Chính sách phát triển công nghiệp khai khoáng Chiến lược phát triển khoáng sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 242[r]
Trang 1TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
Ở VIỆT NAM I: Khái niệm và phân loại khoáng sản
- Khoáng sản là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái Đất, mà thành
phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của nền kinh tế quốc dân
- Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất
hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người
có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày
Nước ta nằm trên bản lề của vành đai kiến tạo và sinh khoáng cỡ lớn của Trái Đất Nguồn khoáng sản rất phong phú về chủng loại và đa dạng
về loại hình
Tuy Việt Nam là nước có diện tích không lớn nhưng có nguồn tàinguyên khoáng sản đa dạng và phong phú với gần 40 chủng loại tưkhoáng sản năng lượng(dầu khí, than, urani, địa nhiệt), khoáng sảnkhông kim loại, vật liêu xây dựng đến khoáng sản kim loại Nhưng đấtnước ta không phải là nước giầu về tài nguyên khoáng sản vì hầu hết cáckhoáng sản ở Việt Nam có trữ lượng không lớn, lại phân bố tản mạnkhông tập trung Cụ thể như sau:
1 Loại khoáng sản năng lượng
Dầu khí của Việt Nam không nhiều, với sản lượng khai thác nhưhiện nay, nếu không phát hiện thêm trữ lượng thì chỉ vài ba chục nămnữa sẽ hết nguồn khai thác
Trang 2 Than ở đất liền cũng đã cạn kiệt dần, đang và sẽ phải nhập mới bảođảm được nhu cầu tiêu thụ trong nước Than ở dưới sâu đồng bằng
sông Hồng có thể có nhiều, theo số liệu tính toán có thể tới vài trăm tytấn nhưng vấn đề công nghệ trong khai thác rất phức tạp, chưa giải quyếtđược, nếu có khai thác thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và ansinh xã hội
Tiềm năng urani và địa nhiệt không đáng kể
2 Loại khoáng sản không kim loại và vật liệu xây dựng có nhiều
nhưng chỉ dùng trong nước Chúng không phải là loại khoáng sản có giátrị kinh tế cao và trên thế giới cũng không có nhu cầu nhiều
3 Loại khoáng sản kim loại như vàng, bạc, đồng chì, kẽm, sắt, thiếc,
molipden v.v ở Việt nam có rất ít, không đáp ứng được các nhu cầutrong nước trong thời gian tới Những loại khoáng sản này thế giới cũngcạn kiệt dần
4 Việt Nam có một số loại đá quy như ruby, saphia, peridot nhưng
trữ lượng không nhiều Ta lại không có kim cương – loại đá có giá trịkhinh tế rất cao và có nhu cầu rất lớn
Tuy vậy Việt nam cũng có 03 loại khoáng sản có trữ lượng lớn là bauxit,đất hiếm và ilmenit (quặng titan) có trữ lượng lớn, nhưng trên thế giớicũng có nhiều loại này và phải hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn nămnữa vẫn chưa dùng hết, Cụ thể:
Bauxit thế giới có tài nguyên 55 ty tấn, (Việt Nam có hơn 5 ty tấn),mỗi năm chỉ cần 200 triệu tấn, như vậy 275 năm nữa mới khai thác hết
Đát hiếm thế giới có 150 triệu tấn (Việt Nam ́ hơn 10 triệu), mỗinăm chỉ cần 135.000 tấn, như vậy phải hơn 1000 năm nữa mới hết.Nhưng gần đây Nhật đã phát hiện ở đáy Thái Bình Dương có khoảng
100 ty tấn đất hiếm, do đó hàng nghìn năm nữa cũng không lo thiếu đấthiếm
Trang 3 Quặng titan thế giới có khoảng 2 ty tấn (Việt Nam dự báo cókhoảng 600 triệu tấn), hàng năm thế giới chỉ cần hơn 6 triệu tấn, như vậycũng phải hàng trăm năm nữa mới hết Gần đây, Paraguay đã phát hiệnkhoảng 20 ty tấn, như vậy hàng nghìn năm nữa cũng không lo thiếuquặng titan.
Kết kuận: Việt Nam không giàu về tài nguyên khoáng sản, những thứ
khoáng sản thiết yếu mà thế giới cần như dầu khí, vàng, kim cương v.v thì Việt nam có rất ít hoặc không có Một số loại khoáng sản Việt Nam
có nhiều như bauxit, đất hiếm, quặng titan thì thế giới cũng có nhiều,đảm bảo tiêu thụ hàng trăm năm thậm chí đến hàng nghìn năm nữa
II Vai trò của khoáng sản
• Khoáng sản có vai trò thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển thôngqua việc cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu cho các ngành sản xuất kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp cơ khí…
Trang 4Sản xuất gang, thép ở Thái Nguyên
• Khoáng sản là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao
Trang 5Xuất khẩu than sang Nhật Bản
Khoáng sản là nhân tố có khả năng tạo vùng, do đó thúc đẩy sự phân công lao động theo lãnh thổ
Khoáng sản góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội ở nước ta, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Trang 7
Công nhân khai thác và chế biến khoáng sản
III Hiện trạng tài nguyên khoáng sản nước ta
Nước ta nằm trên bản lề của hai vành đai kiến tạo và sinh khoáng cỡ lớn của trái đất Nguồn khoáng sản rất phong phú về chủng loại và đa dạng
về loại hình
Kết quả thăm dò và khảo sát tới nay cho thấy , nước ta có hơn 3.500 mỏ
và điểm quạng của 80 loại khoáng sản Trong đó, hơn 32 loại tại hơn
300 mỏ đã đưa vào khai thác hoặc đã có thiết kế để khai thác
a) Khoáng sản kim loại
Trang 8- Kim loại đen : Thuộc nhóm này gồm có sắt, mangan, crôm , titan là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp luyện kim đen.+ Sắt: Tổng trữ lượng dự báo khoảng 1,8 tỉ tấn, trữ lượng đã thăm dò khoảng 1 tỉ tấn, thành phần quặng trong các mỏ có khác nhau nhưng chủ yếu là hematit và manhetit, hàm lượng sắt
tư 20 – 40 %Các mỏ lớn ở nước ta là: Tòng Bá ( Hà Giang), Trại Cau ( Thái Nguyên), Hà Quảng ( Cao Bằng), Quý Xa(Yên Bái), Thạch Khê(Hà Tĩnh) Mỏ sắt Thạch Khê ( Hà Tĩnh) có trữ lượng tới 554 triệu tấn nhưng điều kiện khái thac khó khan, còn
mỏ Trại Cau ( Thái Nguyên) đã được khai thác tư năm 1962.+ Mangan: Chỉ có một mỏ nhọn đáng kể là mỏ Trùng Khánh , Trà Lĩnh ( Cao Bằng), trữ lượng dự báo khoáng 3,2 triệu tấn, hàm lượng mangan trong quặng tư 35 – 50 %
+ Crom: Mỏ crom cổ định ( Thanh Hóa) là một mỏ vào loại lớn trên thế giới, trữ lượng thăm giò khoảng 3,2 triệu tấn Hàm lượng crom trong quặng trên 465, mỏ đã được khai thác tư lâu
- Kim loại màu, kim loại nhẹ, kim loại quý và hiếm
Hầu hết các mỏ đều là các mỏ đa kim, phàn lớn các mỏ đều nhỏ, lại ở vùng núi điều kiện khai thác rất khó khan
+ Đồng: Mỏ Tạ Khoa ( sơn La) chủ yếu là đồng – niken, mỏ Sinh Quền ( Lào Cai) là đồng – Vàng Trữ lượng đã xác địnhlà khoảng
Trang 9600 nghìn tấn đồng, 120 nghìn tấn niken, 29 tấn vàng , 25 tấn bạc,
…
+ Chì – Kẽm: Vùng mỏ Chợ Điền – Chợ Đồn ( Bắc Kạn) chiếm 80% trữ lượng Chì – Kẽm cả nước, ngoài ra còn mỏ làng Hích ( Thái Nguyên) , vùng mỏ Sơn Dương ( Tuyên Quang) Ở Bắc Trung Bộ cũng có một số mỏ đang trong quá trình thăm dò
+ Thiếc – vonfram: Vùng Cao Bằng có mỏ Phia Oắc là kiểu mỏ gốc và mỏ Tĩnh Túc là mỏ sa khoáng Mỏ Tĩnh Túc đã được ngườiPháp khai thác tư rất sớm (1910), trữ lượng khoảng 13900 tấn thiếc Vùng Tam Đảo – Tuyên Quang cũng có các mỏ gốc và mỏ thiếc sa khoáng Phía tây Nghệ An có vùng mỏ Quỳ Hợp – Anh Sơn Vùng Đà Lạt cũng có các mỏ thiếc – vonfram quy mô nhỏ và trung bình
+ Boxit: Tổng trữ lượng dự báo khoảng 6,6 tỉ tấn, chắc chắn
khoảng 4 tỉ tấn Mỏ boxit nội sinh có ở các vùng Đông Bắc ( Cao Bằng, Hà Giang , Lạng Sơn) và phía tây Nghệ An, Quảng Bình Các mỏ boxit ngoại sinh tậ trung nhiều nhất ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
+ Titan: Có cả mỏ gốc và mỏ sa khoáng Mỏ gốc có ở khu vực NúiChúa ( Thái Nguyên) trũ lượng thăm dò đạt 180 triệu tấn Mỏ sa khoáng tập trung trong các bãi cát ven biển thành các vùng có trữ
Trang 10lượng lớn suốt tư Quảng Ninh Đến cực Nam Trung Bộ (Bình
Thuận) trữ lượng thăm dò khoảng 16 triệu tấn, dễ khai thác
+ Vàng: Đến nay đã phát hiện được 284 điểm quặng và mỏ quặng vàng, trong đó đã thăm dò khảo sát, đánh giá được 45 điểm và mỏ quặng và đã khai thác khoảng 30 điểm mỏ nhỏ Nói chung, các mỏ vàng ở nước ta đều nhỏ, đáng kể nhất là mỏ Bồng Miêu (Quảng Nam) trữ lượng dự báo khoảng 10 tấn nhưng đã được khai thác tư lâu Tổng trữ lượng vàng dự báo là khoảng 280 tấn, ở cấp tin cậy làkhoảng 49 tấn
Ngoài các kim loại kể trên còn có bạc, platin, antimoan, đất hiếm, kim loại phóng xạ
b) Khoáng sản phi kim loại
– Khoáng sản không kim loại được phân thành một số nhóm:
nguyên liệu cho công nghiệp hóa chất và phân bón, nguyên liệu kĩ thuật và mĩ nghệ, nguyên liệu sản xuất gạch chịu lửa – gốm sứ - thủy tinh, vật liệu xây dựng
+ Apatit: Mỏ ngoại sinh phân bố tập trung ở vùng Cam Đường (Lào Cai) trữ lượng dự báo 2 ty tấn, trữ lượng đã thăm dò đánh giá
908 triệu tấn, ddaaay là nguồn nguyên liệu chính để sản xuất phân lân
+ Photphorit: Tập trung ở Hữu Lũng (Lạng Sơn), có giá trị công nghiệp
Trang 11+ Pirit (FeS2): Là nguyên liệu để sản xuất axit H2SO4, tổng trữ lượng cả nước khoảng 10 triệu tấn, có rải rác ở nhiều nơi Hiện nay, đang khai thác ở Thanh Sơn (Phú Thọ).
+ Đá quý: Tập trung ở đới sông Hồng (kéo dài tư Lào Cai đến Tây Sơn), hiện đã khai thác ở mỏ Tần Hương, Lục Yên (Yên Bái) Vùng mỏ Quỳ Hợp (Nghệ An) chủ yếu có rubi, saphia
+Cát thủy tinh: Chủy yếu ở duyên hải miền Trung (khoảng 1,1 ty tấn) với 6 mỏ lớn là: Cửa Tùng (Quảng Trị), Quảng Ngãi, Tuy Hòa, Cam Ranh, Phan Rang, Phan Thiết Cát ở Cam Ranh nổi tiếng với chất jngtoost để sản xuất pha lê Phía bắc chỉ có các mỏ nhỏ, trữ lượng khoảng 6 triệu tấn, trong đó có mỏ cát Vân Hải (Quảng Ninh) nổi tiếng có chất lượng tốt
+ Sét xi măng: tổng trữ lượng khoảng 300 triệu tấn, tập trung chủ yếu ở Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương Ngoài ra, nhiều nơi ở Bắc Trung Bộ cũng có sét xi măng
+ Cao lanh: Để sản xuất các đồ sứ cao cấp và sứ mĩ nghệ, có ở nhiều nơi; tổng trữ lượng khoảng 50 triệu tấn
+ Đá vôi: Rất phong phú tập trung tư khu vực Thưa Thiên – Huế trở ra Bắc, ngoài ra còn phân bố ở Đà Nẵng, Kiên Giang Đây là nguyên liệu sản xuất xi măng, làm đá ốp lát, nguyên liệu trợ dung cho luyện gang…
- Nước khoáng và nước nóng: Nước ta có nguồn nước khoáng và nước nóng rất phong phú với khoảng 400 nguồn, trong đó có
Trang 12287 nguồn đã được khảo sát đăng ký lấy mẫu phân tích lý hóa Trong số đó có 34 nguồn có nhiệt độ dưới 30 ℃ , còn lại 253 điểm khác đều có nhiệt độ trên 30 ℃ , có 164 điểm vưa là nước khoáng vưa là nước nóng Đáng kể nhất phải kể tới: Mỹ Lâm (Tuyên Quang), Kim Bôi (Hòa Bình), Quang Hanh (QuảngNinh), Tiền Hải (Thái Bình), Bang (Quảng Bình), Thạch Bích (Quảng Ngãi), Vĩnh Hảo (Bình Thuận),…
c) Tài nguyên nhiên liệu – năng lượng
Nguồn nhiên liệu và năng lượng của nước ta rất đa dạng Có nhữngloại trữ lượng tương đối lớn, chất lượng tốt nên không những tạo thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu – năng lượng, thỏa mãn yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong nước mà còn có thể tham gia hợp tác với các nước trong khu vực
- Dầu mỏ và khí đốt
Nước ta nằm ở một vùng ven biển có thềm lục địa rộng nhất thế giới: Tư Nhật Bản chạy qua Trung Quốc, sang Việt Nam tới Indonexia rồi đến ostraylia, có khả năng tích tụ một khối lượng dầu khí rất lớn Trong toàn bộ vùng biển nước ta rộng hơn 1 triệu km2, các nhà khoa học cho rằng khu vực triển vọng có dầukhí chiếm tới 500.000 km2
Đâu mỏ và khí đốt là nguồn năng lượng rất quan trọng của nướcta.Trữ lượng dự báo địa chất khoảng gần 10 ty tấn, trữ lượng
Trang 13khai thác đạt khoảng 4 – 5 ty tấn dầu quy đổi Dầu khí của nước
ta tập trung trong các bể lớn sau:
+ Bể trầm tích sông Hồng có diện tích khá lớn, trữ lượng dự báođịa chất khoảng 1,5 ty tấn
+ Bể trầm tích Cửu Long có trữ lượng dự báo địa chất khoảng 2,5 ty tấn, trữ lượng khai thách có thể đạt tới 500 triệu tấn
+ Bể trầm tích Nam Côn Sơn có tiềm năng lớn nhất, trữ lượng địa chất có thể đạt tư 4 -5 ty tấn
+ Bể trầm tích Trung Bộ bao gồm các bể phía đông Huế, đông Đà Nẵng,trữ lượng báo dưới 1 ty tấn
+ Bể Thổ Chu – Mã Lai có tiềm năng không lớn, khoảng vài trăm triệu tấn.Các mỏ dầu khí đã khai thác hiện nay: Tiền Hải, Bạch
Hồ, Rồng, Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Bunga Kekwa Mỏbạch hồ cung cấp mỗi ngày gần 12 nghìn tấn dầu thô Mỏ ĐẠi Hùng nằm ở trung tâm bông trũng Nam CônĐảo, có trữ lượng lớn hơn mỏ Bạch Hồ, trữ lượng 20 – 30 nghìn thùng/ngày ( mỗi thùng
= 159 lít)
+ Sản lượng khai thác dầu mỏ của nước ta ngày càng tăng Triển vọng về các mẻ dầu khí chắc chắn còn tạo nhiều bất ngờ mới Cho tới nay mới có 25% diện tích thềm lục địa được giao thầu thăm dò,75% còn lại chỉ tính diện tích có khả năng dầu khí đang chờ đợi
cơ hội tiếp tục.Công nghiệp dầu khí đang trở thành ngành công
Trang 14nghiệp hoàn thiện tư khâu khai thác tới khâu chế biến và xuất khẩu.
- Than:
+Than đá đang đứng hang thứ 2 trong các nguyền nhiên liệu ở Việt Nam Vùng than lớn nhất là Quảng Ninh chiếm tới 90% tổng trữ lượng than tại Việt Nam ( khoảng 7 ty tấn) Than Quảng Ninh chủ chủ yếu là than antraxit, có nhiệt lượng trên 8.000 calo/kg, cung cấp sản phầm than cho cả nước và xuất khẩu với số khối lượng nhỏ ( 1-2 triêu tấn/năm) Vùng than Quảng Ninh đã và đang thu hút nhiều nhà máy nhiệt điện chạy bằng than có công suất lớn, tạo thành 1 trong những vùng nhiên liệu – năng lượng lớn của Việt Nam
+Ngoài than của Quảng Ninh, nước ta còn có một số mỏ than mỡ, than nâu,than bùn nằm rải rác ở các nơi với trữ lượng, chất lượng thấp, có trữ lượng phục vụ cho nhu cầu các địa phương như: các
mỏ than Làng Cẩm, Trại Cau, Phấn Mễ ( Thái Nguyên), trữ lượng thăm dò 80 triệu tấn ; mỏ than Na Dương (Lạng Sơn) có trữ lượngthăm dò khoảng 100 triệu tấn; mỏ Nông Sơn (Quảng Nam) trữ lượng thăm dò10 triệu tấn;…Ngoài ra còn có hơn 100 điểm có than nùn, trong đó lớn nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long với trữ lượng dự báo 400-500 triệu tấn, có thể làm chất đốt trong sinh hoạthoặc vật liệu xây dựng cấp thấp
Trang 15+Qua những thăm dò gần đây đã phát hiện ra bể than đồng bằng sông Hồng trải rộng trên diện tích 3.500 km thuộc địa phận 3 tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định Tổng trữ lượng của bể than khoảng 210 ty tấn, gần gấp 20 nghìn bể than Quảng Ninh.
Tại bể than sông Hồng các vỉa than có thể khai thác chủ yếu nằm ở độ sâu 450 m đến 1.700 m Đây là loại than á bitum B chất lượng tốt, có giá trị cho các ngành sản xuất công nghiệp, nhất là luyện thép, nhiệt điện, xi măng, hóa chất
Hiện nay, “Đề án phát triển bể than đông bằng sông Hồng là đề án
có giá trị rất cao,nhưng cũng là đề án có mức độ ảnh hưởng tới môitrường sinh thái và lien quan chặt chẽ tới an ninh lương thực , do bể than nằm trên địa bàn vùng vựa lúa lớn thứ hai của cả nước điều kiện địa chất khai thác ở đây rất phức tạp , có nhiều nước ngầm, đất đá bao quanh vỉa than không ổn định ,… hơn nữa trên bềmặt là nơi trồng lúa của tỉnh Thái Bình , Hưng Yên, Nam Định, Chính vì vậy, công nghệ khai thác cần đặc biệt chú trọng
- Nguồn thủy năng
Việt Nam là một trong 14 nước giầu thùy năng trên thế giới, trữ lượng ước tính khoảng gần 300 ty kwh Mật độ thủy năng khá cao, khoảng 994 kw/km , gấp 3,6 lần độ thủy năng bình quân của thế giới Tuy nhiên, trữ lượng thủy năng lại phân bố không đều theo lãng thổ và theo lưu vực của các dòng sông: cùng Bắc Bộ chiếm 47% trữ lượng thủy năng của cả nước, trong khi vùng Bắc Trung
Trang 16Bộ là 14% và vùng Nam Trung Bộ là 28%, vùng Nam Bộ là 10% Riêng sông Đà chiếm tới 38,5% trữ lượng thủy năng của cả nước, sông Đồng Nai 14%, sông Xê Xan 9,8%.
Thủy năng được liệt vào năng lượng sạch, không thải ra chất gay ô nhiễm Tuy nhiên, việc xây dựng các hồ chứa nước lớn có thể có những tác động về sinh thái, kinh tế và xã hội, do vậy cần được xem xét kỹ trước lúc quyết định xây dựng hệ thống thủy điện
IV Định hướng phát triển và khai thác tài nguyên khoáng sản.
- Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và
đa dạng về chủng loại gồm các nhóm khoáng sản nhiên liệu (dầukhí, than); nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, cromít, titan,mangan); nhóm khoáng sản kim loại màu (bôxit, thiếc, đồng, chì-kẽm, antimon, molipden); nhóm khoáng sản quý (vàng, đá quý);nhóm khoáng sản hoá chất công nghiệp (Apatít, cao lanh, cát thuytinh); nhóm khoáng sản vật liệu xây dựng (đá vôi xi măng, đá xâydựng, đá ốp lát)
- Công nghiệp khai khoáng Việt Nam bắt đầu hình thành tư cuối thế
ky 19 do Pháp khởi xướng, tư năm 1955, Việt Nam đã tiếp quản,duy trì và phát triển các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản Đếnnay, đã tiến hành điều tra cơ bản, thăm dò và phát hiện mới trên5.000 điểm khoáng và mỏ Đã đánh giá được một số loại khoángsản có giá trị công nghiệp và trữ lượng dự báo lớn như: dầu-khí(1,2 ty-1,7 ty m3); than (240 ty tấn), sắt (2 ty tấn), đồng (1 triệu tấnkim loại), titan (600 triệu tấn khoáng vật nặng), bôxit (10 ty tấn),chì kẽm, thiếc, apatít (2 ty tấn), đất hiếm (11 triệu tấn) các khoáng