1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng thương mại việt nam hiện nay

16 637 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản trị rủi ro tác nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Tác giả Trương Thị Trang Thanh, Võ Thị Như Quỳnh, Nguyễn Thị Thu Trang, Đặng Hữu Thủy, Lê Kiều Mi, Trần Văn Thành Nhân
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Huy Hoàng
Chuyên ngành Quản trị rủi ro
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 242,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NHTM: 1.1 Khái niệm Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì Rủi ro tác nghiệp hay còn gọi là rủi ro hoạt động là rủi ro gánh

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

…… …………

Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2012

Giáo viên hướng dẫn

PGD.TS TRẦN HUY HOÀNG

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG

NHTM: 1.1 Khái niệm 4

1.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động NHTM 4

1.3 Quản trị rủi ro tác nghiệp NHTM 6

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NHTM TẠI VIỆT NAM: 10

2.1 Một số ví dụ về rủi ro hoạt động trong các NHTM: 10

2.2 Bài học kinh nghiệm: 14

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG NHTM VIỆT NAM HIỆN NAY 14

3.1 Về vấn đề yếu tố con người: 14

3.2 Về nghiệp vụ: 14

3.3 Về hệ thống: 15

Trang 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÁC NGHIỆP

TRONG HOẠT ĐỘNG NHTM:

1.1 Khái niệm

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì Rủi ro tác nghiệp (hay còn gọi là rủi ro hoạt động) là rủi ro gánh chịu những khoản thua lỗ bắt nguồn trực tiếp hay gián tiếp từ sự thiếu hiệu quả hay không hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, của nguồn nhân lực hay từ các sự kiện bên ngoài (Basel Committee on Banking Supervision,2001)

Ví dụ: Thông tin sai sự thật về khách hàng, về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh, tính thanh khoản, quản trị điều hành của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp; cán bộ ngân hàng thông đồng với khách hàng lập hồ sơ khống để vay vốn; cán bộ ngân hàng nâng giá trị tài sản đảm bảo để cho vay mục đích nhận “thù lao”; cán bộ ngân hàng quản lý khách hàng vay vốn trực tiếp thu nợ gốc và lãi vay ngân hàng nhưng chỉ nộp lãi vào ngân hàng, nợ gốc giữ lại chi tiêu cá nhân

1.2 Phân loại rủi ro trong hoạt động NHTM

1.2.1 Rủi ro từ bên trong nội bộ ngân hàng

1.2.1.1 Rủi ro do cán bộ ngân hàng:

- Thực hiện các nghiệp vụ, nhiệm vụ không được uỷ quyền hoặc phê duyệt vượt quá thẩm quyền cho phép

- Không tuân thủ theo quy định, quy trình nghiệp vụ của Ngân hàng, NHNN và các văn bản pháp luật hiện hành

- Có hành vi lừa đảo và/hoặc hành động phạm tội, câu kết với đối tượng bên ngoài gây thiệt hại cho Ngân hàng

- Thiếu trách nhiệm trong công việc, không nắm rõ quy trình quy chế của Ngân Hàng

- Trình độ chuyên môn kém, không đáp ứng được yêu cầu của công việc

1.2.1.2 Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ:

- Có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, vì vậy dễ tạo kẽ hở cho Cán bộ ngân hàng lợi dụng để gây thiệt hại cho Ngân hàng

- Nhiều Quy định còn chồng chéo lên nhau, hướng dẫn không rõ ràng và chưa phù hợp, gây khó khăn cho cán bộ tác nghiệp trong Ngân hàng

1.2.1.3 Rủi ro từ hệ thống công nghệ thông tin:

- Do dữ liệu không đầy đủ hoặc hệ thống bảo mật thông tin không an toàn

Trang 5

- Do thiết kế hệ thống không phù hợp, gián đoạn của hệ thống (xử lý, truyền thông, thông tin) và/hoặc do các phần mềm /các chương trình hỗ trợ cài đặt trong hệ thống lỗi thời, hỏng hóc hoặc không hoạt động

Ví dụ như Phần mềm quản lý khách hàng được thiết kế chưa đầy đủ, gây khó khăn cho cán bộ nghiệp vụ khi sử dụng

Hệ thống xếp hạng khách hàng thường xuyên bị lỗi gây ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin để ra quyết định cấp tín dụng

1.2.1.4 Rủi ro từ các hệ thống hỗ trợ khác:

- Do cơ chế, quy chế về công tác hỗ trợ chưa phù hợp, chưa đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ cho bộ phận nghiệp vụ

1.2.2 Rủi ro do các tác động bên ngoài:

- Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp và/hoặc phạm tội của các đối tượng bên ngoài Ngân hàng

- Rủi ro do các sự kiện bên ngoài và/hoặc do tự nhiên (động đất, bão ) gây gián đoạn /thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

- Rủi ro các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng

Phân loại rủi ro hoạt động kinh doanh trong Ngân hàng

Trang 6

1.3 Quản trị rủi ro tác nghiệp NHTM

1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tác nghiệp

Rủi ro ngân hàng tạm chia thành 4 nhóm: rủi ro thị trường (lãi suất, ngoại hối, chứng khoán…); rủi ro tín dụng (người vay vỡ nợ hoặc các sự cố tín dụng khác…); rủi ro thanh khoản (mất khả năng chi trả dẫn đến rút tiền ồ ạt) và rủi ro tác nghiệp

Trong số 4 nhóm rủi ro nói trên thì nhóm rủi ro tác nghiệp hay còn gọi là rủi ro vận hành rất khó quản trị vì chúng liên quan trực tiếp đến công nghệ và đạo đức cán bộ ngân hàng

Vì vậy vấn đề đặt ra cho các NHTM là làm sao để quản trị rủi ro tác nghiệp một cách hiệu quả Điều này có nghĩa là Rủi ro không phải không xảy ra nhưng nó xảy ra có thể dự đoán trước và ngân hàng kiểm soát được

QTRR tác nghiệp là quá trình TCTD tiến hành các hoạt động tác động đến rủi ro tác nghiệp, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống chính sách, phương pháp quản

lý rủi ro tác nghiệp để thực hiện quá trình quản lý rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm soát Rủi ro tác nghiệp nhằm bảo đảm hạn chế ở mức thấp nhất.

1.3.2 Mục tiêu quản trị rủi ro tác nghiệp

- Hạn chế, giảm thiểu các chi phí, tổn thất có thể xảy ra từ các hoạt động tác nghiệp

- Giảm vốn dành cho rủi ro tác nghiệp, tăng thêm nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh

- Bảo vệ uy tín của Ngân hàng, đạt mục tiêu hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả

1.3.3 Nội dung công tác quản trị rủi ro tác nghiệp của ngân hàng thương mại

Trang 7

1.3.3.1 Nhận diện rủi ro tác nghiệp

- Các ngân hàng thương mại nhận diện rủi ro tác nghiệp theo các nội dung: nhận diện nguy cơ rủi ro, nguyên nhân gây ra rủi ro, đối tượng và mức độ rủi ro Thông thường nhận diện rủi ro tác nghiệp tại NHTM được thực hiện thông qua 7 nhóm dấu hiệu sau:

Dấu hiệu rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc:

+ Rà soát, đánh giá về mô hình tổ chức, cơ cấu bộ máy nhân sự của Ngân hàng

+ Rà soát về quy trình tuyển dụng, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc của nhân viên ngân hàng

Nhóm dấu hiệu liên quan đến chính sách, quy trình nội bộ:

Rà soát các quy định để trách nhiệm những quy định đã lỗi thời nhưng vẫn được áp dụng, những hướng dẫn chồng chéo lên nhau…

Dấu hiệu liên quan đến gian lận bên ngoài

Dấu hiệu liên quan đến gian lận nội bộ

Dấu hiệu liên quan đến quá trình xử lý công việc

Phân bổ vốn cho Quản lý RRTN

Kiểm soát RRTN

Báo cáo RRTN

Xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng ngừa RRTN

Đo lường RRTN

Nhận diện rủi ro tác nghiệp

Quản trị Rủi ro tác nghiệp

Trang 8

Dấu hiệu liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin

Dấu hiệu liên quan đến thiệt hại tài sản 1.3.3.2 Đo lường rủi ro tác nghiệp

- Phương pháp định tính: là việc phân tích đánh giá chủ quan của NHTM về mức độ của rủi ro, tính nghiêm trọng của những dấu hiệu rủi ro đã được xác định Phương pháp này thường được sử dụng để đo lường rủi ro liên quan đến dấu hiệu mô hình tổ chức, cán bộ và dấu hiệu về chính sách và quy trình nội bộ

- Phương pháp định lượng: là việc đánh giá bằng số liệu cụ thể về mức độ rủi ro tổn thất

cụ thể từng dấu hiệu rủi ro Đối với đo lường định lượng thì việc lưu trữ dữ liệu là quan trọng nhất NHTM phải lưu trữ ít nhất là 3 năm dữ liệu RRTN và chất lượng dữ liệu phải có kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính đúng đắn trong việc tính toán Hơn nữa trong đo lường định lượng mức

độ tổn thất cũng rất phức tạp, bởi 1 sự kiện RRTN có thể gây tổn thất làm phá sản một hệ thống ngân hàng, nhưng cũng có rất nhiều sự kiện rủi ro thường hay phát sinh lại gây tổn thất rất nhỏ

Phương pháp này thường được sử dụng để đo lường rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ thông tin, gian lận nội bộ, gian lận bên ngoài

Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì có 3 phương pháp đo lường rủi ro hoạt động là:

– Basic Indicator Approach

– Standardized Approach

– Internal Measurement Approach

Các phương thức đo lường tăng dần tính phức tạp theo thứ tự từ trên xuống Tính phức tạp cũng đi kèm với các điều kiện của hệ thống quản trị

Cụ thể từng phương pháp như sau:

* Basic Indicator Approach

Dự trữ tối thiểu = Tổng thu nhập * α

Trong đó: α= 15%

* Standardized Approach: Phương pháp này chia hoạt động của ngân hàng làm 7 loại

hoạt động (business line), tương ứng với mỗi loại hoạt động sẽ có hệ số β khác nhau Mức dự trữ tối thiểu được tính theo công thức:

Dự trữ = EI * β

EI: exposure indicator

 EI: exposure indicator

β: capital factor

 EI: exposure indicator

Business line Beta factor Exposure indicator

Trang 9

Trading and sales 18% Gross income

Commercial banking 15% Annual average assets

Payment and Settlement 18% Annual settlement throughput

Asset management 12% Total funds under management

* Internal Measurement Approach

Chia thành các loại hình hoạt động như Standardized Approach

- Mỗi loại hình hoạt động lại được xem xét trên các khía cạnh rủi ro khác nhau

- Áp dụng phương thức này đòi hỏi các ngân hàng phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe về quản trị

1.3.3.3 Xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng ngừa rủi ro tác nghiệp

QTRR tác nghiệp là công việc chung của cả hệ thống trong một NHTM, đặc biệt là các nhân viên, vì rủi ro tác nghiệp xuất hiện trong công việc hàng ngày của họ Ngân hàng phải phân chia cấp độ quản lý rủi ro một cách rõ ràng và minh bạch QTRR tác nghiệp được chia làm 3 cấp: Cấp độ chiến lược, cấp độ vĩ mô và vi mô Một số nội dung cơ bản của phương pháp phòng ngừa rủi ro:

+ Ban hành, bổ sung chính sách và quy định

+ Tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội bộ

+ Đào tạo và tập huấn cho cán bộ

+ Xây dựng kịch bản

+ Ban hành xử phạt đối với hành vi vi phạm trong quá trình tác nghiệp

+ Kế hoạch phân bổ để phòng ngừa rủi ro tác nghiệp

1.3.3.4 Báo cáo rủi ro tác nghiệp

Thông qua việc giám sát rủi ro tác nghiệp, thực hiện báo cáo chi tiết và báo cáo tổng thể lên cấp có thẩm quyền để thực hiện kiểm soát rủi ro, tránh xảy ra tiếp tục

1.3.3.5 Kiểm soát rủi ro tác nghiệp

Đây là bước quan trọng trong khung quản trị rủi ro tác nghiệp NHTM sẽ tự mình đặt ra mục tiêu mong muốn để thực hiện QTRR tác nghiệp Dựa vào mục tiêu đó, NH sẽ tiến hành kiểm soát các nhân tố rủi ro ảnh hưởng đến mục tiêu của mình Một số giải pháp kiểm soát rủi ro như:

+ Tăng cường giám sát cán bộ

+ Phòng ngừa rủi ro liên quan đến nghiệp vụ cụ thể: khâu giao nhận và xử lý chứng từ, khâu thực hiện quá trình giao dịch

Trang 10

+ Giải pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro công nghệ …

1.3.3.6 Phân bổ vốn cho quản lý rủi ro tác nghiệp

Phân bổ vốn hiệu quả nhằm khai thác những lợi ích/rủi ro khác nhau trong quá trình kinh doanh

Basel II đưa ra 3 phương pháp tính toán vốn dự phòng RRTN 2 phương pháp: Chỉ số cơ bản BIA và Tiêu chuẩn hóa SA tính tỷ lệ vốn dựa trên thu nhập của toàn ngân hàng (BIA), hoặc dựa trên thu nhập theo từng Khối kinh doanh của Ngân hàng (SA), thường đưa lại mức vốn dự phòng rất cao

Phương pháp thứ 3 - đo lường tiên tiến, nhạy cảm với rủi ro nhất, tính toán mức vốn dự phòng phù hợp dựa trên dữ liệu tổn thất thực tế của Ngân hàng

CH ƯƠNG II NG II : TH C TR NG R I RO TÁC NGHI P TRONG HO T ỰC TRẠNG RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ẠNG RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ỆP TRONG HOẠT ẠNG RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT

Đ NG C A M T S NHTM T I VI T NAM: ỘNG CỦA MỘT SỐ NHTM TẠI VIỆT NAM: ỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ỘNG CỦA MỘT SỐ NHTM TẠI VIỆT NAM: Ố NHTM TẠI VIỆT NAM: ẠNG RỦI RO TÁC NGHIỆP TRONG HOẠT ỆP TRONG HOẠT

2.1 Một số ví dụ về rủi ro hoạt động trong các NHTM:

2.1.1 Rủi ro do yếu tố con người

* Tình huống 1:

Vụ việc được ngân hàng phát hiện vào ngày năm 2009, qua công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ Ngân hàng SHB phát hiện thấy nhân viên có biểu hiện lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, tự hạch toán chuyển trên 24 tỷ đồng từ các tài khoản chi trả của ngân hàng vào một tài khoản khống để chiếm đoạt

Trong quá trình công tác nhân viên này đã lập một tài khoản khống , rồi sử dụng user của một nhân viên đã từng công tác tại Phòng truy cập vào hệ thống máy tính của ngân hàng Để tránh bị phát hiện,nhân viên tự ký tên đưa vào lưu tại mục thông tin cá nhân trên hệ thống chữ ký mẫu của khách hàng, rồi dùng quyền kiểm soát viên của mình phê duyệt để được hệ thống xác nhận Với tài khoản khống đã lập trước đó, tạo ra các giao dịch thanh toán từ nhiều sổ tiết kiệm không có thật để rút tiền của ngân hàng

Trong thời gian từ tháng 8/2008 đến tháng 9/2009 chiếm đoạt số tiền gần 24 tỷ 500 triệu đồng của Ngân hàng SHB.Và đối tượng bị khởi tố về tội tham ô tài sản

*Tình huống 2

Vụ án lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hơn 5.000 tỷ đồng của một bà Như -Giám đốc Vietinbank – CN Quận 7 Sử dụng các hợp đồng ủy thác đầu tư vốn, thông qua các công ty “sân

Trang 11

sau”, bà Như và những người có liên quan đã đưa hàng loạt nạn nhân vào tròng, trong đó có không ít doanh nghiệp tên tuổi, những đại gia có máu mặt

Thủ đoạn lừa đảo của Giám Đốc Vietinbank Danh sách nạn nhân của trong đó có hàng loạt doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực bất động sản, dệt may, sản xuất, kinh doanh thương mại và một số ngân hàng Đặc biệt, hàng loạt người thân, bạn bè của y cũng trở thành nạn nhân

Bẫy nạn nhân bằng hợp đồng “ủy thác đầu tư”

Theo cam kết của bà Như, nếu gửi tiền tại ngân hàng X, ngoài mức lãi suất được trả cao hơn 2% so với mức lãi trần theo quy định, công ty K còn được hưởng nhiều ưu đãi khác như được rút tiền bất cứ lúc nào với mức lãi suất không thay đổi, được mua ngoại tệ với giá gốc

Tuy nhiên, điều kiện của bà Như là thay vì mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng X, công

ty K phải ký với ngân hàng X một hợp đồng “ủy thác đầu tư vốn nguyên tắc”, trong đó có điều khoản yêu cầu công ty K gửi tiền vào tài khoản của một doanh nghiệp do ngân hàng X chỉ định

và nhận tiền lãi (hoặc gốc nếu cần) từ một ngân hàng thứ ba do ngân hàng X ủy nhiệm chi

Giải thích về hợp đồng ủy thác đầu tư này, bà Như cho biết đây là hình thức “hợp thức hóa” việc trả lãi cao, tránh bị phát hiện và xử lý do trả lãi vượt trần “Thấy chúng tôi không an tâm, cô Như đã đưa ra một hợp đồng ủy thác đầu tư giữa ngân hàng X và một doanh nghiệp khá nổi tiếng trong ngành dệt may với giá trị lên tới hơn 200 tỉ đồng, nên chúng tôi mới tin và đặt bút ký” - chị T rầu rĩ nói Theo lời chị T., ngoài số dư còn lại trên tài khoản trước đó, công ty K vừa chuyển gần 20 tỉ đồng vào tài khoản Công ty CP Ph.Đ do bà Như chỉ định mới đây, tổng cộng số tiền mà công ty K có thể bị mất lên tới gần 50 tỉ đồng

Với cái mác có địa vị trong xã hội, lại quen nhiều biết rộng, bà Như đã sử dụng chiêu bài

“ủy thác đầu tư” và dễ dàng đưa các nạn nhân này vào tròng Dù lấy danh nghĩa ngân hàng X nhưng toàn bộ số tiền của các nạn nhân đều được chuyển thẳng vào tài khoản các công ty “sân sau” của bà Như cũng như nhóm người liên quan Có thông tin cho biết có ít nhất năm công ty

Trang 12

“sân sau” trong đường dây lừa đảo của bà Như như Công ty CP Ph.Đ, Công ty TNHH xây dựng sản xuất và tư vấn C….Trong số các công ty “sân sau”, có đơn vị mà lượng tiền được các đơn vị

ủy thác đầu tư vốn chuyển vào (và rút ra) lên tới hơn 900 tỉ đồng Một nạn nhân của bà Như khẳng định ngoài lòng tham lãi suất cao, một trong những lý do nạn nhân này chấp nhận chuyển tiền vào tài khoản các công ty được chỉ định thay vì ngân hàng là thấy có rất nhiều công ty lớn, những người có uy tín cũng tham gia

Trường hợp rủi ro do hành vi của nhân viên làm uy tín hình ảnh của ngân hàng bị sụt giảm nghiêm trọng

2.1.2 Rủi ro về quy trình nghiệp vụ

* Tình huống chủ quan

Thực tế, quy trình cho vay của các ngân hàng được xây dựng khá chặt chẽ và hạn chế hầu hết rủi ro Vấn đề là rủi ro xảy ra thường do quy trình bị bỏ sót hoặc do nhân viên non kém nghiệp vụ không thẩm định, tìm hiểu kỹ lưỡng

Từng có ngân hàng cho vay và nhận thế chấp nhà đất ở Nam Định, để cho "tiện", nhân viên ngân hàng đã đồng ý ký hợp đồng thế chấp tại trụ sở ngân hàng và để khách hàng tự mang

đi làm hộ thủ tục công chứng hợp đồng và đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ở Nam Định Khi khách hàng trả hồ sơ thì thấy đều hợp lệ nên ngân hàng tiến hành giải ngân Đến khi khách hàng không trả được nợ, ngân hàng đi kiểm tra mới phát hiện ra tại địa chỉ

đó không có nhà và cũng không có giấy tờ nhà đất hàng đã làm giả giấy tờ, hồ sơ để vay được tiền Những trường hợp giấy tờ giả khá phổ biến trong hệ thống ngân hàng, có trường hợp làm giả toàn phần, có trường hợp sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm từ phôi thật (chỉ giả một nửa) nên rất khó nhận biết

*Tình huống khách quan

Cách đây vài năm, một ngân hàng TMCP lâm vào tình huống dở khóc dở cười khi tài sản bảo đảm là nhà đất của một khoản vay trôi tuột theo một vụ sạt lở đất Ngân hàng chỉ còn cách chấp nhận mất khoản vay đó, bởi "con nợ" không có khả năng trả nợ, mà tài sản bảo đảm nay đã biến mất

Tương tự, các vụ sạt lở đất tại Thanh Đa (quận Bình Thạnh, TP HCM) đã chôn vùi vào lòng sông hàng chục căn hộ và cũng cuốn theo khối tài sản không nhỏ của ngân hàng được dùng

để thế chấp Thế nên, nhiều ngân hàng đã yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm cho tài sản bảo đảm

2.1.3 Rủi ro về hệ thống

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w