1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với việt nam

93 625 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với việt nam
Tác giả Dơng Thị Vĩnh Hà
Trường học Khoa Kinh Tế Ngoại Thương
Chuyên ngành Kinh Tế Ngoại Thương
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 828,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cho đến nay, những cách hiểu về nềnkinh tế tri thức còn rất khác nhau ở từng quốc gia nhng có một điểm chung mà hầuhết các ý kiến đều nhất trí là nền kinh tế này là kết quả của một nề

Trang 1

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Lời mở đầu

Chơng I: Khái quát về nền kinh tế tri thức 1

I Quá trình hình thành nền kinh tế tri thức 1

1 Vai trò của tri thức đối với phát triển 1

2 Sự ra đời nền kinh tế tri thức trên thế giới 3

II Khái niệm và đặc trng của nền kinh tế tri thức 6

1 Khái niệm nền kinh tế tri thức 6

2 Những đặc trng chủ yếu của nền kinh tế tri thức 8

2.1 Tri thức khoa học công nghệ và lao động kỹ năng cao là lực lợng sản xuất thứ nhất, là lợi thế phát triển 8

2.2 Sản xuất công nghệ là loại hình sản xuất phát triển, tiêu biểu và tiên tiến nhất 10

2.3 Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy toàn cầu làm thị trờng 11

2.4 Tốc độ biến đổi cao 12

2.5 Xã hội tri thức thúc đẩy dân chủ hoá 13

2.6 Sáng tạo là động lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự phát triển 13

III Những điều kiện cơ bản hình thành nền kinh tế tri thức 14

1 Một nền kinh tế thị trờng phát triển cao 15

2 Hệ thống giáo dục-đào tạo phát triển, tạo ra nguồn nhân lực có chất lợng 15

3 Cơ sở hạ tầng thông tin phát triển cao 16

4 Một nhà nớc pháp quyền dân chủ 17

IV Xu hớng phát triển nền kinh tế tri thức trên thế giới trong thế kỷ XXI 18

Chơng II: Nền kinh tế tri thức của một số nớc trên thế giới và bài học đối với Việt Nam 21

I Sự ra đời và phát triển nền kinh tế tri thức của Mỹ 21

1 Quan niệm của Mỹ về nền kinh tế tri thức 21

2 Tình hình phát triển nền kinh tế tri thức ở Mỹ 22

2.1 Quá trình ra đời và phát triển của nền kinh tế tri thức của Mỹ 22

2.1.1 Vai trò nổi bật của khu vực công nghệ thông tin 23

2.1.2 Những đổi mới trong khu vực tài chính 24

2.1.3 Sự biến đổi của mô hình sản xuất và kinh doanh 25

2.2 Một số đặc trng chủ yếu của nền kinh tế tri thức ở Mỹ 29

2.2.1 Các ngành công nghệ cao, dịch vụ trở thành động lực tăng trởng chính 29

2.2.2 Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có xu hớng toàn cầu hoá mạnh 29

2.2.3 Nền kinh tế tri thức đợc quản lý và vận hành theo một cơ chế năng động 29

Trang 2

2.2.4 Lạm phát & thất nghiệp ở mức thấp 30

3 Vai trò của chính sách kinh tế vĩ mô 31

3.1 Đảm bảo nguồn tài chính 31

3.2 Đảm bảo nguồn nhân lực 31

II Nền KTTT của một số nớc EU 32

1 Quan niệm của các nớc EU về nền KTTT 32

2 Đánh giá quá trình chuyển sang nền KTTT của các nớc EU 34

2.1 Cơ cấu ngành của nền kinh tế 34

2.2 Chất lợng nguồn nhân lực 35

2.3 Tiềm lực khoa học và công nghệ 36

2.4 Sự áp dụng công nghệ thông tin 38

2.5 Hội nhập kinh tế quốc tế 39

3 Những nhân tố tạo nên thành công trong quá trình chuyển sang nền KTTT của các nớc EU 40

3.1 Những thuận lợi chung 40

3.2 Bớc tiến trong tiến trình liên kết của EU 41

3.3 Các chính sách thúc đẩy R&D của EU 42

4 Nguồn gốc của những hạn chế hiện nay 43

4.1 Cơ sở hạ tầng thông tin còn một số bất cập 43

4.2 Sự yếu kém cơ cấu của nền kinh tế 44

4.3 Sự phân đoạn của thị trờng 44

5 Một số chính sách nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở các nớc EU 45

5.1 Thúc đẩy R&D 45

5.2 Phát triển công nghệ thông tin 45

5.3 Tăng cờng liên kết toàn diện trong Liên Minh Châu Âu 46

5.4 Tăng cờng đầu t vào con ngời 46

5.5 Bảo đảm sự phát triển bền vững 47

III Nền kinh tế tri thức của Nhật Bản 47

1 Thực trạng nền kinh tế tri thức ở Nhật Bản 47

2 Một số nhân tố tác động đến việc hình thành nền kinh tế tri thức ở Nhật Bản 50

2.1 Chậm đổi mới t duy 50

2.2 Cha đầu t thích đáng vào công nghệ cao, trong đó có công nghệ IT 51

2.2 Những tồn tại trong phát triển nguồn nhân lực 52

2.3 Chậm tự do nền kinh tế 53

3 Một số chính sách nhằm tạo dựng nền kinh tế tri thức ở Nhật Bản 55

3.1 Đổi mới t duy và tiến hành cải cách kinh tế 55

3.2 Đẩy mạnh đầu t vào nghiên cứu khoa học và công nghệ 56

3.3 Phát triển nguồn nhân lực 57

Trang 3

IV Nền KTTT ở Trung Quốc 58

1 Quan niệm của Trung Quốc về nền kinh tế tri thức 58

2 Các vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng nền kinh tế tri thức ở Trung Quốc 59

2.1 Tri thức hoá các ngành truyền thống 59

2.2 Phát triển nhanh và bền vững 60

2.3 Giáo dục và nhân tài 61

2.4 Chính phủ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế tri thức 61

3 Một số chính sách nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức 61

3.1 Phát triển các ngành kỹ thuật cao 61

3.1.1 Hiện trạng các ngành kỹ thuật cao ở Trung Quốc 62

3.1.2 Chiến lợc phát triển ngành nghề kỹ thuật cao 62

3.2 Phát triển công nghiệp kỹ thuật thông tin làm ngành công nghiệp chiến lợc 65

3.2.1 Tình hình phát triển công nghiệp kỹ thuật thông tin 65

3.2.2 Chiến lợc phát triển 66

V Nền kinh tế tri thức của Malaixia 68

1 Cơ sở để Malaixia xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế tri thức 66

2 Chiến lợc phát triển kinh tế tri thức và các bớc triển khai 68

2.1 Chiến lợc phát triển tổng thể 69

2.1.1 Tăng cờng phát triển công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế tri thức 70

2.1.2 Phát triển siêu hành lang truyền thông đa phơng tiện, quy hoạch công viên kỹ thuật cao 70

2.1.3 Từng bớc tin học hoá, mạng hoá và mô hình hoá ngành dịch vụ 70

2.2 Các bớc triển khai 71

2.2.1 Chơng trình xúc tiến nghiên cứu và triển khai tổng thể 72

2.2.2 Chơng trình công nghệ thông tin quốc gia 74

2.2.3 Siêu hành lang truyền thông đa phơng tiện 74

2.2.4 Năm mũi đột phá trong lĩnh vực điện tử 74

3 Một số hạn chế trong việc thực thi chiến lợc phát triển kinh tế tri thức 75

V.Kinh nghiệm đối với Việt Nam 76

1 Đổi mới t duy kinh tế 77

2 Phát triển công nghệ thông tin 78

3 Phát triển nguồn nhân lực 79

Chơng III: Giải pháp để xây dựng thành công nền KTTT ở Việt Nam 81

I Quan điểm của Đảng và Nhà nớc Việt Nam 81

II Thời cơ và thách thức 82

1 Thời cơ 82

Trang 4

2 Thách thức 84

III Giải pháp 86

1 Tiếp tục đổi mới quản lý xã hội 88

2 Xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ – thông tin hiện đại 90

3 Đầu t vào giáo dục - đào tạo để phát triển nguồn nhân lực 93

3.1 Định hớng phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu về tri thức 93

3.2 Những chính sách và biện pháp phát triển giáo dục và đào tạo 93

4 Tăng cờng hệ thống đổi mới quốc gia để sử dụng có hiệu quả tri thức phục vụ phát triển 98

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Danh mục chữ viết tắt

1 KTTT: Kinh tế tri thức

2 CNTT : Công nghệ thông tin

3 KH – KT: Khoa học kỹ thuật

4 OECD: Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế

5 ITC: Công nghệ thông tin và truyền thông

6 FDI: đầu t nớc ngoài trực tiếp

7 EMU: Liên minh kinh tế và tiền tệ

8 MSC: Siêu hành lang truyền thông đa phơng tiện

9 FMS : Flexible Manufacture System – hệ thống sản xuất linh hoạt

10.IPO: Chào giá niêm yết chứng khoán lần đầu

11.EDI: trao đổi dữ liệu điện tử

12.EFT: thanh toán chuyển khoản điện tử

Trang 5

Lời mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mấy năm gần đây, trên thế giới, ngời ta bắt đầu nói nhiều về một hiện ợng kinh tế mới, đó là nền kinh tế tri thức Và cho đến nay, những cách hiểu về nềnkinh tế tri thức còn rất khác nhau ở từng quốc gia nhng có một điểm chung mà hầuhết các ý kiến đều nhất trí là nền kinh tế này là kết quả của một nền kinh tế thị trờngphát triển cao với một Nhà nớc pháp quyền đích thực, của cuộc cách mạng khoa học

t-và công nghệ với trụ cột là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vậtliệu mới và công nghệ hàng không vũ trụ

Nền kinh tế tri thức đã và đang hình thành ở một số nớc công nghiệp pháttriển nhất nh Mỹ, các nớc EU và Nhật Bản và góp phần không nhỏ vào những biến

động to lớn về kinh tế và xã hội ở những nớc này Để có thể tiếp cận hoặc tạo lập đợcnền kinh tế tri thức, hầu hết các nớc đều có những chính sách, chiến lợc và bớc đithích hợp tuỳ theo điều kiện cụ thể của mình, nhng chung quy lại tất cả đều tìm cáchtạo ra đợc những tiền đề cơ bản cho nền kinh tế tri thức Đó là một Nhà nớc phápquyền trong một nền kinh tế thị trờng phát triển cao, với một môi trờng thể chế thuậnlợi cho sản xuất và kinh doanh và mọi ý tởng sáng tạo; một kết cấu hạ tầng thông tin

và viễn thông phát triển tốt nh là xơng sống cơ bản của một nền kinh tế tri thức và làcơ sở cho sự tăng cờng trao đổi thông tin; một hệ thống giáo dục và đào tạo tốt tạo ranguồn nhân lực chất lợng cao Đối với các nớc phát triển, do xuất phát điểm cao củamình nên họ tập trung đầu t cao cho nghiên cứu và phát triển (R&D), nâng cao chấtlợng nguồn nhân lực, u tiên cho những mục tiêu chiến lợc, tạo môi trờng để sản sinh

ra những công nghệ mới Các nớc đang phát triển dờng nh cũng nhận thấy đây làmột vận hội mới để tiếp cận nền kinh tế tri thức và đuổi kịp các cờng quốc trên thếgiới Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp của mình nên các nớc đang phát triển đầu tcho khoa học và công nghệ theo hớng u tiên cho một số ngành công nghệ mũi nhọn

nh công nghệ thông tin nhằm nhanh chóng rút ngắn khoảng cách về công nghệ sovới các nớc công nghiệp phát triển

Phát triển kinh tế tri thức đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc giatrên thế giới Có thể coi kinh tế tri thức nh một thành tựu quan trọng của loài ngời, là

Trang 6

xu thế tất yếu của qúa trình phát triển lực lợng sản xuất Chỉ có phát triển kinh tế trithức dựa vào trí tuệ con ngời, thế giới mới có khả năng thoát khỏi sự phụ thuộc vàotài nguyên, vốn đang có xu hớng cạn kiệt dần

Việt Nam với t cách là một nớc đang phát triển, dĩ nhiên không thể đứng ngoài

“cuộc chơi“ đó Kinh tế tri thức chính là cơ hội để chúng ta thực hiện chiến lợc “đitắt đón đầu”, hội nhập nền kinh tế một cách khôn ngoan, khai thác đợc những lợi thế

để phát triển nền kinh tế

Với sự phân tích trên, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bớc chuyển sang nềnkinh tế tri thức của một số nớc trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam” làm

đề tài khoá luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Qua đề tài, tác giả muốn hệ thống hoá lại một số cách hiểu khác nhau về nềnkinh tế tri thức, phân tích những nét đặc trng cơ bản nhất của nền kinh tế tri thức,phân tích thực trạng của các nền kinh tế tri thức ở một số nớc công nghiệp phát triển

và đang phát triển chủ yếu nh Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaixia, hệ thốnglại các bớc đi hay các chính sách chủ yếu để tiếp cận và xây dựng nền kinh tế trithức của một số nớc trên thế giới hiện nay và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đềxuất các biện pháp nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu bớc chuyển sangnền kinh tế tri thức của các nớc đặc trng và tiêu biểu nhất nh Mỹ, các nớc EU, NhậtBản, Trung Quốc, Malaixia Qua đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm cho ViệtNam và đề xuất các biện pháp thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh hiện tại của ViệtNam nhằm từng bớc xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn, tác giả đã dùng các phơng pháp nghiên cứu khácnhau nh tổng hợp, phân tích, thống kê, liệt kê, so sánh

5 Những kết quả dự kiến đạt đợc

 Làm sáng tỏ mặt lý luận về nền kinh tế tri thức nói chung

 Trình bày một cách chi tiết về tình trạng nền kinh tế tri thức của một sốnớc tiêu biểu trên thế giới; hệ thống hoá bớc đi và các chính sách cơ bản của các nớctrong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức

Trang 7

 Đánh giá về thực trạng nền kinh tế tri thức của Việt Nam hiện nay, trêncơ sở đó đễ xuất các giải pháp nhằm xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở ViệtNam.

6 Bố cục của khoá luận

Chơng I : Khái quát về nền kinh tế tri thức

Chơng II : Nền kinh tế tri thức của một số nớc trên thế giới và bài học đối với Việt Nam

Chơng III: Giải pháp để xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

Trong quá trình thực hiện, mặc dù tác giả đã hết sức cố gắng và có sự chuẩn bị

kỹ nhng do điều kiện nghiên cứu có hạn nên khoá luận khó tránh khỏi những thiếusót hoặc cha đợc nghiên cứu đầy đủ nh mong muốn Do vậy, tác giả rất mong nhận

đợc sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên đểkhoá luận đợc hoàn thiện hơn

Chơng I Khái quát về nền kinh tế tri thức

I Quá trình hình thành nền kinh tế tri thức

1 Vai trò của tri thức đối với phát triển kinh tế

Từ thập kỷ 80 đến nay, do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệhiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu,công nghệ năng lợng nền kinh tế thế giới đang biến đổi rất sâu sắc, mạnh mẽ về cơcấu, chức năng và phơng thức hoạt động Đây không phải là một sự biến đổi bình th-ờng mà là một bớc ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế chuyển từ kinh tếcông nghiệp sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài ngời chuyển từ văn minh côngnghiệp sang văn minh trí tuệ và ý nghĩa mới của tri thức đã đợc đề cao

Trớc đây, ngay cả ở phơng Đông và phơng Tây, tri thức đợc quan niệm là chỉphục vụ cho chính nó Sau đó ít lâu, tri thức đợc áp dụng vào các tổ chức lao độngrồi trở thành một nguồn lực có giá trị sử dụng và thành một loại hàng hoá công cộng

Trang 8

Và hiện nay tri thức đang đợc áp dụng cho chính bản thân tri thức, tri thức đã trởthành nhân tố sản xuất hàng đầu trong nền kinh tế, làm giảm vai trò của cả vốn vàlao động.

Tri thức, thông tin, công nghệ luôn luôn có vai trò thúc đẩy phát triển sảnxuất, vai trò ấy tăng dần cùng với quá trình phát triển Lịch sử phát triển ngành dệt làmột ví dụ tốt về sự tăng trởng có kèm theo thay đổi công nghệ và tăng trởng khôngkèm theo công nghệ Trong giai đoạn 1500 – 1700, Đông ấn Độ đã thu đợc nhiềulợi nhuận và tăng trởng bằng cách mở rộng quy mô sản xuất dệt sợi để xuất khẩusang châu Âu Đây là tăng trởng không kèm tiến bộ công nghệ Nớc Anh ban đầucũng đáp lại việc tăng nhu cầu hàng dệt bằng cách mở rộng sản xuất nh Ân Độ Nh-

ng trong dài hạn, nớc Anh đã xây dựng các công nghệ mới cần thiết cho ngành dệtmay, nh lời của K Marx thì nớc Anh đã thay đổi phơng thức sản xuất Và cuối cùng,nớc Anh đã vợt xa ấn Độ

Trong nền kinh tế nông nghiệp, tri thức của con ngời quá ít, công nghệ hầu

nh không đổi mới, tác động của tri thức, công nghệ cha rõ rệt Vì vậy, nền kinh tếnông nghiệp kéo dài sáu bảy nghìn năm nhng tiến bộ hết sức chậm chạm

Những thành tựu khoa học thế kỷ XVII dẫn tới cuộc cách mạng khoa học kỹthuật lần thứ nhất (cuối thế kỷ XVIII) đã thúc đẩy sự chuyển biến từ kinh tế nôngnghiệp sang kinh tế công nghiệp Kinh tế công nghiệp đã phát triển nhanh trong hơn

200 năm qua, của cải của loài ngời đã tăng lên hàng trăm lần Khoa học và côngnghệ ngày càng đóng góp vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội và ngàycàng có điều kiện phát triển nhanh hơn

Những thành tựu nổi bật của khoa học đầu thế kỷ XX với vai trò dẫn đầu củathuyết tơng đối và thuyết lợng tử là tiền đề cho cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ hiện đại ra đời và phát triển từ giữa thế kỷ XX Và trong một phần t cuối cùngcủa thế kỷ XX đã bớc sang giai đoạn mới – giai đoạn bùng nổ thông tin, tri thức,bùng nổ công nghệ, đặc biệt là các công nghệ cao nh công nghệ thông tin (siêu xa lộthông tin, Internet, multimedia ), công nghệ sinh học (công nghệ gen, công nghệ tếbào), công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lợng đã làm tăng nhanh nhịp độ tăngtrởng kinh tế, dịch chuyển cơ cấu kinh tế, tạo sự nhảy vọt trong lực lợng sản xuất.Lực lợng sản xuất bớc sang giai đoạn mới về chất, trong đó tri thức, thông tin trởthành yếu tố sản xuất hàng đầu, khoa học và công nghệ trở thành lực lợng sản xuấttrực tiếp Đây không chỉ là cách mạng trong khoa học công nghệ, trong phát triểnlực lợng sản xuất mà còn là cách mạng trong quan niệm, cách tiếp cận, nó đòi hỏicon ngời phải đổi mới nhận thức, quan niệm để thích nghi và làm chủ sự phát triển

Trang 9

Cha bao giờ vai trò của tri thức, của khoa học và công nghệ đối với sự pháttriển kinh tế xã hội trở nên rõ ràng và nổi bật nh ngày nay Trớc kia, ngời ta thờngcoi các yếu tố của sản xuất chỉ bao gồm lao động và vốn, còn tri thức, công nghệ làyếu tố bên ngoài của sản xuất có ảnh hởng tới sản xuất Gần đây, các nhà nghiên cứukinh tế đều thừa nhận tri thức, công nghệ là yếu tố bên trong của hệ thống kinh tế, lànhân tố trực tiếp của sản xuất Đầu t vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sựtăng trởng kinh tế dài hạn.

K.Marx đã coi “tri thức là nhân tố trực tiếp của chức năng sản xuất” và khẳng

định “tri thức trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp” [19,607] Ngày nay, luận điểm ấy

đã đợc chứng minh, khoa học không những tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuấtbằng việc tạo ra công nghệ, tạo phơng pháp tổ chức, quản lý sản xuất để nâng caonăng suất, chất lợng, đổi mới sản phẩm mà còn có thể trực tiếp làm ra sản phẩm nhsản phẩm phần mềm trong lĩnh vực công nghệ thông tin Các sản phẩm này đợcnghiên cứu tại phòng thí nghiệm rồi sản xuất đại trà, xởng sản xuất cũng là phòngnghiên cứu thí nghiệm Khoa học đã thực sự trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp vàquan trọng hàng đầu

Tri thức là một yếu tố của sản xuất nhng nó khác biệt về cơ bản với các yếu tốvốn hay lao động ở chỗ ngời có kiến thức nếu trao kiến thức cho ngời khác thì kiếnthức đó không mất đi mà lại đợc sử dụng tốt hơn, càng trao cho nhiều ngời thì khảnăng sử dụng tri thức để tạo ra của cải, lợi ích càng nhiều

2 Sự ra đời nền kinh tế tri thức trên thế giới

Quá trình phát triển lực lợng sản xuất của loài ngời có thể chia ra làm ba thời

kỳ: thứ nhất là nền kinh tế nông nghiệp hay là nền kinh tế sức lao động với đặc trng

chủ yếu là sản xuất bằng lao động thủ công, năng suất lao động rất thấp, đất đai là

tài nguyên chủ yếu; thứ hai là nền kinh tế công nghiệp, cũng đợc gọi là nền kinh tế tài nguyên, dựa chủ yếu vào máy móc và tài nguyên thiên nhiên; thứ ba là nền kinh

tế tri thức, bắt đầu hình thành từ đầu thập kỷ 80, là nền kinh tế dựa chủ yếu vào trithức, tri thức và công nghệ thông tin trở thành yếu tố sản xuất quan trọng hơn cả vốn

Trang 10

liệu, lao động và tiền vốn nhng có hiệu quả kinh tế rất cao, phát triển nhanh, có tác

động lôi kéo toàn bộ nền kinh tế Loại doanh nghiệp tri thức này cha có ở Nhật Bản.Qua nghiên cứu, Uỷ ban đề ra chiến lợc nâng sức cạnh tranh kinh tế bằng cách điềuchỉnh cơ cấu kinh tế, chú trọng phát triển công nghệ cao, nhất là công nghệ tin học,phát triển các doanh nghiệp tri thức và các ngành dịch vụ, tăng cờng đầu t vào khoahọc- kỹ thuật và giáo dục để nâng cao nguồn nhân lực Uỷ ban không chấp nhận cácbiện pháp nâng sức cạnh tranh kinh tế thờng đợc sử dụng nh phá giá đồng tiền, tăngthuế nhập khẩu

Trong nhiều năm qua, Mỹ đã áp dụng chiến lợc này và thực tế cho thấy, sứccạnh tranh kinh tế của Mỹ luôn đứng đầu thế giới, ngày càng bỏ xa Nhật Bản và cácnớc công nghiệp phát triển khác Đây là một cuộc cách mạng cơ cấu kinh tế, đánhdấu việc Mỹ bắt đầu tiến sang thời kỳ kinh tế tri thức Và trong thời gian qua, nềnkinh tế tri thức cũng đã đợc phổ biến dần ra toàn thế giới, từ các nớc công nghiệpphát triển cho tới các nớc đang phát triển Điều này thể hiện ở chỗ đa số các nớc đầu

đã tăng vốn đầu t cho công nghệ kỹ thuật cao và các yếu tố cơ bản của nền kinh tế trithức đang xuất hiện ngày càng nhiều và có những đóng góp lớn vào nền kinh tế Tuynhiên, tình hình chuyển sang nền kinh tế tri thức của các nớc này còn chậm hơn sovới Mỹ

So với sự chuyển biến từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, sựchuyển biến từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức có ý nghĩa hơn: trớc hết đó

là sự chuyển đổi từ một nền sản xuất dựa vào tài nguyên, lao động là chính sang nềnsản xuất dựa vào tri thức là chính, thứ hai là sự thay đổi trên mọi lĩnh vực mà trớc hết

là công nghệ Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc đẩy nhanh hơn

sự ra đời nền kinh tế tri thức Các công nghệ cao, trớc hết là công nghệ thông tin lànguồn gốc của sự biến đổi lớn lao hiện nay Máy hơi nớc, động cơ điện mở đầu cuộccách mạng công nghiệp, thúc đẩy sự ra đời nền kinh tế công nghiệp, nội dung chủyếu là thay thế lao động chân tay bằng máy móc Đó là cuộc cách mạng sâu sắc nh-

ng diễn ra chậm chạm trong thời gian rất dài

Còn trong nền kinh tế tri thức, các ngành công nghệ cao nh công nghệ sinhhọc, nổi bật là công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh đã cho phép conngời tạo đợc các loại thuốc chữa trị các bệnh hiểm nghèo, kéo dài tuổi thọ, tạo cácgiống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lợng cao theo ý muốn; công nghệ vậtliệu, nổi bật là vật liệu composit có thể tạo ra những vật liệu theo ý muốn của conngời, có sức chịu lực, chịu nhiệt, chịu ăn mòn, lão hoá, phù hợp với mọi điều kiệnkhác nhau; công nghệ năng lợng với những năng lợng mới đảm bảo an toàn cao và

Trang 11

sạch nhất; và đặc biệt là công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là động lực chủyếu nhất thúc đẩy sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức Ngày nay, thông tin trởthành nhu cầu thiết yếu của con ngời, là tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế.Ngời ta bắt đầu nói tới cách mạng thông tin, cách mạng tri thức ở những nớc pháttriển nh Mỹ, Tây Âu, kinh tế thông tin (những ngành kinh tế dựa trên việc xử lýthông tin) chiếm khoảng 45% - 55% GDP Công nghệ thông tin ngày càng trở thànhnhân tố hàng đầu trong việc làm biến đổi xã hội Một bớc nhảy vọt trong công nghệthông tin là sự ra đời của mạng máy tính, mạng máy tính phát triển nhanh hình thànhsiêu xa lộ thông tin và Internet Trong lịch sử nhân loại, cha có một lĩnh vực khoahọc – công nghệ nào phát triển nhanh và tác động sâu rộng, mạnh mẽ đến toàn xãhội nh công nghệ thông tin Nhờ có sự phát triển nhanh của xa lộ thông tin mà có th-

ơng mại điện tử, chính phủ điện tử, th viện điện tử, học tập, làm việc từ xa, chữabệnh từ xa Những công nghệ ấy đang làm thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc xã hội loàingời Máy tính và mạng máy tính ngày nay có thể thay thế một phần lao động trí óccủa con ngời, nâng cao tri thức, phát triển khả năng t duy, sáng tạo, từ đó đẩy nhanh,mạnh sự đổi mới công nghệ, đổi mới tổ chức quản lý Nếu nh cơ khí giúp con ngờitrong các lao động chân tay thì máy tính lại giúp con ngời trong lao động trí óc.Chính vì vậy, công nghệ thông tin là nhân tố quyết định đối với việc chuyển nềnkinh tế thế giới từ nền kinh tế hậu công nghiệp sang nền kinh tế tri thức

II Khái niệm và đặc trng của nền kinh tế tri thức

1 Khái niệm nền kinh tế tri thức

Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải và nâng cao chất lợng cuộc sống.[5,17]

Trong nền kinh tế tri thức, chiếm hữu nhân tài và tri thức quan trọng hơnnhiều so với chiếm hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên nh dầu mỏ hay đất đai đang bịcạn kiệt do kinh tế công nghiệp gây ra Kinh tế tri thức thông qua nguồn tài nguyêntrí lực để khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học, hợp lý chứ không ỷ lạivào nguồn tài nguyên thiên nhiên Vì vậy, nền kinh tế của các nớc dựa vào chủquyền đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển nh các nớc Trung Đôngnếu không đồng thời tăng cờng đầu t vào nguồn tài nguyên trí lực sẽ rất dễ bị tấncông trong thời đại kinh tế tri thức

Trang 12

Trong sản xuất, kinh tế tri thức lấy các ngành sản xuất kỹ thuật cao làm nềntảng, các ngành sản xuất kỹ thuật cao lại lấy khoa học kỹ thuật cao làm chỗ dựa.Trong nền kinh tế tri thức vẫn còn nông nghiệp và công nghiệp nhng hai ngành nàychiếm tỷ lệ thấp, cũng giống nh trong nền kinh tế công nghiệp vẫn còn nông nghiệpnhng chiếm tỷ lệ nhỏ Trong nền kinh tế tri thức đa số là các ngành kinh tế dựa vàotri thức, dựa vào thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ Đó có thể là nhữngngành mới nh công nghệ thông tin (công nghệ phần cứng và công nghệ phần mềm),công nghệ năng lợng mới và năng lợng tái sinh, công nghệ vật liệu mới, công nghệsinh học và cũng có thể là những ngành truyền thống (nông nghiệp, công nghiệp,dịch vụ) đợc cải tạo bằng khoa học, công nghệ cao Ví dụ, sản xuất ôtô là một ngànhcông nghiệp truyền thống nhng nếu áp dụng khoa học công nghệ cao sản xuất ra loại

ôtô thông minh không cần ngời lái có độ an toàn cao thì ngành sản xuất ôtô có thểcoi là ngành kinh tế tri thức hay những trang trại sản xuất nông nghiệp dựa vào côngnghệ sinh học cho năng suất cao, tự động điều khiển và hầu nh không cần ngời lao

Tri thức, công nghệcao, thông tin

Các quá trình chủ

yếu

Trồng trọt, chănnuôi

Chế tạo, gia công Điều khiển, kiểm

soát, xử lý thôngtin

Đầu ra của sản xuất Lơng thực Của cải, hàng hoá Sản phẩm đáp ứng

nhu cầu ngày càngcao của cuộc sốngCơ cấu kinh tế Nông nghiệp là chủ

yếu

Công nghiệp vàdịch vụ là chủ yếu

Các ngành kinh tếtri thức thống trịCông nghệ thúc

đẩy phát triển

Sử dụng súc vật, cơ

giới hoá đơn giản

Cơ giới hoá,điệnkhí hoá, chuyênmôn hoá

Khoa học côngnghệ cao

Trang 13

Vai trò của truyền

thông

Nguồn: Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt nam“ ”

Kỷ yếu hội thảo khoa học, 21 22/6/2000, trang 2

2 Những đặc tr ng chủ yếu của nền kinh tế tri thức

2.1 Tri thức khoa học công nghệ và lao động kỹ năng cao là lực lợng sản xuất thứ nhất, là lợi thế phát triển.

Đặc điểm lớn nhất làm cho nền kinh tế tri thức khác biệt với nền kinh tế côngnghiệp hay nền kinh tế nông nghiệp là tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất củasản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên thiên nhiên

Trí tuệ con ngời, đợc thể hiện trong tri thức khoa học và công nghệ cùng với

kỹ năng lao động cao là lợi thế có ý nghĩa quyết định triển vọng phát triển của mỗiquốc gia Lịch sử phát triển hiện đại đã chứng tỏ rằng các lợi thế tự nhiên (lợi thế vềtài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực rẻ do thiếu kỹ năng, gắn với lao động giản

đơn thuần tuý) ngày càng giảm bớt vai trò trong phát triển Trong khi đó, trình độkhoa học – công nghệ và nguồn nhân lực tri thức ngày càng đóng vai trò quyết địnhthắng lợi trong cuộc cạnh tranh phát triển

Trong nền kinh tế tri thức, yếu tố sản xuất quý nhất, động lực quan trọng nhấtcho sự phát triển kinh tế là tri thức và lao động có trình độ và kỹ năng cao Nền kinh

tế tri thức lấy tri thức làm cơ sở và đó là hình thái kinh tế đợc xây dựng trên nền tảngkhoa học công nghệ mới, tinh hoa tri thức của nhân loại Trong các nền kinh tếtruyền thống thì sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm lấy vật chất làm nội dungchủ yếu Yếu tố của sản xuất chủ yếu là tài nguyên, lao động và vốn Ngợc lại, trongnền kinh tế tri thức thì tri thức sẽ trở thành nội dung chủ yếu của sản xuất, phân phối

và tiêu thụ Chức năng chủ yếu của nền kinh tế tri thức là tạo ra tri thức, phân phối trithức và trở thành nguồn gốc, động lực cho sự phát triển kinh tế Sự cống hiến của trithức và công nghệ đối với sự tăng trởng kinh tế ngày càng lớn Nếu nh thập kỷ 50,

đóng góp của khoa học – công nghệ cho tăng trởng kinh tế chiếm khoảng 30% thìbớc sang nền kinh tế tri thức sự đóng góp của khoa học công nghệ là trên 80%[3,11] Điều đó nói lên rằng đa số các sản phẩm của xã hội đều do khoa học côngnghệ đem lại Rất nhiều ngành nghề trong nông nghiệp và công nghiệp đang trởthành những ngành tri thức Do đó, phần đông lao động ở các nớc công nghiệp cótrình độ chuyên môn cao Hiện nay ở Mỹ có khoảng 60% công nhân là công nhân tri

Trang 14

thức và 80% số nghề mới xuất hiện là do tri thức tạo ra [12,20] Trong khi cơ hội chocác nguồn lực khác nh lao động thiếu kỹ năng ngày càng bị thu hẹp và chúng sẽ bịmất đi khi sử dụng thì tri thức và thông tin có thể đợc chia sẻ và trên thực tế lại đợctăng lên khi sử dụng Nếu nh trớc đây các nền kinh tế cố gắng duy trì các ngànhnghề kinh tế truyền thống thì nền kinh tế tri thức hớng đến tạo ra các ngành nghềmới ứng dụng tri thức và công nghệ.

Nh vậy, tri thức đang và sẽ dần trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp và chủ yếutrong hệ thống sản xuất xã hội Xu thế này thể hiện khá rõ, hơn 50% GDP của các n-

ớc thuộc OECD (tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) đợc sản sinh hàng năm cónguồn gốc tri thức [9,25] Những ngành có tốc độ phát triển cao nhất, có sức bật vàtiềm năng lớn nhất đều là những ngành thâm dụng tri thức nh máy tính, thiết bị viễnthông, hàng không Các ngành dịch vụ dựa trên tri thức nh giáo dục, dịch vụ viễnthông , thông tin có tốc độ tăng trởng cao

Trong nền kinh tế tri thức, tri thức không những có vai trò sáng tạo, truyền bá

mà còn có vai trò truyền thông, sử dụng, trở thành nguồn lực của sản xuất Do vậy,

đầu t phát triển tri thức là đầu t chủ yếu nhất Điều này không có nghĩa là nền kinh tếkhông cần vốn, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực nữa mà trái lại, cácyếu tố này về mặt giá trị còn đợc đầu t với số lợng đáng kể hơn, thậm chí đối vớitrang thiết, máy móc công nghệ cao còn cần đầu t với một lợng vốn rất lớn, song vốnvô hình (nh thông tin, tri thức, công nghệ, kỹ năng lao động) còn có giá trị cao hơngấp bội, trở thành yếu tố quan trọng nhất, phần vốn cơ bản nhất

Do vai trò to lớn nh vậy của tri thức nên trong nền kinh tế tri thức quyền sởhữu đối với tri thức trở nên quan trọng nhất Trong nền kinh tế tri thức, việc chiếmhữu tri thức và nhân tài quan trọng hơn nhiều so với chiếm hữu tài nguyên thiênnhiên Việc sử dụng tài sản tri thức phải đợc bảo vệ nghiêm khắc và hữu hiệu hơn sovới kinh tế truyền thống vì bảo vệ quyền sở hữu tài sản tri thức chính là yêu cầu đầutiên của việc bảo đảm động lực sáng tạo và bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên trí lực

2.2. Sản xuất công nghệ là loại hình sản xuất phát triển, tiêu biểu và tiên tiến nhất.

Trong nền kinh tế tri thức, hàm lợng tri thức trong các yếu tố sản xuất ngàycàng tăng Các ngành kinh tế tri thức (những ngành dựa vào thành tựu của khoa học -công nghệ) và cả những ngành truyền thống nh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ đ-

ợc cải tạo bằng ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, ngày càng chiếm tỷtrọng cao trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp không ngừng đổi mới côngnghệ, đổi mới sản phẩm Công nghệ mới trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra

Trang 15

năng suất, sự tăng trởng và việc làm Các doanh nghiệp đều sản xuất công nghệ,

đồng thời có nhiều doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghệ, có thể gọi là doanhnghiệp tri thức, trong đó khoa học và sản xuất đợc nhất thể hoá, không còn phân biệtphòng thí nghiệm với công xởng, những ngời làm việc trong đó là công nhân trithức, họ vừa nghiên cứu vừa sản xuất

Hiện nay, trên lĩnh vực công nghệ thông tin các doanh nghiệp tri thức pháttriển rất nhanh chóng, chỉ trong khoảng 5 - 10 năm từ chỗ tay không trở thành nhữngcông ty với tài sản khổng lồ hàng chục tỷ USD nh Netscape, Yahoo, Dell, Cisco v-

ợt xa những doanh nghiệp truyền thống tên tuổi, có lịch sử lâu đời [13,7] Trong cácdoanh nghiệp lớn nhất thế giới, doanh nghiệp công nghệ thông tin chiếm đa số Vì sản xuất công nghệ có ý nghĩa quyết định nh thế nên ngời ta chạy đua vào

đầu t mạo hiểm, tức là đầu t cho nghiên cứu triển khai nhằm tạo ra công nghệ mới.Năm 1998 đầu t mạo hiểm ở Mỹ cho phát triển Internet hơn 3,5 tỷ USD, (năm 1997

là 2,1 tỉ, năm 1996 là 1,2 tỉ) [13,8] Và đó là nguồn gốc của sự giàu lên nhanh chóngcủa các doanh nghiệp tri thức

Sự hình thành và phát triển các khu công nghệ (những nơi sản xuất công nghệ)

là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh sự ra đời của công nghệ mới Đây là những vờn

ơm công nghệ, ở đây hội đủ các điều kiện thuận lợi để nhất thể hoá quá trình nghiêncứu, thực nghiệm khoa học, triển khai công nghệ và sản xuất, nhờ đó các ý tởngkhoa học nhanh chóng trở thành công nghệ và đa ra sản xuất

Những thập kỷ gần đây, trên thế giới các khu công nghệ phát triển rất nhanh,

đó là một cách để đi nhanh vào kinh tế tri thức Khu công nghệ tiêu biểu nhất làthung lũng Silicon Đó là cái nôi công nghệ cao của thế giới, cái nôi của Internet Bắt

đầu từ thập kỷ 50, Mỹ đã chủ trơng khuyến khích các doanh nghiệp đi vào các côngnghệ mới Từ đó, các công ty công nghệ cao, nhất là về công nghệ thông tin pháttriển rất nhanh, rất nhiều công nghệ cao và Internet đã ra đời từ đó

Do sản xuất dựa vào công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lợng, thải ra

ít phế thải, cho nên trong nền kinh tế tri thức có thể thực hiện đợc sản xuất sạch,không gây ô nhiễm môi trờng Đó là điều kiện để phát triển bền vững

2.3. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy toàn cầu làm thị trờng.

Công nghệ thông tin, nhất là mạng internet làm cho không gian trở nên nhỏ

bé Các nhân tố cơ bản của sản xuất kinh doanh nh tri thức, công nghệ, thông tin,vốn, quản lý sản phẩm, sức lao động không bị bó buộc trong biên giới một quốcgia mà xuyên quốc gia, giúp cho hoạt động kinh tế trong nền kinh tế tri thức mangtính toàn cầu Thị trờng và sản phẩm trong nền kinh tế tri thức cũng mang tính toàn

Trang 16

cầu, một sản phẩm sản xuất ở bất cứ nơi nào sẽ có mặt nhanh chóng trên toàn thếgiới; rất ít sản phẩm do một nớc làm ra, mà phần lớn là kết quả của sự tập hợp cácphần việc đợc thực hiện từ nhiều nơi trên thế giới Các mối quan hệ và hợp tác kinh

tế, công nghệ giữa các doanh nghiệp ngày càng đợc tăng cờng, đồng thời cạnh tranhcũng ngày càng gay gắt trên cả bình diện trong nớc và quốc tế

Vốn đầu t cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm cũng nh xây dựng nhà máysản xuất trong nền kinh tế tri thức là hết sức lớn Để có thể hoàn vốn đầu t, sản phẩmphải đợc sản xuất với số lợng tối đa Không những thế, doanh nghiệp trong kinh tếtri thức phải bằng mọi cách hoàn vốn trong thời gian ngắn nhất trớc khi sản phẩmthế hệ mới của công ty khác tung ra thị trờng, đây là điều xảy ra rất nhanh trong nềnkinh tế tri thức Vì vậy, thị trờng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế tri thức phải

là thị trờng toàn cầu

Trong nền kinh tế tri thức, các công ty phải luôn luôn đổi mới và phải kịp thờichuyển hớng sản xuất kinh doanh theo sự đổi mới của công nghệ Để có đủ tài lực đểphát triển công nghệ mới, tăng sức cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu, đã diễn ra sựsáp nhập hoặc mua bán lẫn nhau giữa các công ty lớn ở Mỹ cũng nh ở Tây Âu vàNhật Bản đang diễn ra việc mua, sát nhập của rất nhiều công ty xuyên quốc gia trởthành những tập đoàn t bản lớn chi phối thị trờng khu vực và thế giới Mặt khác, cáccông ty lớn trong kỷ nguyên thông tin hoạt động theo hình thức mạng lới thờng chia

ra nhiều công ty con đợc quyền tự chủ kinh doanh có khả năng, linh hoạt thích nghivới sự đổi mới công nghệ và môi trờng cạnh tranh trong và ngoài nớc

2.4. Tốc độ biến đổi cao.

Đặc điểm quan trọng bật nhất của kinh tế tri thức là tốc độ biến đổi cực kỳcao Nó thể hiện ở tốc độ sản sinh tri thức, tốc độ thay đổi giá cả, tốc độ ứng dụngcác phát minh khoa học vào thực tiễn và hệ quả đi liền là tốc độ biến đổi của đờisống trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội ngày càng cao

Tốc độ sản sinh tri thức ngày càng nhanh, thời gian cần thiết để tăng gấp đôi ợng tri thức của nhân loại càng thu hẹp Ngày nay, tốc độ sản sinh tri thức của loàingời đang tăng theo cấp số nhân Theo một số tính toán, sau mỗi 15 năm, lợng trithức của loài ngời đợc nhân đôi và với cấp độ chất lợng khác hẳn Và quãng thờigian đó hiện nay đang rút ngắn hơn nhiều Tri thức của loài ngời ở thế kỷ 19 cứ 50năm thì tăng gấp đôi; vào giữa thế kỷ 20, cứ 10 năm tăng gấp đôi và đến những năm

l-1970 cứ 5 năm tăng gấp đôi và tới những năm 1980 cứ 3 năm tăng gấp đôi [12,29]

Tốc độ biến đổi giá cả của các sản phẩm càng mới càng nhanh Sự phát triển

nh vũ bão của công nghệ tin học và truyền thông rút ngắn ngày càng nhanh thời gian

Trang 17

chọn lọc, đánh giá, sử dụng và sáng tạo thông tin, khiến cho giá trị sử dụng tri thứccũng bị rút ngắn lại nhanh chóng Một tri thức hôm nay có giá trị hàng tỷ USD ngàymai có thể là vô giá trị Cùng với sự ra đời của các sản phẩm mới, giá cả sản phẩm,

đặc biệt là các sản phẩm công nghệ cao, đang trong xu hớng giảm đi Các sản phẩmcàng hiện đại thì tốc độ biến đổi giá cả càng lớn Nếu phải cần đến 60 năm để cớcvận tải biển và phí cảng biển giảm đi một nửa thì cũng trong thời gian ấy, cớc hàngkhông giản đi 6 lần và giá dịch vụ điện thoại giảm đi 82 lần Đặc biệt hơn, chỉ trongvòng 30 năm từ năm 1960 đến năm 1990, giá máy tính đã giảm đi 125 lần [12,30].Chi phí cho phát triển tri thức rất lớn, nhng sản phẩm càng về sau càng giảm, ví dụ:chi phí cho việc nghiên cứu đĩa chơng trình Window đầu tiên tốn 50 triệu USD, nhng

đĩa thứ hai và các đĩa tiếp theo chỉ tốn 3 USD [9,24] Vì vậy, việc tiếp cận và trao đổitri thức ở phạm vi toàn cầu trong nền kinh tế tri thức càng có ý nghĩa hơn, cạnhtranh trong kinh tế tri thức trớc hết là canh tranh với thời gian

Cùng với quá trình định hình từng bớc của nền kinh tế tri thức, một xu thế khá

rõ ràng là tốc độ áp dụng và phổ biến các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệngày càng cao Nếu nh dịch vụ điện thoại cần đến 74 năm để đạt đợc con số 50 triệuthuê bao thì mày tính cá nhân chỉ cần đến 16 năm và mạng thông tin toàn cầuInternet chỉ cần có 4 năm [12,31]

2.5 Xã hội tri thức thúc đẩy sự dân chủ hoá.

Nếu cha xét về chế độ chính trị, về quan hệ sản xuất thì có thể gọi xã hội t ơngứng với nền kinh tế tri thức là xã hội thông tin hay xã hội tri thức

Thông tin đến với mọi ngời Mọi ngời đều dễ dàng truy cập đến các thông tincần thiết Do đó dân chủ hoá các hoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội đợc

mở rộng Trong xã hội tri thức, mỗi cá nhân đều có khả năng nhận biết hành vi củaChính phủ và dễ dàng có đợc những thông tin kịp thời về các quyết định của cơ quanNhà nớc, các tổ chức có liên quan và bằng cách này hay cách khác, có thể gây áp lực

đối với các quyết sách hữu quan của nhà nớc Do đó phải tạo không khí dân chủ vàcách làm việc dân chủ trong xã hội Có dân chủ mới phát huy hết khả năng sáng tạocủa mọi ngời

Cách tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi nhiều Trong thời đại thông tin, môhình chỉ huy tập trung, có đẳng cấp là không phù hợp, mà phải theo mô hình phi

đẳng cấp, phi tập trung, mô hình mạng, trong đó tận dụng các quan hệ ngang vìthông tin đến đợc một cách thuận lợi nhanh chóng tất cả mọi nơi, không cần qua cácnút xử lý trung gian Đó là mô hình tổ chức dân chủ, nó linh hoạt trong điều hành, dễthích nghi với đổi mới, khơi dậy sự năng động, sáng tạo của mọi ngời

Trang 18

2.6 Sáng tạo là động lực chủ yếu nhất thúc đẩy sự phát triển.

Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn, quá trình từ lúc ra

đời, phát triển rồi tiêu vong của lĩnh vực sản xuất, hay một công nghệ trở nên rấtngắn Có khi từ lúc ra đời đến lúc tiêu vong chỉ mấy năm, thậm chí mấy tháng Cácdoanh nghiệp muốn trụ đợc và phát triển thì phải luôn đổi mới công nghệ và sảnphẩm Sáng tạo là linh hồn của sự đổi mới Trớc đây, ngời ta hay chọn những côngnghệ đã chín muồi, còn bây giờ thì phải tìm công nghệ mới nảy sinh, cái chín muồi

là cái sắp sửa tiêu vong

Trong nền kinh tế tri thức có nhiều điều tởng nh nghịch lý Thứ nhất, của cải

làm ra là dựa chủ yếu vào cái cha biết, cái đã biết không còn giá trị nữa, tìm ra cái

cha biết đó là tạo ra giá trị Thứ hai, môi trờng để tìm ra cái cha biết là mạng thông

tin Mạng thông tin, thực tế ảo gợi ra các ý tởng mới, những giải pháp mới đáp ứng

các nhu cầu mới Thứ ba, khi phát hiện ra cái cha biết thì cũng tức là loại trừ cái đã

biết Cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới, nền kinh tế xã hội luôn đổi mới, cái mớingày càng nhiều Đó là đặc trng của sự phát triển, sự tiến hoá của xã hội sắp tới, phát

triển từ cái mới chứ không phải từ số lợng lớn dần lên Thứ t, sản phẩm giá trị sử

dụng càng cao thì giá bán càng rẻ, thậm chí phần mềm cơ bản đợc cho không (để rồisau đó nâng cao hơn một ít thì bán rất đắt); sản phẩm càng nhiều ngời sử dụng thìgiá trị sử dụng càng cao Hiện nay vàng bạc hiếm thì quý, song ở thời đại thông tincái đợc dùng nhiều nhất là cái có giá trị cao Ví dụ máy fax, nếu có ít thì không cótác dụng nhng khi có đến hàng nghìn máy để liên lạc với nhau thì lúc đó mới có giátrị Mạng cũng vậy, có nhiều ngời vào cùng sử dụng thì lúc ấy mới có giá trị

Trớc hết phải khẳng định ngay rằng, kinh tế tri thức không phải là một bớcnhảy đột biến hay một sáng tạo của một lý thuyết nào đó, mà là hình thái phát triểncao hơn – có tính tiến hoá - của nền kinh tế thị trờng phát triển cao Chính sự pháttriển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá đến mức cao độ ở các nớc công nghiệp pháttriển đã tạo tiền đề cho sự ra đời của nền kinh tế tri thức ở các nớc đó và các nớc

đang phát triển muốn tiến đến nền kinh tế tri thức thì cũng không có cách nào khác

là phải chuẩn bị và cố gắng tạo cho mình có đợc những tiền đề đó

Kinh nghiệm thực tế từ các nớc phát triển và đang phát triển tổng kết cho thấy

có những tiền đề cơ bản mà bất cứ một quốc gia nào, dù nớc đó đã và đang tiếnthẳng vào nền kinh tế tri thức hay đang tìm cách tiếp cận nền kinh tế tri thức cũngcần phải có

1 Một nền kinh tế thị tr ờng phát triển cao

Trang 19

Để tiến đến nền kinh tế tri thức thì điều kiện đầu tiên và quan trọng đối vớicác quốc gia là phải có một nền kinh tế thị trờng phát triển cao với các thị trờng tàichính hoạt động hữu hiệu trên cả bình diện quốc tế lẫn trong nớc Doanh nghiệptrong kinh tế tri thức vừa cần vốn đầu t khổng lồ vừa phải chạy đua với thời gian và

đơng đầu với những rủi ro lớn, nên hơn bao giờ hết, hoạt động của họ trong kinh tếtri thức phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp vốn từ các thị trờng tài chính Ngợclại, sự bình ổn của thị trờng tài chính cũng gắn bó mật thiết với công việc kinh doanhcủa doanh nghiệp Bảo đảm sự hoạt động của một nền kinh tế với những quan hệphức tạp và nhạy cảm nh vậy chỉ có thể thành công ở một quốc gia có nền kinh tế thịtrờng vững mạnh

2 Hệ thống giáo dục đào tạo phát triển, tạo ra nguồn nhân lực có chất l ợng

Động lực của nền kinh tế tri thức thể hiện ngay chính trong khái niệm của nó,

đó là tri thức Khác với các mô hình kinh tế truyền thống dựa vào sức lao động và tàinguyên, trong nền kinh tế tri thức, khả năng sáng tạo tri thức, trình độ tiếp cận vàvận dụng tri thức mang ý nghĩa quyết định thúc đẩy nền kinh tế phát triển Sự bùng

nổ tri thức mới, việc đẩy nhanh tiến bộ khoa học công nghệ và sự cạnh tranh ngàycàng tăng làm cho việc tiếp thu tri thức càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Chonên, để tiến tới nền kinh tế tri thức, trớc hết và chủ yếu là chú trọng phát triển mộtcách toàn diện nguồn nhân lực, khuyến khích và bồi dỡng nhân tài

Trong nền kinh tế tri thức, tri thức trở thành nguồn duy nhất tạo ra lợi thế sosánh dài hạn, nhng tri thức chỉ đợc áp dụng thông qua kỹ năng cá nhân, nên giáo dục

đào tạo phải trở thành quốc sách hàng đầu của những nớc đi vào nền kinh tế tri thức.Nền kinh tế tri thức đòi hỏi một hệ thống giáo dục và đào tạo tiên tiến, khoa học, tạo

ra nguồn nhân lực có chất lợng và một hệ thống đổi mới quốc gia năng động trong

đó, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trờng đại học và các tác nhân có liên quan khác

sẽ tơng tác một cách có hiệu quả để tạo ra, phổ biến và sử dụng tri thức, đổi mớicông nghệ và sản phẩm, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện vị tríquốc gia Đào tạo nguồn nhân lực trong kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức phải hớngtới mục tiêu biến tri thức thành kỹ năng, tri thức phải thành trí lực và suy rộng ra dântrí phải trở thành nhân lực Có thể nói, lĩnh vực đầu t quan trọng nhất để thúc đẩynền kinh tế tri thức phát triển chính là đầu t vào vốn con ngời, làm thế nào để có thể

đào tạo, thu hút và sử dụng tốt nhân tài Tri thức, nhất là tri thức “nguồn”, không thể

ra đời, tồn tại, phát triển và phổ cập nhanh ở những nớc có trình độ dân trí thấp vàmột hệ thống nghiên cứu khoa học thiếu tính hợp tác và đổi mới

3 Cơ sở hạ tầng thông tin phát triển cao

Trang 20

Cơ sở hạ tầng thông tin, trong đó có công nghệ tin học và thông tin phát triểncao là một trong những điều kiện căn bản nhất đảm bảo sự phát triển của kinh tế trithức Đó không những là một ngành kinh tế then chốt, sản xuất và tiêu thụ sản phẩmtri thức mà còn là điều kiện đảm bảo hiệu quả của việc tiếp cận, trao đổi, xử lý thôngtin, sáng tạo tri thức của các ngành kinh tế – xã hội khác Công nghệ thông tin làchìa khoá để đi vào nền kinh tế tri thức Đầu t phát triển các ngành công nghệ cao

mà trớc hết là công nghệ thông tin là hớng đi mà hầu hết các nớc đều triệt để đi theonhằm tạo dựng cơ sở khoa học cho nền kinh tế tri thức

Cách mạng thông tin là tác nhân căn bản của kinh tế tri thức Sự phổ cậpnhững thành quả do cách mạng thông tin mang lại khiến cho con ngời có nhiều kênhkhác nhau để thu nhận tri thức Sự hội tụ của hoạt động máy tính và mạng máy tính

đã xoá bỏ những giới hạn về về lu giữ và truyền đạt tri thức Với sự phát triển củacông nghệ thông tin, con ngời giờ đây đã có thể gửi đi những khối lợng lớn thông tintới bất cứ đâu trên thế giới trong giây lát với chi phí không ngừng giảm Công nghệthông tin đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc thu nhận và hấp thụ tri thức, cung cấpcho các nớc đang phát triển những cơ hội để tiến hành nhanh quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế Trong sản xuất kinh doanh, sự phát triển công nghệ thông tin sẽ dẫn đếncái mà chúng ta thờng nghe nói là cuộc cách mạng giảm chi phí điều hành Chi phíliên lạc thấp cũng góp phần không nhỏ giúp các doanh nghiệp có những phản ứngkịp thời cho mọi biên động trên phạm vi toàn cầu, thúc đẩy toàn cầu hoá doanhnghiệp

Nh vậy, cơ sở hạ tầng thông tin đã chuyển lên một cấp mới, trở thành tầng nềntảng của toàn bộ cơ sở hạ tầng để chuyển sang nền kinh tế tri thức Cơ sở hạ tầngthông tin là cơ sở kinh tế – kỹ thuật mới về chất cha từng có trớc đây và ngày càngkhẳng định vai trò của nó trong quá trình tiến vào nền kinh tế tri thức

4 Một nhà n ớc pháp quyền dân chủ

Kinh nghiệm thành công cũng nh thất bại của hầu hết các nớc, đặc biệt là Mỹ,cho thấy, nền kinh tế tri thức đòi hỏi không chỉ có đầu t mạnh cho phát triển côngnghệ hiện đại, mà còn phải tạo dựng đợc một nhà nớc pháp quyền, một môi trờngchính trị và xã hội dân chủ cho phép mọi ngời dân có thể bày tỏ quan điển và chínhkiến cũng nh các ý tởng sáng tạo của mình, và những điều kiện thuận lợi đối vớikinh doanh, nơi mà doanh nghiệp có thể lờng trớc đợc mọi rủi ro trên cơ sở một môitrờng hiệu quả, an toàn và ổn định cho việc hình thành, sản xuất và tiêu thụ tri thức

Đó trớc hết phải là một môi trờng chính trị dân chủ, kích thích kinh tế hớng đầu tvào tri thức và khai thác một cách có hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế Sáng

Trang 21

tạo là bản chất của kinh tế tri thức, mà dân chủ lại là tiền đề cho sự sáng tạo nhữngtri thức mới Do đó, không có dân chủ thì sẽ không có tri thức mới, và tất yếu khôngthể có kinh tế tri thức Vì vậy, mênh đề dân chủ – sáng tạo và kinh tế tri thức làthống nhất và có mối quan hệ biện chứng Điều này chỉ ra rằng, kinh tế tri thức đôngthời vừa sản sinh ra thể chế chính trị dân chủ, vừa yêu cầu thể chế chính trị cần phải

đổi mới theo hớng dân chủ thì kinh tế tri thức mới phát triển đợc

Để đảm bảo cho nền kinh tế tri thức hình thành và phát triển tốt cần phải quantâm đến một môi trờng pháp lý rõ ràng, ổn định, không bị thay đổi một cách tuỳtiện, bảo đảm tự do hoàn toàn cho việc tiếp cận, trao đổi và xử lý thông tin, trong đógiá trị của tri thức phải đợc bảo vệ bằng luật sở hữu trí tuệ Mục tiêu của bảo vệquyền sở hữu trí tuệ chính là khuyến khích hoạt động sáng tạo, cổ vũ và kích thích

đầu t vào sản xuất tri thức đồng thời thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả nhất các nguồn lực trí tuệ của xã hội

IV Xu hớng phát triển nền kinh tế tri thức trên thế giớiTrong thế kỷ XXI

Kinh nghiệm nhiều nớc cho thấy, kinh tế tri thức luôn đòi hỏi một năng lực

đổi mới t duy nên để có thể tạo dựng và phát triển đợc nền kinh tế tri thức, mỗi nớcphải có nhận thức mới về nền kinh tế mới hiện nay, thấy rõ đợc tính kế thừa và khácbiệt của nó, nắm đợc các điều kiện phát triển và vận hành của nó, những tác độngmới do nó sinh ra, những lợi thế cũng nh thách thức mà nó đặt ra Có nh vậy, họ mới

có đợc quyết tâm và những chính sách và biện pháp đúng để xây dựng và phát triểnnền kinh tế mới này

Thực tế cho thấy, việc Mỹ và các nớc EU đã vợt trội so với các nớc châu á vàcác nớc thuộc châu lục khác trong việc xây dựng nền kinh tế tri thức không chỉ do

họ có những điều kiện xuất phát về kinh tế và kỹ thuật cao hơn, mà trớc hết là do cácnớc này đã sớm nhận thức đợc vai trò quan trọng của nền kinh tế tri thức, tính tất yếu

và những điều kiện cần thiết cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tế này Họ đãhiểu rằng công nghệ thông tin và rộng hơn là nền kinh tế tri thức không những đòihỏi những điều kiện ra đời và phát triển khác hẳn và một khi nó xuất hiện nó cũngkhiến cho các điều kiện cũ trở nên lỗi thời một cách nhanh chóng, do đó họ sớm cónhững giải pháp đúng đắn để phát triển hoặc tạo điều kiện cho sự ra đời của nền kinh

tế tri thức Mỹ là nớc đang dẫn đầu xu thế chuyển từ nền kinh tế hậu công nghiệpsang nền kinh tế tri thức Nền kinh tế tri thức, đứng đầu là công nghệ cao, đặc biệt làcông nghệ thông tin đã xuất hiện sớm và khá thành công ở Mỹ Ngoài ra, những yếu

tố của nền kinh tế tri thức cũng đã phát triển và đạt đợc mức khá cao trong nhiều nớc

Trang 22

EU Tuy nhiên, cho đến nay, tình hình chuyển sang nền kinh tế tri thức ở khu vựcnày còn chậm hơn so với Mỹ, nhiều nớc cha thực hiện những nguyên tắc cơ bản củanền kinh tế mới Và trong thế kỷ XXI, Mỹ cũng nh các nớc EU tiếp tục tiến tới nềnkinh tế tri thức với các tiền đề vững chắc đợc xây dựng trong các thập niên qua

Trong khi đó, ở không ít các nớc châu á, châu Phi và Mỹ la tinh, ngời ta cònhết sức mơ hồ về nền kinh tế tri thức Cho nên, ở các nớc này, sự đầu t cho việc pháttriển khoa học công nghệ mà trớc hết là công nghệ thông tin và cho việc xây dựngnền kinh tế tri thức cha đợc quan tâm thích đáng ở nhiều nớc, ngời ta vẫn bám lấy

và coi trọng những t duy và thể chế cũ, một thời đợc coi là nguyên nhân tạo ra sựthành công kinh tế của họ, và hậu quả là nền kinh tế của các nớc này bị lạc hậu tơng

đối so với các nớc Âu Mỹ trong việc phát triển khoa học kỹ thuật và trong việc tiến

đến nền kinh tế tri thức Những cuộc điều tra gần đây cho thấy, trong khi Mỹ và EU

đang hăng hái lao vào hoạt động kinh doanh điện tử thì các công ty châu á dờng nhkém tích cực trong việc tham gia vào hoạt động này Một cuộc điều tra vào năm

2000 của công ty International Card cho thấy, hầu hết các giám đốc điều hành củacác công ty hàng đầu châu á đều không cho rằng, thơng mại điện tử là có lợi cho họ.Tại Singapore, một cuộc điều tra của Chính phủ cho thấy, 63% các công ty ở đókhông thích kinh doanh trên mạng điện tử [13,18]

Tuy nhiên, mặc dù có chậm hơn và ở trình độ thấp hơn so với các nớc châu Âu

và Mỹ thì những nét cơ bản của nền kinh tế ri thức cũng đang dần xuất hiện ở nhiềunền kinh tế châu á Điều này biểu hiện ở chỗ trong thời gian gần đây, đa số các nớctrong khu vực này đều tăng vốn đầu t cho công nghệ kỹ thuật cao và các yếu tố cơbản của nền kinh tế tri thức đang xuất hiện ngày càng nhiều và có những đóng gópngày càng rõ rệt vào nền kinh tế

Đó là trên bình diện quốc gia, còn trên bình diện quốc tế, bình diện toàn cầu,

do những điều kiện, lợi ích và nhận thức khác nhau, nên các nớc cũng tồn tại nhữngchính sách khác nhau về việc xây dựng các yếu tố của nền kinh tế tri thức Hiện nay,trong khi Mỹ tỏ ra rất hào hứng trong việc ủng hộ buôn bán tự do trên mạng bằngcách kêu gọi bãi bỏ nhanh chóng những trở ngại đối với thơng mại và tài chính điện

tử thì một số nớc EU và Nhật Bản lại kịch liệt phản đối Điều đó chắc chắn sẽ tác

động làm chậm lại quá trình ra đời của nền kinh tế tri thức toàn cầu

Đúng nh Peter Drucker, trong cuốn The Post Capitalism Society năm 1998 đã

từng viết “ Cuộc cách mạng thông tin đang trên đờng tiến tới Đó không chỉ là cuộccách mạng về công nghệ, về máy móc, về kỹ thuật, về phần mềm mà trớc hết đó làmột cuộc cách mạng về các quan niệm, về đổi mới t duy ” Nh vậy, các nớc muốn

Trang 23

tiến tới và phát triển nền kinh tế tri thức thì không những phải tăng cờng đầu t choviệc phát triển công nghệ cao mà còn phải thay đổi thái độ đối với những thể chếkinh tế hiện nay và đối với công nghệ mới Trong thực tế, sự thay đổi này đang diễn

ra, song không đơn giản và dễ dàng Cùng với việc thay đổi lối t duy phù hợp với nềnkinh tế mới, hầu hết các nớc đã và đang nỗ lực hoạch định những chính sách nhằmtạo ra tiền đề để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức trong thế kỷ XXI

Chơng II Nền kinh tế tri thức của một số nớc trên thế giới và bài học đối với việt Nam

1 Quan niệm của Mỹ về nền kinh tế tri thức

Cách gọi khác cho nền kinh tế tri thức đợc sử dụng phổ biến hơn ở Mỹ là “nền

kinh tế Mới – New Economy” lần đầu tiên đợc nêu lên trong cuốn Làn sóng thứ ba

(xuất bản năm 1980 ) của tác giả A Toffler Tháng 2/1997, trong thông điệp liên

bang về tình hình đất nớc, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã sử dụng khái niệm kinh tế

tri thức theo định nghĩa của OECD và trong cuộc hội thảo về công nghệ mới và kinh

tế mới tại thành phố Seatle tháng 5/1997, khái niệm kinh tế Mới cũng đợc phó Tổng

thống Al.Gore trình bày và nhấn mạnh kể từ những năm 1980, Mỹ đã tiến vào nền

Trang 24

kinh tế mới dựa trên cơ sở của cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự toàn cầu

hoá kinh tế thị trờng Năm 1999, Bộ Thơng mại Mỹ đã công bố báo cáo về nền kinh

tế số The Emerging Digital Economy, trong đó nhấn mạnh vai trò của kỷ nguyên

kỹ thuật số đối với nền kinh tế Mỹ

Theo đó, quan niệm của Mỹ về nền kinh tế tri thức là nhấn mạnh khía cạnhmôi trờng công nghệ của bớc chuyển đổi trong nền kinh tế Mỹ Nền kinh tế Mỹ do

đó đang trong quá trình thích ứng và chuyển dịch phù hợp với môi trờng công nghệ

số hoá Những khái niệm nh thơng mại điện tử ( E- commerce) hay chính phủ điện

tử ( E – Government ) đều phản ánh sự điều chỉnh trớc làn sóng công nghệ số.Chính những điều chỉnh này tạo ra tính “ Mới” của nền kinh tế Mỹ

Nh vậy, quan điểm này khẳng định vai trò của môi trờng kỹ thuật số hoá củanền kinh tế và nguồn tri thức đợc tạo ra là tri thức của thời đại công nghệ kỹ thuật số,không phải tri thức của thời đại công nghệ cơ khí hoá hay cơ giới hoá

Trang 25

Nền kinh tế Mới dựa trên tri thức xuất hiện và phát triển ở Mỹ là nền kinh tếchuyển dịch vào môi trờng của cuộc cách mạng số hoá.

Tuy nhiên, công nghệ mới chỉ là điều kiện cần Vai trò của Chính phủ mới lànhân tố đảm bảo cho sự chuyển dịch thành công nói trên Báo cáo kinh tế của Tổngthống Mỹ năm 2001 (Economic Report of the President 2001) đã định nghĩa: “ Nềnkinh tế Mới là nền kinh tế có hiệu suất vợt bậc, gồm năng suất tăng nhanh, thu nhậptăng, thất nghiệp thấp và lạm phát vừa phải, là kết quả của sự kết hợp tơng tác giữanhững thành tựu về công nghiệp, tập quán kinh doanh và chính sách kinh tế ”[27,23] Báo cáo này cũng trình bày khá toàn diện quan niệm của Chính phủ Mỹ vềnền kinh tế tri thức ở Mỹ:

 Đây là một nền kinh tế Mới vì nền kinh tế Mỹ đang trong quá trình chuyểnbiến sâu rộng từ cơ cấu ngành kinh tế đến phơng thức vận hành nền kinh tế vĩ mô,phơng thức quản lý doanh nghiệp và tổ chức lao động trong công ty

 Nói “ dựa trên tri thức ” chính là đặc điểm bao trùm của nền kinh tế Mới

đang xuất hiện ở Mỹ Nền kinh tế mới này không chỉ dựa trên các ngành công nghiệptruyền thống mà còn chuyển mạnh sang các ngành mới dựa trên kỹ thuật số và dịch

vụ tri thức Các ngành mới lại tác động và làm thay đổi phơng thức hoạt động của cácngành truyền thống

Việc điểm qua những quan điểm chính cho thấy nền kinh tế Mỹ đã và đangthay đổi thực sự, thay đổi chính là tiền đề cho sự tiến bộ Những thay đổi diễn ratrong nền kinh tế Mỹ không trái chiều nhau mà tiến triển theo cùng một chiều hớng,

đó là xu thế chuyển sang một nền kinh tế dựa chủ yếu vào các nguồn lực do sứcmạnh trí tuệ của con ngời tạo ra, những tài sản vô hình và không trọng lợng

2 Tình hình phát triển nền kinh tế tri thức ở Mỹ

2.1 Quá trình ra đời và phát triển của nền kinh tế tri thức của Mỹ.

Trả lời câu hỏi ở Mỹ liệu có một nền kinh tế tri thức hay không, nhiều học giả

Mỹ cho rằng, kể từ những năm 1980, Mỹ đã tiến vào nền kinh tế mới dựa trên cơ sởcủa cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự toàn cầu hoá kinh tế thị trờng Có thểnói, “kinh tế tri thức” hay “kinh tế mới” đứng đầu là các lĩnh vực công nghệ cao, đặcbiệt là công nghệ thông tin đã khá thành công ở Mỹ Tháng 11/1991, Mỹ đã mở cửamạng Internet công chúng, nhanh chóng thúc đẩy cuộc cách mạng tin học và điềuchỉnh ngành nghề Từ đó, nền kinh tế Mỹ đã tăng trởng 117 tháng liên tục và trởthành chu kỳ tăng trởng dài nhất trong lịch sử phát triển kinh tế Mỹ [20,73] Từ năm

1994 đến 2001, tốc độ tăng trởng đạt mức trung bình 4% năm và có sự phát triển vợttrội so với các nớc EU và Nhật Bản trong suốt những năm 1990, sản phẩm thông tin

Trang 26

và chi phí dịch vụ tăng lên nhanh chóng, dẫn đầu các lĩnh vực khác Theo thống kênăm 1997, ở Mỹ chi phí cho các sản phẩm “kinh tế cũ” nh ôtô, thực phẩm, đồ điệngia dụng tăng bình quân 0,9%, nhng chi phí cho các sản phẩm “kinh tế mới” nh

điện thoại di động, máy tính, dịch vụ tài chính tiền tệ lại tăng bình quân 12,5% Tỷ

lệ thất nghiệp đã giảm từ 6% đầu những năm 1990 xuống còn 4% và tỷ lệ lạm phátcũng liên tục giảm và đạt ở mức thấp là 1,5% [12,41] Ngoài ra, tỷ trọng xuất nhậpkhẩu và tỷ lệ đóng góp của các sản phẩm công nghệ cao vào GDP ngày càng lớn

Có nhiều yếu tố làm nên sự thành công của nền kinh tế Mỹ nhng động lựcchính cho sự tăng trởng này là sự phát triển mạnh của các ngành công nghệ cao, đặcbiệt là sự bùng nổ phát triển công nghệ thông tin Mặc dù hiện ngành này mới chỉchiếm 8% GDP nhng lại đóng góp tới hơn 1/3 mức tăng trởng kinh tế hàng năm của

Mỹ và nếu tính cả những ngành có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tin học thì tỷ

lệ này lên đến 80% GDP [9,108] Mỹ đạt đợc những thành tựu kinh tế nh vậy là nhờvào tăng nhanh đầu t mạo hiểm (venture capital investment) vào công nghệ cao, nhất

là công nghệ thông tin, khả năng của các thị trờng tài chính Mỹ, khả năng của chínhphủ và các tập đoàn trong việc giảm dần chi phí và nâng cao hiệu quả trong hoạt

động kinh doanh và đầu t cũng nh tính đổi mới cao của nền kinh tế Những chuyểnbiến trong nền kinh tế Mỹ thể hiện ở các điểm sau:

2.1.1 Vai trò nổi bật của khu vực công nghệ thông tin truyền thông.

Khu vực công nghệ thông tin truyền thông của Mỹ tăng trởng mạnh trong suốtthập kỷ 1990 và đạt tốc độ tăng trởng trung bình 17%/năm vào nửa cuối thập kỷ.Năm 1999, giá trị sản lợng của khu vực này đạt 729 tỷ USD Điều quan trọng là mặc

dù chỉ chiếm dới 10% GDP nhng các ngành công nghệ thông tin đã đóng góp trungbình 30% lợng tăng trởng của kinh tế Mỹ [9,156]

Việc làm trong khu vực công nghệ thông tin cũng tăng mạnh hơn các khu vựckinh tế khác Sản lợng của khu vực công nghệ thông tin tăng nhanh đồng nghĩa với sựtăng mạnh về số lợng việc làm của khu vực này Năm 1998, khoảng 7,4 triệu côngnhân làm việc trong khu vực công nghệ thông tin, chiếm 6,1% lực lợng lao động Mỹ.Trong giai đoạn 1994 – 1998, việc làm trong ngành công nghệ thông tin tăng 29%,

so với tốc độ tăng bình quân của các ngành khác là 22% [9,156]

Công nghệ thông tin kết hợp với công nghệ truyền thông đã tạo ra mạngInternet Khu vực kinh tế Internet cũng phát triển rất nhanh Trong hai năm 1998 –

1999, khu vực Internet tăng trởng 36%, tạo ra 650000 việc làm mới Tỷ trọng tuyệt

đối của khu vực Internet trong nền kinh tế Mỹ còn tăng với tốc độ cao hơn, từ 323 tỷUSD năm 1998 lên 524 tỷ USD năm 1999, tăng 62% [9,157] Điều này cho thấy

Trang 27

ngày càng nhiều công ty chuyển sang lĩnh vực kinh doanh điện tử Một công ty thuộcnền kinh tế Internet có mức tăng trởng lợi nhuận là 11%, cao hơn nhiều so với mức4% của các công ty thuộc khu vực sản xuất vật chất.

Đầu t vốn cho công nghệ thông tin chiếm 46% tổng số vốn đầu t của khu vực tnhân Năm 1998, thiết bị và phần mềm công nghệ thông tin chiếm 46% tổng số vốn

đầu t của các công ty t nhân [9,157] Trong khi đó,tỷ lệ đầu t cho các thiết bị cơ bảnkhác nh máy móc lại giảm Nhân tố chủ yếu của việc tăng cờng đầu t vốn công nghệthông tin là do thiết bị và phần mềm công nghệ thông tin giảm

2.1.2 Những đổi mới trong khu vực tài chính.

Làn sóng công nghệ mới và các ý tởng sáng tạo không thể ra đời và thơng mạihoá nếu không có một môi trờng tài chính thuận lợi, đúng hơn là không đi kèm vớinhững đổi mới trong khu vực tài chính Một loạt các công cụ tài chính mới ra đời và

đổi mới để hỗ trợ cho làn sóng công nghệ mới Đó là sự bùng nổ của nguồn vốn rủi

ro (risk capital) hay vốn mạo hiểm (venture capital) với sự xuất hiện của hàng ngànquỹ đầu t mạo hiểm (ventural capital investment fund) Đó là hình thức gọi vốn IPO(chào giá niêm yết chứng khoán lần đầu) trên thị trờng vốn để hình thành các doanhnghiệp mới

Yếu tố dẫn đến sự tăng trởng của Mỹ là một cuộc bùng nổ cha từng có nguồn

“vốn rủi ro” – từ các quỹ vốn mạo hiểm và các cuộc chào giá niêm yết chứng khoánlần đầu Lần đầu tiên tồn tại một tập hợp các định chế tài chính phục vụ cho việckiếm tìm và tài trợ hoạt động đổi mới một cách có hệ thống và tồn tại một thị tr ờng

mà những nhà doanh nghiệp với ý tởng sáng tạo có thể huy động đủ nguồn tài chính

để cạnh tranh với các công ty khác Đây chính là điều làm nên cái mới của nền kinh

tế Mới ở Mỹ

Nếu công nghệ đợc coi là động cơ của kinh tế mới thì tài chính đợc ví nh nhiênliệu cho động cơ này Hiện nay, nguồn vốn mạo hiểm đã tăng và có thể cạnh tranhvới nguồn quỹ R&D trong việc tài trợ cho hoạt động đổi mới Tác động của nguồnvốn mạo hiểm khá lớn trong nền kinh tế Một nghiên cứu của Đại học tổng hợpHarvard năm 1998 đã tính toán rằng, một USD vốn mạo hiểm có thể tạo ra số lợngbằng sáng chế gấp 3 đến 5 lần một USD chi cho R&D của công ty [21,159]

Nguồn tài chính sẵn có và cơ hội làm giàu từ một ý tởng mới đã đẩy nhanh quátrình đổi mới Đổi mới nhanh lại có tác dụng làm tăng năng suất, giảm lạm phát vàthúc đẩy đầu t Điều này lý giải tại sao Mỹ lại hởng lợi nhiều hơn bất cứ quốc giacông nghiệp nào từ cuộc cách mạng công nghệ ngày nay Những nớc nh Đức và

Trang 28

Nhật Bản cũng tiếp cận với các công nghệ nh Mỹ, song họ đã bị tụt hậu do không có

đủ khả năng chấp nhận rủi ro nh các thị trờng tài chính Mỹ

Nh vậy có thể thấy rằng môi trờng tài chính đóng vai trò quyết định cho quátrình đổi mới trong nền kinh tế Sự sáng tạo và đổi mới là tiền đề của một nền kinh tếmới dựa vào tri thức

2.1.2 Sự biến đổi của mô hình sản xuất và kinh doanh.

 Hớng tới một mô hình mới

Sức ép từ môi trờng cạnh tranh mới và làn sóng công nghệ mới đã biến đổi môhình quản lý và sản xuất truyền thống Hệ thống sản xuất linh hoạt (FlexibleManufacture System - FMS) đang đợc các doanh nghiệp Mỹ ứng dụng, dần thay thếmô hình sản xuất hàng loạt Mô hình quản lý sản xuất mới, tổng quát hơn là mô hìnhkinh doanh mới đang dần thay thế mô hình quản lý khoa học do F.W.Taylor khởi x-ớng từ đầu thế kỷ XX (Economic Reform Today, No.1 / 2000)

Mô hình kinh doanh phổ biến suốt nửa thế kỷ qua là mô hình quản lý khoa họccủa F.W.Taylor, hay còn gọi là quy trình sản xuất hàng loạt Những năm cuối thập kỷ

1970, đầu thập kỷ 1980 đã chứng kiến sự xuất hiện mô hình kinh doanh mới Trênnhiều khía cạnh quan trọng, phơng pháp mới này đã đảo ngợc những quy tắc củaquản lý khoa học

Thứ nhất, đó là xu hớng tổ chức sản

xuất có sự phân tách “t duy” và “hành

động”giữa kỹ s quản lý với kỹ s chuyên

môn hoá, giữa kỹ s quản lý với các

công nhân không có tay nghề

“ T duy” và “ hành động” sản xuất đợctái hợp nhằm tận dụng trí thông minh vànăng lực của công nhân sản xuất để giảiquyết các vấn đề tại xởng sản xuất

Thứ hai, đó là xu hớng giới hạn trách

nhiệm công viẹc của công nhân sản

xuất và tăng cờng chuyên môn hoá

công việc càng nhiều càng tốt nhằm tối

đa hoá tính kinh tế nhờ quy mô tiềm

năng

Làm việc theo nhóm đợc chú trọng.Trong khi chuyên môn hoá và tính kinh

tế nhờ quy mô vẫn là yếu tố quan trọngthì mô hình mới ra đời nhằm tận dụngsức phối hợp tiềm năng có đợc từ cácnhóm làm việc 10 – 20 ngời, đồng thờichuyên môn hoá cũng đợc thực hiện mộtcách hợp lý để không gây phơng hại đếnlàm viẹc nhóm

Thứ ba, đó là điều mà kỹs F.W.Taylor

tin rằng ở bất cứ thời điểm nào cũng

tồn tại một giải pháp tổ chức công việc

và sản xuất tối u

Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hoạt

động đổi mới liên tục – không chỉ đổimới trong sản phẩm thông qua việc thíchứng với sự thay đổi của nhu cầu mà phải

đổi mới trong cách thức sản xuất, sửdụng công nghệ mới và các phơng pháp

Trang 29

mới để tổ chức và khuyến khích con ời.

ng-Nguồn: Tạp chí Economic Reform Today số 1/2000, The Business Model of

the New Economy

Trang 30

Mỹ không phải là một trong những nớc đầu tiên có nhiều công ty hoạt độngtheo mô hình kinh doanh mới Tuy nhiên, xã hội Mỹ, nền kinh tế Mỹ và nhiều doanhnghiệp Mỹ lại hết sức linh hoạt Do đó, đầu thập kỷ 1980 và đặc biệt là từ cuộc suythoái đầu những năm 1990, nhiều công ty Mỹ đã nhanh chóng thích ứng và tổ chứclại sản xuất theo nhiều nguyên tắc của mô hình kinh doanh mới Không chỉ các công

ty mới kiểu nh các công ty hoạt động trên mạng Internet (dot.com) mới hoạt độngtheo mô hình này mà những công ty theo mô hình cũ nh hãng ôtô GM cũng đãchuyển đổi sang mô hình mới Mô hình kinh doanh mới là một triêt lý về cách thức

tổ chức con ngời dựa trên làm việc theo nhóm có ý thức, kết nối mạng lới, khuyếnkhích con ngời và giảm bớt lãng phí Đây chính là mấu chốt của sức cạnh tranh Mỹtrong suốt thập kỷ 1990, là một trong những tiền đề mang tính quyết định cho sự hìnhthành nền kinh tế mới dựa trên tri thức ở Mỹ

 Mô hình mới đòi hỏi các phơng thức kinh doanh mới.

Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và mạng Internet, chi phí kinh doanhgiảm đáng kể, đặc biệt là chi phí giao dịch và phân phối Điều này giúp doanh nghiệpthoả mãn tối u nhu cầu ngày càng đa dạng và đổi mới của khách hàng, bao gồm cảngời tiêu dùng và các doanh nghiệp Hoạt động giao dịch kinh doanh thông quamạng Internet (E – Commerce) thực sự bùng nổ và lan rộng Mặc dù nhiều công ty

Mỹ đã sử dụng máy tính và ứng dụng chúng vào các hoạt động kinh doanh nh trao

đổi dữ liệu điện tử (EDI) và thanh toán chuyển khoản điện tử (EFT) từ thập kỷ 1970,nhng phải đến thập kỷ 1990 việc ứng dụng mạng Internet vào kinh doanh mới đợcxem là sự thay đổi mang tính cách mạng

Bên cạnh đó, các sản phẩm sản xuất hàng loạt trở nên không hấp dẫn do sựthay đổi đa dạng của thị hiếu và nhu cầu Thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp Mỹphải tìm cách đơn chiếc hoá (customization) các sản phẩm của mình và đa dạng hoácác hình thức dịch vụ Nhờ đó, phơng thức tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mớidần hình thành đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế mới dựa vào tri thức

 Mô hình mới cần chiến lợc kinh doanh mới

Các công ty Mỹ ngày càng có xu hớng tận dụng nguồn lực bên ngoài(outsourcing) để thực hiện các chức năng kinh doanh vì chiến lợc này đem lại sự lựachọn có chi phí thấp cho các hoạt động sản xuất, tiếp thị, dịch vụ khách hàng, giaohàng, lu kho và các quy trình kinh doanh khác

Trang 31

Khi phân công lao động trong quy trình giá trị gia tăng tiếp tục đợc thực hiệntrên quy mô toàn cầu, các công ty Mỹ có xu hớng chuộng hình thức liên doanh, thuêngoài và các cam kết theo hợp đồng hơn là hình thức đầu t trực tiếp nớc ngoài.Nguyên nhân chủ yếu khiến các công ty Mỹ đi thuê ngoài là do các khoản chi phí

điều phối dự án giảm và tỷ lệ chi phí lao động trong tổng chi phí hạ thấp

Nhờ sử dụng Internet và công nghệ thông tin, các công ty Mỹ có thể giám sátcác hoạt động sản xuất của nhà thầu phụ và phối hợp chặt chẽ với họ để đáp ứng cácthông số kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lợng và thời gian giao hàng của sản phẩm với chiphí thấp hơn nhiều so với trớc đây Điều này sẽ giảm thiểu yêu cầu quản lý sản xuấttích cực trong hình thức đầu t trực tiếp Đồng thời, tỉ lệ chi phí lao động trong tổngchi phí sản xuất hay trong chi phí tiếp thị lại giảm liên tục Do vậy, những lợi thế từchi phí lao động nớc ngoài thấp chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lợi nhuận của cáccông ty Mỹ

Liên minh chiến lợc (Strategic Alliance) cũng là một chiêu thức phù hợp chocác công ty Mỹ ngày nay, đặc biệt là những công ty tiên phong trong lĩnh vực côngnghệ mới Các công ty này một mặt đua tranh, một mặt bắt tay hợp tác với nhau trongmột số lĩnh vực công nghệ đột phá mà nếu đứng một mình thì không một công ty nào

có thể có đủ tài và lực để thành công

Trong các ngành khác, hoạt động điều chỉnh chiến lợc kinh doanh cũng đợc

đẩy mạnh Bối cảnh cạnh tranh toàn cầu làm làn sóng mua lại và sát nhập dâng cao,

đặt biệt trong lĩnh vực viễn thông, dợc phẩm, ôtô Quá trình tái cơ cấu doanh nghiệpnày gây ra một số tác động về mặt xã hội nhng nó chính là quá trình loại bỏ cái cũtạo điều kiện cho cái mới ra đời Khả năng tự đổi mới của các doanh nghiệp Mỹ đãgóp phần quyết định vào sự xuất hiện của nền kinh tế mới dựa trên tri thức ở Mỹ

Nh vậy, tính năng động và sự điều chỉnh của khu vực doanh nghiệp Mỹ đã trởthành một tiền đề quan trọng cho quá trình chuyển dịch sang một nền kinh tế Mớidựa trên tri thức ở Mỹ

2.2 Một số đặc trng chủ yếu của nền kinh tế tri thức ở Mỹ.

2.2.1 Các ngành công nghệ cao, dịch vụ trở thành động lực tăng trởng chính.

Các ngành công nghệ cao và dịch vụ ở Mỹ đã làm ra tới 60% GDP, thu hút vàtạo ra một lực lợng lao động lớn Năm 1999, ngành công nghệ thông tin sử dụng sửdụng 48 triệu ngời, ngành ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng 43 triệu ngời,chiếm 45% số ngời làm việc trong các doanh nghiệp lớn và dự kiến con số này sẽtăng tới 50% vào năm 2006 [4,89] Không những nền kinh tế tri thức làm xuất hiệnnhiều nghề mới mà còn đòi hỏi ngời lao động phải không ngừng nâng cao trình độ

Trang 32

của mình, vì chính những lao động đã qua đào tạo này là nhân tố chủ yếu làm tăngnăng suất lao động và thúc đẩy đổi mới.

2.2.2 Nền kinh tế tri thức của Mỹ là nền kinh tế có xu hớng toàn cầu hoá mạnh.

Xu hớng toàn cầu hoá mạnh thể hiện ở việc tỷ lệ xuất nhập khẩu của Mỹ trongGDP đã tăng đáng kể từ 5,5% năm 1950 lên 11% năm 1970 và 25% năm 1997 và cácnhà sản xuất Mỹ ngày càng chuyên môn hoá cao vào những hàng hoá và dịch vụphức tạp hơn, có giá trị gia tăng cao hơn [21,44] Đồng thời, ngay từ những năm

1970, không những FDI của Mỹ ra nớc ngoài mà cả FDI nớc ngoài vào Mỹ cũng tăngnhiều khiến cho nền kinh tế Mỹ ngày càng có tính cạnh tranh, năng động và luôn đổimới Mặc dù, theo dự tính sơ bộ của Công ty dữ liệu quốc tế (IDC) thì năm 2003, Mỹchỉ còn chiếm 44% tổng kim ngạch thơng mại điện tử toàn cầu, giảm so với 61,7%năm 1999, song vẫn còn cao hơn nhiều so với các nớc EU( con số tơng ứng là 31,2%

và 18,7%) và Nhật Bản (con số tơng ứng là 15,3% và 10,3%)[9,58]

2.2.3 Nền kinh tế tri thức đợc quản lý và vận hành theo một cơ chế năng động.

Nền kinh tế Mỹ luôn cho ra đời rất nhiều những công ty t nhân, tuy nhỏ nhngluôn đổi mới và linh hoạt và đợc coi là động lực chính cho nền kinh tế Mỹ trong suốtthập kỷ qua Trong thời kỳ 1993 – 1998, số lợng các công ty loại này đã tăng hơn40% và tạo ra 70% số việc làm mới cho nền kinh tế Mỹ trong thời kỳ này Ngoài ra,trong những năm 1990, tình hình việc làm ở Mỹ cũng xáo động mạnh bằng việc cácviệc làm mới liên tục thay thế cho các việc làm cũ và chỉ số bán cổ phiếu ban đầu, thểhiện một tiềm năng phát triển bền vững và lâu dài của một nền kinh tế, cũng tăngmạnh so với các thập kỷ trớc

2.2.4 Lạm phát và thất nghiệp ở mức thấp.

Cả lạm phát và thất nghiệp ở Mỹ đều đợc duy trì ở mức thấp Trong thập kỷ

1990, mức thất nghiệp trong nền kinh tế Mỹ giảm từ 6% năm 1992 xuống còn 4%năm 2000 [4,154] Điều đáng nghiên cứu là mức thất nghiệp thấp kỷ lục nh vậy songlạm phát không hề có dấu hiệu bùng phát nh trong thời kỳ trớc Nguyên nhân chủ yếucủa hiện tợng này là mức tăng năng suất kỳ diệu của nền kinh tế Mỹ trong thời gianqua Một số quan điểm cho rằng thực tế này chỉ mang tính tạm thời, do giá hàng nhậpkhẩu thấp và phù hợp với chiều hớng giảm lạm phát trên thế giới Tuy nhiên, cần thấyrằng sự thay đổi này trong quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát cơ bản bắt nguồn từ

sự chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế Mỹ, kết quả của những điều chỉnh chínhsách kinh tế vĩ mô

Hiện nay đang diễn ra cuộc tranh luận về vai trò thực sự của công nghệ thôngtin đối với chiều hớng giảm tỷ lệ thất nghiệp không gây lạm phát trong nền kinh tế

Trang 33

Mỹ Có quan điểm cho rằng năng suất tăng mang tính cơ cấu, kết quả của sự phổbiến công nghệ thông tin trong nền kinh tế Quan điểm khác cho rằng mức tăng năngsuất một khi đã tính tới những tác động chu kỳ và sự thay đổi phép tính năng suất, cóthể chỉ thấy trong ngành sản xuất máy vi tính Nếu nh vậy thì tất cả các ngành sửdụng máy vi tính – gần nh toàn bộ nền kinh tế Mỹ - đều không đạt đợc mức tăngnăng suất nào cả Cuộc tranh luận này cha có kết luận nhng không thể phủ nhận một

điều là nền kinh tế Mỹ đã đạt đợc một sự ổn định kinh tế vĩ mô trong thời gian qua vàchính sự ổn định này là tiền đề không thể thiếu cho sự phát triển của một nền kinh tếtri thức

3 Vai trò của chính sách kinh tế vĩ mô

Báo cáo kinh tế của Tổng thống Mỹ năm 2001 đánh giá chính sách vĩ mô làmột trong ba tiền đề cho nền kinh tế Mới dựa trên tri thức đang phát triển ở Mỹ Sau

đây là sự phân tích vai trò đó trên hai khía cạnh nổi bật là đảm bảo nguồn tài chính và

đảm bảo nguồn nhân lực

3.1 Đảm bảo nguồn tài chính.

Việc thực thi chính sách kỷ cơng tài chính đã tái lập cân bằng ngân sách liênbang, chính sách này kết hợp với chính sách tiền tệ đúng đắn đã tạo ra một môi trờngvốn ổn định, lãi suất thấp, khuyến khích đầu t t nhân Thặng d ngân sách liên bang

đạt mức kỷ lục, năm 1992 thâm hụt 290 tỷ USD đến năm 2000 thặng d 167 tỷ USD

Chính sách tài khoá chuyển hớng đầu t cho khu vực t nhân, đặc biệt là tạo điềukiện đầu t cho khu vực tài sản vô hình của nền kinh tế nh giáo dục - đào tạo, R&D vàphần mềm và khuyến khích khu vực t nhân đầu t Sự chuyển hớng này đã hỗ trợ việcduy trì kỷ cơng tài chính và giải phóng nguồn lực cho khu vực t nhân phát triển, làmbùng nổ làn sóng đầu t trong nền kinh tế

Bảng 2: Nguồn tài chính tài trợ cho hoạt động R&D ở Mỹ

Nguồn tài chính Toàn bộ R&D Khoa học cơ bản Khoa học ứng

dụng

Phát triểnChính phủ

Trang 34

Từ 1993 đến 2000, tốc độ tăng GDP thực đạt trung bình 4%/năm, gấp rỡi tốc

độ trung bình của thời kỳ 1973 – 1993 Mức tăng trởng này phản ánh một cơ chếviệc làm mạnh và năng suất lao động cao Trong giai đoạn 1993 – 2000, nền kinh tế

Mỹ đã tạo ra 22 triệu việc làm mới và trong năm 2000, thất nghiệp chỉ còn 3,9%[4,168]

Nền giáo dục Mỹ đang ngày càng mở rộng và đợc đánh giá là nền giáo dục cókhả năng tiếp thu tốt, các tiêu chuẩn giáo dục cao và luôn đợc đổi mới, thích ứng vớinhững biến động và đòi hỏi của nền kinh tế Chính sách phát triển nguồn nhân lực đ-

ợc coi là mục tiêu chiến lợc để chuẩn bị hành tranh cho nền kinh tế Mới ở Mỹ Chínhphủ Mỹ đã tập trung xây dựng một hệ thống giáo dục và đào tạo mạnh, xác định thời

đại thông tin là thời đại giáo dục, trong đó giáo dục phải xuất phát từ con ngời Bêncạnh đó, chính sách nhập c đợc điều chỉnh kịp thời để thu hút nguồn lực chất xámtoàn cầu Từ trớc đến nay, với u thế là điểm đến đầy hấp dẫn của các làn sóng di c,cộng với chính sách nhập c tơng đối thoáng, Mỹ trở thành nớc hởng lợi nhiều nhấtnguồn chất xám từ khắp nơi trên thế giới Sự xuất hiện của dòng ngời di c này đã gópmột phần đáng kể vào quá trình mở rộng quy mô kinh tế và sự phát triển của nớc Mỹ.Một ví dụ cho sự thành công của chính sách nhập c của Mỹ là thung lũng Silicon(bang Caliornia), cái nôi trí tuệ của nền kinh tế Mới dựa trên tri thức ở Mỹ Tại thunglũng Silicon, khoảng 45% số chuyên gia phần mềm đang làm việc tại đây là từ ấn

Độ và Trung Quốc

1 Quan niệm của các n ớc EU về nền kinh tế tri thức

Từ đầu những năm 1980, ở cấp quốc gia và cấp EU đã có những tuyên bố cảnhbáo về nguy cơ tụt hậu của EU so với Mỹ trong những lĩnh vực chính của cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ ba Bớc chuyển sang nền kinh tế tri thức đã đợc coi là quátrình khách quan, bảo đảm tăng trởng kinh tế cao và bền vững, xét trên cả khía cạnhxã hội và môi trờng Bớc chuyển này vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nớc

EU Tại Hội nghị thợng đỉnh Lisbon tháng 3 năm 2000, các chính phủ Liên minhchâu Âu cho rằng, để đa nền kinh tế EU trở nên năng động nhất và có khả năng cạnhtranh cao nhất thế giới vào năm 2010, EU cần tiến tới nền kinh tế tri thức Tháng 5năm 2000, Uỷ ban Châu Âu đã đề xuất kế hoạch hành động “Châu Âu điện tử ”, kêugọi các nớc thành viên nhanh chóng xây dựng hệ thống mạng, tranh thủ đến năm

2002 làm cho kỹ thuật số và mạng Internet của Châu Âu đứng vào hàng đầu thế giới

Hiện nay, những yếu tố của nền kinh tế tri thức cũng đã phát triển và đạt đợcmức khá cao trong nhiều nớc ở EU Khi trình bày về những đặc trng chủ yếu của kinh

Trang 35

tế tri thức, các công trình nghiên cứu của các học giả EU, các văn bản chính thức của

EU cũng nh các nớc thành viên EU đã đa ra nhiều điểm tơng đồng với các đặc điểmcủa nền kinh tế tri thức đợc công nhận rộng rãi trên thế giới Tuy nhiên, do những bốicảnh đặc thù riêng của mình, quan niệm của các nớc EU về đặc trng của nền kinh tếtri thức cũng có các sắc thái riêng, đó là:

 Các nớc EU chú trọng đến khía cạnh xã hội - nhân văn trong bớc chuyểnsang nền kinh tế tri thức Bởi vì khoảng cách về trình độ công nghệ và cùng với toàncầu hoá có xu hớng làm tăng khoảng cách thu nhập và làm rạn nứt sự gắn kết xã hội.Các nớc EU chủ trơng đa ra các chiến lợc để giải quyết vấn đề trên là thúc đẩy thay

đổi nhanh đồng thời đền bù cho những nạn nhân thông qua chính sách xã hội và khuvực, làm tăng năng lực hấp thụ thay đổi đối với khu vực yếu kém

 Các nớc EU chú trọng đến sự học tập diễn ra ở mọi cấp độ – cá nhân,doanh nghiệp, đại phơng, quốc gia và coi đó là nền tảng của bớc chuyển sang nềnkinh tế tri thức Cải cách giáo dục, đào tạo, tăng cờng công tác truyền bá tri thức dovậy đợc coi là một tiền đề quan trọng của nền kinh tế tri thức của các nớc EU

 Nền kinh tế tri thức, theo các nớc EU, phải dựa trên sự dân chủ hoá kinh tế

và chính trị Bớc chuyển sang nền kinh tế tri thức của các nớc EU đợc quan niệm là

sự phát triển bền vững về cả khía cạnh xã hội cũng nh môi trờng

 Các nớc EU kết hợp viêc xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức với tiếntrình tăng cờng liên kết toàn diện trong Liên minh châu Âu

2 Đánh giá quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức của các n ớc EU

2.1. Cơ cấu ngành của nền kinh tế.

Trong hầu hết các nền kinh tế của các nớc EU đều có sự thay đổi cơ cấu ngànhcủa nền kinh tế theo hớng dịch vụ hoá và tăng vai trò của các ngành sử dụng nhiều trithức Xét cơ cấu ngành kinh tế của các nền kinh tế EU thì tỷ trọng của khu vực dịch

vụ trong những năm gần đây tiếp tục tăng mạnh Năm 1998, nông nghiệp chiếm4,7% nhân dụng của EU, công nghiệp là 29,5% và dịch vụ là 65,7% [20]

Sự gia tăng tỷ trọng của các ngành có hàm lợng khoa học – công nghệ cao

đ-ợc thể hiện trong một số chỉ số chung của toàn bộ nền kinh tế cũng nh trong các cơcấu nội bộ ngành Theo OECD, trong thời gian từ 1990 - 1996, trong khi tốc độ tănggiá trị gia tăng trung bình hàng năm của khu vực kinh doanh ở EU là 2,4% thì riêngtrong các ngành dựa trên tri thức, con số này là 3,1% Vì vậy, tỷ trọng về giá trị gia

Trang 36

tăng của các ngành dựa trên tri thức trong khu vực kinh doanh đã tăng nhanh., năm

1996 là 48,8% Nhng nếu so với Mỹ và Nhật Bản thì tỷ lệ này vẫn còn thấp bởi cũngtrong năm này, các ngành dựa trên tri thức chiếm 55,3% giá trị gia tăng trong khuvực kinh doanh ở Mỹ, còn Nhật Bản là 53% [20]

Trong thời gian qua, nhờ áp dụng công nghệ mới, năng suất lao động trong tấtcả các ngành công nghiệp đều tăng cao và ít có sự khác biệt giữa các ngành Nhìnvào tốc độ tăng giá trị gia tăng, ta thấy các nớc EU vẫn thể hiện tính chuyên môn hoácao trong các ngành nh thiết bị công nghiệp, vật t vận tải, hàng công nghiệp thựcphẩm Tuy nhiên, các ngành nh khai mỏ, luyện kim, dệt may tiếp tục tăng trởngchậm trở lại, trong khi đó, các ngành áp dụng nhiều công nghệ mới nh thiết bị viễnthông, chất dẻo, ôtô, chế tạo máy đã có tốc độ phát triển nhanh Sự giảm sút tốc độtăng trởng của ngành tin học có vẻ kỳ lạ, tuy nhiên, điều đó đợc giải thích bởi nhiềunhân tố, trớc hết là sự giảm giá mạnh trong ngành này do sự đổi mới nhanh côngnghệ và sự chuyển dịch hoạt động của ngành này sang các ngành công nghiệp khác

và các ngành dịch vụ

2.2. Chất lợng nguồn nhân lực.

Chất lợng của lực lợng lao động ở EU đã đợc nâng cao trong các thập kỷ qua

Tỷ lệ của những ngời có trình độ đại học trên tổng số lực lợng lao động trong thời kỳqua đã tăng nhanh Năm 1999 có 23 triệu ngời EU có trình độ từ đại học trở lên vàlàm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ Con số này tăng nhanh trong những nămgần đây, nh ở Đức là 12,3% năm 1996 tăng tới 14,4% năm 1999, ở Pháp con số tơngứng là 14,6% và 15%, ở Anh là 13% và 14,8%, ở Italia là 6,8% và 8,1% [8,52]

Chất lợng giáo dục của các nớc EU ngày nay đã đạt tới trình độ khá cao Trong

hệ thống giáo dục châu Âu, các doanh nghiệp thờng kết hợp chặt chẽ với ngành giáodục để đạt hiệu quả tốt nhất Các nớc này đã đặt mục tiêu, trong vòng 10 năm tới, sẽ

đuổi kịp nền kinh tế Internet Mỹ, xây dựng châu Âu thành khu vực kinh tế có sứccạnh tranh mạnh nhất thế giới với mục tiêu năm 2002 sẽ kết nối mạng với vận tốc caocho tất cả các trờng đại học, th viện và viện nghiên cứu

Là một nớc có trình độ phát triển cao về giáo dục và đào tạo, Đức có nền kinh

tế với các ngành dựa trên tri thức chiếm tỷ trọng cao, trên 50% Trong những năm

1990, các ngành kinh tế Đức đã chi khoảng 15 tỷ USD hàng năm cho đào tạo nghề vànâng cao tay nghề cho lực lợng lao động Đức đã xây dựng đợc mối liên hệ chặt chẽgiữa trờng học, doanh nghiệp, hội thơng mại, chính phủ liên bang và bang về đào tạo

Trang 37

nhân lực Nhờ vậy, lực lợng lao động của Đức có khả năng thích ứng nhanh chóngvới môi trờng làm việc Ngoài ra, để đa công nghệ thông tin đến với mọi ngời, năm

2000, Đức đã đề ra chơng trình “ Internet cho mọi ngời”, và năm 2001, tất cả các ờng học và th viện đều đợc trang bị máy tính có khả năng truy nhập Internet

tr-Phần Lan là nớc Bắc Âu đã có chuyển hớng rất nhanh trong đào tạo nguồnnhân lực, cho nên hiện nớc này chỉ xếp thứ hai sau Mỹ về tốc độ phát triển kinh tế trithức Phần Lan đã huy động mọi nguồn lực đẩy nhanh công nghệ thông tin Tất cảcác trờng học đều đợc nối mạng Internet Học sinh Phần lan đợc tiếp cận với côngnghệ thông tin từ nhỏ và việc thực hiện vi tính là một phần trong chơng trình đào tạoquốc gia Hiện nay, Phần Lan là nớc sử dụng Internet bình quân trên đầu cao nhất thégiới Lực lợng lao động cũng đợc tri thức hoá với tốc độ cao nhất thế giới

Theo Eurostat, các ngành công nghệ cao chiếm 38% tổng lao động trongngành công nghiệp chế tạo của EU năm 1999 (46% ở Đức, 38% ở Pháp, 43% ở Anh,32% ở Italia) Trong thời kỳ 1995 – 2000, lao động công nghiệp chế tạo tăng trungbình hàng năm 0,3%, trong khi đó các ngành công nghệ cao ( hoá chất, máy móc,thiết bị, máy vi tính, thiết bị viễn thông, thiết bị y tế, dụng cụ chính xác và quanghọc ) là 0,9% Con số này đặc biệt cao ở Ireland (là 8,7%), Phần Lan(là 5,8%), TâyBan Nha (là 4,3%) Các dịch vụ có hàm lợng tri thức cao (vận tải chất lỏng và chấtkhí, bu điện và viễn thông, trung gian tài chính, bất động sản, giáo dục ) chiếm 48%lao dộng trong các ngành dịch vụ của EU năm 1999 (47% ở Đác, 50% ở Pháp, 54% ởAnh, 42% ở Italia) Trong thời kỳ 1995 – 2000, lao động trong các ngành dịch vụtăng trung bình hàng năm 1,8%, trong khi đó ở các ngành dịch vụ có hàm lợng trithức cao tăng 2,9% [29,42]

2.3. Tiềm lực khoa học và công nghệ.

Đầu t cho khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao luôn có vai tròquan trọng đối với tăng trởng kinh tế, nhất là trong bối cảnh hiện nay Một dấu hiệucho thấy các nớc EU đang theo bớc Mỹ tăng cờng đầu t vào công nghệ mới trong quátrình chuyển sang nền kinh tế tri thức Năm 1999, các công ty châu Âu đã đầu tkhoảng 200 tỷ USD vào phát triển công nghệ tin học, tăng khoảng 11% so với năm

1998 và vốn đầu t vào công nghệ tin học đã thúc đẩy tăng trởng kinh tế của các nớc

EU tăng thêm 0,5% Tuy vậy, cũng giống nh nền kinh tế nói chung, các yếu tố cấuthành nên nền kinh tế tri thức cũng không giống nhau giữa các nớc EU Trong năm

1999, đầu t vào khoa học và kỹ thuật đạt mức cao nhất là Thuỵ Điển (chiếm 10,6%GDP), thứ hai là Pháp (chiếm 10,2% GDP), thứ ba là Đan Mạch (chiếm 9,6% GDP)[12,102] Hầu hết các nớc trong khu vực đều có chi phí cho R&D và giáo dục cao

Trang 38

hơn chi phí cho quốc phòng Trong các nớc EU, Thuỵ Điển là nớc tiên phong trongviệc thúc đẩy công nghệ thông tin nh một cấu thành cơ bản của nền kinh tế tri thức.

Do tỷ lệ nối mạng Internet cao nên việc buôn bán quan mạng đã trở thành tập quánkhá phổ biến của ngời tiêu dùng nớc này Năm 2000, 26% ngời dân Thuỵ Điển đã th-ờng xuyên mua hàng qua mạng, so với mức trung bình của châu Âu là 15% và năm

2001, 40% dân Thuỵ Điển sử dụng các dịch vụ tài chính qua mạng [12, 51]

Theo các chuyên gia, mặc dù EU vẫn là một trong những cái nôi chủ yếu củakhoa học và công nghệ thế giới, song họ vẫn lạc hậu tơng đối so với Mỹ trong một sốlĩnh vực nh công nghệ thực phẩm gen, công nghệ vũ trụ, khoa học đời sống, côngnghệ thông tin và nhất là công nghệ mạng Internet Điều đó khiến cho không ít sảnphẩm của họ mất đi lợi thế cạnh tranh Có thể nói, cho đến nay, tình hình phát triểnnền kinh tế tri thức của các nớc EU còn chậm hơn so với Mỹ và một trong nhữngnguyên nhân là khả năng đổi mới của các nớc EU chậm hơn so với Mỹ, thể hiện bằngviệc đầu t cho R&D trong đó có công nghệ thông tin thấp Hiện EU đứng sau Mỹ vàNhật Bản về tỷ trọng chi cho R&D so với GDP Năm 1999, chi của khu vực kinhdoanh cho R&D ở EU chỉ đạt 1,8% GDP, thấp hơn nhiều so với Mỹ là 2,7% GDP,Nhật Bản là 3,1% GDP (năm 1998: EU là 1,2% GDP so với Mỹ là 2,04% GDP, NhậtBản là 2,18% GDP ) Về giá trị tuyệt đối, cũng trong năm 1999, EU đầu t 141 tỷ USDcho R&D, trong khi đó Mỹ là 202 tỷ USD và Nhật Bản là 102 tỷ USD Còn đầu t chocông nghệ thông tin của các doanh nghiệp EU năm 1999 chỉ đạt 2,4% GDP, thấp hơn

so với 4,5% GDP của Mỹ[30, 27]

Về kết quả nghiên cứu, số bằng sáng chế công nghệ cao của các nớc EU là14,9 trên một triệu dân năm 1998, tuy cao hơn Nhật bản là 9,4 nhng thấp hơn Mỹ là19,7 Trong thời kỳ 1992 – 1999, số bằng sáng chế trong lĩnh vực công nghệ thôngtin chỉ tăng trung bình hàng năm là 11%, thấp hơn nhiều so với Mỹ là 14% cũng nh

so với mức trung bình của OECD là 12,5% [31,32]

Tiềm năng về công nghệ của EU kém Mỹ trên nhiều lĩnh vực mũi nhọn Chỉtính riêng số lợng các bằng phát minh đang ký ở châu Âu cũng thấy sự vợt trội của

Mỹ, nhất là trên các lĩnh vực nh: linh kiện điện, điện tử, nghe nhìn, viễn thông, tinhọc, dợc phẩm, sinh học Các công dân Mỹ chiếm tới 43,5% tổng số các bằng phátminh đăng ký ở châu Âu năm 1997, trong khi của EU chỉ là 34,6%

Bảng 3: Quốc tịch của các bằng phát minh đăng ký ở châu Âu năm 1997

(% trong tổng số )

Trang 39

1990 và tăng tới 38% năm 1998 Nếu tính toàn châu Âu thì 24% số hộ gia đình châu

Âu sử dụng máy tính cá nhân song con số này vẫn thấp hơn nhiều so với Mỹ là 46%[25,197]

Theo Uỷ ban châu Âu, năm 1999 đã có 14,9% dân số EU sử dụng Internet, con

số này cũng thấp hơn nhiều so với Mỹ là 39,8% song cao hơn Nhật Bản là 14,5%.Cũng trong năm 1999, trong khi ở Mỹ có 110,8 triệu dân sử dụng Internet thì ở NhậtBản là 18,2 triệu, ở Đức là 15,8 triệu, ở Anh là 13,9 triệu, ở Pháp là 5,7 triệu [32, 46]

Doanh số thơng mại điện tử ( E – commerce ) ở EU cũng đã tăng nhanh trongnhững năm gần đây Doanh thu thông qua bán hàng cho ngời tiêu dùng (B2C) ở Pháp

đã tăng từ 0,04 tỷ FF năm 1997 lên 1,3 tỷ FF năm 1999 Giá trị giao dịch giữa cácdoanh nghiệp (B2B) cũng đã tăng nhanh, từ 0,2 tỷ USD năm 1998 lên 0,9 tỷ USDnăm 2000 [25,198]

Bảng 4: Đánh giá sự phát triển khối lợng giao dịch thơng mại điện tử giữa các

doanh nghiệp (B2B) trên thế giới, 1999 – 2004 ( tỷ USD )

Nguồn: World Trade, 4/2001

2.5. Hội nhập kinh tế quốc tế.

Trong thập kỷ 1990, hầu hết các nớc EU đã có những điều chỉnh chính sáchkinh tế đối ngoại theo hớng tự do hoá, đồng thời có những tác động thúc đẩy nhất

định đối với tiến trình liên kết kinh tế trong EU Nét mới trong giai đoạn này là sựbùng nổ đầu t của t bản EU ra nớc ngoài Chênh lệch giữa luồng FDI ra và luồng FDI

Trang 40

vào là 28,7 tỷ USD hàng năm trong thời kỳ 1988–1993 đã tăng lên đến hơn 204 tỷUSD vào năm 1999 [33,23].

Bảng 5: Luồng FDI vào và ra ở các nớc EU

Nguồn: UNCTAD, World Invesrment Report, Newyord and Geneva,oct.2000

Sự hợp tác quốc tế của EU về khoa học và công nghệ cũng triển khai mạnhtrong thời gian qua Số bằng sáng chế của EU có sự hợp tác với nớc ngoài chiếm 3%tổng số bằng sáng chế trong các năm 1990 đã tăng lên 5% trong năm 1995 Trong sốcác công trình khoa học đợc công bố của EU trong các năm 1990 – 1997 thì số cáccông trình có đồng tác giả nớc ngoài chiếm tới 18% [34,24]

Nhìn chung, xét về các tiêu chí trên, các nớc EU vẫn còn khá chậm trễ và thuakém Mỹ Tuy nhiên, sự tiến triển theo hớng chuyển sang nền kinh tế tri thức ở các n-

ớc EU trong thời gian gần đây khá rõ Đây là những tiền đề quan trọng cho các nớc

EU trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức trong thời gian tới

3 Những nhân tố tạo nên thành công trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức của các n ớc EU

Những tiến bộ đạt đợc trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức của cácnớc EU cho đến nay dựa trên nhiều điều kiện thuận lợi, trớc hết là các mặt sau:

3.1. Những thuận lợi chung.

Nền kinh tế tri thức đợc coi là giai đoạn phát triển nối tiếp của nền kinh tếcông nghiệp EU là một trong ba khu vực phát triển nhất, đi đầu của thế giới trongnền kinh tế công nghiệp hiện đại, do vậy có nhiều điều kiện thuận lợi trong bớcchuyển sang nền kinh tế tri thức Ngoài ra, còn có những điều kiện không nhất thiếtgắn với nền văn minh công nghiệp mà gắn với đặc điểm văn hóa truyền thống củaEU:

 Châu Âu là cái nôi của nền văn minh nhân loại, là nơi khởi xớng phong tràokhai sáng (tin tởng và cổ vũ cho tiến bộ khoa học và công nghệ) và cuộc cách mạng

về nhân quyền Cơ sở truyền thống văn hoá này rất thuận lợi cho bớc chuyển sangnền kinh tế tri thức

 Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, EU đã xây dựng cho mình một

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Nguồn tài chính tài trợ cho hoạt động R&D ở Mỹ - Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với việt nam
Bảng 2 Nguồn tài chính tài trợ cho hoạt động R&D ở Mỹ (Trang 39)
Bảng 3: Quốc tịch của các bằng phát minh đăng ký ở châu Âu năm 1997 (% trong tổng số ) - Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với việt nam
Bảng 3 Quốc tịch của các bằng phát minh đăng ký ở châu Âu năm 1997 (% trong tổng số ) (Trang 45)
Bảng 5: Luồng FDI vào và ra ở các nớc EU  (Tû USD) - Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với việt nam
Bảng 5 Luồng FDI vào và ra ở các nớc EU (Tû USD) (Trang 47)
Bảng 6: Chiến lợc phát triển kinh tế tri thức của Malaixia so với một số nớc và khu vùc. - Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm đối với việt nam
Bảng 6 Chiến lợc phát triển kinh tế tri thức của Malaixia so với một số nớc và khu vùc (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w