1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp khắc phục

68 407 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh - các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp khắc phục
Tác giả Phùng Mạnh Hùng
Người hướng dẫn PGS - TS Nguyễn Thị Quy
Trường học Đại học Ngoại Thương
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 497,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài, ngoài phần mở đầu, kết luận bao gồm 3 chơng sau: Chơng 1: Những vấn đề chung về thị trờng chứng khoán và giá cổ phiếuChơng 2: Các nhân tố ảnh hởng đến biến động giá cổ phiếu tại

Trang 1

Lời nói đầu

Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, thị trờng chứng khoán đóng một vaitrò hết sức quan trọng Thông qua các hoạt động mua bán, giao dịch chứngkhoán và các loại giấy tờ có giá, thị trờng này đã cung cấp một lợng vốnkhổng lồ cho nền kinh tế Thị trờng chứng khoán đợc ví nh thớc đo phản ánh

sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế của một quốc gia, thậm chí phản

ánh trực tiếp biến động hàng ngày của nền kinh tế đó

Thị trờng chứng khoán không còn là mới mẻ đối với các nớc phát triển

nh Mỹ, Anh, Nhật, hoặc các nớc Châu Âu khác Thị trờng chứng khoán ViệtNam chính thức ra đời kể từ khi Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố

Hồ Chí Minh đi vào hoạt động ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch

đầu tiên ngày 28/07/2000 Trong hơn hai năm qua, thị trờng đã có những đónggóp nhất định cho quá trình xây dựng và hoàn thiện thị trờng tài chính ViệtNam, tạo ra một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, tạo ramôi trờng đầu t mới, hấp dẫn đối với dân chúng, góp phần thúc đẩy sự pháttriển của nền kinh tế Tuy nhiên Thị trờng chứng khoán Việt Nam còn hết sứcnon trẻ, các nhân tố cơ bản cần thiết cho sự hoạt động của thị trờng nh điềukiện về kinh tế xã hội, môi trờng pháp lý, và cả kiến thức của công chúng đầu

t đều mới đợc hình thành

Để nghiên cứu, phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hởng đến biến

động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh trong hơn hai năm vừa qua, đồng thời đa ra các giải pháp nhằm bình ổngiá cổ phiếu trong thời gian tới em đã chọn đề tài “Biến động giá cổ phiếu tạiTrung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh - các nhân tố ảnhhởng và giải pháp khắc phục”

Đề tài, ngoài phần mở đầu, kết luận bao gồm 3 chơng sau:

Chơng 1: Những vấn đề chung về thị trờng chứng khoán và giá cổ phiếuChơng 2: Các nhân tố ảnh hởng đến biến động giá cổ phiếu tại Trungtâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

Chơng 3: Một số giải pháp nhằm bình ổn giá cổ phiếu tại Trung tâmgiao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

Do trình độ lý luận cũng nh kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, thời giannghiên cứu lại có hạn nên khoá luận không tránh khỏi những khiếm khuyết.

Em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo, cácnhà đầu t chứng khoán và những ngời quan tâm đến chứng khoán để khoáluận đợc hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn PGS - TS Nguyễn Thị Quy, ngời trực tiếp óng dẫn em hoàn thành khoá luận này

Trang 3

h-Chơng I Những vấn đề chung về thị trờng chứng khoán

và giá cổ phiếu

I Một số vấn đề chung về thị trờng chứng khoán

1 Khái niệm thị trờng chứng khoán

Thị trờng chứng khoán là một bộ phận của thị trờng tài chính, là nơiphát hành và mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn

2 Chức năng của thị trờng chứng khoán

a, Huy động vốn đầu t cho nền kinh tế

Khi các nhà đầu t mua chứng khoán do công ty phát hành, số tiền nhànrỗi của họ đợc đa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mởrộng sản xuất xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu t của Công ty, thị tr-ờng chứng khoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển củanền kinh tế quốc dân Thông qua thị trờng chứng khoán, Chính phủ và chínhquyền các địa phơng cũng huy động đợc các nguồn vốn cho mục đích sử dụng

và đầu t phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cho các nhu cầu chung của xã hội

b, Cung cấp môi trờng đầu t cho công chúng

Thị trờng chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trờng đầu tlành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thịtrờng trên thị trờng rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phépcác nhà đầu t có thể lựa chọn các hàng hoá khác nhau phù hợp với khả năng,mục tiêu và sở thích của mình Chính vì vậy thị trờng chứng khoán đóng gópmột phần đáng kể làm tăng tiết kiệm cho quốc gia

c, Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có thị trờng chứng khoán các nhà đầu t có thể chuyển đổi cácchứng khoán mà họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi

họ muốn Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là mộttrong những tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu t Thị trờng chứng khoán hoạt

động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanhkhoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trờng

d, Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Trang 4

Thông qua đánh giá chứng khoán, hoạt động của doanh nghiệp đợc phản

ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá so sánh hoạt độngcủa các doanh nghiệp đợc nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra mộtmôi trờng cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kíchthích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm

e, Tạo môi trờng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của thị trờng chứng khoán phán ánh động thái của nền kinh

tế một cách nhạy bén và chính xác Giá của chứng khoán tăng lên cho thấy

đầu t đang mở rộng, nền kinh tế tăng trởng và ngợc lại giá chứng khoán giảmcho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, thị trờng chứng khoán

đợc gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúpcho chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trờngchứng khoán, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ tạo nguồn thu

để bù thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ chính phủ

áp dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trờng chứng khoánnhằm định hớng đầu t đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế

3 Hàng hoá của thị trờng chứng khoán

Hàng hóa của thị truờng chứng khoán là chứng khoán Chứng khoán làchứng từ hoặc bút toán xác nhận quyền lợi hợp pháp của ngời sở hữu chứngkhoán đối với ngời phát hành

Trang 5

Trái phiếu gồm có nhiều loại: Trái phiếu có bảo đảm, trái phiếu khôngbảo đảm, trái phiếu có thể mua lại, trái phiếu có thể bán lại, trái phiếu có thểchuyển đổi .

c, Chứng khoán có thể chuyển đổi

Là những chứng khoán cho phép ngời nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn vàtrong những điều kiện nhất định có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác

d, Các công cụ phái sinh

Là những công cụ đợc phát hành trên cơ sở những công cụ đã có nh cổphiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau nh phân tán rủi ro, bảo vệlợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận Có các công cụ phái sinh nh quyền lựa chọn(chọn mua hoặc bán), quyền mua trớc, chứng quyền, hợp đồng kì hạn, hợp

đồng tơng lai

4 Cơ cấu của thị trờng chứng khoán

Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, thị trờng chứng khoán đợcchia thành thị trờng sơ cấp và thị tờng thứ cấp

a, Thị trờng sơ cấp

Thị trờng sơ cấp là thị trờng mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trờng này, vốn từ nhà đầu t sẽ đợc chuyển sang nhà phát hành thôngqua việc nhà đầu t mua chứng khoán mới phát hành

 Vai trò của thị trờng

- Chứng khoán hoá nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty đợc huy

động qua việc phát hành chứng khoán

- Thực hiện việc chu chuyển tài chính trực tiếp đa các khoản tiền nhànrỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu t, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn

 Đặc điểm của thị trờng sơ cấp

- Thị trờng sơ cấp là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem vốn cho nhàphát hành

- Những ngời bán trên thị trờng sơ cấp đợc xác định thờng là kho bạc,ngân hàng nhà nớc, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành

Trang 6

- Giá các chứng khoán trên thị trờng sơ cấp do tổ chức phát hành quyết

định và thờng đợc in ngay trên chứng khoán

b, Thị trờng thứ cấp

Thị trờng thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã đợc phát hànhtrên thị trờng sơ cấp Thị trờng thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho cácchứng khoán đã phát hành

 Đặc điểm của thị trờng thứ cấp

- Trên thị trờng thứ cấp, các khoản tiền thu đợc từ việc bán chứng khoánthuộc về các nhà đầu t và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc

về nhà phát hành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những ngờiphát hành chứng khoán mà chuyển vận giữa những ngời đầu t chứng khoántrên thị trờng Thị trờng thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trờng chứngkhoán, gắn bó chặt chẽ với thị trờng sơ cấp

- Giao dịch trên thị trờng thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do,giá chứng khoán trên thị trờng thứ cấp do cung và cầu quyết định

- Thị trờng thứ cấp là thị trờng hoạt động liên tục, các nhà đầu t có thểmua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trờng thứ cấp

Cũng có thể phân loại thị trờng chứng khoán theo tính chất tập trung của thịtrờng (Tính chất tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch đợc tổchức tập trung theo một địa điểm vật chất) Khi đó, thị trờng chứng khoán baogồm : Sở giao dịch chứng khoán (Thị trờng tập trung) và Thị trờng OTC (Thịtrờng phi tập trung) Tại Sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch đợc tậptrung lại một địa điểm, các lệnh đợc chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vàoquá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch Trên thị trờng OTC, cácgiao dịch (cả sơ cấp lẫn thứ cấp) đợc tiến hành qua mạng lới các công tychứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và đợc nối với nhau bằng mạng điện

tử Giá cả trên thị trờng này đợc hình thành theo phơng thức thoả thuận

5 Nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán

a, Nguyên tắc cạnh tranh

Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trờng chứng khoán phản ánh quan

hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tơng quan cạnh tranh giữa các công

ty

Trang 7

Trên thị trờng sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bánchứng khoán của mình cho các nhà đầu t, các nhà đầu t đợc tự do lựa chọn cácchứng khoán theo các mục tiêu của mình Trên thị trờng thứ cấp, các nhà đầu

t cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giácả đợc hình thành theo phơng thức đấu giá

b, Nguyên tắc công bằng

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những ngời tham giathị trờng Công bằng có nghĩa là mọi ngời tham gia thị trờng đều phải tuân thủnhững qui định chung, đợc bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việcgánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó

c, Nguyên tắc công khai

Chứng khoán là hàng hoá trừu tợng, ngời đầu t không thể kiểm tra trựctiếp đợc các chứng khoán nh hàng hoá thông thờng mà phải dựa trên cơ sở cácthông tin có liên quan Vì vậy thị trờng chứng khoán phải đợc xây dựng trêncơ sở hệ thống thông tin tốt Theo luật định các bên phát hành chứng khoán cónghĩa vụ cung cấp đầy đủ và kịp thời những thông tin có liên quan đến tổ chứcphát hành, tới đợt phát hành Công bố thông tin đợc tiến hành khi phát hànhlần đầu cũng nh theo các chế độ thờng xuyên và đột xuất, thông qua các ph-

ơng tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch các công ty chứng khoán và các tổchức có liên quan

Nguyên tắc này nhằm bảo vệ ngời đầu t, song nó cũng hàm nghĩa rằng,một khi đã đợc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì ngời đầu tphải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình

d, Nguyên tắc trung gian

Theo nguyên tắc này trên thị trờng chứng khoán các giao dịch đợc thựchiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trờngsơ cấp, các nhà đầu t thờng không mua trực tiếp của ngời phát hành mà mua từcác nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trờng thứ cấp, thông qua các nghiệp vụmôi giới, kinh doanh của các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoángiúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiệncác giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình

e, Nguyên tắc tập trung

Trang 8

Thị trờng chứng khoán phải hoạt động trên nguyên tắc tập trung Cácgiao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trờng OTC, có

sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nớc và các tổ chức tự quản Cácchứng khoán, hàng hoá của thị trờng chứng khoán là các sản phẩm tài chínhcao cấp nên việc giao dịch chúng đòi hỏi thị trờng phải có những cơ sở vậtchất nhất định chứ không thể diễn ra một cách tuỳ tiện

6 Các thành phần tham gia thị trờng chứng khoán

 Nhà đầu t chuyên nghiệp

Thờng là các nhà đầu t có tổ chức, đầu t vào thị trờng chứng khoán mộtcách chuyên nghiệp, với số vốn đầu t lớn, có các bộ phận chuyên biệt nghiêncứu để ra các quyết định đầu t Đó là các công ty bảo hiểm, công ty tài chính,quỹ đầu t, quỹ lơng hu

c, Tổ chức kinh doanh trên thị trờng chứng khoán

 Các công ty chứng khoán

Là các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp chứng khoán với cácnghiệp vụ chính nh môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, t vấn đầu t, quản lídanh mục đầu t

 Các ngân hàng thơng mại và các định chế tài chính khác

Trang 9

Tuỳ theo từng nớc, các ngân hàng thơng mại tham gia vào thị trờngchứng khoán với mức độ khác nhau Các ngân hàng thơng mại đa năng và đanăng một phần thì đợc phép tham gia trên thị trờng chứng khoán còn các ngânhàng thơng mại đơn năng thì không.

d, Tổ chức quản lí thị trờng

 Nhà nớc quản lí thị trờng chứng khoán thông qua Uỷ ban chứng khoán Quản lí các hoạt động liên quan đến chứng khoán và thị trờng chứngkhoán, ban hành các đạo luật, các quy định đảm bảo cho thị trờng hoạt độngcông bằng, công khai, đảm bảo quyền lợi của ngời đầu t

 Tổ chức lu kí, đăng kí và thanh toán bù trừ chứng khoán

Làm dịch vụ lu trữ chứng khoán và thực hiện các quyền của ngời sở hữuchứng khoán

 Hiệp hội chứng khoán

Là tổ chức của các công ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt

động trong ngành chứng khoán với mục đích bảo vệ lợi ích cho các thành viên

và bảo vệ toàn ngành chứng khoán Ngoài ra còn có các tổ chức khác nh công

ty đánh giá tín nhiệm, công ty dịch vụ máy tính

II Một số vấn đề chung về giá cổ phiếu và các nhân tố ảnh hởng đến biến

động giá cổ phiếu

1 Khái niệm cổ phiếu

Cổ phiếu là loại chứng th chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đốivới một doanh nghiệp cổ phần Nói cách khác, cổ phiếu là giấy chứng nhậnviệc đầu t vốn vào công ty cổ phần

2 Giá cổ phiếu

a, Giá phát hành cổ phiếu

Giá phát hành của cổ phiếu là giá bán ra khi đơn vị phát hành cổ phiếuphát hành cổ phiếu Do mức doanh lợi của công ty và giá cả thị trờng là khônggiống nhau cho nên giá phát hành của các cổ phiếu cũng không giống nhau.Thông thờng có mấy loại giá sau:

 Bình giá

Là giá phát hành dựa trên mệnh giá cổ phiếu

Trang 10

 Thời giá

Là giá dựa vào giá hiện hành của các cổ phiếu đang lu thông trên thị ờng để xác định mức giá phát hành

tr- Giá trung gian

Là giá dựa vào giá trung gian giữa giá cổ phiếu và giá thị trờng để xác

định mức giá phát hành

 Chiết giá phát hành

Là giá phát hành cổ phiếu thấp hơn mệnh giá

b, Thị giá của cổ phiếu

Thị giá của cổ phiếu là chỉ giá cổ phiếu đợc mua bán tại thị trờng giaodịch cổ phiếu Các nhân tố ảnh hởng đến thị giá cổ phiếu là rất nhiều

c, Giá trị hiện tại của cổ phiếu

Giá trị hiện tại của cổ phiếu là giá trị mà cổ phiếu thể hiện một cáchchính thức tại một thời điểm nào đó

d, Giá mở cửa và giá đóng cửa của cổ phiếu

 Giá mở cửa

Là giá đầu tiên đợc mua bán của một loại cổ phiếu nào đó tại thời điểm

mở cửa thị trờng trong ngày tại nơi giao dịch cổ phiếu

 Giá đóng cửa

Là giá cuối cùng của một loại cổ phiếu nào đó đợc mua bán vào thời

điểm cuối cùng trong ngày tại nơi giao dịch cổ phiếu

3 Một số phơng pháp định giá cổ phiếu

a, Định giá cổ phiếu theo phơng pháp hệ số P/E

Trang 11

Đây là phơng pháp đợc áp dụng phổ biến ở các thị trờng chứng khoán

phát triển Hệ số P/E là hệ số giữa giá cổ phiếu (thị giá) và thu nhập hàng

năm của một cổ phiếu đem lại cho ngời nắm giữ Thông thờng, để dự tính giá

của một loại cổ phiếu, ngời ta thờng dùng thu nhập của mỗi cổ phiếu của công

ty nhân với hệ số P/E trung bình ngành hoặc của một công ty tơng tự về quymô, ngành nghề đã đợc giao dịch trên thị trờng

Việc áp dụng hệ số P/E để tính giá cổ phiếu ở Việt Nam còn gặp phải

nhiều khó khăn do thiếu số liệu và thị trờng chứng khoán cha phát triển Tạicác thị trờng đã phát triển, theo số liệu thống kê về chỉ số P/E, hệ số này từ 8– 15 là bình thờng, nếu hệ số này lớn hơn 20 thì công ty đang đợc đánh giárất tốt và ngời đầu t trông đời trong tơng lai, mức thu nhập trên một cổ phiếu

sẽ tăng nhanh Trờng hợp công ty có hệ số P/E thấp có thể là do thị trờng đánhgiá không cao công ty đó, hoặc cha hiểu biết nhiều về công ty

Khi tất cả các cổ phiếu trên thị trờng đều có giá quá cao so với giá trịthực của nó thì phần bong bóng vợt quá phần thực nhất định có ngày nổ tung,gây khủng hoảng thị trờng nh đã từng thấy ở các nớc phát triển

b, Định giá cổ phiếu theo luồng cổ tức

Theo phơng pháp này, giá cổ phiếu hiện tại chính là giá trị quy về hiệntại của toàn bộ các luồng thu nhập trong tơng lai

r : tỉ suất lợi nhuận mong đợi

c, Định giá cổ phiếu theo luồng tiền mặt

Luồng tiền mặt không đợc giữ lại đầu t mà đợc dùng để chi trả cổ tức

đ-ợc gọi là luồng tiền mặt tự do

Luồng tiền mặt tự do = Doanh thu - chi phí - đầu t

Công thức tính giá cổ phiếu dựa theo luồng tiền mặt:

+ PH(1+r)n

Trang 12

Trong đó:

Po : giá cổ phiếu hiện tại

FCFn : luồng tiền mặt tự do năm thứ n

PH : giá cổ phiếu năm thứ H

r : tỉ suất lợi nhuận mong đợi

d, Định giá theo tài sản thuần:

Po là giá cổ phiếu hiện tại

4 Các nhân tố ảnh hởng đến sự thay đổi giá cổ phiếu

a, Các điều kiện kinh tế vĩ mô

 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu

Trong quá trình hội nhập kinh tế ngày nay, biến động về tình hình kinh

tế, chính trị, xã hội trên thế giới ảnh hởng rất lớn đến nền kinh tế của mộtquốc gia, từ đó ảnh hởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc nóichung và ảnh hởng đến các công ty cổ phần nói riêng, qua đó gián tiếp ảnh h-ởng đến giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán

 Tình hình nền kinh tế trong nớc

Tình hình kinh tế tốt hay xấu có ảnh hởng mạnh mẽ tới giá cổ phiếu,

tr-ớc hết nó ảnh hởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.Nền kinh tế tăng trởng tốt, thu nhập của ngời dân tăng, thất nghiệp giảm .sẽkích thích sự tiêu dùng của dân chúng, giúp cho việc kinh doanh của các công

ty thuận lợi hơn, từ đó ảnh hởng đến lợi nhuận, cổ tức làm cho giá cổ phiếucủa các công ty tăng lên Tình hình nền kinh tế trong nớc nh thế nào đợc phản

ánh ở các chỉ tiêu nh (GDP), tỉ lệ thất nghiệp

 Lãi suất: đa số các doanh nghiệp đều có các khoản nợ đối với ngân hàng

để có thể có đủ vốn tiến hành sản xuất kinh doanh nên lãi suất tác động trực

Tài sản có - Tài sản nợ + Lợi thế th ơng mại

Trang 13

tiếp đến chi phí vốn của các doanh nghiệp Nếu lãi suất tăng, chi phí sản xuấtkinh doanh sẽ tăng, dẫn đến lợi nhuận giảm, từ đó ảnh hởng đến giá cổ phiếu.

 Tỉ giá: Tỉ giá ảnh hởng lớn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp, đặc biệt

là trong lĩnh vực liên quan nhiều đến xuất nhập khẩu

 Lạm phát: lạm phát cao làm cho số tiền thực tế mà các doanh nghiệp thu

đợc giảm, do đó có gây ảnh hởng đến giá cổ phiếu của công ty

 Môi trờng chính trị, pháp luật trong nớc: một môi trờng chính trị ổn định,pháp luật công minh, chặt chẽ sẽ là môi trờng tốt giúp các nhà kinh doanh thu

đợc nhiều lợi nhuận Các chính sách, chế độ, u đãi của Nhà nớc đối với từngngành, lĩnh vực cũng tác động lớn đến lợi nhuận, đến sự tăng trởng bền vữngcủa các doanh nghiệp

b, Tình hình chung của ngành

Diễn biến của ngành công nghiệp mà công ty phát hành cổ phiếu hoạt

động trong đó có ảnh hởng lớn tới khả năng sinh lợi và rủi ro của chính cổphiếu đó Các yếu tố nh mức độ nhạy cảm của ngành công nghiệp đối với chukì kinh doanh, tỉ lệ giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi, vòng đời củadoanh nghiệp trong ngành công nghiệp đó có ảnh hởng gián tiếp đến nhu cầu

đầu t vào ngành đó, từ đó ảnh hởng đến giá cổ phiếu

c, Tình hình tài chính của bản thân công ty niêm yết.

Các nhà phân tích cơ bản căn cứ vào bảng cân đối kế toán và báo cáothu nhập trong từng thời kì của một công ty để đánh giá giá trị của công ty đó

Họ sử dụng các hệ số phân tích làm căn cứ xác định giá trị thực của cổ phiếuthể hiện trên một số mặt cơ bản nh:

 Hệ số khả năng thanh toán

Chỉ ra khả năng của công ty đáp ứng nợ ngắn hạn cũng nh khả năngchuyển tài sản hiện thời thành tiền Có các hệ số nh: vốn lu động thuần, hệ sốkhả năng thanh toán hiện thời, hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số tài sảntiền tệ

 Hệ số khả năng vốn (hay tỉ lệ vốn hoá)

Trang 14

Hệ số này đợc s dụng để đánh giá mức độ rủi ro phá sản của công ty,bao gồm các tỉ lệ: tỉ lệ cổ phiếu thờng, tỉ lệ cổ phiếu u đãi, tỉ lệ trái phiếu, tỉ lệ

nợ so với vốn cổ phần

 Các hệ số trang trải

Đo lờng khả năng của công ty để đáp ứng việc trả lãi cho các chủ tráiphiếu và trả cổ tức cho các cổ đông u đãi Bao gồm: hệ số thanh toán lãi tráiphiếu, hệ số thanh toán cổ tức u đãi

Thu nhập trên mỗi cổ phần là yếu tố ảnh hởng rất lớn đến giá cổ phiếu,

nó thể hiện thu nhập đối với mỗi cổ đông, là yếu tố tạo ra sức hấp dẫn của cổphiếu đối với các nhà đầu t

Trang 15

thấp, thể hiện sự hi vọng về khoản thu nhập trong tơng lai của các nhà đầu t,

họ sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho thu nhập đó, do đó hệ số P/E ảnh hởngmạnh mẽ đến giá cổ phiếu

 Hệ số chi trả cổ tức: đo lờng tỉ lệ phần trăm lợi nhuận ròng trảcho cổ đông thờng dới dạng cổ tức

 Lợi tức hiện thời cho cổ phiếu thờng thể hiện tỉ lệ hoàn vốn cổtức dựa trên giá thị trờng hiện thời của cổ phiếu

Ngoài ra còn phải kể đến các yếu tố khác liên quan đến bản thân công ty

nh khả năng của ban lãnh đạo công ty, trình độ công nhân viên, nguồn cungứng lao động, triển vọng phát triển của công ty

d, Diễn biến của các thị trờng tiền tệ, thị trờng hối đoái, thị trờng bất động sản, lĩnh vực kinh doanh khác

Trong thực tế, nếu thị trờng tài chính phát triển thì sẽ có sự chuyển dịchvốn giữa các thị trờng với nhau Chẳng hạn nh khi lãi suất trên thị trờng tiền tệtăng, một số lợng nhất định các nhà đầu t sẽ chuyển vốn từ thị trờng chứngkhoán sang thị trờng tiền tệ hay ngợc lại, khi lãi suất giảm, họ sẽ chuyển sangmua chứng khoán Sự tác động của lãi suất lên giá cổ phiếu còn thể hiện cụthể ở ngay trong bản thân thị trờng chứng khoán, đó là sự chuyển dịch vốn từ

cổ phiếu sang mua trái phiếu khi lãi suất thị trờng tăng, do đó làm giá cổphiếu giảm và ngợc lại

 Quy mô, hiệu quả hoạt động của thị trờng chứng khoán

 Số lợng, chất lợng cổ phiếu niêm yết trên thị trờng: số lợng cổphiếu đã niêm yết nhiều hay ít quyết định lợng cung cổ phiếu trên thị trờngchứng khoán còn chất lợng của nó nh thế nào sẽ ảnh hởng đến cầu cổ phiếu

 Số lợng,chất lợng các công ty niêm yết tiềm năng và số vốn màcác doanh nghiệp đó cần huy động trên thị trờng: đây là nhân tố quyết định

đến lợng cung cổ phiếu sẽ tăng lên nh thế nào

 Diễn biến của thị trờng chứng khoán: các nhà phân tích kĩ thuật

đa ra một số thuật ngữ nh 3 đờng xu thế cấp 1, cấp 2, cấp 3; thị trờng giá lên(bull market) hay thị trờng giá xuống (bear market); các định dạng đồ thị nh

định dạng đỉnh - đầu - vai, đáy - đầu - vai, đầu - vai kép, định dạng tam giác,hình bình hành, gián đoạn, củng cố, hình cờ vuông và hình tam giác để dựavào đó dự đoán diễn biến của thị trờng Tuỳ theo từng quan điểm của các nhà

Trang 16

đầu t mà họ lựa chọn các phơng án khác nhau vào từng thời điểm khác nhau

để mua hay bán loại chứng khoán nào khi thị trờng có những thay đổi nhất

định, do đó ảnh hởng đến cung - cầu chứng khoán trên thị trờng

 Các thông tin tức thời về tình hình kinh doanh của các công tyniêm yết cũng gây ảnh hởng nhất định tới các nhà đầu t, tác động tới cung -cầu chứng khoán trên thị trờng, Tuy nhiên, đối với một số chuyên gia phântích kĩ thuật, họ có thể chỉ dựa vào việc phân tích đồ thị để mua bán một loạichứng khoán nào đó mà không cần biết đó là công ty nào, hoạt động tronglĩnh vực gì, lợi nhuận cao hay thấp

 Về phía các nhà đầu t: mỗi nhà đầu t khi tham gia vào thị trờng chứngkhoán sẽ có những quan điểm khác nhau trong việc bán ra hay mua vào

một loại chứng khoán theo diễn biến của thị trờng, tuỳ thuộc vào:

 Quan điểm, trình độ, kinh nghiệm, tâm lí của các nhà đầu t

Do có sự khác nhau trong quan điểm đánh giá, kinh nghiệm của bảnthân cũng nh tâm lý của mỗi nhà đầu t nên các quyết định đa ra cũng khônggiống nhau Nếu một nhà đầu t nhận định rằng một loại cổ phiếu đang trong

xu thế lên giá, anh ta sẽ quyết định mua vào cổ phiếu đó (tăng cầu về cổ phiếu

đó) và đợi đến khi giá tăng đến một mức tối đa (theo quan điểm của ngời đầut) thì anh ta sẽ bán ra (tăng cung về cổ phiếu đó) và thu đợc một khoản lợinhuận nhất định từ quyết định đầu t của mình

 Số lợng nhà đầu t tham gia thị trờng và số vốn mà họ có

Nếu một thị trờng chứng khoán vận hành hiệu quả, thu hút đợc số lợng

đông đảo các nhà đầu t tham gia với số vốn nhiều thì tổng cầu về chứng khoántrên thị trờng sẽ lớn, trong khi lợng cung không đáp ứng đủ thì sẽ gây ra tìnhtrạng mất cân đối cung cầu, đẩy giá chứng khoán tăng lên

Trang 17

- ảnh hởng của các công ty nhỏ: các công ty nhỏ đợc nhận định là cóthu nhập cao hơn các công ty lớn, do đó cầu về cổ phiếu của các công ty nàycũng lớn.

- Phản ứng của giá chứng khoán đối với thông báo về việc phân tách cổphiếu: Theo nghiên cứu, giá cổ phiếu có xu hớng tăng lên trong 29 tháng trớckhi có sự phân tách cổ phiếu

III.Tình hình biến động giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán ở một số nớc khác và bài học kinh nghiệm cho thị trờng chứng khoán Việt Nam

1 Tình hình biến động giá cổ phiếu ở một số thị trờng chứng khoán

a, Thị trờng chứng khoán Thợng Hải

Thị trờng chứng khoán ở Trung Quốc hình thành từ năm 1984 nhng đếnnăm 1990 mới thành lập Sở giao dịch chứng khoán Thợng Hải và năm 1991thành lập Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến

Sở giao dịch chứng khoán Thợng Hải (Shanghai Stock Exchange-SSE)thành lập ngày 26/11/1990 và chính thức đi vào hoạt động vào 19/12 năm đó.Thời kì đầu tiên, giao dịch rất ít, năm 1990 có 30 loại chứng khoán niêm yếtnhng chỉ có 8 loại cổ phiếu, còn lại là trái phiếu, giao dịch trái phiếu chiếm tỉtrọng chủ yếu Năm 1990, doanh số giao dịch cổ phiếu đạt hơn 2 triệu nhândân tệ (RMB), chỉ chiếm khoảng 2% tổng số giao dịch của toàn bộ thị trờng.Những năm đầu thị trờng giao dịch chủ yếu là trái phiếu do đó không có sựbiến động lớn về giá trên thị trờng, chỉ số SSE-Index dao động ở mức vài trăm

Trang 18

có những đóng góp to lớn đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tếTrung Quốc.

b, Thị trờng chứng khoán Thái Lan

ở Thái Lan từ năm 1953 đã có giao dịch về chứng khoán với sự xuấthiện của công ty môi giới Bird Co.Ltd, đến năm 1962, một nhóm các nhà kinhdoanh hầu hết là ngời nớc ngoài thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn giaodịch chứng khoán Bangkok nhng sau một thời gian đã sụp đổ do không thuhút đợc sự quan tâm của dân chúng và sự ủng hộ của Chính phủ Mãi đếnngày 20/6/1975, Sở giao dịch chứng khoán Thái Lan (The Stock Exchange ofThailand - SET) mới đợc thành lập Trong những năm đầu hoạt động, sở giaodịch cha thu hút, hấp dẫn đợc cả ngời đầu t lẫn các doanh nghiệp tham gia trênthị trờng Đến cuối năm 1975 mới chỉ có 21 công ty niêm yết, huy động đợc

số vốn 5,4 tỉ bạt (Baht), tổng giá trị giao dịch đạt hơn 1,5 tỉ Baht, chỉ số Index đạt 84,08 điểm

SET-Trong những năm đầu, giá trị giao dịch trên thị trờng rất thấp, mỗi nămchỉ đạt vài đến vài chục tỉ Baht, SET-Index dao động nhẹ dới mức 300 điểm,thị trờng hoạt động buồn tẻ, không đạt đợc hiệu quả lắm trong việc huy độngvốn

Cùng với công cuộc cải tổ nền kinh tế và sự gia tăng của đầu t nớc ngoàivào Thái Lan, từ năm 1988, thị trờng chứng khoán Thái Lan dần dần pháttriển Vào năm 1989, số lợng công ty niêm yết trên thị trờng tăng lên đến 170công ty, tổng giá trị giao dịch đạt gần 400 tỉ Baht, các năm sau đó mỗi năm

đạt khoảng 2000 tỉ Baht Chỉ số SET-Index tăng dần lên theo đà phát triển củanền kinh tế, có lúc đạt hơn 1000 điểm Đến năm 1994 có gần 400 công tyniêm yết với số vốn huy động hơn 3000 tỉ Baht, giá trị giao dịch có lúc đạthơn 40 tỉ Baht một ngày, chỉ số SET-Index lên đến hơn 1700 điểm Từ saukhủng hoảng kinh tế năm 1997 đến nay, Thái Lan đang tiếp tục nỗ lực xâydựng lại nền kinh tế, thị trờng chứng khoán dần dần hoạt động ổn định trở lại, đóng góp tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế đất nớc

c, Thị trờng chứng khoán Đài Loan

Sở giao dịch chứng khoán Đài Loan (Taiwan Stock Exchange-TSE) đợcthành lập tháng 10/1961 theo quyết định của Uỷ ban chứng khoán và giaodịch Đài Loan (Securities Exchange Commission-SEC) Trong những năm đầu

Trang 19

hoạt động, trên Sở giao dịch chỉ có 16 loại cổ phiếu, 4 loại trái phiếu công ty

và 4 loại trái phiếu chính phủ đợc niêm yết chính thức; năm 1963 có 23 công

ty niêm yết; năm 1980 có gần 100 công ty và cho đến cuối năm 2000 đã cóhơn 500 công ty niêm yết chính thức với tổng số khoảng hơn 360 tỉ chứngkhoán

Trong những năm đầu, khối lợng và giá trị giao dịch tại sở đạt đợc rất ít.Năm 1962, giá trị giao dịch bình quân ngày chỉ đạt 1.647.760 đô la Đài Loan(NT$), chủ yếu là giao dịch cổ phiếu Trong những năm tiếp theo, giai đoạn từnăm 1980-1987, hoạt động của thị trờng diễn ra bình thờng, khối lợng và giátrị cổ phiếu giao dịch đạt đợc ở mức thấp Giá trị giao dịch cổ phiếu chỉ đạt vàitrăm triệu NT$ mỗi ngày với vài chục triệu cổ phiếu đợc giao dịch Chỉ sốTAIEX (The TSE Capitalization Weighted Stock Index) đợc tính với 100 điểmcơ bản vào năm 1966 trong thời gian này tăng dần nhng cũng chỉ dao động ởmức vài trăm điểm trong những năm đầu và gần đến khoảng 1000 điểm trongnhững năm tiếp theo

Vào năm 1988, sự mở rộng việc cấp giấy phép hoạt động cho các công

ty chứng khoán đã đẩy thị trờng nóng lên và chỉ số TAIEX tăng vọt lên, đạtmức cao nhất trong lịch sử từ trớc đến nay là 12.495,34 điểm vào năm 1990,gần gấp đôi so với năm trớc Khối lợng và giá trị giao dịch cổ phiếu cũng vìthế mà tăng lên, trong năm 1989 giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân mỗingày đạt hơn 88 tỉ NT$ với hơn 700 triệu cổ phiếu; trong năm 1990 giao dịch

cổ phiếu cũng đạt hơn 800 triệu cổ phiếu với gần 70 tỉ NT$ mỗi ngày Sau đó,dới sự giám sát của Uỷ ban chứng khoán và hợp đồng tơng lai (Securities andFutures Commission-SFC), Sở giao dịch chứng khoán Đài Loan đã phải nỗ lựchình thành lại trật tự trên thị trờng chứng khoán, mở rộng thị trờng cả về chấtlợng lẫn qui mô, củng cố các cơ chế quản lí để thị trờng hoạt động hiệu quả,

an toàn hơn Kết quả là từ đó cho đến nay, chỉ số TAIEX chỉ dao động ở mứcdới 10.000 điểm, phản ánh khá tốt tình hình biến động của nền kinh tế, Sởgiao dịch chứng khoán Đài Loan đã thực hiện thành công vai trò huy động vốncho nền kinh tế

2 Các nhân tố ảnh hởng đến biến động giá cổ phiếu trong giai đoạn đầu mới thành lập thị trờng chứng khoán của một số nớc trên

Trong giai đoạn đầu mới thành lạp thị trờng chứng khoán, hầu hết giá cổphiếu trên các thị trờng đều có biến động mạnh Các nhân tố ảnh hởng đếnbiến động giá cổ phiếu có nhiều nhng có thể đa ra một số nhân tố chính đó là:

Trang 20

a, Quan hệ cung cầu cổ phiếu mất cân bằng

Trong giai đoạn thị trờng chứng khoán mới đi vào hoạt động, hàng hoátrên thị trờng chứng khoán luôn ở trong tình trạng khan hiếm do số công tyniêm yết chứng khoán còn rất hạn chế Tại thị trờng chứng khoán Thợng Hải(Shanghai Stock Exchange – SSE) chính thức đi vào hạot động ngày19/12/1990 chỉ có 30 loại chứng khoán niêm yết trong đó có 8 loại cổ phiếucòn lại là trái phiếu Tại thị trờng chứng khoán Thái Lan (The Stock Exchange

of Thailand –SET) trong giai đoạn đầu hoạt động chỉ có 21 công ty niêm yết,tại thị trờng chứng khoán Đài Loan cũng chỉ có 16 loại cổ phiếu đợc niêm yếtkhi mới bắt đầu đi vào hoạt động

Trong khi đó cầu cổ phiếu trong giai đoạn này thờng là rất cao, gấpkhoảng từ 10 đến 15 lán cung cổ phiếu Khi quan hệ cung – cầu không cânbằng, việc cầu luôn trong tình trạng vợt cung sẽ tất yếu dẫn đến việc giá cổphiếu bị đẩy lên cao, bớc đầu làm cho giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoánbiến động mạnh

b, Giao dịch cổ phiếu gần nh đóng băng do số lợng cổ phiếu bán ra rất ít

Khi cầu cổ phiếu luôn tăng trong khi cung chứng khoán không đổi càng

đẩy giá cổ phiếu lên cao hơn Giá cổ phiếu càng lên càng kích thích các nhà

đầu t mua cổ phiếu hơn, vì chỉ cần mua phiên giao dịch trớc, phiên giao dịchsau bán là đã có lãi Do đó, hầu hết các nhà đầu t có tâm lý không muốn bán

cổ phiếu ra, họ muốn gĩ cổ phiếu lại và chờ giá cổ phiếu lên cao hơn nữa Vìthế, quan hệ cung cầu cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán ngày càng mất cân

cổ phiếu tăng với tốc độ cao thì giai đoạn này giá cổ phiếu lại giảm một cánhtrầm trọng, tốc độ giảm cũng không kém so với tốc độ tăng trong giai đoạn tr-

Trang 21

ớc Phải đợi đến khi các cơ quan quản lý cảu Nhà nớc đa ra các biện pháp hữuhiệu khác nhằm trấn an và lấy lại lòng tin cho các nhà đầu t, lúc đó thị trờngchứng khoán mới có dấu hiệu hồi phục.

d, Biến động trên thị trờng tài chính, thị trờng tiền tệ, thị trờng bất động sản

Đây cũng là một nhân tố quan trọng có tác động đến giá cổ phiếu Rấtnhiều các nhà đầu t chứng khoán đồng thời là các nhà đầu t trên thị trờng bất

động sản, thị trờng ngoại tệ Khi thấy có sự biến động trên thị trờng chứngkhoán, đặc biệt khi giá cổ phiếu ngày càng sụt giảm, đồng thòi trên các thị tr-ờng hàng hoá khác đặc biệt là thị trờng bất động sản đang có cơn sốt mạnh,lập tức họ chuyển vốn sang kinh doanh trong các lĩnh vực đang đầy tiềm nănglợi nhuận này Việc rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trờng chứng khoán càng làm chogiá chứng khoán biến động mạnh hơn, nhất là giá cổ phiếu

3 Bài học kinh nghiệm trong việc khắc phục biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

Trong giai đoạn đầu, hầu hết thị trờng chứng khoán các nớc hoạt độngtrầm lắng với khối lợng giao dịch ít, cha thu hút đợc nhiều ngời đầu t thamgia

Thị trờng chứng khoán các nớc ra đời tự phát do nhu cầu của nền kinh tếnên giá cả phản ánh tơng đối tốt tình hình nền kinh tế Tuy nhiên, theo quyluật IPO thì giá cổ phiếu luôn tăng khi thị trờng chứng khoán mới đi vào hoạt

động bởi nhiều nguyên nhân, đặc biệt là ở các thị trờng mới nổi, điều nàycũng xảy ra đối với giá cổ phiếu ở các thị trờng chứng khoán trên

Giao dịch trái phiếu chiếm tỉ lệ khá lớn trong tổng giao dịch chứngkhoán, đặc biệt là ở thị trờng chứng khoán Thợng Hải, do đó phần nào hạn chế

sự biến động giá cả chứng khoán và rủi ro trong đầu t vào thị trờng chứngkhoán trong giai đoạn đầu, do đó thị trờng không có những biến động quá lớn

Trang 22

biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh.

Thứ nhất: Dần dần hoàn thiện hệ thống pháp lí cho thị trờng chứng

khoán, đa ra các văn bản pháp luật cụ thể, chặt chẽ về từng mặt hoạt động củathị trờng, điều chỉnh từng đối tợng nhất định

- Thứ hai: Chia thị trờng chứng khoán thành 2 loại để có thể thu hút tối

đa các doanh nghiệp tham gia niêm yết cũng nh lợng tiền đầu t của dân chúngqua thị trờng chứng khoán

- Thứ ba: Xây dựng thị trờng chứng khoán hiện đại, hệ thống giao dịchthuận tiện, nhanh chóng, thu hút các nhà đầu t tham gia Ví dụ nh hệ thốngmáy tính cuả Sở giao dịch chứng khoán Thợng Hải có thể phục vụ 1800 giaodịch/ 1giây và việc thanh toán bù trừ đợc tự động hoá hoàn toàn, đẩy nhanhtốc độ giao dịch trên thị trờng

- Thứ t: Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có đạo đứcnghề nghiệp nhằm xây dựng thị trờng chứng khoán hoạt động an toàn, hiệuquả

- Thứ năm: Xây dựng thị trờng OTC nhằm hỗ trợ cho sự phát triển củathị trờng chính thức, hoàn thiện hệ thống thị trờng chứng khoán đồng bộ, huy

động vốn tối đa cho nền kinh tế

- Thứ sáu: Hình thành các tổ chức hỗ trợ cho sự phát triển cuả thị trờng,giúp ổn định giá cả chứng khoán khi cần thiết nh Hiệp hội kinh doanh chứngkhoán, Quỹ bình ổn giá cả

Ngoài ra, các nớc còn áp dụng rất nhiều biện pháp khác nhằm thúc đẩyhoạt động đầu t trên thị trờng, ổn định thị trờng trong giai đoạn đầu mới hoạt

động, đa thị trờng chứng khoán dần dần phát triển, trở thành kênh huy độngvốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế

Trang 23

Chơng II các nhân tố ảnh hởng đến biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán

thành phố Hồ Chí Minh

IV Thực trạng hoạt động của thị trờng chứng khoán Việt Nam

Ngày 26/06/2001 ủỷ ban chứng khoán nhà nớc của Việt Nam đã trởthành thành viên chính thức của Tổ chức Quốc tế các Uỷ ban chứng khoán(Tổ chức IOSCO) Đây là một sự kiện đợc mong đợi, đánh dấu một bớc tiếntrong quá trình tham gia hội nhập kinh tế của Việt Nam với khu vực và quốc

tế trong tiến trình phát triển của mình

Hoạt động của thị trờng chứng khoán trong thời gian qua đã có những

b-ớc tiến đáng kể về quy mô thị trờng, cả về số lợng lẫn chất lợng chứng khoán

Số lợng các công ty niêm yết tăng nhanh, trái phiếu Chính phủ huy động quaTrung tâm với số lợng lớn, đáp ứng nhu cầu hàng hoá trên thị trờng Sau hơnmột năm thị trờng đi vào hoạt động, quy trình thanh toán tiền và chứng khoán

đã đợc xây dựng lại và rút ngắn thời gian T+4 xuống còn T+3 đã chính thức

đ-ợc áp dụng trong phiên giao dịch 218 (ngày 02/01/2002) Việc rút ngắn thờigian thanh toán làm cho vòng quay vốn của các nhà đầu t tăng nhanh, gia tăngtính thanh toán của các cổ phiếu, từ đó gia tăng khối lợng giao dịch, đồng thời

có tác động tích cực với hoạt động của các công ty

Vào phiên giao dịch thứ 102 ngày 02/04/2001, lần đầu tiên hình thứcgiao dịch thoả thuận đợc thực hiện Nh vậy, đến nay thị trờng chứng khoánViệt Nam đã có 3 hình thức giao dịch gồm: giao dịch khớp lệnh qua sàn thôngqua các tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán, giao dịch đợc thoảthuận đợc thực hiện giữa các trung gian và nhà đầu t với nhau và giao dịchcác chứng khoán lô lẻ giữa những ngời đầu t trực tiếp với công ty chứngkhoán Bên cạnh những nhà đầu t trong nớc, các nhà đầu t nớc ngoài đã thamgia đầu t vào thị trờng chứng khoán Việt Nam tuy với số lợng cha nhiều Ngày01/03/2002 thị trờng chính thức mở rộng số lợng phiên giao dịch từ 3 phiênlên 5 phiên một tuần đã tạo thêm những cơ hội mới cho các nhà đầu t

Trong thời gian qua, thị trờng hoạt động khá suôn sẻ, công tác quản lý,

tổ chức đợc nâng cao Đội ngũ cán bộ ngành chứng khoán đã trởng thành

Trang 24

cùng với kiến thức và kinh nghiệm quản lý ngày càng vững vàng, đợc tích luỹthông qua thực tế thị trờng Hoạt động của trung tâm giao dịch chứng khoángóp phần phát triển thị trờng sơ cấp Số lợng cổ phần tăng lên, việc phân phối

cổ phiếu, trái phiếu đợc thuận lợi Công chúng đầu t có sự quan tâm hơn vớiviệc phát hành và niêm yết cổ phiếu của các công ty cổ phần

Tuy hoạt động của thị trờng đã có những thành công cơ bản, song thực

tế hoạt động của thị trờng còn gặp nhiều khó khăn và cha thực hiện đợc vai trò

là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng cho nên kinh tế Thị trờngmới là nơi tạo thanh khoản cho các chứng khoán Trái phiếu Chính phủ niêmyết với số lợng lớn nhng ít đợc giao dịch với lãi suất thấp Các nhà đầu t thamgia vào thị trờng với ý định đầu cơ giá ngắn hạn mà không có quan niệm đầu

t theo giá trị Việc tuyên truyền phổ cập kiến thức cho công chứng đầu t vềchứng khoán và thị trờng chứng khoán cha đợc thực hiện rộng rãi Có thể nói

đây là giai đoạn bản lề cho sự phát triển của thị trờng chứng khoán Việt Nam Thời gian tới Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc sẽ phối hợp với các Bộngành, địa phơng liên quan để đa ra các cơ chế, chính sách khuyến khích hơnnữa tạo ra một thị trờng chứng khoán phát triển, minh bạch va công bằng

II Biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố

Hồ Chí Minh

1 Giai đoạn giá cổ phiếu tăng liên tục

Giai đoạn này kéo dài từ khi thị trờng bắt đầu chính thức đi vào hoạt

động ngày 28/07/2000 cho đến khi chỉ số VN-Index đạt số điểm cao nhất là571,04 điểm vào phiên giao dịch thứ 137 ngày 25/06/2001, bình quân mỗiphiên giao dịch VN-Index tăng hơn 3,4 điểm, giá trị giao dịch đạt gần 4 tỉ

đồng Trong giai đoạn này, tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh có 5 công ty niêm yết với 5 loại cổ phiếu là REE, SAM, TMS, HAP

và LAF gồm 32.117.840 cổ phiếu niêm yết trong đó chỉ có khoảng 44% là đã

đợc lu kí Số tài khoản mà các nhà đầu t mở tại 7 công ty chứng khoán lúc này

là khoảng hơn 5000 tài khoản

Đồ thị1: Biến động giá cổ phiếu giai đoạn từ 28/07/2000 đến 25/06/2001

Trang 25

Biến động giao dịch cổ phiếu từ 28/07/2000 đến 25/06/2001.

 Giá tăng liên tục

Nhìn vào đồ thị ta cũng thấy trong giai đoạn này, chỉ số VN-Index liêntục tăng, chỉ tạm thời giảm xuống ở một số phiên nhất định nhng xu hớngchung của toàn bộ thị trờng là tăng giá Giá cổ phiếu tăng liên tục trong gầnmột năm theo xu thế cấp 1, nghĩa là mỗi đợt tăng giá mới đạt mức cao hơn đợttăng giá lần trớc và cứ mỗi đợt phản ứng giá vẫn ở mức cao hơn đợt phản ứnggiá lần trớc, đồ thị dốc lên thể hiện xu thế tăng giá của cổ phiếu

Đặc biệt vào thời gian từ 13/06/2001 đến 25/06/2001, chỉ số VN-Indextăng vọt lên, dẫn đến đờng đồ thị dốc đứng lên nh hình trên, đó là thời điểmkhi bắt đầu áp dụng biên độ dao động mới cho thị trờng, từ 2% lên 7% Vớibiên độ dao động mới, cơ quan quản lí hi vọng các nhà đầu t sẽ cân nhắc kĩhơn trớc khi đặt lệnh, có thể lựa chọn các mức giá khác nhau trong một biên

độ rộng hơn là 7%, từ đó sẽ làm giảm tâm lí luôn luôn đặt mua với mức giákịch trần nh trớc đây, góp phần hạ cơn nhiệt tăng giá hiện hành Tuy nhiên,kết quả lại đi ngợc lại với mong muốn đó, các nhà đầu t tiếp tục đẩy mức giálên kịch trần ở mỗi phiên, với mức trần lớn hơn này, giá cổ phiếu tăng với tốc

độ chóng mặt, từ 11/06/2001 đến 25/06/2001, chỉ với 8 phiên giao dịch

Trang 26

VN-Index tăng 143,02 điểm, trung bình mỗi phiên giao dịch VN-VN-Index tăng gần

18 điểm, dẫn đến chỉ số VN-Index vào thời điểm cuối cùng của giai đoạn này

đạt con số kỉ lục là 571,04 điểm

 Cầu cổ phiếu lớn hơn cung

Trong thời gian đầu khi trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh mới bắt đầu hoạt động, lợng cầu về cổ phiếu đã lớn hơn so với lợngcung trên thị trờng do hàng hoá thì ít (với 4 loại cổ phiếu trong suốt hơn 4tháng đầu hoạt động) và do việc xác định giá tham chiếu lại nhỏ hơn nhiều sovới giá trị thực Càng về sau lợng cầu lại càng lớn hơn nhiều so với lợng cung

do ngày càng có nhiều ngời tham gia vào thị trờng và ngời ta cũng dần dầntáo bạo hơn trớc các quyết định đặt mua cổ phiếu chứ không còn mang tínhchất thăm dò nh giai đoạn đầu nữa Cầu càng nhiều trong khi cung không thay

đổi dẫn đến tất yếu là giá cổ phiếu lên, giá càng lên lại càng kích thích ngời

ta mua cổ phiếu vì cứ mua hôm trớc là hôm sau đã có lãi, mặt khác giá lênliên tục khiến những ngời đang nắm giữ cổ phiếu không muốn bán ra dẫn đếntình trạng cầu thì nhiều mà cung thì ít, mất cân đối cung - cầu trầm trọng

 Công ty có tỉ lệ cổ tức càng cao thì giá tăng càng nhanh

Thị trờng chứng khoán Việt Nam ra đời trong lúc sự hiểu biết của dânchúng về thị trờng còn ít, các nhà đầu t tham gia thị trờng vừa ít kinh nghiệm,vừa hạn chế về các kiến thức cơ bản, do đó họ đầu t theo cảm tính và dựa vàotâm lí chung của thị trờng Vì thế cứ thấy công ty niêm yết nào trả cổ tức caothì các nhà đầu t cho rằng công ty đó hoạt động tốt và tập trung vào mua cổphiếu của công ty đó mà không tính đến các yếu tố khác nh lợi nhuận tích luỹ,rủi ro kinh doanh .Chẳng hạn nh trờng hợp của Công ty cổ phần giấy HảiPhòng, với tỉ lệ cổ tức 37% một năm, giá cổ phiếu HAP tăng liên tục và chỉgiảm ở một số phiên giao dịch nên đã vợt xa giá của các cổ phiếu khác, lên

đến 146.000 đồng cho một cổ phiếu vào phiên giao dịch thứ 135 ngày20/06/2001, gấp hơn 9 lần giá tham chiếu và hơn 14 lần mệnh giá Cổ phiếuHAP đợc xem nh một hiện tợng của thị trờng chứng khoán Việt Nam bởiCông ty cổ phần giấy Hải Phòng là một công ty nhỏ, cơ sở vật chất thủ côngvới mặt hàng sản xuất chủ yếu là vàng mã và xuất khẩu chủ yếu sang ĐàiLoan nhng với tỉ lệ cổ tức cao, HAP đã hấp dẫn hàng nghìn nhà đầu t, dẫn đếngiá tăng liên tục, nhu cầu mua cổ phiếu HAP tăng lên trong khi lợng cung rất

ít do không ai bán ra, một phần cũng do khối lợng cổ phiếu HAP niêm yết trênthị trờng rất nhỏ, chỉ có 1.008.000 cổ phiếu (chiếm 3,14% tổng số cổ phiếu

Trang 27

niêm yết) Cổ phiếu TMS của Công ty cổ phần kho vận giao nhận ngoại thơngcũng tăng tơng tự và lên đến 141.000 đồng cho một cổ phiếu vào phiên thứ

136 Trong khi đó, tỉ lệ cổ tức của SAM và REE chỉ ở mức vừa phải nên tốc

độ tăng giá chậm hơn, chững lại ở một số phiên giao dịch Các thông tin tác

động đến thị trờng chỉ ảnh hởng chủ yếu lên giá của hai cổ phiếu REE vàSAM chứ hầu nh không tác động gì lắm đến cầu về cổ phiếu HAP và TMS nêngiá của chúng vẫn tăng đều

 Giá trị giao dịch tăng dần

Xét theo dài hạn toàn bộ giai đoạn, càng về sau, khối lợng giao dịchcàng tăng Trong thời gian đầu, giá trị giao dịch chỉ đạt vài chục triệu đồngmột phiên, rồi lên đến vài tỉ đồng, có phiên chỉ đạt vài triệu đồng Càng về saugiá càng tăng, giá trị giao dịch cũng có nhiều phiên đạt giá trị lớn hơn Đặcbiệt là khi biên độ giao động đợc nâng lên 7%, thị trờng có nhiều dao động,việc mua bán thực hiện đợc nhiều hơn do đó có nhiều phiên đạt giá trị giaodịch lớn hơn và vào phiên giao dịch thứ 131 ngày 11/06/2001, tổng giá trị giaodịch cổ phiếu đạt 30.458.950.000 đồng với 42.430.000 cổ phiếu đợc mua bán.Thời điểm cuối giai đoạn này là thời điểm có nhiều phiên có giá trị giao dịchlớn nhất

 Khối lợng giao dịch tăng khi giá giảm

Trong ngắn hạn của xu thế cấp 3, tức là những đợt giảm giá cổ phiếunhỏ trong một hoặc một vài phiên, khối lợng giao dịch thờng lớn hơn mứcbình thờng Khối lợng giao dịch thờng lớn ở một số phiên trớc hoặc trong khi

cổ phiếu giảm giá Điều này thể hiện sự không cân xứng về thông tin giữa cácnhà đầu t, các nhà đầu t có đợc một thông tin nào đó mà họ cho rằng có thể

ảnh hởng đến giá cổ phiếu thì họ sẽ lập tức bán ra, trong khi đó các nhà đầu tkhông có thông tin vẫn tiếp tục mua vào theo nh lệ thờng (phải chú ý rằng đây

là giai đoạn mà hầu nh ngày nào các nhà đầu t cũng xếp hàng nhau để đặt lệnhmua cổ phiếu tại các công ty chứng khoán) Hơn nữa, một số nhà đầu t nhậnthấy đây chỉ là tình trạng tạm thời trong xu thế tăng giá nên vẫn tiếp tục đặtmua cổ phiếu Điều đó đã làm cân bằng cung cầu tạm thời trong ngắn hạn về

cổ phiếu, khối lợng khớp lệnh đạt đợc lớn, giá trị giao dịch tăng lên Chẳnghạn nh vào phiên giao dịch thứ 12, ngày 23/08/2000, giá trị giao dịch cổ phiếu

đạt 2.208.700.000 đồng, mức cao nhất từ đầu đến thời điểm đó, các phiên giaodịch trớc chỉ đạt vài trăm triệu đồng Ngay sau phiên giao dịch thứ 12, giá cổ

Trang 28

phiếu lập tức giảm trong vài phiên, tuy nhiên giá trị giao dịch lại đạt đợc khácao, thậm chí trong phiên thứ 15 ngày 30/08/2000 giá trị giao dịch đạt2.478.800.000 đồng.

2 Giai đoạn giá cổ phiếu giảm liên tục

Giai đoạn này bắt đầu từ phiên giao dịch thứ 138 ngày 27/06/2001 đếnphiên giao dịch thứ 180 ngày 05/10/2001

Đồ thị 2: Biến động giao dịch cổ phiếu từ 27/06/2001 đến 05/10/2001

Biến động giao dịch cổ phiếu từ

7/06/2001đến5/10/2001.

0 100

điểm; giá trị giao dịch bình quân mỗi phiên lớn, đạt hơn 8 tỉ đồng Trong giai

đoạn này chỉ có thêm 1 loại cổ phiếu SGH của Công ty cổ phần khách sạn Sài

Trang 29

Gòn với 1.766.300 cổ phiếu, nâng tổng số cổ phiếu niêm yết lên 6 loại với33.884.140 cổ phiếu.

 Giá xuống liên tục

Giá cổ phiếu giảm liên tục theo xu thế cấp 1, nghĩa là mỗi đợt xuống giálại xuống thấp hơn đợt xuống giá lần trớc và sự lên giá tạm thời cũng khôngkéo giá lên cao hơn đợt lên giá lần trớc Giá xuống nhanh hơn, mạnh hơntrong thời gian ngắn hơn do biên độ dao động lớn hơn là 7% Chỉ trong vòng

43 phiên giao dịch, VN-Index giảm 367,92 điểm, bình quân mỗi phiên giaodịch giảm 8,55 điểm trong đó giảm mạnh nhất là phiên giao dịch đầu tiên củagiai đoạn này, phiên thứ 138 giảm 39,11 điểm

 Giá xuống liên tục nhng có nhiều điểm dừng

Giá cổ phiếu không xuống liên tục nh khi giá lên ở giai đoạn một màtheo từng từng chu kì ngắn một Giá xuống một thời gian rồi lại lên trong mộtvài phiên giao dịch, nhng thời gian xuống giá nhiều hơn là lên giá nên xu h-ớng dài hạn chung vẫn là xuống giá Giá xuống liên tục nhng thờng khôngchạm sàn nh là lúc lên kịch trần mà thờng đợc khớp lệnh ở các mức giá khácnhau, thể hiện sự đa dạng hơn trong các mức giá mà các nhà đầu t đa ra vàchấp nhận

 Cầu cổ phiếu nhỏ hơn cung

Thời kì đầu của giai đoạn này, khi giá cổ phiếu giảm vẫn có khá nhiềungời đặt mua do họ theo xu thế chung của giai đoạn trớc là giá chỉ giảm mộtvài phiên rồi tăng trở lại Cung - cầu cổ phiếu tạm thời cân bằng, có nhiềuphiên giao dịch rất dễ mua, dễ bán Nhng sau đó, giá cổ phiếu xuống liên tục,

số phiên giao dịch giá giảm thì nhiều mà tăng thì ít dẫn đến dần dần các nhà

đầu t mất lòng tin, không còn hi vọng nhiều nh trớc nữa, ngời đang nắm giữ cổphiếu thì cố bán ra, tránh lỗ nặng, ngời trớc đây muốn mua thì không cònmuốn mua vào lúc này nữa nên cung thì nhiều mà cầu lại ít, cung cầu lại mộtlần nữa mất cân đối nghiêm trọng nhng lần này là nghiêng về phía cung

 Trong ngắn hạn, những phiên giao dịch giá cổ phiếu tăng thì có khối ợng giao dịch tăng lên

l-Đây là thời điểm mà các nhà đầu t đang bị sốc bởi cơn sụt giá cổ phiếu,luôn trong tình trạng chờ đợi thị trờng hồi phục nên khi giá cổ phiếu tăng là

họ lập tức cảm thấy thị trờng sẽ có thể tiếp tục một đợt tăng giá mới, do đó

Trang 30

l-ợng đặt mua nhiều trong khi ll-ợng đặt bán vẫn đang nhiều sẵn do xu thế chungcủa thị trờng đang xuống giá, vì thế giá trị giao dịch cổ phiếu đạt đợc thờnglớn trong những phiên có giá cổ phiếu tăng hoặc trong cả một phiên sau đó.Chẳng hạn nh trong phiên giao dịch thứ 149 ngày 23/07/2001, sau khi 2 phiêntrớc tăng giá thì lập tức đến phiên giao dịch 149, giá trị khớp lệnh đạt gần 20 tỉ

đồng, lớn hơn nhiều so với mức trung bình hơn 8 tỉ đồng một phiên của giai

đoạn này

 Giá trị giao dịch trung bình lớn hơn giai đoạn trớc

Nếu nh ở giai đoạn trớc, giá trị giao dịch trung bình chỉ đạt gần 4 tỉ đồngmột phiên giao dịch thì sang giai đoạn này, lợng cổ phiếu đợc giao dịch khá

đều, trung bình mỗi phiên đạt hơn 8 tỉ đồng Giá cổ phiếu giảm nhng vẫnkhuyến khích nhà đầu t bởi các đợt tăng giá ngắn hạn nên vẫn thu hút đợc một

số lợng đáng kể các nhà đầu t lạc quan tham gia Họ cho rằng giá cổ phiếugiảm chỉ là tạm thời nên vẫn tiếp tục mua cổ phiếu của những ngời bi quansớm muốn rút ra khỏi thị trờng

Tuy nhiên, giá trị giao dịch lại giảm dần theo giá cổ phiếu, càng ngàycàng có ít ngời muốn mua cổ phiếu và càng có nhiều ngời muốn bán nên cung

- cầu lại không gặp nhau, giá trị giao dịch đạt đợc ít dần

2 Giai đoạn giá cổ phiếu biến động liên tục

Sau một thời gian giá cổ phiếu tăng giảm một chiều, kể từ phiên giao

dịch 181 giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí

Minh dần dần đi vào ổn định, biến động với chu kì ngắn hơn và dao động ít

hơn

Đồ thị 3: Biến động giao dịch cổ phiếu từ 8/10/2001 đến 31/7/2002

Trang 31

Biến động giao dịch cổ phiếu từ 8/10/2001 đến 31/7/2002

Tổng giá trị cổ phiếu giao dịch( nghìn đồng) VN _ Index

Nguồn: Công ty chứng khoán Công Thơng

Chỉ số VN – INDEX tăng liên tục trong 18 phiên giao dịch từ phiêngiao dịch 282 khi VN – INDEX đạt 221.18 điểm đến phiên giao dịch 199khi VN-INDEX đạt 301.09 điểm trung bình mỗi phiên giao dịch tăng 4.44

điểm

Sau đó VN-INDEX lại giảm liên tục trong 27 phiên tiếp từ phiên giao dịch

200 đến phiên giao dịch 226 ngày 21/10/2002, trung bình mỗi phiên giảm3.44 điểm

Các phiên giao dịch sau đó VN-INDEX tăng giảm nhẹ, với chu kìngắn một vài phiên tạo thành những con sóng nhỏ

Một trong những sự kiện của thị trờng chứng khoán Việt Nam tronghai tháng đầu năm 2002 là việc phát hành thêm cổ phiếu của Công ty Cổ phầnGiấy Hải Phòng (HAPACO) Đây là đợt phát hành thêm cổ phiếu đầu tiên trênthị trờng chứng khoán Công ty Hapaco đợc Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớccấp giấy phép phát hành thêm một triệu cổ phiếu mới với mục đích đầu t xâydựng nhà máy giấy Kratf mở rộng sản xuất kinh doanh

Cổ phiếu BBC của Cty CP Bánh kẹo Biên Hoà dù mới ra niêm yết cuốitháng 12 năm 2001 nhng đã gây đợc sự chú ý của các nhà đầu t Trong haitháng 1 và tháng 2 cổ phiếu BBC đợc xếp vào nhóm 3 cổ phiếu có khối lợnggiao dịch cao nhất trong tháng

Trang 32

Tình hình giao dịch của những cổ phiếu còn lại cũng đang ở trong

điểm dừng và đang trong trạng thái chờ đợi những động thái mới Cuối tháng1/2002, mặc dù diễn biến của thị trờng thiếu nhiệt nhng do có thêm một sốloại cổ phiếu mới đa vào giao dịch nên khối lợng và giá trị giao dịch của tháng1/2002 tăng lên đáng kể so với tháng 12/2001 Tổng khối lợng giao dịch tháng

1 là 2.012.090 chứng khoán tăng 705.790 chứng khoán so với tháng 12/2001,dạt giá trị 109 tỷ đồng, tăng 59 tỷ đồng

Sau một thời gian khá dài thị trờng trầm lắng với khối lợng và giá trịgiao dịch qua từng phiên đạt thấp, chỉ số VN-Index liên tục sụt giảm, giá cácloại cổ phiếu đều giảm sút Đến tháng 3 năm 2002 thị trờng chứng khoán ViệtNam có thể đợc xem là một tháng với những biến động của một chu kì thị tr-ờng mới với những nhân tố mới Từ đầu tháng 3, thị trờng chứng khoán ViệtNam chính thức áp dụng tăng phiên giao dịch từ 3 phiên/tuần lên 5 phiên /tuần

và chính thức đa vào giao dịch thoả thuận Giá các cổ phiếu không còn tìnhtrạng tăng, giảm một chiều Ngoại trừ ba cổ phiếu Hap, Laf, và Can giảmgiá còn lại giá cổ phiếu trên thị trờng đều tăng

Sang tháng 4/2002, giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán không có những đột biến lớn Khoảng cách cung cầu cổ phiếu trên thị trờng có xu hớngthu hẹp và tạo nên thế cân đối tuy chỉ nhất thời Chí số VN – Index biến

động theo quỹ đạo hình sin với dao động không đều và diễn biến theo chiều ớng tăng, đặc biệt vào giai đoạn cuối tháng Trong tháng 4/2002, quy mô thịtrờng đợc mở rộng với sự xuất hiện của các cổ phiếu mới đó là cổ phiếu BPCcủa Cty CP Bao bì Bỉm Sơn, cổ phiếu BT6 của Cty CP Bê tông 620 Châu Thới,

h-cổ phiếu GMD của Cty CP Đại lý liên hiệp vận chuyển GEMADEPT, với tổng

số cổ phiếu trên thị trờng là 3,8 triệu cổ phiếu Tổng khối lợng chứng khoán

đ-ợc giao dịch trên toàn thị trờng là 4.043.500cổ phiếu dạt 117.7 tỷ đồng

Một trong những điểm nổi bật của thị trờng chứng khoán tháng 5 là sựbiến động giá cổ phiếu khá thất thờng Vào những phiên giao dịch đầu tháng,tiếp diễn xu hớng của những phiên giao dịch cuối tháng 4, giá cổ phiếu vẫnkhông ngừng tăng tuy với biên độ hẹp, nhng khối lợng giao dịch qua các phiênvẫn khá cao Vào những phiên giữa tháng, nhịp độ tăng chững lại và giảm dần

về cuối tháng, vào giai đoạn cuối tháng giá nhiều loại cổ phiếu giảm nh một

xu thế Nhng tới 2 phiên giao dịch cuối tháng, thị trờng có dấu hiêu đảo chiều

Trang 33

khi hầu hết giá các cổ phiếu đều tăng và biểu đồ chỉ số VN-Index lại đi lênkhá đột ngột.

Trong tháng 5, quy mô thị trờng đợc mở rộng với sự xuất hiện hai loại

cổ phiếu mới đó là cổ phiếu AGF của Cty CP Xuất nhập khẩu thuỷ sản AnGiang và cổ phiếu SAV của Cty CP Hợp tác kinh tế và xuất nhập khẩuSAVIMEX

Tháng 6/2002, thêm một chu kỳ tháng nữa trong tiến trình vận động vàphát triển của thị trờng chứng khoán Việt Nam, nhng tháng này với biểu đồ thịtrờng sụt giảm Đây là sự sụt giảm tạm thời và cũng là nhất thời.Đây là lần thứhai thị trờng ở vào xu thế suy giảm sau đợt suy giảm thứ nhất diễn ra vàotháng 3/2002 tuy nhiên mức độ suy giảm có nhẹ hơn Từ phiên giao dịch thứ

303 ngày 1/6, phiên giao dịch đầu tiên trong tháng đến phiên giao dịch thừ

316 ngày 21/6 thị trờng mới có dấu hiệu ngừng suy giảm và các chỉ số biểu đồtăng nhẹ nhng đó cũng chỉ là những đợt tăng ngắn, biên độ hẹp với những diếnbiến chập chờn cho đến hết tháng Khối lợng giao dịch trong tháng 6/2002 là2.157.110 cổ phiếu trị giá 63 tỷ đồng Tình trạng giá các cổ phiếu sụt giảm đãtác động đến quy mô từng phiên giao dịch và ảnh hởng đến tổng khối lợng vàgiá trị giao dịch toàn thị trờng

Chỉ số VN-Index trên thị trờng liên tục trong xu thế giảm, và đã giảmxuống mức thấp nhất 192,13 Vào những phiên nửa cuối tháng 6, chỉ số VN-Index có dấu hiệu đảo chiều, tăng lên nhng cũng không đều và tốc độ tăngcũng rất chậm Kết thúc phiên giao dịch 322 ngày 28/6, chỉ số VN – Indexgiảm 4,56 điểm so với phiên 302 cuối cùng của tháng 5/2002 (207,12 điểm)

Thị trờng chứng khoán trong tháng 7 khá ảm đạm Giá hầu hết các loại

cổ phiếu trên thị trờng đều sụt giảm Khối lợng và giá trị giao dịch khớp lệnhthấp, tâm lý các nhà đầu t kém hào hứng Trong khi đó, báo cáo 6 tháng đầunăm hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị phát hành đều là nhữngcon số rất khả quan so với cùng kỳ năm trớc Hầu hết các đơn vị phát hành

đều tiến hành trả cổ tức sáu tháng đầu năm cho các cổ đông vào thời điểmnày

Thông tin về việc nới rộng biên độ dao động giá từ +/-2% lên

+/-3%đ-ợc chính thức áp dụng vào ngày 1/8/2002 đã làm cho thị trờng chứng khoánnhững phiên cuối tháng 7 có những chuyển biến giá, giá các cổ phiếu có phần

Trang 34

nhích lên Chỉ số VN – Index kể từ sau phiên giao dịch thấp nhất ngày 19/7(191,25 điểm) đã phục hồi nhẹ Tuy nhiên, kết thúc phiên giao dịch cuối cùngtrong tháng, nhìn lại tổng thể thị trờng tháng 7 cho thấy thị trờng vẫn trongnhững thời điểm chùng xuống và dờng nh trong trạng thái chờ đợi Trongtháng 7, quy mô thị trờng mở rộng với sự xuất hiện của 2 loại cổ phiếu mới đó

là cổ phiếu TS4 của Cty CP Thuỷ sản số 4 và cổ phiếu của Cty CP Khánh Hội

III Các nhân tố ảnh hởng đến biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

1 Nhóm nhân tố làm tăng giá cổ phiếu

a, Khối lợng cổ phiếu niêm yết tại trung tâm giao dịch quá ít

Giai đoạn này kéo dài gần một năm nhng chỉ có 5 loại cổ phiếu đợcniêm yết chính thức gồm 32.117.840 cổ phiếu niêm yết (tức là khoảng321.178 lô _ với 100 cổ phiếu = 1 lô_đơn vị nhỏ nhất đợc phép giao dịch)trong đó chỉ có khoảng 44% là đã đợc lu kí Mặt khác, lợng cổ phiếu không đ-

ợc phép giao dịch nh cổ phiếu ngân quỹ, cổ phiếu thuộc sở hữu của Nhà nớc,

cổ phiếu của thành viên hội đồng quản trị công ty lại chiếm số lợng khá lớn

Do đó, số lợng cổ phiếu giao dịch đợc cũng rất ít, phiên cao nhất (phiên thứ131) cũng chỉ đạt 424.300 cổ phiếu, chiếm hơn 1,3% tổng số cổ phiếu niêmyết

Năm công ty cổ phần với hơn 32 triệu cổ phiếu niêm yết là con số quánhỏ trong tổng số hơn 650 doanh nghiệp Nhà nớc đã cổ phần hoá vào thời

điểm đó Đó là do phần lớn các doanh nghiệp Nhà nớc đã cổ phần hoá đó làcác doanh nghiệp nhỏ và vừa, không đủ tiêu chuẩn niêm yết còn các doanhnghiệp đủ tiêu chuẩn thì lại không muốn tham gia niêm yết do tâm lí ngạikhông muốn có sự thay đổi trong tỉ lệ sở hữu công ty, sợ công bố thông tin,kiểm toán hàng năm .và họ lại cha nhận thức rõ đợc lợi ích của việc niêmyết cổ phiếu trên thị trờng Về dài hạn, tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệpNhà nớc diễn ra chậm chạp, chất lợng các doanh nghiệp thuộc diện cổ phầnhoá lại không cao, nhiều công ty cổ phần hoá là những công ty làm ăn thua lỗphải chọn giải pháp cổ phần hoá làm lối thoát nên đã không tăng đợc số lợngcác công ty đủ tiêu chuẩn niêm yết là mấy

Mặt khác, quá trình cấp phép niêm yết cho các công ty cổ phần đăng kíxin niêm yết còn quá chậm, đã không tăng đợc lợng hàng hoá đang thiếu hụttrầm trọng trên thị trờng lúc này Thị trờng thì thiếu hàng nhng trong suốt hơn

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2: Biến động giao dịch cổ phiếu từ 27/06/2001 đến 05/10/2001 - Biến động giá cổ phiếu tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh   các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp khắc phục
th ị 2: Biến động giao dịch cổ phiếu từ 27/06/2001 đến 05/10/2001 (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w