Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin là môn học được đào tạo ở hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng. Tài liệu được soạn dựa trên tập bài giảng, giáo trình để phục vụ việc ôn tập. Tài liệu chỉ mang tính tham khảo
Trang 1ÔN TẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
Câu 1 Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin? Rút ra ý nghĩa phương pháp luận
V.I.Lênin đã tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, đồng thời kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen để đưa ra định nghĩa kinh điển
về vật chất:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Ví dụ: các sự vật như: nguyên tử, phân tử… các hiện tượng như: nắng, mưa, thủy triều… chúng tồn tại một cách khách quan
Định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin cho thấy:
Thứ nhất, cần phân biệt khái niệm “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học (phạm
trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất và được xác định từ góc độ giải quyết vấn đề cơ bản của triết học) với khái niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành (khái niệm dùng để chỉ những dạng vật chất cụ thể, cmr tính)
Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi dạng vật chất là thuộc tính tồn tại khách quan, tức là tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con
người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó
Thứ ba, vật chất, dưới những dạng cụ thể của nó là cái có thể gây nên cảm giác ở con
người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất; vật chất là cái được ý thức phản ánh
Định ngĩa về vật chất của V.I.Lênin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duy vật và nhận thức khoa học:
Một là, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm vật chất với tư cách
là một phạm trù triết học vói khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù của các khoa học chuyên ngành, từ đó khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ; cung cấp nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất; tạo lập
cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về xã hội
Hai là, khi khẳng định vật chất là “thực tại khách quan”, “được đem lại chon con
người trong cảm giác” và “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh”, V.I.Lênin không những đã khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức theo quan điểm duy vật mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan thông qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan
Trang 2Câu 2 Phân tích nguồn gốc và bản chất của ý thức
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác - Lenin là một phạm trù song song với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ hữu cơ với vật chất
a) Nguồn gốc của ý thức: Theo quan điểm của duy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc
tự nhiên và nguồn gốc xã hội
*Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc tự nhiên của ý
thức, trong đó có hai yếu tố cơ bản nhất là bộ óc người và mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiện tượng phản ánh năng động, sáng tạo.
-Về bộ óc người: ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc
người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc
-Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo nên hiện tượng phản ánh năng động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu
ngay từ khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan phản ánh thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đên bộ óc người, hình thành nên ý thức
Ví dụ : Một đứa trẻ ở vùng cao chưa bao giờ đến biển, không có tivi để xem, nó không thể tưởng tượng sóng biển là thế nào; ngược lại một em bé ở đồng bằng, chưa bao giờ nhìn thấy con hươu, con nai - bắt nó tả về chúng sẽ không thể tả được
-Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh được thể hiện dưới nhiều
hình thức, trình độ: phản ánh vật lý, hóa học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo
+Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh vật lý, hóa học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý - hóa qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh
Ví dụ: Thanh sắt để ngoài không khí lâu ngày sẽ bị gỉ sắt
+Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ
Ví dụ: Hoa hướng dương hướng về phía mặt trời, khi tay chạm vào vật nóng thì rụt lại…
+Phản ánh tâm lý là phản ánh của động vật có hệ thân kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiên của hệ thần kinh thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện
Ví dụ: Học sinh vui mừng khi được điểm cao…
Trang 3+Phản ánh năng động, sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là
bộ óc người
Ví dụ: Hoạt động nghiên cứu khoa học của con người…
*Nguồn gốc xã hội của ý thức: Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của ý thức;
trong đó, cơ bản nhất và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ.
-Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình
-Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thế hiện
-Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính xã hội Mối quan hệ giữa các thành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để giao tiếp, trao đổi tư tưởng, khái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thể hệ này qua thể hệ khác
Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động
b) Bản chất của ý thức: Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan
vào bộ óc người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
-Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh được thể hiện ở chỗ con người có khả
năng định hướng tiếp nhận, chọn lọc, xử lý, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có nó có thể tạo ra những thông tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận
-Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó thể hiện ở chỗ: Ý thức là
hình ảnh về thế giới khách quan, bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung và về hình thức biểu hiện, nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông qua tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu… của con người
-Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Sự ra đời và tồn tại của ý
thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật tự nhiên
mà còn của các quy luật xã hội Với tính năng động, ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội
Câu 3 Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Rút ra ý nghĩa
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thê giới khách quan vào bộ óc người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Trang 4Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng Trong mối quan hệ này, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức, song
ý thức không hoàn toàn thụ động mà nó có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
a) Vai trò của vật chất đối với ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
- Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức
- Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức, hoặc là chính bản thân thế giới vật chất, hoặc là những dạng tồn tại của vật chất đã khẳng định vật chất
là nguồn gốc của ý thức
- Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất
VD: Người dân sống ở nông thôn thì tư duy của họ là sản xuất nông nghiệp; thế giới theo hướng toàn cầu hóa kinh tế đương nhiên nước ta phải đổi mới tư duy thì mới có thể hội nhập…
b) Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
-Ý thức trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, giúp con người xác định mục tiêu, đề ra phương huớng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu của mình Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
-Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình - đó là sự tác động tích cực cúa ý thức Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan thì hành động của con người sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan
VD: Trước thời kỳ đổi mới…
Tóm lại, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người
c) Ý nghĩa
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc ý thức, quyết định ý thức; song, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy, con người phải tôn trọng tính khách quan,
Trang 5đồng thời phát huy tính năng động, chủ quan của mình Nếu không tôn trọng khách quan
sẽ dẫn đến bệnh chủ quan
- Ý thức có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan Ngược lại, ý thức, tư tưởng cũng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan Nếu quá coi trọng tính khách quan sẽ dẫn đến bệnh bi quan Vì vậy, phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, đồng thời khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại
Câu 4 Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Ý nghĩa
a)Khái niệm nguyên lý mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
- Nguyên lý là những luận điểm về học thuyết lý luận mà tính chân lý của chúng là hiển
nhiên, không cần chứng minh, được xác định trong tư duy con người, có chức năng lý giải mọi sự vật hiện tượng VD: Trái Đất tự quay quanh trục của nó…
-Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và
chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
VD: Mối liên hệ giữa cung và cầu: cung và cầu quy định lẫn nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau, từ đó tạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cả cung và cầu
-Còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của
các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới
b) Tính chất của các mối liên hệ
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của các mối liên hệ
- Tính khách quan của các mối liên hệ
+Sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình
+Ví dụ: Sự phụ thuộc của cơ thể sinh vật vào môi trường, khi môi trường thay đổi thì
cơ thể sinh vật cũng phải thay đổi để thích ứng với môi trường Mối liên hệ đó không phải
do ai sáng tạo ra, mà là cái vốn có của thế giới vật chất
- Tính phổ biến của các mối liên hệ
+Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với các sự vật , hiện tượng khác Không
có sự vật nào nằm ngoài mối liên hệ Nó tồn tại trong tất cả các mặt: tự nhiên, xã hội và tư duy Mối liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, nó thể hiện tính thống nhất vật chất thế giới
Trang 6+Ví dụ: Trong tự nhiên ( mối liên hệ mặt trời và mặt trăng); trong xã hội(các hình thái kinh tế xã hội: CXNT-CHNL-PK-TBCNCS); trong tư duy ( lớp 1-2-3-5 V.V )
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
+Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật, hiện tượng nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau
+Ví dụ: các loái cá, chim , thú đều có quan hệ với nước, nhưng cá quan hệ với nước khác với chim và thú Cá sống thường xuyên trong nước, không có nước thường xuyên thì
cá không thể tồn tại được, nhưng các loài chim và thú thì lại không sống trong nước thường xuyên được
c) Ý nghĩa phương pháp luận
- Từ tính khách quan và phổ biển của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác
- Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể
Câu 5 Phân tích nguyên lý về sự phát triển Ý nghĩa
a) Khái niệm phát triển
- Nguyên lý là những luận điểm về học thuyết lý luận mà tính chân lý của chúng là hiển
nhiên, không cần chứng minh, được xác định trong tư duy con người, có chức năng lý giải mọi sự vật hiện tượng VD: Trái Đất tự quay quanh trục của nó…
- Trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự
vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với khái niệm "vận động" (biến đổi) nói chung; đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng hay sự biến
Trang 7đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn
b) Tính chất của sự phát triển
Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
- Tính khách quan: Phát triển mang tính khách quan - nghĩa là phát triển của sự vật là
tự thân, nguồn gốc của phát triển nằm ngay trong sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người
- Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong
mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
VD: Trong tư duy (không biết – biết – biết nhiều); trong tự nhiên (quá trình phát triển của loài người); trong xã hội (quá trình phát triển trong nông nghiệp, công nghiệp)…
- Tính đa dạng, phong phú
+Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau
Ví dụ: Ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ so với trẻ em ở thế hệ trước
+Do tồn tại ở thời gian, không gian khác nhau, sự vật sẽ phát triển khác nhau
Ví dụ: Hạt giống được gieo trồng ở không gian, thời gian khác nhau sẽ có sự phát triển khác nhau
c) Ý nghĩa phương pháp luận
-Khi nhận thức sự vật phải nhận thức nó trong sự vận động, phát triển; không nhìn nhận
sự vật đứng im, chết cứng, không vận động, không phát triển
-Quan điểm phát triển đòi hỏi phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, ngại khó, ngại đổi mới, dễ bằng lòng với thực tại
Ví dụ: Nếu chúng ta tuyệt đối hoá nhận thức, nhất là nhận thức khoa học về sự vật hay hiện tượng nào đó thì các khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn sẽ không thể phát triển
và thực tiễn sẽ dậm chân tại chỗ
- Phát triển là khó khăn, phức tạp Vì vậy, trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vào tương lai Như vậy, quan điểm triết học Mác-Lênin về phát triển là cơ sở lý luận của quan điểm phát triển
Câu 6 Phân tích quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Ý nghĩa
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa
các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Ví dụ
Trang 8Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là "hạt nhân" của phép biện chứng Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển Theo quy luật này, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển chính là mâu thuẫn khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng
a) Khái niệm mâu thuẫn
Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mật đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau
Thí dụ, điện tích âm và điện tích dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa của một cơ thể sống, sản xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh tế của xã hội, chân lý và sai lầm trong quá trình phát triển của nhận thức…
b) Các tính chất chung của mâu thuẫn
-Tính khách quan: mâu thuẫn là nguồn gốc vận động của mọi dạng vật chất vật chất tồn tại khách quan nên mâu thuẫn cũng tồn tại khách quan Nó là cái vốn có trong sự vật, không lệ thuộc vào ý thức con người và các lực lượng siêu nhiên
-Tính phổ biến: trong bất kể sự vật, hiện tượng nào, ở bất cứ địa điểm nào, thời gian nào cũng tồn tại những mặt đối lập
- Tính đa dạng, phong phú: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật
Ví dụ: thống trị >< bị trị, sản xuất >< tiêu thụ, hít vào >< thở ra, thành công >< thất bại, lực hấp dẫn >< lực ly tâm…
c) Quá trình vận động của mâu thuẫn
- Trong mỗi mâu thuẫn thì các mặt đối lập luôn thống nhất và đấu tranh với nhau
- Thống nhất dùng để chỉ sự liên hệ ràng buộc không tách rời nhau, quy định lẫn nhau giữa các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại Sự thống nhất giữa các mặt đối lập còn bao hàm cả sự đồng nhất của các mặt đó
Ví dụ: Giai cấp vô sản và sự giàu có là hai mặt đối lập, chúng hợp thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, thống nhất, chế độ tư hữu với tư cách là sự giàu có buộc phải duy trì vĩnh viễn ngay cả khi sự tồn tại của các mặt đối lập của nó là giai cấp vô sản
- Do có sự “đồng nhất” của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đến một lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau
- Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn “đấu tranh” với nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa
Trang 9các mặt đó Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, vào mối liên hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tùy vào điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng
- Sự phát triển của sự vật, hiện tượng gắn liền với quá trình hình thành, phát triển và giải quyết mâu thuẫn Do đó sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) chỉ
là tương đối còn đấu tranh là tuyệt đối Ví dụ: Trong xã hội nguyên thủy…
d) Các loại mâu thuẫn
- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài: xem xét mối quan hệ giữa các mặt của
sự vật mới với bản than sự vật đó VD
- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: dựa vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật Mâu thuẫn quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật là mâu thuẫn cơ bản và ngược lại
VD: Ví dụ, trong một quốc gia nào đó có ba chủ thể là giai cấp tư sản, giai cấp vô sản và giai cấp tiểu tư sản, tương ứng có ba mâu thuẫn là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp tiểu tư sản, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tiểu tư sản Trong ba mâu thuẫn ấy thì mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản là cơ bản; hai mâu thuẫn còn lại là không cơ bản
- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu: căn cứ vào vai trò đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật VD: Trong giai đoạn thực hiện cuộc CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ để giải phóng Dân tộc, mâu thuẫn chủ yếu của DÂN TỘC VIỆT NAM là: Mâu thuẫn giữa DÂN TỘC VIỆT NAM với đế quốc, thực dân xâm lược
- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng: xét về mặt lợi ích cơ bản là đối lập nhau giữa các giai tầng trong xã hội VD: mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, giữa địa chủ và nông dân…; mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa nông thôn và thành thị, mâu thuẫn giữa các bộ phận công nhân…
e) Ý nghĩa
-Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển, do vậy, trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển
-Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể Tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp Trong quá trình hoạt động nhận thức
và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất
Câu 7 Phân tích quy luật lượng đổi chất đổi Ý nghĩa
Trang 10Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi một sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Ví dụ
Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là
sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật, hiện tượng VD: muối có vị mặn, đường có vị ngọt…
Khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về
các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
VD: tòa nhà cao 70 tầng, tòa nhà rộng 8000m2…
Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng hay một quá trình nào đó trong tự nhiên, xã hội và tư duy Hai phương diện đó đều tồn tại khách quan Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng trong quá trình nhận thức về sự vật, hiện tượng chỉ có ý nghĩa tương đối: có cái trong mối quan hệ này đóng vai trò là chất nhưng trong mối quan hệ khác lại là lượng
Khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng
giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng Vì vậy, trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác
Khi lượng thay đổi đền một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi về
chất Giới hạn đó chính là điểm nút
Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điếm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn
đến sự ra đời của chất mới Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận động, phát triển
của sự vật, hiện tượng
Ví dụ, xét “nước” (H20) nguyên chất, trong điều kiện atmotphe nước ở trạng thái thể lỏng (chất) được quy định bởi lượng nhiệt độ (lượng) từ 0°C đến 100°C (độ) Khi lượng nhiệt độ biến thiên nằm ngoài khoảng giới hạn 0°C hoặc 100°C đó (điểm nút) thì tất yếu xảy ra quá trình biến đổi trạng thái của nước từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn hoặc khí (bước nhảy)
- Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng với tư cách là phương thức vận động, phát triển của sự vật
+ Chất và lượng của sự vật là hai mặt của cùng một sự vật, chúng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau: tương ứng với một loại lượng nhất định thì cũng có một loại chất tương ứng và ngược lại
Ví dụ, tương ứng với cấu tạo H - O - H (cấu tạo liên kết nguyên tử hyđrô và 1 nguyên
tử ôxy) thì 1 phân tử nước (H20) được hình thành với tập hợp các tính chất cơ bản, khách quan, vốn có của nó là: không màu, không mùi, không vị, có thể hoà tan muối, axít, + Vì giữa chúng có mối quan hệ quy định lẫn nhau như vậy, nên những sự biến đổi về lượng sẽ tất yếu có khả năng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại