏ học của học sinh
Nguyên nhân đầu tiên cũng là nguyên nhân cơ bản cần nói tới chính là từ bản thân của chủ thể học Học sinh học các lớp Trung cấp nghề hệ 9/12 thường có
độ tuổi từ 16 đến 20 và có xuất phát điểm rất thấp Đầu vào của học sinh chỉ là xét
tuyển Đối tượng này đã phải qua sàng lọc rất nhiều từ các cấp độ khác nhau củacác loại hình trường Không đủ điều kiện vào các trường Phổ thông trung học;cũng không thể thoả mãn tiêu chí đầu vào của các Trường bán công, dân lập, tưthục; các Trung tâm giáo dục thường xuyên cũng chối từ nên những đối tượngnày – theo quan niệm của phụ huynh của họ- tìm đến trường dạy nghề như mộtgiải pháp ở trường dạy nghề còn là bến đậu của những học sinh đã bị các loại hìnhtrường trên sa thải do đang học nhưng ý thức học tập kém hoặc do vi phạm nội quycủa Nhà trường Có nhiều đối tượng học sinh được phụ huynh gửi vào Trườngkhông phải hoàn toàn cho mục đích kiếm nghề để lập nghiệp mà chỉ đơn giản với
lý do khá nực cười: Coi Trường dạy nghề là nơi “gửi trẻ” để bố mẹ an tâm conkhông chơi bời lêu lổng Còn phần lớn đối tượng học sinh khi được xét tuyển vào
Trang 14học tại Trường đều đã tốt nghiệp Trung học cơ sở trong một thời gian nhất định.Một số sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở có tham gia lao động ở các lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội hoặc vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự để được vàohọc các trường dạy nghề Do những điều kiện của cuộc sống, hoạt động, giao tiếp
mà các đối tượng học sinh này từng bươn trải và va chạm nên những phẩm chấttâm lý của nhận thức, tính cách, năng lực, của học sinh đối với tính tích cực học tậpcác môn văn hoá là hầu như không có Đặc biệt, trong tâm lý của học sinh Trungcấp nghề hệ 9/12 đa số không hề có biểu hiện về sự tự ý thức, nhu cầu, động cơ,hứng thú và định hướng chiến lược cho việc tiếp thu những tri thức văn hoá Ngaybản thân một số học sinh có tầm nhận thức nhất định về tri thức cũng như ý thứchọc hành, cũng luôn tự kỷ ám thị cho rằng mình kém cỏi và không thể tiếp thuđược bài Vì thế trong những tiết học, những câu hỏi rất đơn giản và các em hoàntoàn có thể trả lời được nhưng đáp án mà các em đưa ra cho giáo viên luôn luôn là:
"Thưa cô, em không biết ạ” Câu trả lời ấy như một phản xạ ở các em học sinhTrung cấp nghề hệ 9/12
Học sinh khi tham gia học tập văn hoá có tới 64,7% cho rằng đây chỉ là cácmôn học phụ họa cho học nghề sau này Đa số đều có tâm lý coi thường học cácmôn văn hoá Vì vậy, học sinh bỏ học hay không coi trọng những giờ học các mônvăn hoá luôn diễn ra phổ biến Đối với những học sinh Trung cấp nghề hệ 9\12, cácgiờ học những môn văn hoá nhiều khi chỉ là sự chịu đựng và ngồi để giáo viênchấm công mà thôi Qua các cuộc trao đổi với rất nhiều học sinh Trung cấp nghề hệ9\12, các em đều cho rằng nguyên nhân bỏ học chủ yếu là do các em lười học, chánhọc và học không hiểu gì Ngoài ra một số học sinh cũng thú nhận là do bị các thúvui khác hay bạn bè rủ rê lôi kéo Như vậy nguyên nhân cơ bản để học sinh khôngcảm thấy hứng thú học tập các môn văn hoá là do chính ý thức học tập và trình độnhận thức của các em Điều này thể hiện ngay ở quan niệm và động cơ học tập Các em đều cho rằng ngồi học chỉ để chống đối với quy chế mà thôi Ở những họcsinh đạt học lực khá hay giỏi lại luôn có quan niệm, thái độ học tập các môn văn
Trang 15hoá rất đúng đắn Vì vậy, ở các học sinh này hứng thú học tập các môn văn hoá đãđược phát lộ
Có thể nói trình độ giáo viên và phương pháp dạy học là yếu tố quan trọng
để có thể đạt hiệu quả cao trong hoạt động dạy của giáo viên và nâng cao hứng thúhọc tập của học sinh Đây chính là nguyên nhân chính yếu để khơi gợi sự hứng thúhọc tập của học sinh Để giảng dạy các môn văn hoá, vốn là môn học bổ túc – ngay
ở quan niệm ở các giáo viên trong trường, Nhà trường đều dựa vào nguồn lực cósẵn của trường Nghĩa là tận dụng tối đa những giáo viên có chuyên ngành giảngdạy khác để tham gia vào giảng dạy các môn văn hoá Tuy những giáo viên này đều
là những giáo viên có trình độ Đại học chính quy nhưng do trái chuyên ngành đượcđào tạo nên cũng có những hạn chế nhất định trong việc truyền tải kiến thức đếncho học sinh Có tới 80% giáo viên dạy các môn văn hoá là giáo viên kiêm giảng
và không đúng chuyên ngành Hệ thống những tri thức của các môn Khoa học tựnhiên và Khoa học xã hội được giảng dạy trong các Trường PTTH nói chung và cácTrường dạy nghề nói riêng là hệ thống những kiến thức mang tính tri thức nhânloại, tính phổ quát và tính tích luỹ kinh nghiệm Do đó, không thể giảng dạy chuyênsâu và có hệ thống nếu không được đào tạo đúng chuyên ngành Đặc biệt là nhữngkiến thức về nghiệp vụ sư phạm nói chung và kỹ năng sư phạm nói riêng cũng làvấn đề cần bàn của các giáo viên tham gia giảng dạy các môn văn hoá Mỗi mônhọc đều có một hệ phương pháp luận dạy học đặc thù dựa trên nền cơ sở lý luậndạy học chung Vì vậy áp dụng phương pháp dạy học của hệ thống những môn họcnày vào hệ thống những môn học kia đều để lại hậu quả tất yếu khách quan là hiệuquả của quá trình dạy học không cao Kỹ năng dạy học được chia làm bốn kỹ năng
cơ bản: Kỹ năng chuẩn bị bài giảng, kỹ năng sử dụng phương pháp và phương tiệndạy học tích cực, kỹ năng lên lớp thực hiện bài giảng, kỹ năng kiểm tra, đánh giákết quả dạy học Hệ thống những kỹ năng này là phương thức, là kim chỉ namgiúp giáo viên thực hiện thành công quá trình dạy học Đối với các môn văn hoá lạiđòi hỏi chặt chẽ và nghiêm khắc hơn trong việc áp dụng những kỹ năng dạy học đó
Trang 16vào bài học để đạt được mục tiêu dạy học Nhưng những giáo viên tranh thủ thamgia giảng dạy các môn văn hoá hoặc là được đào tạo chưa chuyên sâu về nghiệp vụ
sư phạm hoặc là chỉ được đào tạo nghiệp vụ sư phạm đặc thù của dạy nghề Bêncạnh ấy, mặc dù có nhiều cố gắng trong việc cải tiến phương pháp dạy học, songnhìn chung phần lớn giáo viên vẫn dạy bằng các phương pháp truyền thống mangnặng tính thụ động Việc vận dụng các phương pháp này cũng chưa được linh hoạt,sinh động Không thể phủ nhận ý nghĩa và tác dụng của các phương pháp dạy họctruyền thống Tuy nhiên, mô hình dạy học truyền thống cũng sớm bộc lộ nhữngnhược điểm của nó trong xu thế xã hội về đổi mới giáo dục Cụ thể: Mục tiêu củadạy học truyền thống còn mang tính áp đặt, thụ động, thừa hành; nội dung dạy họcnặng về hệ thống khái niệm, lý thuyết và còn cách biệt lý thuyết với thực hành;phương pháp dạy học thì chủ yếu là sử dụng nhóm phương pháp thuyết trình, giảnggiải đơn thuần khiến học sinh ghi nhớ thụ động; quá trình dạy học mang tính đơnkênh, thông tin, một chiều Mô hình dạy học hiện đại với những phương pháp dạyhọc tích cực lại chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa triệt để trong quá trìnhdạy học các môn văn hoá ở trường Đơn giản như việc tạo hứng thú học tập chohọc sinh thông qua tổ chức cho các em thảo luận nhóm, qua các tình huống có vấnđề… hầu như chưa được giáo viên dạy các môn văn hoá áp dụng
Bên cạnh trình độ giáo viên, việc áp dụng phương pháp dạy học thì sự nhiệt huyết, tính trách nhiệm nghề nghiệp của giáo viên cũng là động lực nền tảng để
khơi gợi ngọn lửa dạy tốt của các giáo viên chính tấm lòng yêu nghề sẽ khiến giáoviên trăn trở với từng nguyên nhân bỏ học của học sinh và tìm ra các giải pháp đểhạn chế tình trạng đó, khiến giáo viên say mê nghiên cứu và thiết kế bài giảng saocho dễ hiểu, dễ tiếp nhận lại sinh động và hiệu quả nhất Đây chính là kim chỉ nam
sẽ soi đường, chỉ lối cho mỗi giáo viên tìm cho mình con đường thực hiện giáo họcpháp một cách có kết quả Sự nhiệt huyết, tính trách nhiệm nghề nghiệp ngoài ýnghĩa dạy học hiển nhiên đối với mỗi nhà giáo, nó còn chứa đựng cả ý nghĩa nhânvăn sâu sắc Vì học sinh đến với trường học không chỉ học kiến thức mà còn học cả
Trang 17cách làm người Giáo viên sẽ là tấm gương sáng và là chỗ dựa tin cậy, nhất là vềmặt kiến thức cho học sinh
Một nguyên nhân nữa khiến chưa tạo hiệu quả trong việc gây hứng thú học
tập cho học sinh đó là các phương tiện dạy học được sử dụng còn hạn chế Nhà
trường đã đầu tư nhiều vào các phương tiện dạy học nhưng hầu như các giáo viêndạy các môn văn hoá không vận dụng (máy tính, máy chiếu…) vào giảng dạy hoặcnếu có sử dụng thì chưa hiệu quả và sinh động Các kỹ năng sử dụng các phươngtiện dạy học cũng chưa được thực hiện chính xác và thuần thục Đơn giản như soạngiáo án điện tử và thực hiện tổ chức dạy học vẫn là vấn đề xa lạ đối với một số giáoviên
Bên cạnh những căn nguyên trên, còn một lý do cũng hết sức quan trọng và
ảnh hưởng không nhỏ tới nguyên nhân không hứng thú của học sinh đó là một số biện pháp quản lý chưa áp dụng tối đa và đúng mực tới việc tự do bỏ học của học
sinh Trung cấp nghề hệ 9\12
Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp và gần gũi nhất trong việc quản lýđối với học sinh của lớp mình Nhưng thực tế cho thấy vẫn còn một số giáo viênchưa thực sự tâm huyết và có trách nhiệm với vai trò và nhiệm vụ của mình Đốivới những giáo viên này, việc sinh hoạt lớp, trực tiếp trao đổi và tìm hiểu nguyênnhân bỏ học hay chán học hoặc gặp gỡ với phụ huynh học sinh khi học sinh bỏ họcquá thời gian cho phép là vấn đề khá xa lạ Thậm chí có giáo viên chủ nhiệm cònkhông gửi thư báo kết quả học tập cho gia đình học sinh vào mỗi cuối học kỳ theoquy định của Nhà trường Điều này làm hạn chế rất lớn tới biện pháp phối hợp chặtchẽ giữa gia đình và nhà trường nhằm đạt mục tiêu giáo dưỡng cho học sinh Giađình học sinh sẽ không thể biết được kết quả học tập, thế mạnh và hạn chế từngmôn học của con mình, mà từ đó có cách điều chỉnh Điều không thể phủ nhận nữatrong việc quản lý học sinh của trường ta đó là việc đôi khi còn đánh trống bỏ rùi
và thực hiện không đồng bộ với những trường hợp vi phạm của học sinh Nhiều khi
Trang 18giáo viên bộ môn hoặc giáo viên chủ nhiệm nghiêm khắc thực hiện hình thức kỷluật đối với học sinh vi phạm và cần sự phối hợp với các phòng chức năng khácnhư phòng Quản sinh, phòng Bảo vệ nhưng ngồi đợi mãi cũng chả thấy lời hồi
âm Đã không ít hình thức kỷ luật học sinh của giáo viên, của nhà trường đề ra bịchính các em không coi trọng Nhu nhiều học sinh vi phạm kỷ luật nhưng bị giáoviên phạt lao động lại không thèm đi, mời lên gặp giáo viên chủ nhiệm hay phòngQuản sinh cũng không thèm lên Một trong những biểu hiện của nguyên nhân này
còn cụ thể hoá ở việc thực hiện quy chế thi và kiểm tra của giáo viên và học sinh.
Đề tài này không có mục đích tìm hiểu và đưa ra thực trạng chi tiết đối với việcthực hiện quy chế thi và kiểm tra của trường ta, chỉ xin xoáy qua những điều cơ bảndẫn tới hệ quả kéo theo khiến học sinh coi thường việc học, việc thi cử và từ đókhông có chí tiến thủ trong quá trình học tập Kiểm tra định kỳ được thực hiện chotất cả các môn học và được tính hệ số hai cho mỗi con điểm nhưng đa số giáo viênchưa coi trọng để định hướng kiến thức và ôn tập cho học sinh trước khi vào kiểmtra Kết quả của kiểm tra định kỳ và kiểm tra kết thúc môn học nhiều khi được giáoviên làm ngơ mà cho khống điểm Làm như vậy tưởng là “thương” nhưng thực ralại đang “hại” học sinh mà thôi Học sinh, đặc biệt là học sinh Trung cấp nghề hệ9\12 trình độ nhận thức còn hạn chế, sẽ càng ỷ vào đó để không chịu học hoặckhông tập trung học mà dành thời gian để nghịch ngợm và phá bĩnh không cho họcsinh khác dùi mài kinh sử Tình trạng học sinh kiểm tra kết thúc môn học như thimôn chính tả diễn ra phổ biến và trở thành quán tính của hầu hết các học sinhTrung cấp nghề hệ 9\12 Ban giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo đã quan tâm đikiểm tra trong kỳ kiểm tra kết thúc môn học nhưng không thể hiệu quả nếu giáoviên coi thi chỉ thực sự nghiêm túc khi có thanh tra đến trước cửa Có những phòngthi học sinh chép tài liệu, chép bài của nhau nháo nhào cả phòng thi Học sinh cònchạy từ chỗ này sang chỗ khác để ngang nhiên chép bài của bạn Thi cử chẳng cầnhọc hành, chẳng cần ôn tập chỉ cần nhanh tay chép dăm câu ba điều là được côngnhận tốt nghiệp thì việc học sinh coi thường việc học, không hứng thú với học tập
Trang 19và thi cử là điều tất yếu Đối với trường hợp học sinh bỏ học triền miên cả khoáhọc nhưng vẫn được thi hoặc được thi lần hai cũng là điều đáng nói Theo quy chếthi và kiểm tra thì nếu học sinh không tham gia học tập từ 20% thời gian học tập trởlên sẽ phải học lại rồi thi lại lần 2 Còn những học sinh không đạt cả điều kiện đó sẽphải học lại với khoá học sau Nhưng thực tế cho thấy không phải hi hữu trườnghợp có những học sinh cả một học kỳ, giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệmkhông hề thấy mặt nhưng vẫn vác bút và vác cái đầu trống không đến thi cử Chỉcần nộp 50 ngìn đồng tiền học lại cho mỗi môn học là học sinh nào cũng coi nhưđầu xuôi đuôi lọt Có những học sinh chép đến nửa bài thi mà vẫn không biết thực
tế mình đang thi môn học gì nhưng rồi vẫn đỗ, vẫn qua Việc coi thường việc thi cử
đã để lại hậu quả không nhỏ trong quá trình học tập nghiêm túc của học sinh Cónhững học sinh ngay khi mới vào, lúc giáo viên có nhắc tới quy chế phải học lại, thilại, lưu ban nhằm khơi dậy tính trách nhiệm trong học tập của các em thì những họcsinh này lại dõng dạc tuyên bố lại lời các anh khoá trước rằng “ai cũng đỗ, ai cũngqua, hoặc cùng lắm mất 50 ngìn là xong”
Bên cạnh các hình thức kỷ luật được áp dụng như vậy thì hình thức khenthưởng cũng chưa được vận dụng thoả đáng Đối với học sinh Trung cấp nghề hệ9\12 phấn đấu đi học đầy đủ, trong lớp chú ý nghe giảng đã là vấn đề không dễnhưng để đạt được học bổng ngay từ những môn học văn hoá đã là một cố gắngvượt bậc Tuy nhiên Nhà trường lại áp dụng chính sách lựa chọn phần trăm số họcsinh toàn trường đạt điểm cao để cấp học bổng thì vô hình chung đã thu hút hết sốhọc bổng vào các lớp Cao đẳng và học sinh của các lớp 9\12 sẽ không còn cơ hội.Ngay cả việc xếp loại thi đua giữa các lớp cũng vậy, nếu như có chính sách đặc biệtdành riêng cho khối học sinh Trung cấp nghề hệ 9\12, bên cạnh các chính sáchchung của toàn trường thì sẽ động viên, khuyến khích tinh thần hứng thú học tậpcủa các em và động viên tinh thần các giáo viên chủ nhiệm khối học sinh Trung cấpnghề hệ 9\12 rất nhiều Bởi vì đối với việc phấn đấu học hành cũng như giảng dạy
ở hệ học sinh này nhiều khi hệ số vất vả nhân gấp đôi so với các hệ, khối lớp khác
Trang 20Như vậy, các chính sách quản lý, đặc biệt việc thực hiện đồng bộ các chínhsách này chưa thực sự sát sao và hiệu quả.
Thêm đó một số cơ sở vật chất của nhà trường cũng có tác động ít nhiều tới
hứng thú học tập của các em Vào mùa hè nóng nực nhưng Trường chưa có hệthống nước đáp ứng nhu cầu cho học sinh Vì thế, có rất nhiều học sinh tranh thủnhững giờ giải lao để thoả mãn cơn khát của mình Nhưng một phần của những họcsinh ấy đã bị những thú vui ngoài cổng trường cám dỗ Chơi game, đánh bi a, ngồi
tụ tập bên quán nước trà là những hình ảnh phổ biến của học sinh ngay ở nhữngquán bên cổng trường Mặt khác, hệ thống nhà vệ sinh thường xuyên bị tắc và bịhỏng, học sinh xin ra ngoài và lấy đó làm cái cớ cho việc vào học chậm trễ củamình Ở một số phòng học, hệ thống quạt gây ra tiếng ồn khá lớn, át cả tiếng giảngbài của giáo viên Bên cạnh môi trường âm thanh khách quan là tiếng tàu hoả, tiếngcòi ôtô inh ỏi, thì tín hiệu âm thanh của những chiếc quạt đó khiến âm lượnggiảng bài cần thiết của giáo viên cũng bị vùi lấp Chi tiết tưởng như nhỏ nhặt nàykhiến cho học sinh không thể ghi lời giảng bài hoặc ghi không chính xác kiến thứcgiáo viên đưa ra Từ đó dẫn tới học kém dần và chán học
Tóm lại, việc học sinh Trung cấp nghề hệ 9\12 thường xuyên nghỉ học hoặc
bỏ học và không hứng thú học tập với các môn văn hóa là do cả những nguyênnhân chủ quan và khách quan Nhưng điều bất cứ ai cũng phải thừa nhận đó là dochính bản thân ý thức học tập của học sinh Đây là nguyên nhân cốt lõi và thiết yếungay trong bản thể không chịu cố gắng của đối tượng học sinh được coi là đặc biệttrong trường này Khơi dậy ý thức học tập và sự say mê lĩnh hội, khám phá kiếnthức của học sinh chính là trách nhiệm của những giáo viên chân chính
Trang 21Chương 2.
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
2.1 Mục đích và nội dung thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm là tiền đề, cơ sở trong quá trình vận dụng kiến thức
của Lý luận dạy học, của Nghiên cứu khoa học giáo dục, của Tâm lý học và thực
tiễn trường Cao đẳng nghề nhằm hạn chế việc học sinh bỏ học vàtăng hứng thú học các môn văn hoá cho học sinh
Trang 22Sau quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, tham khảo ý kiến từ đồng nghiệp, họcsinh và những hiểu biết của bản thân, tôi đã vạch ra một số câu hỏi cụ thể, tườngminh nhằm tìm hiểu nguyên nhân, đề ra giải pháp nâng cao hứng thú học các mônvăn hoá cho học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12).
2.2.Đối tượng thực nghiệm
Đề tài khoa học trình bày những kết quả thực nghiệm qua nghiên cứu thăm
dò ý kiến của học sinh các lớp Trung cấp nghề Hàn2 39Đ1, CN ôtô2 - Điện CN2,K39Đ1, TC Xúc K39Đ2 hệ 9/12 của Trường Cao đẳng nghề
Trang 23Căng thẳng 25,3% Yếu 0,75%
Bảng 3 Nguyên nhân hứng thú và quan niệm về môn học
Nguyên nhân hứng thú Quan niệm về môn học
Sở thích và nhu câù
học
Phương pháp dạy học 53% Quan trọng 21,3%
Phương tiện dạy học 26% Không ý kiến 14%
2.4.Kết luận
Qua kết quả thực nghiệm sư phạm trên cho thấy: Vì có nhiều lý do khác nhaunên “hứng thú học tập các môn văn hoá của học sinh trung cấp nghề hệ 9/12” hầunhư không có Nói cách khác, học sinh chưa có nhu cầu, niềm say mê cùng sở thíchkhi đón chờ giờ học các môn văn hoá Vì vậy, việc tạo hứng thú học tập các mônvăn hoá cho các em cần được quan tâm, chú ý và thực hiện để khơi dậy ý thức họctập cùng tính tích cực nhận thức của các em
Trang 24Chương 3.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HỨNG THÚ HỌC TẬPCÁC MÔN VĂN HOÁ CỦA HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ HỆ 9/12
3.1 Những giải pháp chung
Để hạn chế việc bỏ học và đạt kết quả cao trong quá trình dạy học các mônvăn hoá của học sinh Trung cấp nghề (hệ 9/12), qua nghiên cứu, tôi có ý kiến đềxuất như sau: Các giáo viên, dù giảng dạy các môn Khoa học xã hội hay Khoa học
tự nhiên, đều phải trực tiếp và gián tiếp chỉ rõ cho học sinh tính cần thiết và tầm quan trọng của việc học các môn văn hoá Học tập nói chung và học các môn văn
hoá nói riêng là hoạt động đặc thù và phổ biến của loài người Nó diễn ra có ý thức,diễn ra có đối tượng, có mục đích nhằm lĩnh hội những tri thức và những giá trị mànhân loại tích luỹ được Đặc biệt chính bản thân việc học tập cũng cung cấp nhữngcon đường, phương thức, phương pháp, kinh nghiệm phát hiện ra tri thức và cả các
kỹ năng, kỹ xảo Hoạt động học tập các môn văn hóa là nhằm bổ túc, bồi dưỡng,phát triển chính năng lực và tri thức của các em học sinh
Việc chỉ rõ tính cần thiết này còn phải được hành động hoá qua sự nghiêm
túc giảng dạy, việc nghiêm túc trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh Tính trách nhiệm của giáo viên thể hiện ngay ở việc chuẩn bị giáo án và lựa
chọn phương thức giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh Giáo viên phảiluôn coi trọng và thường xuyên soạn gián án một cách nghiêm túc, đầy đủ và cẩnthận, chứ không phải soạn giáo án chỉ với mục đích duy nhất là hình thức thoả mãnkhi bị kiểm tra Giáo án phải ghi cụ thể các bước hoạt động của giáo viên và họcsinh, dự kiến trước những câu hỏi, thậm chí cả những tình huống có thể xảy ratrong lớp học Giáo án chính là cụ thể hoá phương án, ý dồ sư phạm cũng như tính
Trang 25giáo dưỡng của nội dung bài học Khi soạn giáo án cẩn thận chính là người giáoviên đã vạch ra kế hoạch bài học toàn diện cho quá trình lên lớp thực hiện bài giảngcủa mình Qua đó, giáo viên sẽ chủ động hơn về kiến thức và tạo sự tín nhiệm chohọc sinh Đây chính là điều cơ bản quan khi muốn lôi kéo các em vào hoạt độnghọc tập tích cực Trong giáo án, giáo viên cũng nên bố trí khéo léo những nội dungdạy học mang tính trọng tâm thì đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn Đối vớicác bài kiểm tra của học sinh cũng cần phải cẩn thận, cân nhắc từ khâu ôn tập, ra đềtới khâu chấm bài và trả bài cho học sinh Với trình độ nhận thức đặc biệt của họcsinh như vậy, giáo viên nên ôn tập chu đáo trước khi cho các em làm bài kiểm tra.
Kể cả kiểm tra định kỳ cũng như kiểm tra kết thúc môn học Quan trọng nhất là bảnthân giáo viên cũng phải coi trọng hình thức kiểm tra đánh giá đối với học sinh Coiđây là sự đo lường, thu nhận thông tin để có được những phán đoán, xác định xemmỗi người học sau khi học đã có kiến thức gì Qua đó, sẽ có những thông tin phảnhồi, những thông tin ngược để giáo viên biết còn điều chỉnh bản thân cũng như đốitượng Không thể coi hình thức kiểm tra nhiều khi chỉ là sự “giải lao” theo quanniệm của một vài giáo viên Những giáo viên này quan niệm và ứng xử rằng: Kiểmtra là thời gian khoả lấp khi bản thân không muốn giảng dạy, khi chưa chuẩn bị kịpbài mới… Thông thường khi có bài kiểm tra, giáo viên phải cho ôn tập trước hoặc
ít nhất cũng có thông báo kế hoạch, thời gian kiểm tra cho học sinh Nhưng ởTrường ta, quy trình này nhiều khi bị lãng quên Ngay việc đơn giản đó khiến chínhbản thân học sinh cũng không coi trọng các giờ kiểm tra Cho nên mới có trườnghợp nực cười khi giáo viên lên thông báo sẽ làm bài kiểm tra, học sinh ngồi dướiđọc vanh vách luôn cả đề bài Chỉ đơn giản bởi vì mấy buổi học trước giáo viênđều ngẫu hứng cho kiểm tra và đề bài nào cũng na ná như nhau Theo Quy chế thi
và kiểm tra hiện hành thì cứ 15 đến 20 tiết học sẽ có bài kiểm tra định kỳ nhưngkhông phải giáo viên nào cũng thực hiện quy chế tối thiểu này Kiểm tra bao giờcũng đi liền với đánh giá Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở kiểm tra Trong đánhgiá, ngoài sự đo lường một cách khách quan dựa trên kiểm tra còn có ý kiến nhận
Trang 26xét, bình luận, sửa chữa của giáo viên đối với bài làm của học sinh Đối với Trườngdạy nghề, thời gian chấm bài, trả bài có khi phải nhân hệ số 2 so với trường PTTH.Giáo viên phải sửa chữa từng lỗi chính tả, từng công thức đơn giản cho học sinh.Cũng phải dành khoảng thời gian nhất định để trả bài và sửa chữa cho học sinh trựctiếp ở trên lớp Khi trả bài cần tuyên dương những bài làm tốt, sửa chữa ngay ở trênbảng những lỗi thông thường học sinh hay mắc để chính đối tượng học sinh đócũng như cả lớp nhận thức và rút kinh nghiệm được Thực ra đây là quy trình kiểmtra - đánh giá mang tính phổ biến ở các Trường PTTH nhưng ở Trường dạy nghề,giáo viên hầu như ít thực hiện Học sinh có khi không biết mình có đủ bài kiểm trahay không, mình có đủ điều kiện thi kết thúc học phần hay không, bài của mìnhđược đánh giá ở nấc thang nào Ngay việc ấy cũng tạo cho học sinh lý do để khôngcoi trọng các bài kiểm tra, không coi trọng môn học.
Ngoài ra, như trên đã chỉ rõ, nguyên nhân nền tảng khiến học sinh không
hứng thú học rồi dẫn đến chán học, bỏ học chính là ngay từ bản thân của chủ thể học Vì vậy, người giáo viên phải khéo léo, linh hoạt gợi những động cơ học tập cho học sinh Động cơ chính là sự say mê tích cực hướngvào chiếm lĩnh đối tượng.
Và chính động cơ học tập sẽ quyết định cơ bản nội dung chiếm lĩnh đối tượng.Nghĩa là chỉ có động cơ học tập đúng đắn, tích cực thì học sinh sẽ mau chóng, dễdàng tiếp thu kiến thức Để hình thành động cơ học tập cho học sinh, người giáoviên phải
làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa, giá trị của đối tượng học tập Mà đối tượng học
tập ở đây chính là các môn văn hoá Phải làm cho học sinh thấu tỏ việc học các môn văn hoá là cần học, nên học và phải học Giáo viên phải làm cho học sinh có ý
thức về mục tiêu học tập Kể cả mục tiêu trước mắt là việc thi cử lẫn mục tiêu xahơn là tạo nền tảng cho học nghề Giáo viên cũng nên áp dụng những thủ pháp tâm
lý, áp dụng những biện pháp kích thích phù hợp để học sinh có sự xúc cảm, có sựhứng khởi tích cực với những thông tin kiến thức được lĩnh hội Như vậy, bên cạnh