1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG sản XUẤT KINH DOANH năm 2007 và PHƯƠNG HƯỚNG NHIÊM vụ năm 2008 của NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NGUYỄN văn HUYÊN

43 468 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Sản Xuất Kinh Doanh Năm 2007 và Phương Hướng Nhiệm Vụ Năm 2008 của Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi Nhánh Nguyễn Văn Huyên
Trường học Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Chuyên ngành Ngân Hàng
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 429 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể định nghĩa: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chínhcung cấp một danh mục và các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là vềtín dụng, tiền gửi, kinh doanh tiền tệ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường thì các loại ngành nghề đều có những thay đổi

để có thể phù hợp với nền kinh tế và không bị thụt lùi Mặt khác nước ta vừađược gia nhập tổ chức WTO, đây vừa là cơ hội để cho chúng ta phát triển vàcũng là một thách thức lớn đối với tất cả các ngành kinh tế trong cả nướcchứ không riêng gì ngành ngân hàng Gia nhập tổ chức thương mại thế giớiđồng nghĩa với thị trường được mở cửa tự do, các doanh nghiệp nước ngoaiđược kinh doanh tự do, ngành ngân hàng cũng là một lĩnh vực mà được cácnhà đầu tư quan tâm rất nhiều Mới gia nhập WTO một thời gian ngắn mà sốlượng các ngân hàng liên doanh và các văn phòng đại diện của các ngânhàng trên thể giới ở Việt Nam đã tăng lên một lượng đáng kể Ta sẽ đi sâuvào nghiên cứu sự đổi mới của lĩnh vự ngân hàng trong những năm qua để

có thể thấy được sự thay đổi nhanh tróng của lĩch vự kinh tế này để có thểnắm bắt được sự biến động đang xảy ra trong xã hội đang ngày càng đổi mớicủa chúng ta

Trang 2

- Ngân hàng là một tổ chức kinh tế có vai trò quan trọng đối với nền kinh

tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Tuy nhiên,định nghĩa thế nào là ngân hàng vẫn còn những vấn đề phải tranh cãi

Trước hết, như các tổ chức, ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức

năng hoạt động được thực hiện trong nền kinh tế

Chức năng của các ngân hàng lại cũng được thay đổi theo sự chuyểnđộng của nền kinh tế và theo sự biến động của chế độ kinh tế; ngoài ra, cònphải tính đến sự thay đổi có tính cạnh tranh của các đối thủ của ngân hàng,

đó chính là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, bao gồm: các công ty kinhdoanh chứng khoán, các công ty tài chính, hợp tác xã Tín dụng, quỹ tương

hỗ và các công ty bảo hiểm… Nhóm các tổ chức này, bên cạnh việc thựchiện chức năng kinh doanh của mình, đều cố gắng mở rộng phạm vi hoạtđộng sang lĩnh vực ngân hàng, trước hết là cung cấp dịch vụ ngân hàng như:tiết kiệm, tiền gửi, đầu tư, tín dụng,… Ngược lại, các ngân hàng cũng đốiphó với các đối thủ cạnh tranh này bằng cách mở rộng phạm vi cung cấpdịch vụ, hướng về lĩnh vực bất động sản, môi giới chứng khoán, dịch vụ bảohiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và các sản phẩm dịch vụ mới và mở ra nhữngmối liên kết nhằm đa dạng hoá hoạt động ngân hàng

Như vậy có thể định nghĩa: “Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chínhcung cấp một danh mục và các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là vềtín dụng, tiền gửi, kinh doanh tiền tệ và thực hiện nhiều chức năng tài chínhnhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”

- Những chức năng của ngân hàng đa năng:

Trang 3

- Mô hình hệ thống ngân hàng hiện đại có sự phân chia ra 2 cấp ngân hàng,với chức năng hoàn toán khác biệt:

+ Cấp quản lý: Ngân hàng trung ương

+ Cấp kinh doanh: các Ngân hàng thương mại

Ban đầu, việc phát hành tiền do Nhà nước thực hiện, khi các Ngân hàngthương mại phát triển, một số quốc gia giao cho một Ngân hàng thương mại

có uy tín thực hiện việc phát hành tiền

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, đặc biệt ở những nước tư bản có nềnngoại thương phát triển mạnh, lưu thông tiền tệ trong nước luân chuyển vớikhối lượng lớn, tất yếu phải phát sinh chức năng Quản lý nhà nước về lưuthông tiền tệ, phát hành tiền vào nền kinh tế cũng phải được kiểm soát vàtuân thủ những quy luật chặt chẽ Các quốc gia phương Tây đã thành lập cácNgân hàng trung ương với chức năng rõ ràng là Quản lý lưu thông tiền tệ,phát hành thẻ Kiểm soát hoạt động Tín dụng và kiểm tra hoạt động của cácNgân hàng thương mại, kiểm soát tỉ giá, bảo đảm dự trữ quốc gia về ngoạihối…

Các Ngân hàng thương mại trở thành những doanh nghiệp đặc biệt, chỉlàm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng thương mại được coi là: “Định

NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI

Chức năng quản lý tiền mặt

Chức năng thanh toán

Chức năng tiết kiệm

Chức năng

uỷ thác

Chức năng tín dụng

Trang 4

chế tài chính trung gian”, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngânhàng.

Quá trình phát triển hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam có những đặc thùriêng, có sự chuyển hoá mô hình kinh tế xã hội, nhưng cuối cùng vẫn theo

mô hình ngân hàng 2 cấp, sự vận hành và mối quan hệ giữa 2 cấp ngân hàngcũng theo thông lệ quốc tế như các quốc gia khác

1.1.2/ Các sản phẩm và các dịch vụ ngân hàng.

1.1.2.1/ Các sản phẩm và dịch vụ truyền thống của ngân hàng:

- Thực hiện mua bán và trao đổi ngoại tệ: Một nhà ngân hàng đứng ra mua,bán một loại tiền, chẳng hạn USD lấy một loại tiền khác, chẳng hạn đồngFrance hay Yên Nhật và hưởng phí dịch vụ Sự trao đổi đó là rất quan trọngđối với khách hàng là các nhà kinh doanh trên lĩnh vực thương mại, đặc biệt

là ngoại thương; khách du lịch cũng cần đến dịch vụ này, vì họ sẽ cảm thấythuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia haythành phố mà họ đến

Các nhà Xuất khẩu, Nhập khẩu phải thanh toán bằng ngoại tệ và chuyểnhoá kịp thời để đảm bảo vòng quay vốn, và bảo đảm an toàn tỷ giá kết hốisao cho có lợi nhất, Ngân hàng thương mại sẽ đóng vai trò tư vấn và kinhdoanh trên lĩnh vực này

Chức năng trao đổi và mua bán ngoại tệ hình thành ngay từ thửa ban đầu,khi mà các ngân hàng sơ khai của người Do thái phát minh ra, nhằm phục vụcho việc giao lưu thương mại giữa các quốc gia

- Tín dụng: thời đại ngày nay, không có doanh nghiệp nào chỉ kinh doanhbằng vốn tự có của mình, Ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian tàichính mạnh mẽ nhất ở chức năng này Với nguồn vốn to lớn huy động được

từ trong nền kinh tế, Ngân hàng thương mại đầu tư cho doanh nghiệp và cácnhu cầu vốn tín dụng khác trong nền kinh tế kể cả cho vay tiêu dùng Nhờ sựchuyển hoá này mà hiệu quả của đồng tiền được phát huy cả từ hai phía.Người có tiền gửi cũng nhận được một khoản lợi nhuận thích đáng, mà

Trang 5

người sử dụng vốn cũng có vốn để kinh doanh và đương nhiên cũng có lợinhuận không phải là vốn tự có.

- Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: quá trình luân chuyểnhàng hoá, các doanh nghiệp có thể thực hiện thanh toán với nhau bằng cáchghi nợ, thương phiếu ra đời từ những quan hệ mua chịu bán chịu đó Nhưngngười bán hàng đâu có thể chờ đợi đến kỳ hạn thanh toán, mà họ sẵn sàngbán các giấy tờ có giá đó để thu tiền về, bảo đảm cho chu chuyển vốn liêntục Không ai khác ngoài ngân hàng thương mại có thể làm nổi chức năng

đó Vậy thì chiết khấu thương phiếu cũng là một dịch vụ sinh lời của ngânhàng thương mại

- Nhận tiền gửi : Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó cácngân hàng đã tìm kiếm cách huy động nguồn vốn cho vay Một trong nhữngnguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng - mộtquỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoản thời gian nhiều tuần, nhiềutháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao và độ antoàn của phương thức này khiến cho thị trường chứng khoán khó có thể lôikéo được những khách hàng truyền thống gửi tiền tại các ngân hàng thươngmại

- Thanh toán: là nghiệp vụ “cổ xưa” của các ngân hàng thương mại, khi uytín của các nhà băng đủ lớn, thì các thương nhân cứ yên tâm vận chuyển vàgiao hàng, việc thanh toán chỉ “ra lệnh” là các ngân hàng thương mại phảithực hiện Sự phát triển của công nghệ ngân hàng lại được sự hỗ trợ củacông nghệ thông tin hiện đại, đã hình thành cả một hệ thống thanh toán đồ sộtrong từng quốc gia và nối mạng thanh toán quốc tế toàn cầu qua hệ thốngSWIFT Thời gian thanh toán giữa các doanh nghiệp, giữa các nước khácnhau không phải tính bằng tuần như mới cách đây 1/4 thế kỷ nữa, mà đượctính bằng phút

Trang 6

- Bảo quản vật có giá : nghiệp vụ bảo quản vật có giá cho khách hàngthường do phòng “dịch vụ bảo quản” của ngân hàng thực hiện Toàn bộ vậtquý hiếm của khách hàng được cất trữ trong những ô tủ riêng biệt, đặt tronghầm an toàn, được bảo vệ 24/24 giờ Dịch vụ này tạo điều kiện cho kháchhàng được giải phóng khỏi việc tự cất trữ, bảo quản những đồ quý hiếm,những giấy tờ có giá trị trong điều kiện an toàn tuyệt đối và hoàn toàn bímật.

- Cung cấp các tài khoản giao dịch: Tài khoản tiền gửi giao dịch - một tàikhoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc hoặc các hình thức thanhtoán thích hợp cho việc mua hàng hoá và dịch vụ Việc đưa ra loại tài khoảntiền gửi này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trongcông nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trìnhthanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanhchóng hơn và an toàn hơn

- Cung cấp dịch vụ uỷ thác : Uỷ thác đầu tư hoặc uỷ thác thực hiện nhữngquan hệ tài chính tiền tệ với một đối tác khác kể cả nước ngoài tạo tiện íchcho khách hàng có thể thực hiện ý đồ kinh doanh, mà mình không thôngthạo và tất nhiên khách hàng được bảo đảm thu lợi nhuận tối đa trong điềukiện kinh doanh tại thời điểm đó Các tổ chức nước ngoài, kể cả các ngânhàng thương mại, các tổ chức phi chính phủ cũng hay dùng các dịch vụ này

để thực hiện các dự án của mình tại một quốc gia nào đó

1.1.2.2/ Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển.

Có nhiều dịch vụ mới phát sinh, theo với nhu cầu đa dạng của nền kinh tế,tiện ích của khách hàng và tiến bộ của công nghệ ngân hàng Có thể nêu ramột vài dịch vụ mới:

- Dịch vụ cho thuê tài chính

- Cho vay tiêu dùng (liên kết với các nhà sản xuất và phân phối hàng hoá)

- Cho vay tài trợ dự án, đồng tài trợ

Trang 7

- Máy rút tiền tự động (ATM).

- Máy đổi tiền

Nhóm các dịch vụ có liên quan đến công nghệ thông tin, ra đời sau, nhưngđang được các ngân hàng thương mại phát triển thành loại hình thương mạiđiện tử Các dịch vụ này đang thay đổi bộ mặt các ngân hàng thương mạihiện đại và cũng là mảng dịch vụ có sức cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngânhàng thương mại trong phạm vi quốc gia và cả trên thị trường quốc tế

1.2/ Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam.

1.2.1/ Thời kỳ cách mạng thánh 8 năm 1945:

* Trong suốt thời kỳ tồn tại của các triều đại phong kiến Việt Nam cho đến

nửa đầu thế kỷ 19, ở Việt Nam chưa có hoạt động ngân hàng, mặc dù trênthực tế, đã từng có hoạt động in, đúc tiền của các triều đại phong kiến Trongthời kỳ Việt Nam bị phong kiến phương Bắc đô hộ, trên thị trường đã lưuhành tiền đúc bằng đồng, kẽm Khi Lý Nam Đế lên ngôi, đã cho đúc tiềnbằng đồng lấy tên là “Thiên Đức Thông Bảo”, là đồng tiền đầu tiên đượcđúc ở Việt Nam Sau đó, mỗi triều đại mới, đều cho ra đời một loại tiền đứcmới Đặc biệt thời Hồ Quý Ly (1400 - 1407) đã cho phát hành tiền giấy, vàcưỡng bức lưu hành để đổi lấy tiền đúc bằng đồng: trang trải các chi phí củatriều đình Tuy nhiên, thời gian lưu hành không dài, khi nhà Hồ bị sụp đổ thìtiền giấy cũng không còn được lưu hành nữa

* Từ giữa thế kỷ 18, khi Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, đã cho lưu hànhnhiều loại khác nhau Ngoài tiền đúc bằng đồng, kẽm của các triều đạiphong kiến đương thời, còn có đồng bạc Mê - xi - cô, đồng France (1862).Năm 1875 ngân hàng Đông Dương được thành lập theo sắc lệnh ngày

Trang 8

25/1/1875 của Tổng thống Pháp; ngay sau đó, đã cho phát hành tiền ĐôngDương Đồng Đông Dương lúc bấy giờ là đồng tiền đúc bằng bạc (theo chế

độ bản vị bạc) và tiền giấy ngân hàng Việc in và đúc tiền đều thực hiện tại

“mẫu quốc” (nước Pháp)

Trong thời kỳ thuộc địa của Pháp, sự hình thành và phát triển của hệ thốngtiền tệ, tín dụng đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, chính quyền Đông Dương

là người tổ chức thực hiện

Hệ thống tài chính ở Việt Nam thời kỳ đó đương nhiên do chính phủ bảo

hộ nắm giữ và điều hành, ngân hàng Đông Dương đã độc quyền phát hànhtiền và nắm giữ tổ chức tín dụng quan trọng như ngân hàng Pháp - Hoa ,ngân hàng địa ốc Đông Dương, ngân hàng Cầm cố Đông Dương, Nông phốngân hàng,…tạo thành một tập đoàn tài chính có sức mạnh áp đảo trên thịtrường tài chính Ngân hàng Đông Dương cũng đã bỏ vốn mua nhiều cổphần của các công ty tư bản công, thương nghiệp, vận tải, giao thông, nôngnghiệp (các công ty chuyên chở đường sắt, đường sông; các công ty mỏ, cáccông ty công nghiệp chế biến, công ty điện và công ty cao su…) Ngân hàngĐông Dương đã thâm nhập sâu và các ngành và các lĩnh vực kinh tế thenchốt của các nước Đông Dương, vừa là công cụ phục vụ đắc lực chính sáchthuộc địa của chính phủ Pháp ở Đông Dương, vừa là công cụ bóc lột thậm tệnhân dân Đông Dương và là giàu cho tư bản Pháp

1.2.2/ Thời kỳ sau cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến chống Pháp:

Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, lực lượng cách mạng tuy không chiếmđược ngân hàng Đông Dương, những đã buộc bọn chủ ngân hàng xuất tiềncủa ngân khố cho ta Trong điều kiện chưa phát hành được động tiền cáchmạng, đồng bạc Đông Dương vẫn tạm thời lưu hành và được sử dụng làmcông cụ chi tiêu cho chính quyền cách mạng Thực dân Pháp đã tìm mọicách để phá hoại và gây cho ta nhiều khó khăn

Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho cách mạng, Đảng chủ trương dựa vàodân, phát huy tinh thần yêu nước và ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc, phát

Trang 9

động phong trào quyên góp tài chính và vật chất trong các tầng lớp nhân dândưới các hình thức như: “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo khángchiến”,… để có nguồn tài chính và lương thực phục vụ cho cuộc khángchiến trường kỳ; đồng thời, chuẩn bị phát hàng tiền Việt Nam, Chính phủgiao Bộ tài chính phụ trách Thàng 12/1945, đồng tiền Việt Nam đã bắt đầuxuất hiện trên thị trường Những đồng tiền đầu tiên của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hoà ra đời mang ý nghĩa kinh tế, chính trị sâu sắc, phù hợp vớinguyện vọng và được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh Tháng 11/1946, tại

kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã quyết địnhcho phát hành giấy bạc Việt Nam trong cả nước

Nhờ phát hành được đồng tiền riêng và nắm công cụ phát hành, Đảng vàchính phủ ta đã có điều kiện để giải quyết vấn đề tài chính cho công cuộckháng chiến bảo vệ nền độc lập, xây dựng đất nước và tạo điều kiện để xâydựng nền tài chính - tiền tệ độc lập, tự chủ của chính phủ kháng chiến

1.2.3/ Thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam:

Công cuộc kháng chiến ngày một tiến triển mạnh mẽ, nhất là từ sau chiếnthắng Biên giới cuối năm 1950, đã tạo ra một cục diện mới về quân sự,chính trị ngày càng có lợi cho ta; cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạnmới đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theoyêu cầu mới

Đại hội Đảng lần thứ hai (tháng 2/1951) đã đề ra những chủ trương chínhsách mới về tài chính – kinh tế; trong đó chính sách tài chính có nội dung cơbản là: chính sách tài chính phải kết hợp chặt chẽ với chính sách kinh tế,tăng thu trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất; giảm chi bằng cách tiết kiệm, thựchiện dân chủ hoá chế độ thuế, quy định rõ Ngân sách trung ương, Ngân sáchđịa phương; thành lập Ngân hàng quốc gia, phát hành đồng bạc mới để ổnđịnh tiền tệ, cải tiến chế độ tín dụng

Trên cơ sở này, ngày 6/5/1951, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 15/SL thành lập

Trang 10

Ngân hàng quốc gia Việt Nam, và cử ông Nguyễn Lương Bằng làm tổnggiám đốc với những nhiệm vụ sau:

- Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ

- Quản lý kho bạc nhà nước

- Huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá

- Quản lý hoạt động kinh doanh bằng biện pháp hành chính

- Quản lý ngoại hối và các khoản giao dịch bằng ngoại tệ và đấu tranh tiền

1.2.4/ Thời kỳ từ năm 1954 – 1975:

Là thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống

Mỹ cứu nước, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam Những năm đầumới hoà bình lập lại, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được đổi tên là Ngânhàng Trung ương, nhưng thực chất vẫn là ngân hàng một cấp với tất cả chứcnăng của một ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại

Ngân hàng trung ương vào thời kỳ đó là một hệ thống có 3 cấp ngân hàng:trụ sở chính đóng tại Hà Nội, các tỉnh và thành phố có các chinh nhánh vàcấp huyện có các chi điếm ngân hàng

1.2.5/ Thời kỳ tháng 4/1975 đến năm 1986:

Ngay trong những năm đầu miền Nam được giải phóng, ngành Ngân tíntrực thuộc ban kinh tài miền Nam đã nhận được sự chi viên đắc lực củaNgân hàng trung ương Ngân hàng trung ương đã cử nhiều đoàn cán bộ tham

Trang 11

gia uỷ ban quân quản (dưới phiên hiệu K3) tiếp quản hệ thống ngân hàngcủa chế độc cũ.

Để phù hợp với nhu cầu phát triển trong tình hình mới, thực hiện cácnhiệm vụ kinh tế, chính trị của Đảng và nhà nước Ngày 6/6/1975 Hội đồngchính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra nghịđịnh số 04/PCT – 75 thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam Theo nghịđịnh: “Ngân hàng quốc gia Việt Nam là cơ quan trung ương của Hội đồngchính phủ, chịu trách nhiệm cải tổ hệ thống ngân hàng cũ, xây dựng ngânhàng mới, tổ chức thực hiện và quản lý tập trung thống nhất của nhà nước vềcác chính sách tín dụng, phát hành tiền tệ, thanh toán, quản lý ngân sách nhànước, quản lý ngoại tệ và thanh toán quốc tế”

+ Cấp quản lý: Ngân hàng nhà nước là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng đểthực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ ứng dụng, đồng thời làmchức năng “Ngân hàng của ngân hàng” (Ngân hàng trung ương)

+ Cấp kinh doanh: Thành lập các Ngân hàng thương mại hoạch toán kinh

tế độc lập trên cơ sở các chi nhánh Ngân hàng trung ương tỉnh, thành phố,đặc khu và ở cấp huyện, quận, thị xã Kinh doanh tiền tệ và thực hiện cácdịch vụ ngân hàng

Trong thời gian này, 4 ngân hàng chuyên doanh của nhà nước được hìnhthành bằng chuyển và tách ra từ Ngân hàng trung ương thành 4 Ngân hàngthương mại quốc doanh:

- Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam

- Ngân hàng công thương Việt Nam

Trang 12

- Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam.

- Ngân hàng ngoại thương Việt Nam

Các Ngân hàng thương mại từng bước phát triển theo chiều hướng kinhdoanh đa năng, có lợi nhuận và đóng vai trò định chế trung gian, thu hútvốn, hoạt động cho vay, phục vụ tích cực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội của đất nước

Sang thập kỷ 90, hành lang pháp lý cho hoạt động của các tổ chức tín dụngcảng trở nên bức bách, cần phải được bổ sung và nâng cấp mang tính pháp

lý cao hơn Sau một thời gian khảo sát, nghiên cứu và chỉnh sửa, Ngân hàngnhà nước đã trình quốc hội và “Luật ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng”

đã được quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/10/1998 Đó là một bướctiến quan trọng về cơ chế và tạo hành lang pháp lý cao hơn cho hoạt độngcủa hệ thống Ngân hàng Việt Nam

Tới nay, hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm:

+ 6 Ngân hàng thương mại quốc doanh, trong đó có 1 Ngân hàng chínhsách xã hội

+ 26 Ngân hàng cổ phần đô thị

+20 Ngân hàng cổ phần nông thôn

+ 5 Ngân hàng liên doanh với nước ngoài

+ 26 Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

+ Các văn phòng đại diện của trên 30 Ngân hàng nước ngoài đặt tại ViệtNam

+ Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân gồm 1 quỹ trung ương và 906 quỹ tíndụng nhân dân cơ sở

+ 14 đơn vị tín dụng phi ngân hàng

Những thời điểm quan trọng trong phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam

Trang 13

1948 - đầu 1951 Bộ tài chính quản lý các công việc về tiền tệm tín

dụng, Ngân hàng trung ương chưa hình thành

Tháng 1/1946 Phát hành giấy bạc Việt Nam đầu tiên, lưu hành ở

miền Bắc, và toàn quốc vào năm 1948

1947 – 1951 Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập theo mô

hình trung ương - khu vực - cơ sở

Tháng 5/1951 Phát hành giấy bạc ngân hàng thay thế tiền tài chính 1946

1960 Cải tiến cơ chế tín dụng ngân hàng Đổi tên thành Ngân

hàng nhà nước Việt Nam Cuối năm 1960 Hoàn thiện các văn bản pháp quy về hoạt động ngân hàng

sau cải tiến cơ chế tín dụng

Giữa năm 1987 Thí điểm chuyển sang mô hình ngân hàng kinh doanh

ở một số tỉnh

Tháng 3/1988 Ban hành Nghị định 53/CP, mô hình ngân hàng hai cấp ra

đời: Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng, các ngân hàng chuyên doanh thực hiện kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng,

Tháng 5/1990 Ban hành hai pháp lệnh Ngân hàng nhà nước và pháp

lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính

Tháng 12/1997 Bam hành Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam và luật

các tổ chức tín dụng theo cơ chế thị trường

1.3/ Quy trình xây dựng và phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

1.3.1/ Bối cảnh ra đời của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam:

- Tháng 12/1986 Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI đề ra đườnglối đổi mới, chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thịtrường định hướng XHCN Đổi mới hệ thống Ngân hàng được coi là khâu

Trang 14

then chốt của công cuộc đổi mới vì Ngân hàng là huyết mạch, đồng thời làtấm gương phản ánh nền kinh tế.

Ngày 26/3/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ ) ban hành Nghịđịnh số 53/HĐBT thành lập các Ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngânhàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, với nhiệm vụ chủ yếu là cho vay vàthực hiện các dịch vụ ngân hàng để phát triển Nông lâm nghiệp và Thủy sản Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam ra đời trong bối cảnh kinh tế,

xã hội hết sức khó khăn Vào những năm 1980, do hậu qủa của hơn 30 nămchiến tranh, chính sách cấm vận của Mỹ và đóng cửa biên giới với TrungQuốc từ sau chiến tranh biên giới năm 1979, Liên bang Xô viết tan rã, nguồnviện trợ của các nước đối với Việt Nam không còn nữa, cùng với cơ chếkinh tế tập trung bao cấp, nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủngkhoảng

- Khi Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam ra đời, kiến thức vàkinh nghiệm về ngân hàng thương mại hiện đại hoạt động theo cơ chế thịtrường hầu như chưa có, tuy ý tưởng và thử nghiệm về sự tách bạch giữaquản lý nhà nước và kinh doanh thương mại trong ngân hàng đã xuất hiệntrước đó

Tuy nhiên, cũng có một số thuận lợi cơ bản: Công cuộc đổi mới toàn diện

do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra từ tháng 12/1986 đã đi vào cuộc sống,được sự ủng hộ mạnh mẽ của Đảng, toàn dân Quá trình phân tách hệ thốngNgân hàng từ một cấp sang hai cấp, hình thành các ngân hàng chuyên doanh

và phát triển theo hướng Ngân hàng thương mại hiện đại được sự ủng hộ củacác ngành, các cấp Trong phân phối lưu thông, Đảng và Nhà nước đã cươngquyết dẹp bỏ nạn “ngăn sông, cấm chợ”, tạo điều kiện cho hàng hóa đượclưu thông tự do Trong nông nghiệp, nhờ Nghị quyết 10 của Bộ chính trị(1988) về khoán hộ, các hộ nông dân được giao đất để sử dụng lâu dài, được

Trang 15

tự chủ trong sản xuất, tiêu thụ nông sản Trong công nghiệp, xóa bỏ dầnphương thức kế hoạch tập trung Các xí nghiệp công nông nghiệp được tựchủ dần trong hoạt động

Về tổ chức, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hình thành trên

cơ sở tiếp nhận toàn bộ các chi nhánh Ngân hàng cấp huyện của Ngân hàngNhà nước, các Phòng tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánhNgân hàng tỉnh, thành phố được tập hợp, bổ sung một số cán bộ kế toán vàhành chính để hình thành chi nhánh Ngân hàng phát triển nông nghiệp cấptỉnh, ở thời điểm đó nhiều chi nhánh cấp tỉnh không có trụ sở làm việc

Ở cấp trung ương, Ngân hàng phát triển nông nghiệp trung ương đượchình thành trên cơ sở tiếp nhận Tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước

và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng đầu tư vàXây dựng, Vụ kế toán và một số đơn vị khác Cơ sở vật chất, công cụ làmviệc rất nghèo nàn lạc hậu Ở các chi nhánh tỉnh, thành phố trụ sở Ngân hàngphát triển nông nghiệp Việt Nam thường ở các vị trí xa trung tâm, nhà cửachật chội, chi nhánh Huyện, thị xã thường là nhà cấp 4, có nhiều nơi xâydựng từ những năm 1960 Trang thiết bị hầu như không có gì, một số nơikhá hơn, được trang bị máy tính quay tay “Nisa” của Tiệp Khắc

- Đội ngũ cán bộ nhân viên được tiếp nhận ban đầu hơn 36.000 người,phần đông trình độ thấp, chưa được đào tạo Do đặc điểm lịch sử cũng nhưđặc điểm kinh doanh và phục vụ trong lĩnh vực Nông nghiệp và nông thôn làchính, nên cán bộ cấp chi nhánh, đặc biệt chi nhánh huyện chỉ được đào tạoqua loa, hầu hết là trình độ sơ cấp Toàn hệ thống Ngân hàng phát triển nôngnghiệp Việt Nam lúc đó chỉ có 2 phó tiến sỹ; 10% có trình độ đại học, caođẳng và chứng chỉ nghiệp vụ; 46% có trình độ trung cấp; còn lại là sơ cấp vàchưa được đào tạo Số người biết tiếng Anh ở mức giao dịch giản đơn chỉđếm trên đầu ngón tay

Trang 16

- Về hoạt động kinh doanh có thể nói ở thời điểm thành lập Ngân hàngphát triển nông nghiệp chưa có kinh doanh Ngân hàng, với sự tập hợp hơn

500 Ngân hàng huyện, thị xã vậy Ngân hàng phát triển nông nghiệp cũngtiếp nhận dư nợ cho vay các hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã nghề cá, hợptác xã thủ công, một số công ty vật tư nông nghiệp, Tổng số nợ là 1.561 tỷđồng, 70% là nợ quá hạn và nguồn vốn chủ yếu là của Ngân hàng nhà nướccho vay, chiếm tới 85% Hệ thống kế toán, thanh toán liên hàng còn dựa vàoNgân hàng nhà nước Về dịch vụ, trừ thanh toán và chuyển tiền cho kháchhàng nội địa, còn hầu như không có khái niệm về dịch vụ ngân hàng

1.3.2/ Các giai đoạn phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

1.3.2.1/ Giai đoạn từ 1988 – 1989.

Là giai đoạn thành lập Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam đã rađời với chức năng là một ngân hàng chuyên doanh trong lĩnh vực nôngnghiệp và nông thôn Đây là một lĩnh vực, một địa bàn trọng điểm của đấtnước với nền sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có tỷ trọng lớn nhất trong cơcầu GDP và là khu vực kinh tế chiếm hơn 85% dân số nước ta Tình trạngsản xuất nông nghiệp lại cũng hết sức lạc hậu, công cụ chủ yếu là các nông

cụ thủ công, sức kéo chủ yếu là trâu bò Nghề cá chủ yếu khai thác tronglộng, nuôi trồng thủy sản chưa phát triển, nạn lũ lụt, hạn hán và các thiên taixảy ra liên tiếp, lạm phát ở mức cao Hoạt động ngân hàng đầu tư cho lĩnhvực này vào thời điểm đó là vô cùng khó khăn

Về cơ chế hoạt động, lúc đó tuy đã hình thành hệ thống, có tư cách phápnhân, con dấu, vốn riêng nhưng trong giai đoạn này, tổ chức bộ máy và cơchế hoạt động của Ngân hàng phát triển nông nghiệp vẫn do Ngân hàng nhànước điều hành trực tiếp Trong công tác cán bộ, Ngân hàng nhà nước trựctiếp duyệt cơ cấu tổ chức mạng lưới, chỉ tiêu tuyển dụng, đề bạt, điều chuyển

Trang 17

cán bộ từ cấp trưởng phòng ở trung tâm điều hành và giám đốc chi nhánhtỉnh, thành phố trở lên Ngân hàng nhà nước trực tiếp ban hành các văn bảnquy định về nghiệp vụ, đồng thời quản lý trực tiếp nguồn vốn, dư nợ của cácngân hàng thương mại.

Trong bối cảnh kinh tế xã hội và điều kiện hoạt động như trên, Ngân hàngphát triển nông nghiệp Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, nhưng đã đứngvững và tạo nền móng để tồn tại và phát triển, từng bước xây dựng mô hình

tổ chức, đội ngũ cán bộ, tự nghiên cứu và hình thành văn bản các nghiệp vụ

từ khâu xây dựng kế hoạch, cân đối vốn, hình thành hệ thống kế toán vàhạch toán kinh doanh, xây dựng các chế độ về tín dụng không chỉ đối vớinông nghiệp mà cả các ngành khác… bước đầu phát triển kinh doanh đặt cácmối quan hệ với các ngành, các tổ chức tín dụng quốc tế Nghiên cứu cácchương trình kinh tế, các chủ trương cải cách kinh tế của Đảng và nhà nước,chuẩn bị mở rộng các hoạt động kinh doanh Vào thời điểm đó Ngân hàngphát triển nông nghiệp cũng chưa có nhiều khách hàng là các doanh nghiệp,nhiều đơn vị còn ngần ngại khi đặt mối quan hệ với ngân hàng nông nghiệp

1.3.2.2/ Giai đoạn từ 1990 – 1996:

Năm 1990 là năm đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình đổi mớicủa ngân hàng Tháng 5/1990, hai pháp lệnh ngân hàng ra đời khẳng định hệthống ngân hàng hai cấp Ngân hàng nhà nước với chức năng là ngân hàngtrung ương, là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ - tín dụng, là ngân hàngcủa các ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam Các ngân hàng thương mại, tổchức tín dụng hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng theo cơ chếthị trường trong khuôn khổ pháp luật

Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là thủ tướng chínhphủ) ký quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Namthay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông

Trang 18

nghiệp là ngân hàng đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp,nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu tráchnhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật Cuối năm 1991 được sự chấpthuận của Ngân hàng nhà nước, Ngân hàng nông nghiệp thí điểm cho vay hộnông dân, mở ra 1 thị trường rộng lớn và hết sức phù hợp với yêu cầuchuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường Đầu năm 1994 việc cho vay

hộ nông dân thành công tốt đẹp, được thể chế hoá và qua đó uy tín của Ngânhàng nông nghiệp được tăng lền

1.3.2.3/ Giai đoạn từ 1997 đến nay:

Năm 1997 Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng ra đời thay thế 2 pháplệnh Điều lệ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn được thốngđốc phê chuẩn tại quyết định số: 309/1997/QĐ – NHNN ngày 22/11/1997 Thời kỳ này kinh tế đang phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng đạt trên mức7%/ năm, song vào năm 96 – 97, xảy ra khủng khoảng tài chính và tiếp đếnsuy thoái của 2 khu vực kinh tế Châu Á và Mỹ La Tinh đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến nền kinh tế Việt Nam cũng như hoạt động kinh doanh của hệ thốngngân hàng Việt Nam

Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, CƠ CẤU TỔ CHỨC, CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NGUYỄN

VĂN HUYÊN.

2.1/ Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 19

2.1.1/ Quá trình hình thành của Ngân hàng nông nghiêp và phát triển nông thôn.

Ngày 26/03/1988 Ngân hàng chuyên doanh phát triển Nông nghiệp ViệtNam được thành lập theo Nghị đinh số 53/HĐBT và hoạt động theo luật các

tổ chức tín dụng Việt Nam

Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính

phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Namthay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam

Ngày 27/03/1993 Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ra quyết định số66/QĐ – NH5 thành lập doanh nghiệp nhà nước có tên Ngân hàng nôngnghiệp Việt Nam mã số 14 thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tên giaodịch quốc tế VIET NAM BANK FOR AGRICULTURE

Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngânhàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngânhàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triểnNông thôn Việt Nam

Hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là một trongnhững ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam cả về tài sản và mạng lướihoạt động Đến cuối 2007, vốn tự có của Ngân hàng đạt 7.702 tỷ VNĐ; tổngtài sản có trên 190 ngàn tỷ VNĐ; hơn 2.000 chi nhánh trên toàn quốc và29.429 cán bộ nhân viên

Ngân hàng Nông nghiệp luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng côngnghệ ngân hàng hiện đại phục vụ công tác quản trị kinh doanh; phát triển sảnphẩm và dịch vụ mới; mở rộng mạng lưới: đã kết nối mạng vi tính từ Trụ sởchính đến các chi nhánh trong toàn quốc; thực hiện thanh toán song biên vớiNgân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam; thiết lập một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ chuyển tiềnđiện tử, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, dịch vụ ATM, dịch vụ thanh

Trang 20

toán quốc tế qua mạng SWIFT Đến nay, Ngân hàng Nông nghiệp hoàn toàn

có đủ năng lực cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến,tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước

Ngân hàng có quan hệ ngân hàng đại lý với 932 ngân hàng đại lý tại 112quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tíndụng lớn, có uy tín trên thế giới: Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thônChâu Á Thái Bình Dương (APRACA), Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệpQuốc tế (CICA) và Hiệp hội Ngân hàng Châu Á (ABA) Ngân hàng Nôngnghiệp hiện là phó chủ tịch Hiệp hội APRACA và dự kiến là Chủ tịch Hiệphội vào đầu năm 2007

Ngân hàng Nông nghiệp giữ vị trí hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếpnhận và triển khai các dự án nước ngoài, đặc biệt là các dự án của Ngânhàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Cơ quan Phát triển Pháp Đếncuối 2007 đã tiếp nhận và quản lý có hiệu quả 86 dự án với tổng số vốn3.016 triệu USD, số vốn qua Ngân hàng Nông nghiệp 2.140 triệu USD, đãgiải ngân 995 triệu USD

Với những thành tựu to lớn, Ngân hàng Nông nghiệp đã đóng góp tích cựcvào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đấtnước, được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời

kỳ đổi mới

2.1.2/ Phạm vi hoạt động

2.1.2.1/ Huy động vốn

Ngân hàng nông nghiệp huy động vốn dưới các hình thức:

- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng khác dưới cáchình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác

- Phát hành những chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác

Trang 21

để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khiđược Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp thuận.

- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và tổchức tín dụng nước ngoài

- Vay vốn của Ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn

- Các hình thức huy động vốn có thể bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng

và các công cụ khác theo quy định của pháp luật

2.1.2.3/ Hoạt động kinh doanh tiền tệ.

- Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh trực tiếp hợp đồng, bảo lãnh

dự thầu, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm và các hình thức bảo lãnhngân hàng khác cho các tổ chức, cá nhân trong nước theo quy định của Ngânhàng nhà nước

- Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân hàngkhác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài

- Ngân hàng nông nghiệp chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác

- Ngân hàng nông nghiệp thực hiện nhiệm vụ cho thuê tài chính thông quacác công ty cho thuê tài chính trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp theo quy

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hệ thống tổ chức. - THỰC TRẠNG sản XUẤT KINH DOANH năm 2007 và PHƯƠNG HƯỚNG NHIÊM vụ năm 2008 của NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NGUYỄN văn HUYÊN
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ hệ thống tổ chức (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w