o Mục tiêu nghiên cứu: Hạn chế rủi ro tài chính cho các công ty xuất nhập khấu Việt Nam o Phương pháp nghiên cứu Tổng hợp và phân tích các dữ liệu định tính kết hợp với các thống kê ph
Trang 1QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÁC CÔNG TY VIỆT NAM
LỜI NÓI ĐẦU
o Lý do chọn đề tài:
- Kinh doanh xuất nhập khẩu không chỉ đóng vai trò là cầu nối cho giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và thế giới mà còn là động lực phát triển cho các lĩnh vực kinh tế trong nước và nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế
- Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây đang diễn ra ngày càng sôi động và phức tạp, đặc biệt trong năm 2010 với kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 4 lần so với năm 2009 Trong 10 năm tới thương mại thế giới có thể sẽ mở ra những cơ hội và thách thức mới cho các doanh nghiệp Việt Nam Bên cạnh những lợi ích nhận được từ thương mại hóa toàn cầu cùng với xu hướng hội nhập của phần lớn các quốc gia trên thế giới, các cá nhân và doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam cũng đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn như giá cả leo thang, chi phí lớn, thị trường không ổn định, hệ thống thông tin thiếu minh bạch Những điều đó buộc doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có khả năng nhạy bén trong việc nắm bắt những thông tin và cơ hội kinh doanh, đưa ra thị trường những sản phẩm tốt với giá cả cạnh tranh nhất
- Tuy nhiên, kinh doanh xuất nhập khẩu bên cạnh những mặt tích cực còn đem theo nhiều rủi ro, tổn thất khó dự đoán, lường trước gây ảnh hưởng tới
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Tuy nghiên, rủi ro và hạn chế rủi ro trong việc thực hiện các hợp đồng xuất nhập khẩu còn là phạm trù khá mới mẻ và chưa nhận được sự quan tâm thích đáng của các nhà nghiên cứu cũng nhu từ phía các doanh nghiệp Do đó
Trang 2nghiên cứu về rủi ro và các biện pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn cao
o Mục tiêu nghiên cứu:
Hạn chế rủi ro tài chính cho các công ty xuất nhập khấu Việt Nam
o Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp và phân tích các dữ liệu định tính kết hợp với các thống kê phân
tích các dữ liệu định lượng nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu
o Nội dung nghiên cứu: gồm 3 chương
Chương 1: TỔNG QUAN
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn mang trong mình nó những mầm mống rủi ro, tổn thất Xu thế hội nhập kinh tế thế giới và làn sóng tự do hóa thương mại luôn ẩn chứa nhiều “sóng gió lớn” buộc doanh nghiệp phải đối mặt với
sự mạo hiểm Dù không mong muốn rủi ro vẫn tồn tại khách quan và luôn đe dọa các nhà kinh doanh Tuy nhiên thực tiễn cho thấy lĩnh vực kinh doanh nào có độ rủi
ro càng cao thì càng có nhiều cơ hội đem lại tỷ suất lợi nhuận lớn và ngược lại Do
đó, hiện nay phổ biến quan điểm chấp nhận rủi ro, mạo hiểm
Nếu như kinh doanh nói chung luôn mang tính mạo hiểm thì mức độ rủi ro, mạo hiểm lại tăng lên bội phần trong môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu
Nhận diện lý thuyết, làm rõ hơn các khái niệm rủi ro, tổn thất, thế nào là một chương trình quản trị rủi ro trong thực tiện, một số nghiên cứu lý thuyết về quản trị rủi ro chiến thuật đó là hành động theo quan điểm, kinh doanh chênh lệch giá, giảm chi phí giao dịch, sử dụng hợp đồng quyền chọn…
Chương 2: THỰC TRẠNG RỦI RO CỦA CÁC CÔNG TY
XUẤT KHẨU VIỆT NAM
Đưa ra một số rủi ro tổn thất điển hình cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu
đó là rủi ro tổn thất số lượng, chất lượng của hàng hóa, do biến động lãi suất, do tỷ giá hối đoái
Bên cạnh đó là tác động của rủi ro, tổn thất đối với doanh nghiệp xuất nhập
Trang 3khẩu: Cho đến nay, chưa có Bộ hoặc cơ quan chuyên ngành liên quan nào đưa ra được con số cụ thể, chính xác và đầy đủ về những thiệt hại do rủi ro phát sinh cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong giai đoạn 2007-2011, nhưng một điều chắc chắn là con số này rất lớn Nhìn vào thực trạng kinh doanh xuất nhập khẩu những năm qua, có thể thấy rủi ro, tổn thất tài chính luôn thường trực, đe doạ tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và toàn
bộ nền kinh tế Mặc dù đã có nhiều biện pháp được hình thành để đối phó với rủi ro, tổn thất nhưng rủi ro, tổn thất tài chính vẫn xảy ra do tính chất bất ngờ và không thể định lượng chính xác được của nó Điều này càng buộc các doanh nghiệp luôn phải tìm tòi các biện pháp hạn chế một cách hữu hiệu những rủi ro, tổn thất đang xảy ra ngày một phức tạp trong thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO
Thực tại các biện pháp được áp dụng phổ biến là hợp đồng phái sinh và hàng hóa phái sinh
Thực trạng về các biện pháp hạn chế rủi ro tài chính áp dụng tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam : Theo nghiên cứu công ty bảo hiểm Thụy Sĩ (Swiss Re), Việt Nam là nhóm sợ rủi ro cao thứ nhì các nước châu Á Thái Bình Dương Công ty tái bảo hiểm Thụy Sĩ (Swiss Re) đã tiến hành một cuộc điều tra quy mô lớn trên tổng số 13.800 khách hàng từ 20 - 40 tuổi tại các thành phố lớn của
11 nước châu Á Thái Bình Dương (Austraulia, Hongkong (Trung Quốc), Nhật Bản, Singapore, Indonesia, Malaysia và Việt Nam…) vào tháng 4 và tháng 5/2011 Tại Việt Nam, có 1.000 khách hàng ở TP.HCM và Hà Nội đã được trực tiếp phỏng vấn
Cuối cùng là một số kiến nghị tăng hiệu quả quản trị rủi ro :
Các giải pháp từ nhà nước: Nếu sử dụng sai mục đích và không được giám sát chặt chẽ, các công cụ phái sinh, từ chỗ là công cụ phòng chống rủi ro sẽ mang đến những mầm hoạ khôn lường cho nền kinh tế Do vậy, để tránh điều đó, cần xây dựng những trụ cột cơ bản đảm bảo việc triển khai các công cụ tài chính phái sinh được bền vững
Các giải pháp từ ngân hàng thương mại: Ngân hàng giữ vai trò tài trợ tín dụng và cung cấp các sản phẩm phái sinh cho các doanh nghiệp, bên cạnh đó giữa
Trang 4Sở Giao dịch hàng hóa và hệ thống ngân hàng thương mại có mối quan hệ tương hỗ rất rõ: Sở Giao dịch hàng hóa ổn định minh bạch sẽ giúp cho hệ thống ngân hàng thương mại đa dạng hóa sản phẩm và kinh doanh hiệu quả, an toàn; đồng thời, khi
hệ thống ngân hàng thương mại phát triển, sẽ củng cố cho Sở Giao dịch hàng hóa đảm bảo an toàn hệ thống, tăng trưởng mạnh về quy mô
Các giải pháp từ doanh nghiệp: Xuất phát từ nhu cầu phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp mà các sản phẩm tài chính phái sinh đã ra đời nhằm giải quyết vấn đề này Khi sử dụng các sản phẩm tài chính phái sinh, doanh nghiệp có thể tránh được những rủi ro trên Qua đó, đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh doanh được ổn định trên cơ sở những điều khoản trong hợp đồng phái sinh Tuy nhiên bước đầu, việc đưa các sản phẩm này đến với doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn
Kết luận
Kinh doanh xuất nhập khẩu bao giờ cũng là quá trình gian nan, vất vả, nhiều thử thách Nó gian nan, vất vả ở sự phức tạp riêng có của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, nhiều thử thách ở những nguy cơ rủi ro, tổn thất luôn tiềm ẩn trong từng khâu của quá trình thực hiện hợp đồng
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn rủi ro, tổn thất tài chính trong kinh doanh xuất nhập khẩu, có thể khẳng định sự tồn tại khách quan hết sức đa dạng, phức tạp của rủi ro, tổn thất xảy ra khi thực hiện hợp đồng Những biến động về giá
cả, lãi suất tỷ giá tạo thành một môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng trở nên bất định
Tuy vậy, kinh doanh xuất nhập khẩu vẫn là lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn nếu doanh nghiệp biết cách phòng ngừa, hạn chế rủi ro, tổn thất Thực tế phức tạp,
đa dạng của rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu đòi hỏi phải có sự phối hợp tích cực giữa doanh nghiệp và nhà nước Nhà nước cần quan tâm tới các giải pháp vĩ mô còn doanh nghiệp nên tập trung nhiều hơn tới các giải pháp vi mô mang tính chất nghiệp vụ, tổ chức, quản lý
Rủi ro, tổn thất đã, đang và sẽ mãi tiềm ẩn song hành với quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu Do đó, không thể kể hết những rủi ro, tổn thất đã xảy ra
và càng không thể dự đoán được chính xác những rủi ro, tổn thất sẽ xảy ra Hy vọng rằng bài viết này đã đưa ra được bức tranh khái quát khá đầy đủ và toàn diện về rủi
Trang 5ro, tổn thất tài chính của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam và một số biện pháp hạn chế phòng ngừa hữu hiệu rủi ro, tổn thất tài chính có thể xảy ra Qua đó, góp một phần dù là nhỏ bé trong việc nhìn nhận một vấn đề còn đang bỏ ngỏ, chưa được sự quan tâm của nhiều người
o Đóng góp của đề tài:
Giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam tìm ra hướng đi quản trị rủi
ro tài chính cho công ty mình, thực trạng và giải pháp hiện nay cho các doanh nghiệp này
o Hướng phát triển của đề tài:
Qua bài nghiên cứu này, có thể thấy rằng các doanh nghiệp xuấu nhập khẩu Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong hoạch định quản trị rủi ro tài chính cho doanh nghiệp mình, nên các tác giả có thể nghiên cứu bài viết này tiếp tục xây dựng một chương trình quản trị rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp không chỉ trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mà còn tất cả các lĩnh vực khác
Trang 6Chương 1: TỔNG QUAN
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường luôn mang trong mình nó những mầm mống rủi ro, tổn thất Xu thế hội nhập kinh tế thế giới và làn sóng tự do hóa thương mại luôn ẩn chứa nhiều “sóng gió lớn” buộc doanh nghiệp phải đối mặt với
sự mạo hiểm Dù không mong muốn rủi ro vẫn tồn tại khách quan và luôn đe dọa các nhà kinh doanh Tuy nhiên thực tiễn cho thấy lĩnh vực kinh doanh nào có độ rủi
ro càng cao thì càng có nhiều cơ hội đem lại tỷ suất lợi nhuận lớn và ngược lại Do
đó, hiện nay phổ biến quan điểm chấp nhận rủi ro, mạo hiểm
Nếu như kinh doanh nói chung luôn mang tính mạo hiểm thì mức độ rủi ro, mạo hiểm lại tăng lên bội phần trong môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu
1.1 Tổng quan về rủi ro
1.1.1 Rủi ro
Trong đời sống và sản xuất hàng ngày, dù muốn hay không, người ta vẫn phải gánh chịu những tổn thất do sự tác động của những rủi ro có thể phát sinh Và các doanh nghiệp cũng vậy, để có thể thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, các giám đốc tài chính phải cân nhắc giữa tỷ suất sinh lợi của các bản hợp đồng với rủi ro của nó Để làm được điều đó các giám đốc tài chính cần hiểu về các rủi ro mà doanh nghiệp mình có thể gặp phải Ngoài những rủi ro hệ thống thì tùy theo đặc điểm của doanh nghiệp cũng như ngành nghề hoạt động mà các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những rủi ro khác nhau:
Rủi ro hệ thống: Rủi ro liên quan đến toàn bộ thị trường hoặc toàn bộ nền kinh tế
Rủi ro kế toán: Rủi ro liên quan đến những nghiệp vụ kế toán không phù hợp đối với một giao dịch, có thể xảy ra khi quy trình và quy định kế toán thay đổi hay chưa được xây dựng
Rủi ro kinh doanh: Rủi ro liên quan đến một hoạt động đặc trưng của doanh nghiệp
Trang 7Rủi ro mô hình: Rủi ro liên quan đến việc sử dụng mô hình không đúng hoặc không phù hợp, hoặc trong mô hình tồn tại các sai số hoặc giá trị đầu vào không chính xác
Rủi ro pháp lý: Rủi ro mà các quy định và định hướng quy định hiện nay sẽ thay đổi, đem lại tác động bất lợi đối với doanh nghiệp Rủi ro pháp lý có thể dẫn tới việc xem một số giao dịch hiện tại hoặc đang dự tính là bất hợp pháp và cản trở
sụ phát triển của các sản phẩm và giải pháp mới
Rủi ro quy mô: Rủi ro của một chiến lược phòng ngừa rủi ro trong đó nhà phòng ngừa rủi ro không biết mình sẽ sở hửu hoặc bán bao nhiêu đơn vị tài sản giao ngay
Rủi ro thanh khoản: Rủi ro liên quan đến một giao dịch do tình trạng thị trường chợ chiều, được thể hiện qua việc có ít các dealer và chênh lệch giá mua giá bán khá lớn
Rủi ro thanh toán: Rủi ro thường gặp trong các giao dịch thanh toán quốc tế, trong đó một công ty có giao dịch hai chiều với một đối tác khác và gặp rủi ro là khoản thanh toán của mình đã được chuyển đi trong khi chưa nhận được khoản thanh toán của bên kia, điều này có thể là do nguyên nhân phá sản, mất khả năng thanh toán hay lừa đảo
Rủi ro tín dụng: Rủi ro một bên tham gia một hợp đồng phái sinh OTC sẽ không chi trả khi được yêu cầu
Rủi ro tài chính: Bao gồm rủi ro kiệt giá tài chính và những rủi ro doanh nghiệp phải đối mặt khi sử dụng các đòn bẩy tài chính trong kinh doanh
Rủi ro kiệt giá tài chính: Rủi ro liên quan đến những thay đổi của các nhân tố như lãi suất, tỷ giá, giá cả hàng hóa hay chứng khoán tác động đến thu nhập của doanh nghiệp
Ở đây, chúng ta sẽ chỉ tập trung vào những rủi ro tài chính mà doanh nghiệp
có thể gặp phải
1.1.2 Tổn thất
Rủi ro là sự kiện may rủi về một hậu quả không có lợi, là sự tiến triển dẫn tới kết quả gây ra thiệt hại cho con người Tuy nhiên, nó không tự thân phản ánh đầy đủ mức độ nghiêm trọng của rủi ro Do đó, để đo lường và phản ánh mức độ nghiêm
Trang 8trọng của rủi ro, cần xây dựng phạm trù tổn thất - hậu quả của rủi ro
Tổn thất là những thiệt hại vật chất, tinh thần có thể xác định được bằng cách định lượng trực tiếp hoặc gián tiếp mức độ thiệt hại Tổn thất là hậu quả của rủi ro,
nó phản ánh trạng thái đã bị thiệt hại, hư hỏng, mất mát của đối tượng sau tác động của rủi ro
Tổn thất có thể tồn tại dưới dạng vật chất như giá trị, giá trị sử dụng bị mất mát, các chi phí phát sinh thêm trong hoạt động kinh doanh Tổn thất cũng có thể tồn tại dưới dạng phi vật chất như mất uy tín kinh doanh, mất bạn hàng
Nhìn từ góc độ tài chính, khi nghiên cứu tổn thất, cần xét xem tổn thất đó có khả năng lượng hóa được thành tiền hay không Có những tổn thất có thể tính toán trực tiếp được thành tiền như thiệt hại về tài sản, thua lỗ trong một thương vụ Song
có những dạng tổn thất, việc lượng hóa thành tiền phụ thuộc vào mức độ phát triển của đời sống kinh tế xã hội thông qua quan niệm chủ quan của con người
Do vậy, tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tài sản vật chất, tinh thần, cơ hội mất hưởng của con người do các nguyên nhân từ rủi ro gây ra
Tóm lại, từ khái niệm về rủi ro và tổn thất có thể dễ dàng nhận thấy rủi ro - tổn thất là hai phạm trù khác nhau Tuy nhiên, chúng có quan hệ mật thiết với nhau
do tồn tại quan hệ nhân quả giữa rủi ro và tổn thất Rủi ro là nguyên nhân, tổn thất
là hậu quả Mối quan hệ này còn thể hiện ở chỗ cả rủi ro và tổn thất đều có liên quan chặt chẽ với một sự kiện bất lợi, không may mắn Sự kiện này được phản ánh qua hai mặt:
• Rủi ro phản ánh mặt chất của sự kiện, thông qua rủi ro xác định được nguyên nhân và tính chất nguy hiểm của sự kiện
• Tổn thất phản ánh về mặt lượng của sự kiện, nghĩa là tổn thất phản ánh mức độ thiệt hại, mất mát về vật chất và tinh thần khi sự kiện đã xảy ra
Do đó, cần nghiên cứu đồng thời rủi ro và tổn thất trong mối quan hệ biện chứng giữa chúng Nghiên cứu rủi ro đồng thời phải nghiên cứu tổn thất bởi qua nghiên cứu tổn thất sẽ thấy được sự nguy hiểm, tác hại và mức độ nghiêm trọng của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh Ngược lại, nghiên cứu về tổn thất phải đồng thời nghiên cứu rủi ro để biết được nguyên nhân nào đã gây ra tổn thất Vì vậy, nghiên cứu mối quan hệ mật thiết giữa rủi ro và tổn thất là điều kiện hết sức cần
Trang 9thiết để đề ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro, hạn chế tổn thất trong kinh doanh
1.2 Quản trị rủi ro
1.2.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro là xác định mức độ rủi ro mà một công ty mong muốn, nhận diện mức độ rủi ro hiện nay của công ty đang gánh chịu và sử dụng các công cụ phái sinh hoặc công cụ tài chính khác để điều chỉnh mức độ rủi ro thật sự mong muốn
Mục tiêu của việc quản trị rủi ro là làm gia tăng giá trị công ty thông qua việc tránh đầu tư lệch lạc, giảm các chi phí đi vay, giảm thuế và chi phí phá sản, hay bằng cách đầu cơ và arbitrage
1.2.2 Quy trình xây dựng một chương trình quản trị rủi ro trong thực tiễn:
Quy trình quản trị rủi ro tài chính
Do những đổi thay không ngừng trên thị trường mà việc quản trị rủi ro cũng trở thành một quá trình biến hoá liên tục các phương pháp phòng chống rủi ro, dựa trên dự báo về mức độ biến động của giá cả, môi trường kinh doanh, điều kiện chính trị, kinh tế xã hội trong nước và quốc tế Mặc dù vậy, quy trình quản trị rủi ro không thể bỏ qua những bước căn bản sau đây:
1 Nhận diện và phân loại rủi ro
Mọi rủi ro trên thị trường đều xuất phát từ những thay đổi về giá cả thị trường như lãi suất, tỷ giá cũng như giá của các loại hàng hoá khác Ngoài ra còn có một số rủi ro khác ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp như rủi ro về tín dụng, rủi
ro trong hoạt động sản xuất, rủi ro trong thanh khoản và rủi ro mang tính hệ thống tác động chung lên toàn thị trường Những rủi ro trên đều có tính liên kết và tác động qua lại lẫn nhau nên khi thị trường đi xuống, sự cộng hưởng của chúng sẽ gây nên tổn thất khôn lường đối với doanh nghiệp
2 Tính toán và cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chịu đựng tổn thất khi rủi ro xảy ra
Trang 10Đo lường rủi ro là một quá trình gồm 2 bước Bước đầu tiên là tính toán mức thu lợi có thể đạt được hoặc quan trọng hơn cả trong quản trị rủi ro là tính toán mức tổn thất có thể chấp nhận được trong trường hợp xảy ra biến động xấu về giá cả trên thị trường Nói cách khác, đo lường rủi ro chính là việc trả lời cho câu hỏi "Doanh nghiệp có thể chấp nhận tổn thất đến mức độ nào?" Để có được câu trả lời thì việc tính toán khả năng và mức độ tổn thất phải được định lượng bằng những con số biết nói Tuỳ theo độ nhạy cảm của từng loại công cụ đo lường, kết quả có được có thể tính bằng thời gian mất đi hoặc số tiền thiệt hại trên vốn hoặc lợi nhuận Chẳng hạn, việc sử dụng các công cụ phát sinh như Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps) sẽ giúp doanh nghiệp tính toán được mức độ tổn thất này bằng các con số chính xác khi thị trường biến động theo hướng ngược chiều với dự đoán Chi phí bỏ ra khi sử dụng các công cụ này chính là cái giá mà doanh nghiệp phải trả nếu rủi ro xảy ra
Bước thứ hai của quá trình này là xác định các khả năng xảy ra tương ứng với từng mức độ biến động trên thị trường Dựa trên những khả năng biến động về giá cũng như biên độ dao động giá, mức độ tổn thất cũng như mức thu lợi có thể được tính toán chi tiết và cụ thể trong từng trường hợp
3 Áp dụng các chính sách, công cụ phòng chống thích hợp đối với từng loại rủi ro
Tuỳ thuộc vào mức độ và khả năng chấp nhận rủi ro, doanh nghiệp sẽ áp dụng những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy ra Trên thực tế, doanh nghiệp có thể có một số chọn lựa Một trong những chọn lựa đơn giản nhất là không làm gì cả bằng cách chủ động hoặc thụ động chấp nhận mọi rủi ro có thể xảy ra Điều này hoàn toàn đúng với những khoản vay nhỏ vì chi phí để phòng chống có khi còn cao hơn việc chấp nhận mức thiệt hại nếu thị trường có biến động Tuy nhiên, phương pháp này lại tỏ ra rất nguy hiểm đối với những khoản thanh toán bằng ngoại tệ hoặc khoản vay lớn vì chỉ một biến động nhỏ
về lãi suất hoặc tỉ giá thì thiệt hại sẽ là một con số không thể thờ ơ Khi đó, các công
cụ phòng chống rủi ro đặc biệt tỏ ra hữu hiệu nhằm ngăn chặn một phần tổn thất có khả năng xảy ra hoặc ngăn chặn khả năng xảy ra rủi ro có thể lường trước
Trang 114 Theo dõi, đánh giá và điều chỉnh phương pháp phòng chống nếu cần thiết
Sự vận động của thị trường sẽ khiến cho mọi phương pháp phòng chống dù
là tối ưu nhất cũng trở nên mất tác dụng nếu không được điều chỉnh cho phù hợp
Do vậy, kết quả của việc sử dụng các phương pháp phòng chống rủi ro cần được ghi nhận và xử lý kịp thời để việc ứng dụng phương pháp trên được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp trong các tình huống mới
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là doanh nghiệp cần nhận thức và chủ động ứng dụng quy trình này trong thực tế, đặc biệt là khi thị trường Việt Nam vận động trong một nền kinh tế hội nhập với thế giới đang dần tách khỏi sự bảo hộ của Ngân hàng Nhà nước về tỉ giá và các chính sách mở cửa khác cho thị trường tài chính trong nước Nguy cơ về những biến động lớn trên thị trường tiền tệ và khủng hoảng tài chính trong giai đoạn sắp tới sẽ buộc doanh nghiệp phải ý thức hơn trong việc xây dựng quy trình quản trị rủi ro thích hợp nhằm bảo vệ tài sản của mình
1.2.3 Các công cụ quản trị rủi ro
Từ nhu cầu phòng ngừa rủi ro đến mục đích đầu cơ trên biến động giá thì ngoài bảo hiểm đã hình thành nên các sản phẩm phái sinh kéo theo là thị trường phái sinh
Các sản phẩm phái sinh phổ biến nhất bao gồm:
- Hợp đồng kỳ hạn: là những thỏa thuận mua hoặc bán một loại tài sản ở
một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá nhất định.Đây là những thỏa thuận cá nhân (qua thị trường phi tập trung) giữa hai tổ chức tài chính hoặc giữa một tổ chức tài chính và khách hàng là công ty Vì vậy, hợp đồng kỳ hạn không theo tiêu chuẩn của thị trường riêng biệt Ngày giao hàng trong hợp đồng có thể là bất kỳ ngày nào thuận tiện cho hai bên Giá trong hợp đồng kỳ hạn là giá thanh toán ở thời điểm ký kết hợp đồng, giá thanh toán được xác định để giá trị hợp đồng của hai bên bằng không Điều này có nghĩa là không có chi phí khi mua, bán hợp đồng
- Hợp đồng tương lai: là một thỏa thuận để mua hoặc bán một tài sản vào
một thời điểm chắc chắn trong tương lai với một mức giá xác định Khác với hợp đồng kỳ hạn được thương lượng trực tiếp giữa hai chủ thể, không cần chuẩn hóa sản phẩm và không yêu cầu thủ tục phức tạp, hợp đồng tương lai được giao dịch trên Sở
Trang 12giao dịch tương lai nên việc chuẩn hóa hợp đồng là điểm quan trọng Hai bên tham gia hợp đồng phải biết được hàng hóa chuyển giao, nơi giao hàng Họ cũng cần biết chi tiết về giờ trao đổi, giá được niêm yết thế nào, mức dịch chuyển tối đa hàng ngày ra sao Hợp đồng mới phải được sự chấp nhận của Ủy ban giao dịch tương lai
về hàng hóa trước khi giao dịch bắt đầu Hợp đồng tương lai là những hợp đồng được giao dịch một cách tổ chức tại sở giao dịch Giá của hợp đồng tương lai được điều chỉnh hàng ngày theo điều kiện của thị trường để phản ánh những thay đổi của các lực lượng cung cầu trên thị trường Do vậy, hàng ngày giữa người mua và người bán phải quyết toán những thay đổi giá trị của hợp đồng với nhau Nếu giá trị hợp đồng giảm, người mua phải thanh toán cho người bán hợp đồng phần chênh lệch giảm và ngược lại
Để thực hiện việc điều chỉnh giá hàng ngày, các nhà đầu tư phải duy trì khoản ký quỹ với người môi giới Mức tổi thiểu của tiền ký quỹ ban đầu và duy trì
do thị trường xác định Nhà môi giới có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ nhiều hơn mức thị trường yêu cầu nhưng không thể yêu cầu mức thấp hơn thị trường quy định Các mức ký quỹ được xác định bởi những biến động về giá của tài sản cơ sở, biến động càng lớn mức ký quỹ càng cao Mức ký quỹ duy trì thường vào khoản 75% mức ký quỹ yêu cầu Chính vì vậy, khác với các hợp đồng kỳ hạn là những hợp đồng song phương trong đó các đối tác tham gia hợp đồng có thể phải gánh chịu rủi
ro tín dụng, đối với hợp đồng tương lai, rủi ro tín dụng được giảm một cách đáng kể bởi sự đảm bảo của Sở giao dịch tương lai
- Hợp đồng quyền chọn: Quyền chọn là một công cụ cho phép người nắm
giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hóa với một mức giá xác định trong một thời gian nhất định Khác với việc sở hữu hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, buộc phải mua hoặc bán các tài sản cơ sở trong tương lai, người sử dụng hợp đồng quyền chọn có thể lựa chọn xem có nên mua (call) hay bán (put) một tài sản cơ sở trong tương lai tại mức giá thực hiện được xác định vào ngày hôm nay Khả năng lựa chọn có thể tạo ra các khoản thanh toán không cân xứng, nghĩa là người sở hữu hợp đồng quyền chọn có thể từ chối mua hay bán một tài sản Trên thực tế, người sở hữu hợp đồng quyền chọn sẽ từ chối thực hiện hợp đồng nếu giá hợp đồng này bất lợi so với giá
Trang 13thực hiện hợp đồng và ngược lại họ sẽ thực hiện hợp đồng nếu giá hợp đồng thuận lợi
Quyền chọn mua trao cho người nắm giữ quyền mua tài sản vào một ngày nhất định với một giá xác định Quyền chọn bán trao cho người nẵm giữ quyền bán tài sản vào một ngày nhất định với một giá xác định Ngày trên hợp đồng là ngày đáo hạn hay ngày thực hiện và giá trên hợp đồng là giá thực hiện
Có bốn chiến lược cơ bản trong giao dịch quyền chọn là: mua quyền chọn mua, bán quyền chọn mua, mua quyền chọn bán và bán quyền chọn bán
- Hợp đồng hoán đổi: Giao dịch hoán đổi là một thỏa thuận giữa hai hay
nhiều bên về việc trao đổi lẫn nhau các khoản thanh toán sau một khoảng thời gian nhất định trong tương lai Hợp đồng hoán đổi bao gồm các quyền hạn và nghĩa vụ ngang nhau của các thành viên thỏa thuận về việc trao đổi lẫn nhau sau một khoản thời gian (có khả năng lặp lại) theo những điều kiện được quy định trong hợp đồng, các khoản thu nhập bằng tiền dưới dạng khối lượng ngoại tệ, khối lượng tài sản và các giá trị khác để thực hiện để thực hiện chuyển đổi đầu tư
Khác với quyền chọn và hợp đồng tương lai, trong đó, giá cơ sở từ lần đầu
do các bên ấn định theo hợp đồng, trong một hợp đồng hoán đổi, một phần thanh toán có thể thực hiện theo giá tương lai, chưa xác định khi ký hợp đồng (hoặc chưa xác định vào thời điểm đó) Hợp đồng hoán đổi mang lại cơ hội cho các thành viên giao dịch nhận được thu nhập đồng thời trên thị trường giao ngay và thị trường kỳ hạn Đặc trưng của một hợp đồng hoán đổi được thể hiện ở nghĩa vụ thực hiện đổi lẫn nhau theo các điều kiện thỏa thuận Việc thực hiện hợp đồng hoán đổi được tiến hành bằng các nghiệp vụ kinh tế trao đổi – thanh toán thích hợp Mỗi thành viên có quyền bán quyền – nghĩa vụ của mình trong hợp đồng hoán đổi, xuất phát từ từng hợp đồng cụ thể
Mỗi công cụ phái sinh đều có ưu nhược điểm riêng giúp nhà quản trị có thể
xử lý được các rủi ro có thể gặp phải một cách linh hoạt
Như đối với hợp đồng kỳ hạn các điều khoản được thiết kế theo nhu cầu cụ thể của 2 bên Chính điểm riêng biệt này đã mang đến sự linh hoạt cho các bên tham gia, tiết kiệm tiền và cho phép thị trường thích ứng một cách nhanh chóng đối với thay đổi trong nhu cầu và hoàn cảnh thị trường Tuy nhiên bên cạnh đó hợp đồng kỳ
Trang 14hạn lại có tính thanh khoản thấp do nghĩa vụ mỗi bên không thể chuyển giao cho bên thứ ba và không có gì đảm bảo rằng sẽ không có một bên vỡ nợ và hủy bỏ các nghĩa vụ hợp đồng
Để có thể sử dụng các công cụ phái sinh trên trong việc quản trị rủi ro, các nhà quản trị cần xem xét một số phương pháp sau:
1.3 Quản trị rủi ro chiến thuật
Các phương pháp quản trị rủi ro chiến thuật giúp công ty giảm chi phí tài trợ:
• Hành động theo quan điểm
• Kinh doanh chênh lệch giá
• Giảm chi phí giao dịch
• Bán hợp đồng quyền chọn
1.3.1 Hành động theo quan điểm
Sản phẩm quản trị rủi ro có thể được sử dụng vì những dự báo mức lãi suất Nếu nhà quản trị công ty kỳ vọng mức lãi suất sẽ giảm thì họ sẽ sử dụng hợp đồng hoán đổi chi trả thả nổi (pay-floating swap) Nếu lãi suất giảm chi phí vay của công
ty sẽ giảm
Tuy nhiên thay vì dự đoán mức lãi suất công ty có thể dự đoán cấu trúc kỳ hạn của đường cong lãi suất Nếu công ty kỳ vọng trong tương lai độ dốc của đường cong lãi suất có xu hướng dốc hơn so với hiện tại
Thị trường hoán đổi: công ty thực hiện 2 hợp đồng (HĐ) hoán đổi:
• HĐ1: nhận chi trả với lãi suất thả nổi dài hạn (ví dụ LSTP chính phủ 10 năm)
và chi trả với lãi suất cố định
• HĐ2: nhận chi trả với lãi suất thả nổi ngắn hạn (ví dụ LSTP chính phủ 6 tháng) và nhận chi trả với lãi suất cố định
Vì công ty dự báo đường cong lãi suất có xu hướng dốc hơn nên khoảng chênh lệch (sự khác biệt giữa lãi suất thả nổi dài hạn và lãi suất thả nổi ngắn hạn) có thể dương do đó công ty có thể nhận chi trả thêm đúng bằng khoảng chênh lệch nhân với vốn khái toán
1.3.2 Kinh doanh chênh lệch giá
Trang 15Kinh doanh chênh lệch giá tiếp cận theo hướng sử dụng hợp đồng hoán đổi, lợi dụng những bất hoàn hảo trên thị trường, chẳng hạn như là những khác biệt về
ưu đãi của chính phủ
Đôi khi kinh doanh chênh lệch giá là kết quả xảy ra do những rào cản khi một công ty muốn dàn xếp một khoản vay nọ nào đó trên thị trường tài chính Nếu rào cản tồn tại, thì nguồn cung ứng các chứng khoán có thu nhập cố định trên thị trường đó sẽ bị giới hạn Vì vậy giá chứng khoán sẽ cao hơn giá được thị trường xác định Điều này làm cho lãi suất coupon thấp hơn thị trường
1.3.3 Giảm chi phí giao dịch
Đây là một trong những cách thức quan trọng nhất mà giao dịch hoán đổi có thể làm giảm chi phí tài trợ đó chính là làm giảm chi phí giao dịch Chúng ta hãy thử hình dung, khi một công ty tiến hành quyết định tài trợ thì ngoài việc xem xét đến mức lãi suất cho vay của đồng nội tệ thì người ta còn quan tâm đến lãi suất cho vay của các đồng ngoại tệ khác Chúng ta có thể thấy các công ty đa quốc gia thường hay sử dụng khả năng vay mượn dư thừa của mình trên các thị trường mà họ
có khả năng huy động vốn với chi phí thấp sau đó phân bổ nguồn vốn này đến các thị trường có chi phí vay cao hơn Song song với hoạt động này luôn là các biện pháp quản trị rủi ro sử dụng hàng loạt các hợp đồng kỳ hạn, tuy nhiên rõ ràng với việc sử dụng các hoạt động hoán đổi tiền tệ đã làm giảm một cách rất đáng kể chi phí giao dịch của các hoạt động này
Chúng ta có thể kết luận rằng việc sử dụng các hợp đồng hoán đổi thực sự là một cách thức rất quan trọng để mà một công ty có thể làm giảm các chi phí tài trợ của mình
1.3.4 Bán hợp đồng quyền chọn
Một công ty có thể lựa chọn các phương pháp để giảm chi phí tài trợ
1.3.4.1 Sử dụng các hợp đồng quyền chọn:
Hợp đồng quyền chọn lãi suất có ba dạng:
• Quyền chọn chặn trên (Cap): Là hợp đồng quyền chọn lãi suất cho phép bên vay xác định một mức lãi suất trần, trên mức lãi suất này họ không muốn vay Vào ngày thực hiện hợp đồng bên vay sẽ nhận được chênh lệch giữa lãi suất thị trường với mức lãi suất trần đã được xác định
Trang 16• Quyền chọn chặn dưới (Floor): là hợp đồng quyền chọn cho phép bên cho vay xác định một mức lãi suất sàn, dưới mức lãi suất này họ không muốn cho vay Vào ngày thực hiện hợp đồng họ sẽ nhận được chênh lệch giữa mức lãi suất đã xác định với lãi suất thị trường
• Quyền chọn chặn hai đầu (Collar): Là hình thức kết hợp giữa việc mua một hợp đồng chặn trên với việc bán một hợp đồng chặn dưới, tạo ra một khoảng dao động xác định trước của lãi suất (trần - sàn) Vào ngày thực hiện hợp đồng, nếu lãi suất thị trường thấp hơn lãi suất sàn bên vay sẽ phải thanh toán chênh lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất sàn, nếu lãi suất thị trường cao hơn lãi suất trần, bên vay
sẽ được nhận chênh lệch giữa lãi suất thị trường và lãi suất trần
Khi công ty đi vay với lãi suất thả nổi thì công ty sẽ đi mua quyền chọn trần lãi suất để giảm thiểu rủi ro
Ö Khi đó, công ty phải tốn thêm một khoản chi phí cho hợp đồng quyền chọn nhưng bù lại có thể giảm được rủi ro do sự tăng giá lãi suất
Ngoài ra khi công ty được tài trợ bằng khoản nợ có lãi suất thả nổi cũng có thể giảm chi phí tài trợ bằng cách bán quyền chọn sàn lãi suất qua đó công ty sẽ nhận được một khoản phí mà người mua quyền chọn đem lại
1.3.4.2 Công ty cũng có thể phát hành “nợ lai tạp” để tăng mức hấp dẫn
cho trái phiếu, giảm chi phí tài trợ :
• Dạng gần nhất là một trái phiếu có kèm theo đặc quyền cổ phần: Loại trái phiếu này có đặc điểm là lãi suất cố định và tương đối thấp so với các loại trái phiếu khác, song trái phiếu chuyển đổi hứa hẹn đem lại cho nhà đầu tư lợi nhuận lớn hơn khi chuyển đổi thành loại cổ phiếu thường
• Trái phiếu hay được phát hành kèm với một số quyền khác Khi kết hợp với một hợp đồng quyền chọn nó trở thành loại trái phiếu có khả năng yêu cầu thanh toán trước hạn Yêu cầu thanh toán trước hạn có thể thuộc về người phát hành trái phiếu nếu đó là một trái phiếu có thể mua lại (callable bond), hoặc thuộc về người
sở hữu trái phiếu nếu đó làm trái phiếu có khả năng bán lại (putable bond)
• Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết (phòng ngừa rủi ro khi lãi suất giảm) Tuy nhiên
Trang 17loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
• Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này thường thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn
1.4 Mối quan hệ tương tác giữa rủi ro, tổn thất và hiệu quả thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
Đạt được hiệu quả cao nhất trong thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu luôn là mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nào Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng nguy cơ rủi ro, tổn thất luôn tồn tại và rủi ro, tổn thất
có thể xảy ra làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận thậm chí gây thua lỗ cho thương vụ
và do đó, hạn chế hiệu quả hợp đồng xuất nhập khẩu Vì vậy, có thể nói rủi ro, tổn thất luôn có tác động tỷ lệ nghịch với hiệu quả thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
Rủi ro xảy ra đem theo thiệt hại to lớn về lợi ích vật chất và phi vật chất Do vậy, khi rủi ro, tổn thất đã xảy ra, doanh nghiệp sẽ tốn kém thêm các chi phí để xử
lý, khoanh vùng rủi ro, giảm thiểu tổn thất, chi phí phục hồi sản xuất kinh doanh Chi phí tăng trong khi doanh thu về không đổi làm các chỉ tiêu hiệu quả biến đổi theo chiều hướng xấu Khi đó, tỷ lệ lãi/một đơn vị ngoại tệ giảm, tổng lãi hợp đồng giảm, tỷ suất ngoại tệ hợp đồng xuất khẩu tăng, hợp đồng nhập khẩu giảm
Hiệu quả thực hiện hợp đồng chỉ có thể đạt được khi doanh nghiệp có biện pháp phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu rủi ro Để phòng ngừa, hạn chế rủi ro, doanh nghiệp phải phân tích môi trường kinh doanh, phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm loại trừ hoàn cảnh phát sinh rủi ro, tiết kiệm để bù đắp mất mát rủi ro bằng lập quỹ dự trữ, mua bảo hiểm cho hàng hóa Mặc dù để tiến hành các hoạt động này doanh nghiệp phải bỏ ra khoản chi phí nhất định song nếu đem so sánh nó với chi phí khắc phục rủi ro, tổn thất thì chi phí phòng ngừa có thể chấp nhận được Đến lượt nó, các biện pháp phòng ngừa, giúp doanh nghiệp kiểm soát được rủi ro, làm cho công việc kinh doanh ổn định và tạo tâm lý yên tâm cho nhà
kinh doanh
Trang 18Tóm lại, rủi ro là những sự kiện bất lợi ngẫu nhiên bất ngờ xảy ra đem theo tổn thất và tổn thất là hệ quả trực tiếp của rủi ro Rủi ro, tổn thất luôn tồn tại tiềm ẩn song hành với quá trình thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu, đe doạ hiệu quả của thương vụ
Trong môi trường kinh doanh xuất nhập khẩu, rủi ro, tổn thất xảy ra thường xuyên hơn và đem theo hậu quả nặng nề hơn so với kinh doanh trong nước do môi trường pháp lý phức tạp hơn, thể hiện ở sự phức tạp trong lựa chọn nguồn luật áp dụng, các quy định pháp lý khác nhau, chủ thể thường có quốc tịch khác nhau, năng lực tài chính khác nhau, văn hoá khác nhau, khoảng cách địa lý thường xa xôi nên hàng hoá dễ hư hỏng, dễ gặp thiên tai, tai nạn bất ngờ, việc thanh toán và thời điểm giao hàng thường khác nhau nên rủi ro thường xảy ra trong khâu thanh toán
Như vậy, rủi ro, tổn thất xảy ra luôn đem theo thiệt hại cho doanh nghiệp Do
đó, điều cần thiết để tăng hiệu quả là người kinh doanh xuất nhập khẩu phải nhận thức được rủi ro và chủ động áp dụng các biện pháp phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất
Trang 19Chương 2: THỰC TRẠNG RỦI RO CỦA CÁC CÔNG TY XUẤT KHẨU VIỆT NAM
2.1 Một số rủi ro, tổn thất điển hình
Xuất nhập khẩu là quá trình phức tạp và cọ xát nhiều nhất với các yếu tố bất định Trên thực tế, rủi ro, tổn thất có thể xảy ra ở bất kỳ khâu nào trong quá trình xuất nhập khẩu khi có nhân tố làm phát sinh mầm mống rủi ro dẫn đến hậu quả là rủi ro xuất hiện, kèm theo nó là tổn thất gây thiệt hại nặng nề Thực tiễn cho thấy rủi
ro, tổn thất tồn tại dưới nhiều hình thái muôn hình muôn vẻ với mức độ, quy mô và tần số khác nhau Từ quá trình nghiên cứu rủi ro, tổn thất trong các hợp đồng xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam, có thể rút ra một số rủi ro, tổn thất điển hình sau đây:
2.1.1 Rủi ro, tổn thất do sự biến động thất thường của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới
Giá cả xuất nhập khẩu của Việt Nam phụ thuộc vào cung, cầu giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới Thực tiễn cho thấy chỉ cần có biến đổi nhỏ về cung cầu
là có thể gây ra những biến đổi to lớn về giá cả Để thấy được những tác động không lường trước được của giá cả hàng hóa trên thị trường thế giới gây thiệt hại cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, chúng ta có thể nghiên cứu giá cả một số mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực sau:
a) Gạo
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, Việt Nam ngày nay đã vươn lên trong sản xuất lúa gạo và liên tục trong nhiều năm qua là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Bên cạnh những nỗ lực vượt bậc này, ngành sản xuất và xuất khẩu lúa gạo Việt nam còn tồn tại nhiều bất cập Nghịch lý ở chỗ "làm chủ" thị trường gạo, nhưng hiện giá gạo của ta vẫn thấp nhất thế giới Hơn nữa, giá gạo đầu vào cũng biến động theo giá gạo thế giới Điều này khiến việc thu mua gạo gặp nhiều khó khăn và nhiều hợp đồng bị lỗ vì khi ký kết giá cả xuống thấp đến khi thực hiện giá lại tăng cao Người Việt Nam chúng ta từ lâu đã quen với danh hiệu nước xuất khẩu gạo thuộc hàng đứng đầu thế giới Nên có lẽ, chẳng ai ngờ rằng, chỉ cần bán được bằng giá gạo của các nước khác thì chúng ta đã không mất chừng 3.600 tỉ
Trang 20Giá xuất khẩuTB
của VN
Tốc độ tăng, giảm giá
so kỳ trước (%)
Giá trị xuất khẩu của VN
Tốc độ tăng, giảm giá trị xuất khẩu (%)
Giá TB thế giới
Chênh lệch giá thế giới
và giá xuất khẩu VN
Tổng thiệt hại
do chênh lệch giá xuất khẩu
trong những năm vừa qua bao gồm:
- Chất lượng gạo chưa ổn định thể hiện ở hạt bạc bụng nhiều, tỷ lệ hạt gãy vỡ
lớn, độ ẩm cao
- Phụ thuộc nhiều vào tình hình thời tiết
- Phụ thuộc hoàn toàn vào biến động cung cầu thế giới
- Cơ chế điều hành quản lý xuất khẩu gạo còn nhiều bất cập, Nhà nước chưa
đưa ra được dự đoán chính xác về những biến động cung cầu, chưa xây dựng được
chiến lược và chính sách thúc đẩy xuất khẩu thành công
Trang 21- Chân hàng không ổn định cả về số lượng chất lượng
b) Cà phê
Cà phê là ngành chủ đạo của hơn 50 nước ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ la tinh trong đó có Việt Nam Hiện nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ như vũ bão trên phạm vi toan thế giới, lôi cuốn rất nhiều nước trên thế giới tham gia.Việt Nam cũng không thể nằm ngoài vòng xoáy này và đang nỗ lực hết sức để có thể hoà mình vào tiên trình này một cách nhanh nhất Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ là cầu nối hết sức quan trọng để đẩy nhanh tiến trình này Chính vì vậy
mà hoạt động xuất khẩu ngày càng trở nên quan trọng trong chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực ở nước ta Phát triển sản xuất cà phê xuất khẩu sẽ đóng góp vai trò lớn đối với nền kinh tế nước ta: vừa tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân, vừa là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các kinh tế đối ngoại của nước ta đồng thời còn góp phần và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất phát triển
Trang 22Theo tính toán của Bộ Thương mại Việt Nam và Ngân hàng thế giới, giá cà phê thế giới và Việt Nam luôn chênh lệch nhau Nếu tính theo giá xuất khẩu trung bình, tổng thiệt hại do chênh lệch về giá cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam trong thời kỳ 2008_2011 lên tới gần 600 triệu USD Có thể thấy điều này qua bảng sau:
Một ví dụ cụ thể nữa, ngành may mặc, dệt may là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam với doanh số xuất khẩu hàng năm lên tới hàng tỷ USD Tuy nhiên, bông, nguyên liệu đầu vào cho ngành dệt may, chiếm tỷ lệ lớn trong giá thành sản phẩm, thì các doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ các thị trường nước ngoài như Mỹ, Ấn Độ… Năm 2010 - 2011, giá bông nguyên liệu tăng
Năm Sản lượng
(tấn)
VN (USD)
TG (USD) Chênh lệch giá
Tổng thiệt hại (USD)
Trang 23hơn gấp đôi, từ 1.500 USD/tấn lên hơn 3.500 USD/tấn, gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may như thua lỗ do đã chốt giá bán từ trước
Qua hai mặt hàng xuất khẩu gạo và cà phê, ta có thể thấy mỗi năm chúng ta
đã để thất thoát hàng trăm triệu USD do sự chênh lệch và biến động giá, đây thật sự
là một bài toán đáng quan tâm cho các doanh nghiệp cũng như cho đất nước ta
2.1.2 Rủi ro, tổn thất do biến động về lãi suất
Năm 2011 đã đi qua với những biến cố đầy kịch tích của nền kinh tế thế giới khi cuộc khủng hoảng nợ công bùng phát cả ở châu Âu và nay là Mỹ Nhiều chuyên gia lo ngại “bóng ma” khủng hoảng tài chính toàn cầu một lần nữa lặp lại trong nửa cuối năm 2011 và kéo dài sang tận năm nay khi S&P đã hạ mức xếp hạng tín dụng của kinh tế Mỹ làm cả thế giới chao đảo và hoảng sợ
Cho dù còn quá sớm để nói về một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới, nhưng rõ ràng là kinh tế thế giới sẽ tiếp tục chao đảo nặng nề trong thời gian dài tiếp theo Đặc biệt, lạm phát toàn cầu sẽ tiếp tục gia tăng nếu Mỹ không có cách nào khác tiếp tục ban hành các gói kích cầu tiêu dùng mới, và thậm chí in thêm đôla để trả nợ
Trước bối cảnh như vậy, kinh tế trong nước vốn đã khó khăn lại càng có nhiều rủi ro Nguy cơ lạm phát tiếp tục cao đồng nghĩa với lãi suất và tỷ giá tiếp tục bất ổn định và khó có thể giảm nhanh trong thời gian tới Các doanh nghiệp tiếp tục phải gồng mình trước sức ép về lạm phát, về rủi ro lãi suất và tỷ giá khi chính sách tiền tệ tiếp tục được thắt chặt, cùng với đó, sự thay đổi chóng mặt của giá vàng đã bắt đầu rục rịch kéo theo sự chuyển dịch của tỷ giá
Có thể thấy rằng những rủi ro về lãi suất và tỷ giá có thể còn sẽ kéo dài và ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp và để trụ vững và tận dụng tốt nhất những cơ hội đang có nhằm tạo đà cho năm 2012 vốn được dự đoán là rất khó khăn trong bối cảnh chung, việc nhận diện các rủi ro về tỷ giá, về lãi suất cũng như đưa ra được các chiến lược thoát ra những vòng xoáy rủi ro trong bối cảnh kinh tế hiện tại là rất cần thiết đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam
Nhìn vào cơ cấu vốn của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay dễ dàng nhận thấy các doanh nghiệp đang dựa vào 2 nguồn tài chính chủ yếu là tín dụng ngân
Trang 24hàng và vốn phát hành cổ phiếu Tuy nhiên hai năm trở lại đây, việc huy động qua
cổ phiếu trong điều kiện thị trường chứng khoán hiện nay đã trở nên hết sức khó
khăn do giá chứng khoán giảm liên tục, thực tế này đã buộc các doanh nghiệp phải
huy động thông qua vay nợ ngân hàng hoặc các công cụ nợ khác (bao gồm trong
nước và nước ngoài), trong đó vay nợ ngân hàng chiếm tỷ lệ khá lớn
Rõ ràng, các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua đã khá thụ động và chưa
phản ứng kịp thời với sự biến động của lãi suất; Do đó doanh nghiệp đã phải “lãnh
đủ” sự rủi ro biến động lãi suất Trong điều kiện cấu trúc tài chính doanh nghiệp
dựa vào ngân hàng như trên và thời hạn vay chủ yếu là ngắn hạn (chiếm hơn 80%
vốn vay ngân hàng), cũng như doanh nghiệp vay bằng ngoại tệ nhiều thì rủi ro lãi
suất và rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua và thời gian tới là
rất cao.Khảo sát của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam năm 2010 cho
thấy chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp được khảo sát chịu đựng được mức lãi suất
vay từ 16-20%/năm; Nhiều doanh nghiệp cho rằng họ sẽ thu nhỏ quy mô sản suất
nếu lãi vay ngân hàng tiếp tục gia tăng cùng với điều kiện môi trường kinh doanh
trở nên khó khăn hơn
Xem xét lợi nhuận doanh nghiệp Xuất nhập khẩu Aquatexbentre và
CADOVIMEX từ năm 2007-2011 ta có thể thấy được sự biến động của lãi suất tác
động đến doanh nghiệp như thế nào, đặc biệt là trong 2 năm 2010- 2011, những rủi
ro, tổn thất mà doanh nghiệp phải đối mặt là hết sức to lớn
Năm LSDV AQUATEXBENTRE Nợ TTS TTS CADOVIMEX Nợ
Trang 25Q3 10.50% 33,169,897,988 0.16 4,469,288,749 0.83 Q4 13.50% 41,750,611,011 0.18 2,336,079,623 0.81
2010 Q1 16.00% 25,062,859,426 0.14 1,853,909,059 0.82 Q2 14.00% 49,947,987,492 0.09 41,742,030 0.82 Q3 18.00% 17,260,305,541 0.11 12,008,094,663 0.82 Q4 20.00% 13,542,238,606 0.26 -20,736,094,681 0.82
2011 Q1 17.50% 33,148,076,436 0.13 -5,889,988,093 0.84 Q2 22.00% 26,554,742,890 0.24 -4,376,631,277 0.86 Q3 19.00% 19,868,722,877 0.24 -9,859,412,159 0.83 Q4 19.00% 24,323,530,520 0.18 -272,024,450,857 1.48
Nếu tính từ năm 2007 thì những ảnh hưởng từ biến động lãi suất là không đáng kể thế
Hệ số tương quan giữa lãi suất đi vay với lợi nhuận của doanh nghiệp gần bằng 0 Thế nhưng chỉ trong hai năm 2010- 2011, sự biến động lãi suất lại gây ảnh hưởng to lớn đến doanh nghiệp