Tuy nhiên chiphí của ngân hàng ở đây khác với mô hình chi phí của các doanh nghiệp, do đốitượng kinh doanh của nó là tiền tệ và các chứng từ có giá nên nó sẽ phát sinhcác chi phí khác so
Trang 1MỤC LỤC
Lời nói đầu 1
Chương 1 NGÂN HÀNG VÀ CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 3
I. KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG 3
1 Khái niệm về ngân hàng 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Lịch sử hinh thành và phát triển 3
2 Chức năng của ngân hàng 4
2.1 Trung gian tài chính 4
2.2 Tạo phương tiện thanh toán 4
2.3 Trung gian thanh toán 4
II TÍN DỤNG - HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG 5
1 Tín dụng và phân tích tín dụng của ngân hàng 5
1.1 Khái niệm tín dụng 5
1.2 Phân tích tín dụng 7
2 Các loại hình tín dụng trong ngân hàng 7
III CHI PHÍ – CHI PHÍ CỦA NGÂN HÀNG 8
1 Khái niệm chi phí 8
1.1 Chi phí sản suất kinh doanh nói chung 8
1.2 Phân loại chi phí ngân hàng 9
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí của ngân hàng 9
2.1 Lãi xuất đi vay 9
2.2 Tính thanh khoản của ngân hàng 9
2.3 Chính sách của ngân hàng Nhà nước 10
2.4 Các nhân tố khác ảnh hưởng tới chi phí của ngân hàng 10
VI MÔ HÌNH CHI PHÍ CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1. Bài toán chung của các công ty 1
2.Các đường chi phí và hàm chi phí 23
Trang 23 Mô hình chi phí cho ngân hàng thương mại 27
Chương 2 NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM – ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CHI PHÍ NGÂN HÀNG VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA PHẦN MỀM EVIEW 30
I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG HOÀN KIẾM .30 II MÔ HÌNH CHÍ PHÍ CỦA NGÂN HÀNG THÔNG QUA CÁC ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH CÓ SỰ TRỢ GIÚP CỦA CHƯƠNG TRÌNH EVIEWS 31
1 Các biến số có mặt trong mô hình 31
2 Ước lượng mô hình 32
3 Kết luận 35
Kết luận 38
Phụ lục .39
Lời nói đầu
Chi phí - những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí luôn là một vấn đề quan trọng cho bất kỳ một doanh nghiệp nào, để đảm bảo được hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả thì phi phí cần phải được quan tâm đúng mức và giám sát thường xuyên Bởi rằng mục tiêu của mỗi doanh nghiệp trong bất kỳ thời đại nào là tối đa hoá lợi nhuận hoặc cực tiểu hoá chi phí Từ việc tìm hiểu
và phân tích chi phí của doanh nghiệp thay đổi như thế nào qua các năm, xem xét nó có tuân theo quy luật nào? Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến sự thay đổi của chi phí và cuối cùng là có thể mô hình hoá được nó hay không? Việc
mô hình hoá sẽ giúp chúng ta biết được những nhân tố nào có ảnh hưởng thực
sự và mức độ ảnh hưởng của chúng Những câu hỏi trên sẽ được trả lời trong báo cáo này với sự trợ giúp của phần mềm Eviews
Ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng
Là một trong những mắt xích quan trọng của bất kỳ một nền kinh tế nào, trung
Trang 3gian tài chính, một nhân vật không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân Ngânhàng cũng là một doanh nghiệp, một doanh nghiệp đặc biệt, nên mục tiêu ngânhàng luôn theo đuổi cũng là cực đại hoá lợi nhuận, hay tối thiểu hoá chi phí.Xuất phát từ mục tiêu trên, nên khi được tạo điều kiện thực tập tại ngân hàngCông thương Hoàn Kiếm em đã có ý tưởng muốn thành lập mô hình chi phícủa ngân hàng, ước lượng mô hình nhờ sự trợ giúp của phần mềm Eviews Đểxây dựng mô hình chi phí cho ngân hàng phải dựa trên mô hình chi phí của cácdoanh nghiệp kinh doanh, hay chính là lý thuyết về hàm chi phí Tuy nhiên chiphí của ngân hàng ở đây khác với mô hình chi phí của các doanh nghiệp, do đốitượng kinh doanh của nó là tiền tệ và các chứng từ có giá nên nó sẽ phát sinhcác chi phí khác so với chi phí thông thường của các doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp được trình bày qua hai chương:
Chương 1: Ngân hàng và chi phí hoạt động của ngân hàng
Chương 2: Ngân hàng CTHK - Ứng dụng mô hình chi phí ngân hàng với
sự trợ giúp của phần mềm Eviews
Em xin chân thành cám ơn Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Quang Dong vàcác thấy cô trong khoa Toán kinh tế đã tận tình giúp đỡ em hoàn thiện đề tàinày Em cũng xin chân thành cám ơn các cô chú trong ban lãnh đạo Ngân hàngCông thương Hoàn Kiếm – Phòng kế toán tài chính đã tào điều kiện thuận lợicho em trong công việc tại ngân hàng và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Trang 4Chương 1 NGÂN HÀNG VÀ CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG
Luật tổ chức tín dụng của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Namghi: “Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngânhàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tíndụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Như vậy, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnhvực tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn để cho vay, đầu tư vàthực hiện các nghiệp vụ tài chính khác
Trang 51.2 Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngân hàng được ra đời từ rất lâu, hình thức đầu tiên của ngân hàng là ngânhàng của các thợ vàng hoặc ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi Hình thứccho vay chủ yếu là cho vay thấu chi - tức là cho phép khách hàng chi nhiều hơn sốtiền gửi tại ngân hàng, một hình thức cho vay chứa đựng nhiều rủi ro Và chính vìthế, thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán vàphá sản, gây khó khăn cho các hoạt động thanh toán, ảnh hưởng tới hoạt độngbuôn bán Hơn nữa lãi suất cao nên những nhà buôn không thể sử dụng nguồn vaynày Trước tình hình này nhiều nhà buôn đã góp vốn lập thành ngân hàng, vớichức năng chủ yếu là tài trợ ngắn hạn và thanh toán hộ Ngân hàng này được gọi
là ngân hàng thương mại
Sau này sự phá sản của các ngân hàng thương mại đã gây tổn thất cho ngườigửi tiền là nguyên nhân dẫn đến hình thành ngân hàng tiền gửi Và ngân hàngTrung ương ra đời với chức năng điều tiết hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Quá trình phát triển của ngân hàng đang tạo ra mối liên hệ chặt chẽ, sự phụthuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa chúng Các hoạt động ngân hàng xuyên quốcgia đã và đang thúc đẩy hình thành các hiệp hội, các tổ chức liên kết các ngânhàng nhằm tạo ra các chính sách chung, hoặc tương thích để kiểm soát chung, đểkết nối và tạo sự thống nhất trong điều hành và vận hành hệ thống ngân hàng trongmỗi quốc gia, khu vực và quốc tế
Lịch sử hình thành và phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiềukhủng hoảng và hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới,gây tổn thất rất lớn cho nền kinh tế và mất ổn định chính trị Có thể nói, các vụ sụp
đổ ngân hàng cũng là một khâu tất yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng.Các nhà quản lý đã và đang không ngừng cải tiến chính sách quản lý để hạn chế sựsụp đổ và mới đường cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng
2 Chức năng của ngân hàng.
2.1 Trung gian tài chính.
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiền tiết kiệm thành tiền đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và
tổ chức trong nền kinh tế Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức làchi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần
bổ sung vốn Các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện
Trang 6tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ và do vậy họ có tiền
để tiết kiệm
Vấn đề trên đòi hỏi phải hình thành một tổ chức đứng ra là trung gian tàichính đó là ngân hàng Ngân hàng sẽ nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân haycác doanh nghiệp đang cần nguồn vốn kinh doanh Trung gian tài chính này có thểhoạt động hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ đểhạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch
2.2 Tạo phương tiện thanh toán.
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của kháchhàng tăng lên, khách hàng có thể mua hàng hoá hoặc dịch vụ Do đó, bằng việccho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán
2.3 Trung gian thanh toán.
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết tất cảcác quốc gia trên thế giới Thay vì khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giátrị hàng hoá dịch vụ Để thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí,ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán bằng séc, uỷ nhiệmchi, các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cungcấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừvới nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanhtoán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sửdụng công nghệ đó càng được mở rộng
II TÍN DỤNG - HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG.
1 Tín dụng và phân tích tín dụng của ngân hàng.
I.1 Khái niệm tín dụng.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của ngân hàngthương mại, một hoạt động rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro Nó là hoạtđộng quan trọng nhất của ngân hàng nói riêng và của các trung gian tài chính nóichung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất Tíndụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi là tín dụngngân hàng)
Tất cả các lý do trên đã cho thấy rằng tín dụng là một hoạt động cung cấpdịch vụ cho vay, theo nghĩa đơn giản, của ngân hàng cho khách hàng Khách hàng
ở đây là các cá nhân, các tổ chức, các doanh nghiệp Khi ngân hàng cung cấp tín
Trang 7dụng cho khách hàng, ngân hàng thường xem xét đến các vấn đề như: nhân tố conngười và quản lý, tình trạng hay khả năng tài chính của khách hàng, khả năng trả
nợ, đảm bảo tín dụng, mục đích vay Đó là những vấn đề rất cơ bản trước khi tiếnhành hoạt động cho vay
Nói đến tín dụng, ngân hàng sẽ xem xét vấn đề khả năng tài chính của kháchhàng vay Đây là vấn đề quan trọng và nó tác động trực tiếp đến quyết định chovay Mỗi người vay phải có vốn tự có đủ lớn để đảm bảo cho ngân hàng có thể thuhồi vốn của mình thông qua việc bán tài sản Nếu việc hoàn trả tiền vay bằng hiệnvật không đủ để trả nợ món vay theo dự tính thì người vay sẽ kém hấp dẫn đối vớingân hàng Tuy nhiên khó khăn chỉ xuất hiện trong việc trả nợ, ngân hàng muốnđảm bảo bằng vốn tự có tương xứng trong tài sản của người vay trong trường hợpkhông trả nợ được Ngân hàng phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp bằngcách xem xét bảng tổng kết tài sản Trong đó vốn tự có của doanh nghiệp chính lànhân tố quan trọng nhằm bù đắp cho những rủi ro trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Việc tăng vốn tự có là một biểu hiện của sự tiến bộ về tài chính củadoanh nghiệp Một mức tăng về vốn tự có của doanh nghiệp có thể đạt được bằng
ba cách cơ bản sau: Lợi nhuận của doanh nghiệp được giữ lại không chia, tăng giátrị tài sản bằng quà tặng hoặc thừa kế, bán cổ phần hay góp thêm vốn từ các đốitác Vốn tự có là thước đo tốt nhất về “hiện trạng sức vóc” của một doanh nghiệp
và cam kết của chủ doanh nghiệp
Thêm vào đó, vấn đề góp phần không nhỏ vào quyết định của ngân hàng, đó
là khả năng trả nợ của doanh nghiệp đi vay Lý do đơn giản là: sự khác nhau cơbản giữa một khoản cho vay tốt và một khoản cho vay kém chất lượng được thểhiện trước hết ở việc hoàn trả khoản vay Nếu một khoản vay được trả cả gốc lẫnlãi đúng hạn, mặc dù có thể gặp khó khăn, thì đối với ngân hàng khoản vay đó vẫnđược đánh giá là khoản vay tốt Vì vậy, sự đánh giá chính xác của ngân hàng vềnăng lực trả nợ của người vay cũng quan trọng như sự đánh giá về tính cách nănglực quản lý của người vay Thường thì ngân hàng xem xét hồ sơ hoạt động sảnxuất kinh doanh trước đây của doanh nghiệp, chủ yếu là báo cáo thu nhập hàngnăm Thêm vào đó, ngân hàng nghiên cứu đề án thực hiện trong tương lai dướihình thức dự toán luồng tiền Thông tin từ báo cáo thu nhập đưa ra một bức tranh
về khả năng tạo thu nhập trong quá khứ của doanh nghiệp, và nhờ đó cung cấp
Trang 8một cơ sở vững chắc tương đối cho dự toán thu nhập, chi phí và trả nợ trong tươnglai của doanh nghiệp.
Nói đến quyết định của ngân hàng không thể không nói đến vấn đề bảo đảmtín dụng Định chế tài chính là một trung gian tài chính không cho vay tiền của bảnthân mình, mà là đi vay để cho vay, nên trách nhiệm hàng đầu là bảo vệ lợi ích củangười gửi tiền Mặc dù phần lớn các ngân hàng đều dự tính trước các rủi ro có thể
có, những rủi ro này phải được kiểm soát một cách chặt chẽ để bảo vệ số tiền gửicủa khách hàng Chính vì vậy, sự an toàn là một vấn đề cần xem xét trước tíên đốivới mọi khoản vay Do đó, một ngân hàng thường sẽ vay trên cơ sở có đảm bảo đểgiảm thiểu rủi ro
Một chi tiết cuối cùng được bàn luận ở đây là mục đích vay Mục đích vay
có ảnh hưởng lớn tới chất lượng của khoản vay Hầu như bất kỳ một ngân hàngnào cũng thích cấp một khoản tín dụng đúng đắn Ngân hàng sẽ xem xét mục đíchvay bằng cách xếp loại các yêu cầu vay thành: các nhu cầu thiết yếu, nhu cầu vàmong muốn Các nhu cầu thiết yếu là những thứ cần thiết như chi phí hoạt động,hàng dự trữ, nguyên vật liệu, sửa chữa và thuế Quyền ưu tiên trước hết phải dànhcho việc tài trợ các nhu cầu thiết yếu và các nhu cầu của người vay, nếu muốn việckinh doanh hoạt động được thực hiện hết công suất Trong nhiều trường hợp, điềunày có nghĩa là phải giới hạn hoặc hoãn tài trợ cho các nhu cầu mong muốn.Thường thì ngân hàng phải giúp doanh nghiệp lập các quyền ưu tiên, điều đòi hỏi
sự tư vấn đáng kể để giúp doanh nghiệp tránh khỏi việc vay vượt quá mức chonhững nhu cầu không cần thiết Mục đích khoản vay phải được phân tích về hiệuquả đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Liệu khoản vay có tài trợ cho sự
mở rộng mạnh mẽ hay hoạt động có hiệu quả hơn từ đó tăng lợi nhuận, hay nó sẽgây ra thêm một gánh nặng về nợ nần mà không tạo ra một chút lợi nhuận nào? Về
ý nghĩa, một khoản vay đúng sẽ giúp doanh nghiệp tăng thu nhập ở mức cao đáng
kể so với chi phí trả lãi vay Hơn nữa mục đích của một khoản vay ảnh hưởngkhông chỉ tới lợi nhuận mà còn cả tình hình tài chính của toàn bộ doanh nghiệp
I.2 Phân tích tín dụng.
Tín dụng là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho ngân hàngthương mại Rủi ro này, có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể gây ra tổn thất, làmgiảm thu nhập của ngân hàng Có nhiều khoản tài trợ mà tổn thất có thể chiếmphần lớn vốn chủ, đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản Do vậy, các ngân hàng phải cân
Trang 9nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định tài trợ Đóchính là quá trình phân tích rủi ro tín dụng
Quan hệ tín dụng phần lớn được xác lập thông qua phân tích tín dụng vớitrọng tâm là xác định khả năng và ý muốn của người nhận tín dụng trong việchoàn trả đúng hạn Do đó mục tiêu của phân tích tín dụng là xác định rủi ro vàbiện pháp hạn chế rủi ro
2 Các loại hình tín dụng trong ngân hàng.
Xét về tín dụng ngân hàng, ta thấy có nhiều loại tín dụng được đưa ra để đápnhu cầu của các doanh nghiệp Ta có thể kể ra một số loại hình tín dụng như sau:
Thứ nhất, tín dụng vốn lưu động ngắn: là loại tín dụng luôn dựa trên cơ sở
dưới một năm, tài trợ cho sự tăng trưởng từng kỳ về hàng hoá dự trữ và các khoảnphải thu, hoặc trang trải một nhu cầu ngắn hạn về tiền mặt cho sản xuất, thanhtoán Loại tín dụng này thường sẽ được thanh toán bằng việc bán hàng, dự trữ vàthu các khoản phải thu
Thứ hai, tín dụng vốn cố định: là một khoản vay để mua tài sản cố định như
thiết bị, đồ đạc, bất động sản, phương tiện giao thông và trong một số trường hợp,nhà cửa hoặc những cải tạo nâng cấp bất động sản Một khoản vay có thời hạn cóthể được lập trong thời gian từ 1-10 năm, dựa vào thời gian khấu hao tài sản đượchình thành bằng vốn vay và thường được bảo đảm bằng quyền được hưởng các tàisản đó
Thứ ba, tín dụng luân chuyển dành cho các khoản phải trả hoặc hàng hoá dự
trữ: loại tín dụng này thường không có kế hoạch trả nợ đều đặn Các khoản nợ đi
từ giấy nhờ thu các khoản phải thu theo khoản vay, số giải ngân mới được thựchiện khi bán hoặc mua hàng dự trữ Số cho vay lớn nhất luôn được xác định bằngcách dựa trên số hàng hoá dự trữ hoặc số phải thu trên sổ sách của người vay vàomột ngày nhất định
Thứ tư, tín dụng dự phòng: là một khoản vay sử dụng trước khi bán một tài
sản trước khi thực hiện tái tài trợ Loại tín dụng này luôn là ngắn hạn, mặc dùnhiều khi thời hạn dài khoảng vài năm và xoá một nguồn trả nợ được xác định mộtcách rõ ràng – các khoản thu bán hàng hoặc tái tài trợ Một khoản vay xây dựng,tài trợ thanh toán định kỳ cho chủ thầu xây dựng trong một dự án xây dựng vàđược thanh toán bằng khoản thu từ việc tài trợ cầm cố lâu dài theo việc hoàn thành
dự án là một dạng tín dụng tạm thời
Trang 10Thứ năm, tín dụng vốn hoạt động dài hạn: là loại tín dụng mà phần lớn ngân
hàng tiến hành liên tục, mặc dù nó thường không được hiểu đúng bản chất Mộtkhoản vay thuộc loại này trở nên rất giống với vốn kinh doanh và nói chung phảiđược trả từ lợi nhuận trong một thời gian Loại tín dụng này rủi ro có thể tương đốicao, vì việc trả nợ dựa vào các khoản thu nhập được tạo ra trong một thời gian dàitrong vài năm Nhìn chung, một yêu cầu vay thuộc loại này cho thấy tình trạngvốn tự có của doanh nghiệp tương đối yếu hoặc doanh nghiệp đang phát triểnnhanh
III CHI PHÍ – CHI PHÍ CỦA NGÂN HÀNG.
1 Khái niệm chi phí.
1.1 Chi phí sản suất kinh doanh nói chung.
Chi phí cho sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đếnhoạt động sản xuất kinh doanh một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) Hay nóikhác đi, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí màdoanh nghiệp phải tiêu dùng trong kỳ để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụsản phẩm
Đứng trên góc độ ngân hàng, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ haophí mà ngân hàng phải bỏ ra trong kỳ để thực hiện quá trình kinh doanh của mình
1.2 Phân loại chi phí ngân hàng.
Phí phí cho ngân hàng bao gồm: chi phí lãi và chi phí không lãi Chi phí lãigồm có: chi phí trả tiền gửi, trả lãi tiền vay, trả lãi phát hành chứng từ có giá, chitrả lãi trong hệ thống Chi phí không lãi gồm có: chi phí cho cán bộ công nhânviên, chi phí về tài sản, chi phí nộp thuế GTGT chi phí bảo toàn vốn và dự phòngbảo hiểm tiền gửi, chi phí khác trong hệ thống…
Tóm lại chí phí của ngân hàng bao gồm những chi phí cơ bản sau:
Chi phí giao dịch: chi trả lãi cho dân cư và các tổ chức tín dụng
Chi phí cho tài sản: chi mua tài sản cố định và các tài sản khác phục vụ chohoạt động của ngân hàng
Chi phí cho tiền lương : chi trả lương công nhân viên chức của ngân hàngChi phí khác: các chi phí khác phát sinh trong các hoạt động của ngân hàng
2.Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí của ngân hàng.
2.1 Lãi xuất đi vay.
Trang 11Trong tổng chi phí của ngân hàng thì chi phí cho hoạt động huy động vốnchiếm tỷ trọng lớn nhất Chi phí này cụ thể là chi phí trả lãi cho các hộ gia đình vàcác tổ chức tín dụng khác Vì vậy, một nhân tố ảnh hưởng tới chi phí này là lãisuất đi vay của ngân hàng thương mại.
Khi lãi suất đi vay tăng dẫn đến khoản tiền chi trả của ngân hàng đối với các tổchức gửi tiền và các tổ chức tín dụng khác tăng, điều này làm tăng chi phí giaodịch của ngân hàng
2.2 Tính thanh khoản của ngân hàng.
Khi ngân hàng kém trong khả năng thanh khoản (lượng tiền mặt trong kétkhông đủ thanh toán cho khách hàng, không đủ chi trả lãi cho khách hàng ) cũng
có thể làm phát sinh chi phí và làm tăng chi phí giao dịch của ngân hàng Khi ngânhàng bị rơi vào tình trạng này, việc huy động thêm vốn trên thị trường liên ngânhàng, đi vay các tổ chức tín dụng khác là điều kiện bắt buộc nếu muốn duy trì sựtồn tại cũng như uy tín của ngân hàng không bị giảm sút Việc huy động vốn trongtrường hợp này ngân hàng sẽ phải trả một khoản tiền rất cao vì lãi suất cho cácmón vay này thường rất cao Tính thanh khoản một phần được thể hiện ở số dưtiền mặt tại ngân hàng và ở các máy ATM.Vì vậy, tính thanh khoản của ngân hàngcũng có thể ảnh hưởng tới chi phí của ngân hàng
2.3 Chính sách của ngân hàng Nhà nước.
Các quyết định của ngân hàng Trung ương là một nhân tố ảnh hưởng lớn đếnngân hàng thương mại Ngân hàng Trung ương thường dùng chính sách lãi suất đểđiều chỉnh hoạt động nền kinh tế, trong đó có ngân hàng thương mại Chính sáchnày ảnh hưởng đến lãi suất cân bằng trên thị trường
Sự tác động của ngân hàng Trung ương đến sự cân bằng lãi suất trên thịtrường có thể ảnh hưởng đến chi phí của ngân hàng
2.4 Các nhân tố khác ảnh hưởng tới chi phí của ngân hàng.
Một chi phí không lãi trong hoạt động của của ngân hàng là chi phí cho cácquỹ dự phòng về các rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng Bên cạnh việctăng lợi nhuận từ việc cho vay để thu được các khoản lãi, nhưng nó cũng phát sinhnhững rủi ro có thể dẫn đến những thiệt hại và có khi là sự phá sản của ngân hàng
Vì khi các khoản cho vay tăng thêm thì ngân hàng phải làm việc thận trọng hơn,
Trang 12biểu hiện ở chỗ là ngân hàng sẽ phải tăng chi phí bảo quản vốn và dự phòng bảohiểm tiền gửi và một số chi phí khác sao cho vẫn đảm bảo được hoạt động kinhdoanh khi món vay đó trong tương lai do một rủi ro nào đó có thể nằm trong diện
nợ khó đòi, hay có nguy cơ mất trắng nợ gốc
Khi ngân hàng nhận lượng tiền gửi từ phía khách hàng thì số tiền đó không thểnằm mãi trong két sắt của ngân hàng mãi, mà số tiền đó phải được xử lý một cáchhữu hiệu càng nhanh càng tốt, sao cho nó có thể sinh ra số tiền lãi nhiều nhất cóthể, thời gian lưu kho đối với loại hàng hoá đặc biệt này phải ngắn nhất có thể.Hay nói một cách chính xác hơn là ngân hàng sẽ gửi khoản tiền đó vào một ngânhàng khác, hoặc có thể cho vay, đầu tư vào các danh mục đầu tư có lãi Khi đầu tưtăng thêm, thì vấn đề chi trả lãi cho khách hàng gửi tiền sẽ được thực hiện dễ dànghơn bởi lý do lãi suất chi trả cho tiền gửi bao giờ cũng bé hơn lãi suất mang lại từ20
20đầu tư Do vậy, việc tăng đầu tư có thể làm giảm chi phí của ngân hàng Mặtkhác, nó cũng có thể phát sinh những rủi ro tiềm tàng làm tăng chi phí của ngânhàng Nhưng thường thì ngân hàng sẽ thận trọng trong việc đầu tư để thu đượchiệu quả cao nhất
VI MÔ HÌNH CHI PHÍ CHO NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1 Bài toán chung của các công ty.
Bài toán chung của công ty, là bài toán cực đại lợi nhuận với ràng buộc vềcông nghệ cho trước Lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí; doanh thu là mức đầu
ra nhân với giá của đầu ra; chi phí là tổng trên tất cả các đầu vào của mức đầu vàonhân với tiền công của mỗi đầu vào Trong lý thuyết tân cổ điển, công nghệ đượcbiểu diễn bằng hàm sản xuất, một mối quan hệ kỹ thuật trên cơ sở những xem xétvật lý hoặc công nghệ chỉ đầu ra (cực đại) có thể đạt được đối với các tổ hợp khácnhau của tất cả các yếu tố sản xuất đầu vào có thể có Trong trường hợp một công
ty sản xuất một đầu ra đơn lẻ từ hai đầu vào, hàm sản xuất có thể là:
Y= f(x1,x2) (1)
Trong đó y là mức cực đại có thể của đầu ra, còn x1 và x2 là các mức của đầuvào và hàm f là hàm được giả định là khả vi liên tục, do đó có các đạo hàm riêngliên tục
Trang 13Hàm sản xuất này chỉ ra mức đầu ra y gắn với một tổ hợp bất kỳ của các đầuvào (x1,x2).
Bài toán của công ty trong trường hợp một đầu ra và hai đầu vào có thể phátbiểu như bài toán chọn đầu ra và các đầu vào để cực đại lợi nhuận:
Trong đó là lợi nhuận, bằng doanh thu (py) trừ chi phí (w1x1+ w2x2), p là
vào biểu thức lợi nhuận, bài toán này có thể phát biểu như bái toán không có ràngbuộc:
0
1 1 1
f p
0
2 2 2
f p
x
(5)Các điều kiện này đòi hỏi rằng:
2 , 1 ,
w MP
x
j j
(6)
xấp xỉ trong trường hợp rời rạc là lượng tăng trong đầu ra trên một đơn vị tăngtrong đầu vào khi đầu vào kia được giữ cố định Các điều kiện này phát biểu rằngsản phẩm biên của mỗi đầu vào phải bằng giá đầu vào thực của nó, tức là giá đầuvào chia cho giá đầu ra Hai điều kiện sản phẩm cận biên trong (6) cộng với hàmsản xuất trong (1) tạo thành hệ ba phương trình đồng thời, xác định đầu ra cực đạilợi nhuận y và các đầu vào x1 và x2
Hai điều kiện trong (6) cho biết tỷ lệ của các sản phẩm biên phải bằng tỷ lệcác giá đầu vào:
2 , 1 ,
MP MRTS
k
j k
j
Trang 14Ở đây MRTSjk là tỷ suất thay thế kỹ thuật cận biên giữa các đầu vào j và k,được định nghĩa là tỷ số giữa các sản phẩm biên của đầu vào Trong trường hợphai đầu vào, (7) cho điều kiện – là MRTS12 bằng w1/w2.
Cân bằng của công ty có thể được chỉ ra bằng hình học như trong hình a).Các đường thẳng là các đường đồng phí, được định nghĩa là quỹ tích của các tổhợp đầu vào (x1,x2) mà đối phó với nó chi phí C, tổng chi trả cho cả hai đầu vào,
f dx
x
f
(12)Cho nên độ dốc của đường đồng lượng bất kỳ tại một điểm bất kỳ được chobởi:
Trang 1512 2
1 2
1 1
MP
MP x
f
x f
x2 = x2
y
const x
w x w
C 1 1 2 2
a) Các dải mở rộng đối với công ty
Như vậy, độ dốc của đường đồng lượng là âm của tỷ suất thay thế cận biên,nói chung nó thay đổi khi đầu vào thay đổi như chỉ ra bởi sự thay đổi độ dốc củamột đường đồng lượng bất kỳ khi một đầu vào được thay thế cho một đầu vàokhác
Trang 16Cân bằng của công ty ở dài hạn khi cả hai đầu vào có thể thay đổi tự do, xảy
ra tại điểm tiếp xúc của một đường đồng phí với một đường đồng lượng Chỉ tạimột điểm như thế, đầu ra đạt cực đại với một chi phí cho trước Mệnh đề thứ nhấtsuy từ việc di chuyển dọc theo một đường đồng phí bất kỳ: nếu tại một điểm bất
kỳ, nó cắt một đường đồng lượng thì có thể tăng đầu ra mà không cần thêm mộtchi phí nào - bằng cách di chuyển về phía tiếp xúc Tương tự, khi di chuyển dọctheo một đường đồng lượng bất kỳ, nếu tại một điểm bất kỳ nó cắt một đườngđồng phí thì có thể giảm chi phí trong khi giữ đầu ra không đổi - bằng cách dichuyển về phía điểm tiếp xúc Quỹ tích của các tiếp điểm tiếp xúc của các đườngđồng lượng và các đường đồng phí là tập hợp các điểm cân bằng có thể có đối vớicông ty; nó được gọi là dải mở rộng
Các điểm cân bằng A1,A2,A3,A4, có thể có dọc theo dải mở rộng trong hìnha) chi ra tại mỗi điểm như vậy một đầu ra y từ đường đồng lượng và mức chi phí
C từ đường đồng chi phí Tập hợp tất cả các cặp có thể có của đầu ra và chi phídọc theo dải mở rộng xác định đường chi phí:
là cố định tại mức này và đầu vào thứ nhất thay đổi tự do Đường chi phí ngắn hạn
mãn
Cs(y) C(y) tại mỗi y (16)
Vì tại mọi điểm ngoài các điểm mà đối với nó hai dải mở rộng cắt nhau,trong ngắn hạn kéo theo việc sản sinh một mức riêng của đầu ra y với chi phí caohơn
Trang 17Các đường chi phí trung bình ở dài hạn và ngắn hạn được định nghĩa nhưsau:
y
y C y AC y
y C y
s
) ( ) ( , ) ( )
dy
y dC y
MC dy
y dC y
s
) ( )
( , ) ( )
Các đường chi phí khác nhau giới thiệu ở đây được minh hoạ trong hình b)
Đồ thị ở phía trên chỉ ra các đường (tổng) chi phí ở dài hạn và ngắn hạn, và đồ thị
ở phía dưới chỉ ra các đường chi phí trung bình và chi phí biên tương ứng ở dàihạn và ngắn hạn Bởi vì tất cả các đầu vào có thể thay đổi tự do ở dài hạn, chi phítại đầu ra là O là 0
Trang 18ra tăng và thoả mãn bất đẳng thức (16) Hai đường này sẽ tiếp xúc nhau tại mứcđầu ra tương ứng với điểm cắt nhau của giải mở rộng ngắn hạn và dài hạn (VD, ytrong hình a) cũng được chỉ ra trong hình b) Hình dạng của các đường chi phíphản ảnh những giả thiết đằng sau liên quan tới công nghệ - rằng đầu tiêu chi phítăng với tốc độ giảm dần, tương ứng với sự chuyên môn hoá tăng lên và phân cônglao động, trong khi tại các mức đầu ra cao hơn chi phí tăng với tốc độ tăng dần,tương ứng với sự không kinh tế về mặt quản lý trong doanh nghiệp lớn.
Các đồ thị ở phía dưới của hình b) chỉ ra các đường chi phí trung bình và chiphí biên, vì thứ nguyên của cả hai đều là chi phí chia cho đầu ra, khác với tổng chiphí Về mặt hình học, chi phí trung bình là độ dốc của tia nối gốc toạ độ và mộtđiểm trên đường tổng chi phí, trong khi chi phí biên là độ dốc của chính đườngtổng chi phí Như vậy, chi phí trung bình đạt cực tiểu tại điểm tia nối tiếp xúc với
bằng nhau Các đường chi phí biên đạt các mức cực tiểu tương ứng với điểm uốncủa các đường tổng chi phí tại I và Is Tại điểm y, mà tại đó các đường tổng chi phítiếp xúc nhau, cả hai đường chi phí trung bình và cả hai đường chi phí biên chocác giá trị đồng nhất
Trang 19Cân bằng cạnh tranh y của công ty cũng được chỉ ra trong hình b) Một giá pcho trước của sản phẩm được chỉ ra trong đồ thị ở phía dưới là đường nằm ngang;
nó ở trong đồ thị dưới bởi vì p có thứ nguyên chi phí trên một đơn vị Cân bằngtìm thấy được tại mức đầu ra mà đối với nó đường thẳng giá cắt đường chi phíbiên và chi phí biên đang tăng - tại ys ở ngắn hạn là yL ở dài hạn
Vì py C ( y) (21)
Nên cực đại lợi nhuận từ việc lựa chọn đầu ra dẫn tới việc chọn y sao cho:
0 ) ( )
( )
dy
dC p y
dy
(22)Như vậy điều kiện cấp một cực đại lợi nhuận là:
P = Mc (y) (23)
Điều kiện cấp hai là:
0 ) (
2 2 2
C d
Y = f(x1,x2) (26)
Các đầu vào tối ưu nói chung phụ thuộc cả tiền công lẫn giá đầu ra:
2 , 1 ), , ,
Trang 20Hệ phương trình này được gọi là hệ thống các hàm cầu yếu tố Chúng cũngđược gọi là các hàm cầu dẫn xuất bởi vì chúng được dẫn xuất từ cầu đối với cácsản phẩm sản xuất của công ty đó.x j x j(w1,w2, ,w n,p), j 1 , 2 , ,n (28)
chính đầu vào đó được giữ cố định thì đường cong thu được:
) , ,
, , ( ) (w x w1 w2 w w p D
Cả hai hàm cầu yếu tố lẫn hàm cung đầu ra được xác định trên cơ sở công nghệ,
mà được biểu thị bằng hàm sản xuất
Các ảnh hưởng tĩnh tương đối, khi được áp dụng vào công ty, liên quan tớiảnh hưởng của những thay đổi trong giá cả lên các hàm cầu yếu tố trong (28) vàhàm cung đầu ra trong (31) Các điều kiện cấp 1 đối với cực đại lợi nhuận có thểviết như các đồng nhất thức:
, , , , ( ), , , , , , (
1 2
Xác định các đầu vào, đầu ra và lợi nhuận cân bằng
Lấy vi phân các điều kiện này theo các giá đầu vào và giá cho ta các kết quả tĩnhtương đối Một tập hợp quan trọng của các kết quả các điều kiện đối xứng:
Trang 21k j w
về các đầu vào cực đại hoá lợi nhuận, nghĩa là thay đổi trong cầu yếy tố thư j vớimột thay đổi trong giá đầu vào thứ k bằng thay đổi trong cầu yếu tố thứ k với mộtthay đổi trong giá đầu vào thứ j (nghĩa là các ảnh hưởng chéo của các giá đầu vào
lên các đầu vào là đối xứng) Với j # k, các đầu vào j và k thay thế nếu
Một tập hợp các kết quả khác là các điều kiện dấu đối với các đầu vào và đầu racực đại lợi nhuận
, với một vài j nào đó (40)
Các điều kiện này tương tự với các điều kiện âm của những ảnh hưởng thaythế riêng trong lý thuyết tiêu dùng Điều kiện (37) là điều kiện đường cầu đối vớicác yếu tố có độ dốc âm, để không có các “yếu tố Diffen” có thể so sánh với hànghoá Giffen trong lý thuyết về hộ gia đình Điều kiện (39) là điều kiện mà trong đóđường cung đầu ra tăng Độ dốc dương của đường cung cũng có thể minh họabằng hình học trong hình b) – Tăng p sẽ làm tăng cả ys lẫn yL, vì điểm tối ưu dichuyển lên theo đường chi phí biên Thực tế, đường chi phí biên dài hạn ở phíatrên chi phí trung bình là đường cung dài hạn, trong khi đường chi phí biên ngắnhạn ở phía trên chi phí biển đổi trung bình là đường cung ngắn hạn với chi phíbiến đổi trung bình C s(y) C s(0)/ y Ngoài ra:
j w