1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG tác xác ĐỊNH PHÍ bảo HIỂM vật CHẤT XE cơ GIỚI tại CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM AAA

69 326 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Kiến Nghị Trong Công Tác Xác Định Phí Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm AAA
Tác giả Võ Thị Thu Hà
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Ngọc Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 450 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới Hoạt động trên những nguyên tắc chung của bảo hiểm thương mại đó là :nguyên tắc số đông bù số ít, nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm, nguyên

Trang 1

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM VẬT CHẤT

XE CƠ GIỚI VÀ PHÍ BẢO HIỂM

I Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1 Sự cần thiết của bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Xe cơ giới là xe hoạt động bằng động cơ của chính mình, được phép lưuhành trên lãnh thổ của các quốc gia Xe cơ giới không chỉ là phương tiện vậnchuyển mà nó còn là một tài sản có giá trị tương đối lớn đối với cá nhân, tổchức Vận chuyển bằng xe cơ giới là hình thức vận chuyển phổ biến, được sửdụng rộng rãi do có tính động cơ cao và linh hoạt, tốc độ vận chuyển nhanh vàchi phí thấp, hoạt động trong phạm vi rộng kể cả địa bàn phức tạp Trong quátrình hoạt động xe có một số đặc điểm ảnh hưởng đến quá trình triển khai cácnghiệp vụ bảo hiểm như sau ;

- Xe có tính cơ động cao, việt giã tốt trong quá trình tham gia vận tải

- Xe cơ giới tham gia vào giao thông đường bộ nên phụ thuộc rất nhiều vào

cơ sở, điều kiện tự nhiên, địa hình, cơ sở vật chất kỹ thuật…

- Xe cơ giới tham gia giao thông đường bộ khi xảy ra tai nạn không nhữngđem lại tổn thất, thiệt hại cho chính mình mà còn gây ra cho đối tượng khác nênviệc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới là rất cần thiết nhằm đảm bảoquyền lợi của người dân khi không may gặp tai nạn Tuy nhiên do liên quan đếnnhiều bên, phát sinh những trách nhiệm ngoài hợp đồng làm cho nghiệp vụ bảohiểm này có tính phức tạp nhất định

- Xe cơ giới tham gia vào giao thông đường bộ chịu sự điều chỉnh của rấtnhiều bộ luật của mỗi quốc gia như: Luật giao thông đường bộ, Bộ luật dân sự…hơn nữa nó lại phụ thuộc rất nhiều vào ý thức chấp hành luật giao thông của mỗingười dân khi tham gia giao thông nên nếu luật pháp thực hiện không nghiêm sẽ

Trang 2

Theo thống kê mới nhất của Ngân hàng phát triển châu Á về thiệt hại do tainạn giao thông gây ra tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có hơn 11 nghìn ngườichết và hàng chục nghìn người bị thương do tai nạn giao thông đường bộ Mỗingày ở Việt Nam có khoảng 33 người chết do tại nạn giao thông đường bộ,trong đó có nhiều trường hợp chết do chấn thương sọ não, đặc biệt có đến 40%những vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng lại rơi vào thanh thiếu niêntrong độ tuổi 15-24 Theo ông Hans Troedson, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thếgiới của Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, thì vấn đề tai nạn giao thông ở Việt Nam

đã đến mức báo động Mỗi năm tai nạn giao thông làm thiệt hại 900 triệu USD

về kinh tế

Từ việc nghiên cứu đặc điểm của xe cơ giới ta có thể thấy, với những đặctính ưu việt của nó so với một số loại hình vận chuyển khác, thì hiện nay xe cơgiới là một phương tiện được sử dụng rộng rãi với số lượng lớn, nhưng bên cạnh

đó nó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro bất ngờ có thể xảy ra Thực tế chothấy là sự gia tăng về số lượng vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại lớn về người

và tài sản cho các chủ phương tiện tham gia giao thông Đối với phần thiệt hạiliên quan đến người thứ ba đã có Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đứng ra bồithường, đây là loại hình bảo hiểm mang tính chất bắt buộc mà chủ phương tiện

xe cơ giới phải tham gia Tuy nhiên, đối với phần thiệt hại vật chất thân xe màchủ xe phải gánh chịu nếu tính bình quân thiệt hại về tài sản của mỗi vụ tai nạn

Trang 3

thường lên đến hàng chục triệu đồng, đây là một số tiền không nhỏ đối với cácchủ phương tiện Mức độ thiệt hại mà các chủ xe phải chi trả là một gánh nặngđối với họ nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, tình hình hoạt động sản xuấtkinh doanh và gây khó khăn về mặt tài chính cho các chủ xe Xuất phát từ thực

tế đó bảo hiểm vật chất thân xe cơ giới đã ra đời, đây là một biện pháp hữu hiệunhất khắc phục hậu quả do tai nạn gây ra, đảm bảo ổn định tài chính cho các chủ

xe Ý thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ này đối với các chủ phương tiện

xe nói riêng và với toàn xã hội nói chung, hiện nay loại hình baảo hiểm vật chất

xe cơ giới này đang được tất cả các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Namtriển khai Bảo hiểm vật chất thân xe là một loại hình của bảo hiểm tài sản thuộcbảo hiểm thương mại, nó luôn được thực hiện dưới hình thức tự nguyện, việctham gia bảo hiểm phụ thuộc vào nhận thức và nhu cầu của người tham gia bảohiểm, và thời hạn tham gia bảo hiểm của bảo hiểm vật chất xe thường là mộtnăm trở xuống, nếu hết thời hạn hợp đồng người tham gia có thể tái tục Khitham gia bảo hiểm các chủ xe phải đóng góp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm

và quỹ tiền tệ của nhà bảo hiểm, quỹ này sẽ được sử dụng chủ yếu cho các mụcđích sau :

- Bồi thường cho khách hàng khi có rủi ro gây tổn thất thuộc trách nhiệmbảo hiểm

- Đề phòng, hạn chế tổn thất

- Dự trữ, dự phòng

- Nộp ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế

- Chi phí quản lý có lãi

Như vậy ta có thể thấy được rằng bảo hiểm vật chất xe cơ giới ra đời làcần thiết khách quan cho nên ở tất cả các nước trên thế giới đều triển khainghiệp vụ bảo hiểm này Hiện nay bảo hiểm AAA chỉ triển khai bảo hiểm vậtchất xe cơ giới với xe ôtô do nó có giá trị lớn

Trang 4

2 Tác dụng của bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Hoạt động trên những nguyên tắc chung của bảo hiểm thương mại đó là :nguyên tắc số đông bù số ít, nguyên tắc rủi ro có thể được bảo hiểm, nguyên tắcphân tán rủi ro, nguyên tắc trung thực tuyệt đối và nguyên tắc quyền lợi có thểđược bảo hiểm, việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới có nhữngtác dụng cơ bản sau :

- Tích cực góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giao thông

Thông qua việc thu phí từ người tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm sẽlập một quỹ tài chính với mục đích là bồi thường cho các rủi ro được bảo hiểmxảy ra, một nhiệm vụ quan trọng của quỹ tài chính này phải kể đến đó là sửdụng vào mục đích đề phòng hạn chế tổn thất Những nguy cơ gây ra tai nạn dochất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng còn thấp, như tại các đèo, dốc nguy hiểm đãđược các công ty bảo hiểm hỗ trợ hàng tỷ đồng để xây dựng đường lánh nạn,đường phụ, dốc cứu nạn, thành chắn hàng năm cứu thoát khỏi nguy hiểm nhiều

vụ tai nạn

Ngoài việc xây dựng thêm các công trình lánh nạn, các công ty bảo hiểmcòn bố trí hệ thống các Panô, áp phích có kèm những khẩu hiệu về an toàn giaothông trên đường để nâng cao ý thức người dân trong việc tham gia giao thôngnhằm hạn chế các tai nạn xảy ra

Các công ty bảo hiểm cũng khuyến khích các chủ xe thực hiện các biệnpháp đề phòng hạn chế tổn thất, nâng cao ý thức thông qua công tác tuyêntruyền luật lệ giao thông Đặc biệt các công ty bảo hiểm còn giảm phí bảo hiểmnếu sau một thời gian nhất định mà xe không gặp phải bất kỳ một thiệt hại nào.Những biện pháp trên tất cả đều nhằm mục đích góp phần đề phòng hạn chế tổnthất tai nạn giao thông

- Trực tiếp góp phần ổn định tài chính, khắc phục khó khăn đột xuất cho các chủ xe

Trang 5

Xe cơ giới với đặc điểm hoạt động trên địa bàn rộng và phức tạp chứa đựngrất nhiều rủi ro tiềm ẩn Khi tham gia giao thông nhiều khi chỉ một sơ xuất, bấtcẩn nhỏ cũng có thể dẫn tới những hậu quả thiệt hại lớn mà chủ xe là người đầutiên phải gánh chịu những thiệt hại này Chủ xe tự chấp nhận rủi ro mà khôngchuyển giao rủi ro cho bảo hiểm thì việc khắc phục hậu quả sau tai nạn là cả mộtquá trình, có thể gây gián đoạn kinh doanh của chủ xe, thiệt hại về tài chính.Nếu chủ xe chuyển giao rủi ro cho bảo hiểm thì hậu quả của rủi ro xảy ra đối vớimột hoặc một ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiềungười có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy, bảo hiểm sẽ bồi thường nhanhchóng kịp thời cho chủ xe khắc phục khó khăn về tài chính, tiếp tục hoạt độngkinh doanh của mình Tuy nhiên nhà bảo hiểm cũng có những quy định nhữngrủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm và khống hạn chế mức trách nhiệm ( số tiền bồithường ) để tránh trục lợi bảo hiểm đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm củachủ điều khiển phương tiện tham gia giao thông

- Góp phần xoa dịu bớt sự căng thẳng giữa chủ xe với nạn nhân của các vụ tai nạn.

Khi xảy ra tai nạn giao thông đồng thời với những tổn thất xảy ra, hầuhết trong các trường hợp đều có thể xảy ra xích mích, căng thẳng giữa chủ xevới nạn nhân của vụ tai nạn Với chuyên môn của mình, nhà bảo hiểm cùng vớilực lượng cảnh sát giao thông đứng ra tổ chức giám định, xác định mức độ lỗicủa hai bên từ đó nhanh chóng đưa ra mức bồi thường thoả đáng, giải quyếtnhanh chóng những khúc mắc giữa hai bên

- Góp phần tăng thu ngân sách, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Thông qua việc nộp thuế làm tăng thu ngân sách nhà nước của các công tybảo hiểm, chính phủ sử dụng ngân sách phối hợp với các doanh nghiệp bảo hiểmđầu tư hỗ trợ nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng để thoả mãn tốt hơnnhu cầu đi lại của người dân Ngoài ra, với phạm vi hoạt động rộng rãi của các

Trang 6

công ty bảo hiểm hiện nay ở tất cả các tỉnh thành còn giải quyết được một phầnkhông nhỏ công ăn việc làm cho người lao động, những người lao động này họlàm các đại lý, cộng tác viên, những nhân viên bảo hiểm

II Nội dung cơ bản của bảo hiểm vật chất xe cơ giới

1 Đối tượng bảo hiểm

Xe cơ giới có thể hiểu là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đường

bộ bằng động cơ của chính chiếc xe đó, bao gồm ôtô, mô tô và xe máy Để đốiphó với những rủi ro tai nạn bất ngờ có thể xảy ra gây tổn thất cho mình, các chủ

xe cơ giới thường tham gia một số loại hình bảo hiểm sau :

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;

- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với hàng hoá chở trên xe;

- Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe;

- Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe;

- Bảo hiểm vật chất xe;

Trong phạm vi báo cáo chuyên đề thực tập này, chỉ tập trung trình bàynghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe Khác với bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ

xe cơ giới đối với người thứ ba và đối với hành khách trên xe được áp dụng bắtbuộc bằng pháp luật đối với các chủ xe Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hìnhbảo hiểm tài sản được thực hiện dưới hình thức bảo hiểm tự nguyện

Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để được bồi thường những thiệthại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây nên Vìvậy, đối tượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giátrị và được phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia

Đối với xe mô tô, xe máy thường các chủ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ vậtchất thân xe Đối với xe ôtô, các chủ xe có thể tham gia toàn bộ hoặc cũng cóthể tham gia từng bộ phận của xe ( tổng thành xe ) Đứng trên góc độ đặc điểmkinh tế, kỹ thuật chiếc xe ôtô được chia thành 7 tổng thành : Tổng thành thân vỏ

Trang 7

- Tai nạn do đâm va, lật đổ

- Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá

- Mất cắp toàn bộ xe

- Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên

Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xeđược bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanhtoán cho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm :

- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do cácrủi ro được bảo hiểm;

- Chi phí bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất;

- Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm;

Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng số tiền bồi thường của công ty bảohiểm là không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhậnbảo hiểm Đồng thời công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thườngnhững thiệt hại vật chất của xe gây ra bởi :

- Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tậthoặc hư hỏng thêm do sửa chữa Hao mòn tự nhiên được tính dưới hình thứckhấu hao và thường được tính theo tháng

- Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng màkhông do tai nạn gây ra

- Mất cắp bộ phận của xe

Trang 8

Để tránh những “ nguy cơ đạo đức ” lợi dụng bảo hiểm, những hành vi viphạm pháp luật, hay một số rủi ro đặc biệt khác, những thiệt hại, tổn thất xảy ratrong những trường hợp sau cũng sẽ không được bồi thường :

- Hành động cố ý của chủ xe, lái xe;

- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo quyđịnh của Luật an toàn giao thông đường bộ;

- Chủ xe ( lái xe ) vi phạm nghiêm trọng Luật an toàn giao thông đường bộnhư : Xe không có giấy phép lưu hành, lái xe không có bằng lái, lái xe bị ảnhhưởng bởi rượu bia, ma tuý trong khi điều khiển xe; xe chở quá trọng tải hoặc sốhành khách quy định

- Những thiệt hại gián tiếp như : Giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sảnxuất kinh doanh;

- Thiệt hại do chiến tranh

Và cần lưu ý một điều nữa là trong thời hạn bảo hiểm, nếu chủ xe chuyểnquyền sở hữu xe cho chủ xe khác thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực với chủ

xe mới Tuy nhiên, nếu chủ xe cũ không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xemới thì công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí cho họ và làm thủ tục bảo hiểm cho chủ

xe mới nếu họ yêu cầu

3 Gía trị bảo hiểm

Gía trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường của xe tạithời điểm người tham gia bảo hiểm mua bảo hiểm Việc xác định đúng giá trịcủa xe tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường Tuynhiên, giá xe trên thị trường luôn có những biến động và có thêm nhiều chủngloại xe mới tham gia giao thông nên đã gây khó khăn cho việc xác định giá trị

xe Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường dựa trên các nhân tố sau để xácđịnh giá trị xe :

Loại xe;

Trang 9

Năm sản xuất;

Mức độ mới, cũ của xe;

Thể tích làm việc của xilanh

Một phương pháp xác định giá trị bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay

áp dụn đó là căn cứ vào giá trị của xe và mức khấu hao Trên cơ sở giá trị bảohiểm, chủ xe có thể tham gia bảo hiểm nhỏ hơn, hoặc bằng, hoặc lớn hơn giá trịthực tế của xe Tuy nhiên, việc quyết định tham gia bảo hiểm với số tiền là baonhiêu sẽ là cơ sở để xác định số tiền bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra

4 Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất

Khi triển khai nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới các công ty bảo hiểmcần chú ý đến việc đề phòng tai nạn xảy ra và hạn chế tối đa mức độ tổn thất đểgiảm thiểu chi phí bồi thường cho nhà bảo hiểm bởi nếu chỉ bồi thường quá caothì doanh nghiệp kinh doanh sẽ ít hoặc thậm chí không có lãi, không đảm bảoduy trì hoạt động kinh doanh Hàng năm các công ty bảo hiểm thường tiến hànhtrích một phần doanh thu từ nghiệp vụ để phục vụ cho công tác này Chủ yếu là

để xây dựng biển báo tại các đầu mối giao thông quan trọng, xây dựng đườnglánh nạn, gương cầu tại đường rộng, đèo dốc Tuy nhiên, để thực hiện tốt côngtác này thì trách nhiệm chính lại thuộc về các chủ phương tiện thực hiện tốt cácbiện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất, như đối với lái xe ôtô cần thắt dây antoàn, cần đội mũ bảo hiểm đối với người sử dụng xe máy, chạy đúng phầnđường, đúng tốc độ quy định,…sẽ làm giảm tai nạn xảy ra, giảm số tiền mà nhàbảo hiểm phải bồi thường từ đó giảm phí bảo hiểm cho người tham gia

5 Giám định và bồi thường tổn thất

5.1 Giám định tổn thất

Đây là một khâu quan trọng trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm

Nó là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường của nhà bảo hiểm, nó làkhâu quan trọng bởi nếu không xác định chính xác mức độ thiệt hại thực tế,

Trang 10

5.2 Bồi thường tổn thất

5.2.1 Hồ sơ bồi thường

Khi yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại vật chất xe, chủ xe phảicung cấp những tài liệu, chứng từ sau :

- Tờ khai tai nạn của chủ xe;

- Bản sao của Giấy chứng nhận bảo hiểm, Giấy chứng nhận đăng ký xe,Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện

xe cơ giới đường bộ, Giấy phép lái xe;

- Kết luận điều tra của Công an hoặc bản sao bộ hồ sơ tai nạn gồm : Biênbản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm xe liên quan đến tai nạn,Biên bản giải quyết tai nạn;

- Bản án hoặc quyết định của Toà án trong trường hợp có tranh chấp tại toàán;

- Các chứng từ xác định thiệt hại do tai nạn, ví dụ : chứng từ xác định chiphí sửa xe, thuê cầu kéo…

5.2.2 Nguyên tắc bồi thường tổn thất :

Khi tiến hành bồi thường các công ty bảo hiểm phải tuân theo các nguyêntắc sau :

- Giải quyết đúng chế độ bảo hiểm

Trang 11

+ Đúng trách nhiệm bảo hiểm : Về đối tượng bảo hiểm, rủi ro bảo hiểm;+ Đúng thiệt hại thuộc phạm vi, trách nhiệm bảo hiểm;

+ Trả tiền đúng đối tượng

- Đủ căn cứ pháp lý chứng minh được :

+ Đối tượng được bảo hiểm đã gặp rủi ro nhận bảo hiểm khi hợp đồng bảohiểm đang có hiệu lực;

+ Thiệt hại thuộc phạm vi nhận bảo hiểm;

+ Không vi phạm những điểm loại trừ

- Thuận lợi, kịp thời

Cụ thể số tiền bồi thường sẽ được tính như sau :

- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực tế :

Số tiền bồi thường = Gía trị thiệt hại thực tế × "

- Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị :

Theo nguyên tắc để tránh việc trục lợi bảo hiểm, công ty bảo hiểm chỉ chấpnhận số tiền bảo hiểm nhỏ hơn hoặc bằng với giá trị bảo hiểm Nếu người thamgia bảo hiểm cố tình tham gia với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểmnhằm trục lợi bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm sẽ không có hiệu lực Tuy nhiên nếu

là vô tình tham gia bảo hiểm trên giá trị, công ty bảo hiểm vẫn bồi thường,nhưng số tiền bồi thường chỉ bằng giá trị thiệt hại thực tế và luôn nhỏ hơn hoặcbằng giá trị thực tế của xe

Trong thực tế, cũng có những trường hợp Công ty bảo hiểm chấp nhận bảohiểm trên giá trị thực tế, ví dụ theo " Gía trị thay thế mới " Để được bảo hiểmtheo giá trị thay thế mới, chủ xe phải đóng phí bảo hiểm khá cao và các điềukiện bảo hiểm rất nghiêm ngặt

Ngoài ra, khi tính toán số tiền bồi thường còn phải tuân theo những nguyêntắc sau :

Trang 12

- Những bộ phận thay thế mới ( Tức là khi tổn thất toàn bộ một bộ phậnhay một tổng thành), khi bồi thường phải trừ khấu hao đã sử dụng hoặc chỉ tínhgiá trị tương đương với giá trị của bộ phận được thay thế ngay trước lúc xảy ratai nạn Nếu tổn thất xảy ra ngay trước ngày 16 của tháng, tháng đó không phảitính khấu hao Còn nếu tổn thất xảy ra từ ngày 16 trở đi thì phải tính khấu haocủa tháng đó Công ty bảo hiểm sẽ thu hồi những bộ phận được thay thế hoặc đãđược bồi thường toàn bộ giá

- Trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm một bộ phận hoặc tổng thành xe,

số tiền bồi thường được xác định dựa trên thiệt hại của bộ phận hay tổng thành

đó Và số tiền bồi thường cũng thường được giới hạn bởi bảng tỷ lệ giá trị tổngthành xe của bộ phận hay tổng thành tham gia bảo hiểm

- Trường hợp thiệt hại xảy ra có liên quan đến trách nhiệm của người thứ

ba, công ty bảo hiểm bồi thường cho các chủ xe và yêu cầu chủ xe bảo lưuquyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho công ty bảo hiểm kèm theotoàn bộ hồ sơ, chứng từ có liên quan Cụ thể, nếu xe có tham gia bảo hiểm vậtchất bị một xe khác có bảo hiểm trách nhiệm dân sự đâm va gây thiệt hại thì bồithường thiệt hại vật chất trước Đối với trách nhiệm dân sự chỉ bồi thường phầnchênh lệch giữa số tiền bồi thường trách nhiệm dân sự và số tiền thiệt hại vậtchất

- Chế độ bảo hiểm theo mức miễn thường : Công ty bảo hiểm chỉ chịu trách

nhiệm đối với những tổn thất mà giá trị thiệt hại thực tế vượt quá một mức đãthoả thuận gọi là mức miễn thường Việc áp dụng bảo hiểm theo mức miễnthường có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc Nếu giữa công ty bảo hiểm và ngườitham gia bảo hiểm thoả thuận sẽ không bồi thường đối với những tổn thất nhỏhơn mức miễn thường trên cơ sở phí tự nguyện thì phí bảo hiểm sẽ được giảmbớt phụ thuộc vào mức miễn thường cụ thể Trong trường hợp miễn thường bắtbuộc, phí bảo hiểm vẫn giữ nguyên Bảo hiểm theo mức miễn thường không chỉtránh cho công ty bảo hiểm phải bồi thường những tổn thất qúa nhỏ so với giá trị

Trang 13

Số tiền bồi thường bảo hiểm = Gía trị thiệt hại thực tế

Trong chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ, thiệt hại thực tế phải lớnhơn mức miễn thường mới được bồi thường nhưng số tiền bảo hiểm sẽ bị khấutrừ theo mức miễn thường này

Số tiền bồi thường = Gía trị thiệt hại thực tế - Mức miễn thường

- Bảo hiểm trùng : Có những trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất

theo một hay nhiều đơn bảo hiểm khác nhau theo đúng nguyên tắc hoạt độngcủa bảo hiểm, tổng số tiền mà chủ xe nhận được từ tất cả các đơn bảo hiểm chỉđúng bằng thiệt hại thực tế Thông thường, các công ty bảo hiểm giới hạn tráchnhiệm bồi thường của mình theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm ghi trong Giấychứng nhận bảo hiểm của công ty mình so với số tổng của những số tiền bảohiểm ghi trong tất cả các đơn bảo hiểm

6 Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là sự thoả thuận giữa các bên theo

đó bên mua bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm, bên bảo hiểm có tráchnhiệm trả tiền bồi thường cho người tham gia bảo hiểm khi xảy ra các sự kiệnbảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là chứng từ có tính chất pháp lý, quy định rõ nghĩa vụ

và quyền lợi của mỗi bên tham gia Trước khi ký kết hợp đồng, chủ xe phải cógiấy yêu cầu bảo hiểm và kê khai đầy đủ, trung thực những nội dung có trong

Trang 14

- Điều khoản quy định về thời gian và hiệu lực hợp đồng bảo hiểm.

Công ty bảo hiểm chỉ cấp giấy chứng nhận bảo hiểm khi chủ xe đã đóngphí bảo hiểm Thời hạn hiệu lực bắt đầu và kết thúc được thể hiện trên giấychứng nhận bảo hiểm Trường hợp chủ xe không nộp phí bảo hiểm đầy đủ vàođúng thời hạn quy định thì hợp đồng bảo hiểm mặc nhiên mất hiệu lực cho đếnkhi chủ xe tiếp tục đóng phí

Trong thời hạn bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe thì phải thôngbáo bằng văn bản cho công ty trước 15 ngày Nếu hợp đồng được hai bên thoảthuận huỷ bỏ, công ty sẽ hoàn lại cho chủ xe 80% phí bảo hiểm của thời giancòn lại với điều kiện đến thời điểm đó chủ xe chưa lần nào được công ty chấpnhận trả tiền bảo hiểm

III Phí bảo hiểm xe cơ giới

1 Vai trò và yêu cầu của việc định phí bảo hiểm

Việc xác định mức giá cho sản phẩm bảo hiểm( hay còn gọi là phí bảohiểm) đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong marketing hỗn hợp bởi vì giá cả sảnphẩm sẽ có tác động đến số lượng hợp đồng khai thác được, đến doanh thu vàlợi nhuận của doanh nghiệp Gía cả cũng tác động đến thị phần và vị trí củadoanh nghiệp trên thị trường Ngoài ra, giá cả sản phẩm bảo hiểm còn tác độngđến vấn đề đầu tư, tái bảo hiểm, khả năng thanh toán…

Việc xác định giá cho sản phẩm bảo hiểm thường được xem xét trên haikhía cạnh cơ bản sau :

Trang 15

- Thứ nhất là đưa ra “ mức giá hợp lý ” ( giá kỹ thuật) nhằm giúp doanhnghiệp hình thành được quỹ tài chính đủ để chi trả bồi thường cho các khiếu nại,trang trải được các chi phí hoạt động và mang lại lợi nhuận hợp lý cho doanhnghiệp bảo hiểm Mức giá này được xác định trên tần suất xảy ra sự kiện bảohiểm, mức độ tổn thất bình quân, lãi suất đầu tư…Việc định giá được thực hiệnbởi các chuyên gia định phí

- Thứ hai là đưa ra giá bán thực tế Gía này tính đến các mục tiêu thị phần,môi trương cạnh tranh của doanh nghiệp…Gía thực tế đưa ra trên cơ sở thu thập

ý kiến của nhiều bộ phận có liên quan trong doanh nghiệp ( bộ phận đầu tư, bộphận thẩm định đánh giá rủi ro, bộ phận giải quyết khiếu nại bồi thường, bộphận kế toán…), nhưng chịu trách nhiệm chính là bộ phận marketing

Gía bán thực tế có xu hướng luôn biến động trong khi giá kỹ thuật có tính

ổn định hơn Giữa giá bán thực tế và giá hợp lý có thể chênh lệch phụ thuộc vàotrạng thái của thị trường tại từng thời điểm, kỳ vọng của người quản lý và các cổđông…

Như vậy, giá cả sản phẩm bảo hiểm phải đáp ứng các yêu cầu trang trải chiphí Mang lại lợi nhuận hợp lý cho doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu về cạnhtranh…và các yêu cầu quản lý của nhà nước Gía cả sản phẩm bảo hiểm khôngđược quá cao hoặc không được phân biệt đối xử một cách bất công bằng Ngoài

ra, giá cả sản phẩm bảo hiểm còn phải được đảm bảo tính ổn định theo thời gian

và phản ứng được trước những thay đổi của môi trường cũng như bản thândoanh nghiệp

2 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến phí bảo hiểm

2.1 Mục tiêu định phí

Khi doanh nghiệp đưa ra những mức giá cho sản phẩm, thì những mức giá

đó nhằm giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu nhất định Nói một cáchkhác, mục tiêu định giá chính là cơ sở cho các quyết định liên quan đến giá cả

Và mục tiêu định giá phải được xác định dựa trên những mục tiêu chung của

Trang 16

doanh nghiệp Ví dụ khi mục tiêu chung của doanh nghiệp là duy trì chất lượngdịch vụ hàng đầu vượt hẳn đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đặt giá caohơn đối thủ cạnh tranh nhằm trang trải được các chi phí cao hơn phát sinh docung cấp dịch vụ với chất lượng cao hơn Ngoài ra các mục tiêu định giá củadoanh nghiệp cũng phải phù hợp với các mục tiêu marketing cụ thể của doanhnghiệp

2.1.1 Các mục tiêu hướng theo lợi nhuận

Lợi nhuận là mục tiêu của bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia kinhdoanh, nó chi phối toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên tùytừng sản phẩm hay tùy từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp mà mục tiêulợi nhuận được ưu tiên trong mục tiêu trong chiến lược phát triển của doanhnghiệp

Mục tiêu lợi nhuận có thể được xác định cho toàn doanh nghiệp hay chỉcho một hoặc một số lớp sản phẩm hay từng mặt hàng Nếu doanh nghiệp đặt ramục tiêu lợi nhuận thì doanh nghiệp phải đặt giá sao cho ít nhất là đạt được mứclợi nhuận đã định

Để đạt được mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xem xét đánhgiá kết quả thực hiện : Nếu các sản phẩm không đạt được lợi nhuận dự kiến thìsản phẩm đó cần phải được điều chỉnh thậm chí là rút khỏi thị trường

2.1.2 Mục tiêu hướng theo số lượng hợp đồng khai thác

Một số doanh nghiệp xây dựng mục tiêu định giá hướng theo số lượng hợpđồng khai thác chứ không hướng theo lợi nhuận Việc tăng số lượng hợp đồngkhai thác không đồng nghĩa với tăng lợi nhuận vì nếu doanh nghiệp quyết địnhtăng số lượng hợp đồng khai thác bằng cách hạ giá bán thì lợi nhuận của doanhnghiệp có thể giảm do số lượng bán tăng không đủ bù đắp lợi nhuận giảm đi dođơn giá giảm

Trang 17

Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp muốn tăng số lượng hợp đồng khaithác ở một số thị trường nhất định ngay cả khi lợi nhuận không tăng, với hyvọng thông qua việc tăng vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, hình ảnh củadoanh nghiệp trong khách hàng sẽ tăng lên do đó dẫn đến tăng lợi nhuận nhưmong muốn

2.1.3 Mục tiêu hướng theo cạnh tranh

Mục tiêu này liên quan đến thị phần của doanh nghiệp, thị phần của doanhnghiệp có thể duy trì hoặc tăng trong đó thị phần của doanh nghiệp có thể được

đo lường theo số lượng hợp đồng khai thác được hoặc theo doanh thu phí bảohiểm thu được

Với mục tiêu hướng theo cạnh tranh, doanh nghiệp thực hiện việc định giásản phẩm dựa trên giá cả của các đối thủ cạnh tranh thực tế hoặc đối thủ cạnhtranh tiềm năng Có ba mục tiêu định phí hướng theo cạnh tranh thường thấy là:Không khuyến khích cạnh tranh ( triệt tiêu cạnh tranh ); đánh bại cạnh tranh;đương đầu cạnh tranh ( cân bằng cạnh tranh) Tùy vị thế của doanh nghiệp trênthị trường mà mục tiêu định giá của doanh nghiệp sẽ khác nhau :

Trong trường hợp doanh nghiệp độc quyền trên thị trường, có thể chọn mụctiêu định giá “ triệt tiêu cạnh tranh ”, tức doanh nghiệp sẽ định giá sản phẩm ởmức thấp nhất sao cho các đối thủ mới khó có thể hoặc không thể đưa ra mứcgiá thấp như thế mà vẫn thu được lợi nhuận Như vậy với vị thế mạnh trên thịtrường, doanh nghiệp độc quyền sẽ không khuyến khích các đối thủ mới gianhập thị trường

Trường hợp doanh nghiệp hoạt động trên thị trường cạnh tranh hơn, có thểchọn mục tiêu định giá “ đánh bại cạnh tranh” Điều này có nghĩa doanh nghiệp

sẽ định giá thấp hơn mức giá các đối thủ cạnh tranh và các nỗ lực marketing sẽnhấn mạnh vào mức giá đó Các doanh nghiệp thường hướng theo mục tiêu nàykhi họ là những đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường và muốn thiết lập nhanhchóng danh tiếng trên thị trường nhằm chiếm lĩnh được thị phần Ngoài ra, các

Trang 18

doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu cạnh tranh giá phải sẵn sàng và có thể thay đổicác mức giá một cách thường xuyên nhằm phản ứng lại những thay đổi trongcạnh tranh

Như vậy sử dụng giá cả làm cơ sở cho cạnh tranh có hai nhược điểm cơbản là : Lợi thế cạnh tranh qua giá cả thường có vòng đời ngắn vì hầu hết cácđối thủ có thể thay đổi mức giá của họ và định giá sản phẩm quá thấp có thể làmcho doanh nghiệp bị thiệt hại tài chính lớn

Trong trường hợp doanh nghiệp bán các loại sản phẩm mà đa số kháchhàng coi là giống với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽbuộc phải định giá theo mức giá chung mà các đối thủ đưa ra Mục tiêu định giátrong trường hợp này gọi là “ đương đầu với cạnh tranh ” Khi muốn cạnh tranhtrên cơ sở phi giá cả, tránh việc cạnh tranh giá cả, đa số các doanh nghiệp sẽtheo đuổi mục tiêu này

2.2 Chi phí

Chi phí là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến việc định giásản phẩm Chi phí của sản phẩm định ra giới hạn dưới cho mức giá của sảnphẩm bởi vì trong điều kiện kinh tế thị trường, không một doanh nghiệp nào cóthể tồn tại nếu bán sản phẩm ở mức giá thấp hơn mức chi phí trong thời gian dài.Bởi khi kinh doanh mục tiêu lợi nhuận luôn được coi là mục tiêu hàng đầu, nógiúp doanh nghiệp có thể tồn tại cũng như tăng trưởng trên thị trường

Tuy nhiên, nếu căn cứ vào chi phí thì việc định giá cho sản phẩm bảo hiểmphức tạp hơn việc định giá các sản phẩm khác rất nhiều, do tất cả các chi phí gắnvới một hợp đồng bảo hiểm sẽ không thể xác định được cho đến khi các khiếunại và các chi phí gắn với hợp đồng bảo hiểm đó phát sinh Nói một cách khác,giá cả sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên các chi phí dự tính chứ khôngphải dựa trên các chi phí thực tế phát sinh Đây là điểm khác biệt cơ bản nhấtgiữa định giá sản phẩm bảo hiểm và định giá sản phẩm trong các lĩnh vực khác

Trang 19

Qúa trình định phí có thể được coi là quá trình dự đoán tổn thất và chi phítrong tương lai, phân bổ các chi phí này giữa những người tham gia bảo hiểm Ơcác quốc gia có ngành bảo hiểm phát triển, trong các doanh nghiệp bảo hiểmnhân thọ, việc định phí được thực hiện bởi bộ phận định phí hoặc đối với cácdoanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ quy mô nhỏ hơn thì việc định phí do các công

ty tư vấn định phí thực hiện Còn trong lĩnh vực bảo hiểm tài sản và trách nhiệm,giá cả sản phẩm bảo hiểm được xác định dựa trên số liệu thống kê về khuynhhướng tổn thất do các tổ chức tư vấn cung cấp hoặc từng doanh nghiệp bảo hiểm

tự thu thập

Nhìn chung, phụ thuộc vào các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm, giá cảsản phẩm cụ thể cộng với lãi đầu tư doanh nghiệp thu được phải đủ để trang trảicác chi phí như : Chi bồi thường hay trả tiền bảo hiểm, các chi phí hoạt động( chi phí phát triển sản phẩm, chi phí phân phối sản phẩm, chi phí tái bảo hiểm,chi phí quản lý chung, thuế thu nhập doanh nghiệp…), các chi phí bất thườngkhác phát sinh không dự tính trước do rủi ro đầu tư…Bởi vì có nhiều nhân tố tácđộng đến các khoản chi phí này nên doanh nghiệp bảo hiểm phải thận trọngtrong việc đưa ra các giả định sử dụng để xác định chi phí dự tính cho sản phẩm.Nhưng nếu quá cẩn trọng khi ước lượng về chi phí tương lai có thể dẫn đến mộtmức phí bảo hiểm quá cao làm cho doanh nghiệp khó cạnh tranh Ngược lại, nếuquá lạc quan khi ước lượng về chi phí có thể dẫn đến mức phí bảo hiểm lại quáthấp làm cho doanh nghiệp khó thu được lợi nhuận

Việc định giá sản phẩm mới là rất khó vì doanh nghiệp không có hoặc córất ít kinh nghiệm cũng như số liệu về chi phí làm cơ sở cho các giả định Khidoanh nghiệp có kinh nghiệm trong phát triển, marketing và quản lý sản phẩmmới, cũng như khi doanh nghiệp tích lũy được số liệu về chi phí thì khả năng dựđoán chi phí sẽ sát với thực tế

Ngoài ra, việc phân bổ chi phí cho một sản phẩm cụ thể cũng là một côngviệc khá khó khăn Để phân bổ chính xác, doanh nghiệp phải phân loại chi phí

Trang 20

thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Trong đó, chi phí trực tiếp là nhữngchi phí liên quan đến sản phẩm như chi phí bồi thường, chi phí thẩm định đánhgiá rủi ro, chi phí phát hành hợp đồng bảo hiểm, hoa hồng bảo hiểm, chi phí xử

lý khiếu nại ; Chi phí gián tiếp là những chi phí không liên quan trực tiếp đếnmột sản phẩm bảo hiểm cụ thể mà gắn liền với các họat động chung của doanhnghiệp như lưong cho cán bộ nhân viên, khấu hao tài sản cố định…

2.3 Khách hàng

Cầu về sản phẩm của khách hàng là nhân tố quyết định giới hạn trên củagiá cả sản phẩm Kinh nghiệm marketing thực tế đều cho thấy, cầu của hầu hếtcác loại sản phẩm có quan hệ tỷ lệ nghịch với giá cả sản phẩm với điều kiện làcác nhân tố khác không thay đổi

Khi phân tích cầu về sản phẩm phải xác định sự thay đổi của nó khi giá cảsản phẩm thay đổi Để đo lường mức độ thay đổi này, kinh tế học vi mô đã đưa

ra khái niệm “ độ co giãn của cầu theo giá” Nhìn chung cầu về sản phẩm bảohiểm xe cơ giới được coi là không co giãn theo giá Khi mức giá chung tăng lênhay giảm đi, cầu về các sản phẩm này thường không thay đổi ( nhưng nếu giábán sản phẩm của một doanh nghiệp nào đó thay đổi, doanh số bán sản phẩmcủa doanh nghiệp đó sẽ thay đổi do khách hàng chuyển sang mua sản phẩm củadoanh nghiệp khác có mức giá thấp hơn) Còn cầu về sản phẩm bảo hiểm vậtchất xe cơ giới khó xác định vì khách hàng không bắt buộc phải mua sản phẩmđó

Độ co giãn của cầu về sản phẩm bảo hiểm theo giá thị trường bị tác độngbởi các yếu tố sau :

- Số lượng sản phẩm thay thế sẵn có : Khi có nhiều sản phẩm thay thế, cầu

về sản phẩm đó sẽ co giãn nhiều;

- Nhu cầu đi liền với sản phẩm: Khi sản phẩm bảo hiểm là thiết yếu, cầu về

sản phẩm đó sẽ ít co giãn hơn;

Trang 21

- Mức chỉ tiêu cần để mua sản phẩm : Với các sản phẩm bảo hiểm mà chi

tiêu cho sản phẩm đó chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách gia đình sẽ có độ cogiãn lớn hơn sản phẩm chiếm tỷ trọng nhỏ trong ngân sách

Ngoài cầu về sản phẩm, sức mua của khách hàng, nhận thức về giá mongmuốn của khách hàng về sự linh hoạt giá cũng có tác động rất mạnh đến lượngsản phẩm mà doanh nghiệp có thể bán ở các mức giá khác nhau

- Sức mua của khách hàng : là thước đo về khả năng mua sản phẩm của

khách hàng Sức mua thường được quyết định bởi thu nhập, tài sản, điều kiện tíndụng đối với khách hàng Sức mua chịu ảnh hưởng của các điều kiện kinh tếchung như : Lạm phát, thất nghiệp, thuế…Vì sức mua sản phẩm là có giới hạnnên khách hàng sẽ phân bổ sức mua cho các sản phẩm khác nhau

- Nhận thức của khách hàng về giá cả sản phẩm : Nhận thức của khách

hàng về giá cả của sản phẩm và tầm quan trọng mà khách hàng gắn cho giá cảsản phẩm sẽ thay đổi tùy theo sản phẩm và đoạn thị trường Chẳng hạn với cácsản phẩm mà khách hàng mua thường xuyên như thực phẩm, xăng dầu…họnhận thức rất rõ về giá cả sản phẩm này nên rất nhạy cảm với sự thay đổi của giá

cả Còn với các sản phẩm bảo hiểm, người tiêu dung không mua các sản phẩm

đó một cách thường xuyên nên họ sẽ không nhận thức được sự khác biệt về giá

cả giữa các sản phẩm Vì thế, doanh nghiệp bảo hiểm có thể thay đổi chiến lượcgiá theo nhận thức của khách hàng

Tương tự như vậy, trong đoạn thị trường mà khách hàng nhận thức rõ vềgiá, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn nếu đưa ra các mức giá cao hơn mức giá củađối thủ cạnh tranh, ngược lại trong đoạn thị trường mà người mua không nhậnthức rõ về giá việc định giá sẽ trở nên dễ dàng hơn

- Ngoài mức giá mà người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận sẽ nói lên sự đánhgiá của họ về giá trị sản phẩm Nếu công tác truyền thông và phân phối sảnphẩm tạo ra giá trị mà khách hàng nhận thấy là bằng hoặc lớn hơn giá cả của sảnphẩm thì khách hàng sẽ mua sản phẩm Bản thân giá cả sản phẩm cũng có tác

Trang 22

động mạnh đến giá trị mà người tiêu dùng định ra cho sản phẩm Do vậy nếu sảnphẩm được định giá là quá thấp, khách hàng có thể đánh giá sản phẩm là quánghèo nàn nên sẽ không mua sản phẩm Ngược lại, nếu sản phẩm được định giá

là quá cao, khách hàng có thể coi sản phẩm vượt quá nhu cầu của mình vàkhông xứng đáng với mức giá đó

- Mong muốn về sự linh hoạt giá : Khi định giá sản phẩm doanh nghiệp bảo

hiểm còn phải tính đến mức độ linh hoạt của giá cả mà khách hàng mong muốn.Một số khách hàng muốn giá cố định được duy trì, trong khi có một số kháchhàng khác lại muốn giá của sản phẩm sẽ thay đổi và sẵn sàng trả mức giá caotrong giai đoạn đầu nhằm hy vọng sau này do hoạt động của doanh nghiệp tiếntriển, giá của sản phẩm sẽ hạ xuống

2.4 Yếu tố cạnh tranh

Doanh nghiệp bảo hiểm cần xem xét đối thủ cạnh tranh khi định giá chosản phẩm Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có mức phí không cạnh tranh, doanhthu phí bảo hiểm sẽ giảm do khách hàng chuyển sang mua sản phẩm của cácdoanh nghiệp khác có mức giá rẻ hơn Thiệt hại về doanh thu sẽ khá lớn đối vớisản phẩm bảo hiểm nhân thọ nhóm hoặc khi sản phẩm có số tiền bảo hiểm lớn,còn đối với sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ trong đó có bảo hiểm vật chất xe cơgiới thì doanh thu cũng có giảm nhưng nó không rõ nét bằng sản phẩm bảo hiểmnhân thọ Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm có mức giá không cạnh tranh cũng ảnhhưởng đến khâu phân phối bởi các đại lý bảo hiểm thường chọn các doanhnghiệp có sản phẩm có giá rẻ hơn để làm đại lý để việc bán sản phẩm của mìnhthuận lợi hơn Còn môi giới bảo hiểm cũng sẽ có xu hướng tư vấn cho kháchhàng những doanh nghiệp cung cấp sản phẩm có mức giá cạnh tranh

Như vậy trong trường hợp cầu về sản phẩm co giãn theo giá và có các sảnphẩm thay thế của các đối thủ cạnh tranh thì phản ứng của các đối thủ với mứcgiá chung của ngành tác động đến việc định giá của riêng từng sản phẩm củadoanh nghiệp Muốn đưa ra mức giá thấp hơn mức giá của đối thủ cạnh tranh,

Trang 23

- Số lượng đối thủ cạnh tranh và số sản phẩm cạnh tranh;

- Yếu tố chi phí gắn với từng sản phẩm của từng đối thủ cạnh tranh;

- Nguồn lực tài chính của từng đối thủ nói chung cũng như nguồn lực tàichính của từng đối thủ cạnh tranh dành riêng cho sản phẩm;

- Vai trò của sản phẩm trong danh mục sản phẩm của đối thủ cạnh tranh;

- Hành vi định giá trước đây của từng đối thủ;

- Phản ứng dự kiến của từng đối thủ cạnh tranh trước sự thay đổi giá cả;

- Điểm mạnh, điểm yếu của từng đối thủ cạnh tranh…

Khai thác những thông tin này sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm đưa ranhững mức giá phù hợp cho sản phẩm của mình trong mối tương quan với giá cảsản phẩm của các đối thủ cạnh tranh

2.5 Sự can thiệp của Nhà nước

Sự can thiệp của Nhà nước có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp đến giá

cả sản phẩm của doanh nghiệp Ơ một số quốc gia, luật pháp không trực tiếpđiều chỉnh tỷ lệ phí bảo hiểm vì các nhà quản lý cho rằng thị trường cạnh tranh

sẽ đưa ra mức phí hợp lý

Một số quốc gia khác, Nhà nước thường quy định những tỷ lệ phí bảo hiểm

mà doanh nghiệp bảo hiểm bắt buộc phải áp dụng Ngoài ra, giá cả sản phẩmbảo hiểm cũng chịu tác động gián tiếp bởi yêu cầu quản lý, mà điển hình nhất làviệc yêu cầu các doanh nghiệp phải hình thành quỹ dự phòng cho từng nghiệp

vụ bảo hiểm Để đảm bảo khả năng thanh toán, doanh nghiệp bảo hiểm duy trìcác tài sản có ít nhất bằng với quy mô quỹ dự phòng Và để có được tài sản này,doanh nghiệp phải đưa ra mức phí cho phù hợp

Trang 24

2.6 Các nhân tố khác

Vì các nhân tố marketing hỗn hợp có tác động qua lại lẫn nhau nên nỗ lựctruyền thông, hệ thống phân phối và các đặc điểm cụ thể của sản phẩm, các lợiích và các dich vụ đi kèm theo sẽ có tác động đến chi phí của sản phẩm do vậytác động đến mức giá của sản phẩm bảo hiểm Ngoài ra bản thân sản phẩm bảohiểm và cách thức phân phối sản phẩm trong mối liên hệ với giá cả có tác độngđến nhận thức kỳ vọng của khách hàng từ đó tác động đến việc định giá sảnphẩm

3 Các chiến lược định phí bảo hiểm

Chiến lược định giá là những chỉ dẫn chung mà doanh nghiệp bảo hiểm apdụng nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra Chiến lược định giá giúp doanh nghiệpxác định cách thức sử dụng giá cả như một biến trong marketing hỗn hợp Chiếnlược định giá được chia làm 3 nhóm như sau :

3.1 Các chiến lược định phí hướng theo chi phí

Những chiến lược này sử dụng các khoản chi phí làm cơ sở cho việc địnhphí sản phẩm Nội dung cơ bản của chiến lược này là đưa ra mức giá trang trảiđược tất cả các chi phí doanh nghiệp bảo hiểm đã bỏ ra trong quá trình thiết kế,phân phối và khuếch trương sản phẩm, ngoài ra còn mang lại một khoản lợinhuận nhất định cho doanh nghiệp Chiến lược định phí hướng theo chi phí chỉ

có thể thành công trong thị trường mà doanh nghiệp độc quyền hoặc doanhnghiệp là người dẫn đầu Ngoài ra, chiến lược này cũng có thể thành công trongcác thị trường mà ở đó doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trường có ítđối thủ cạnh tranh, hoặc khi có khách hàng trung thành với doanh nghiệp

3.2 Các chiến lược định giá theo hướng cạnh tranh

Đây là chiến lược định giá dựa trên các mức giá do đối thủ cạnh tranh đưa

ra và cho phép doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng việc định giá để xác định vị trítrên thị trường Tùy thuộc vào mục tiêu kinh doanh hay mục tiêu định giá mà

Trang 25

số các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp sản phẩm cùng loại Do vậy, trong chiếnlược định giá cạnh tranh, sản phẩm thường được thiết kế hoặc được điều chỉnhnhằm phù hợp với mức phí đã định sẵn Hai ví dụ thường thấy của chiến lượcđịnh giá cạnh tranh là chiến lược “định giá thâm nhập” và chiến lược “định giálinh hoạt”, trong đó :

- Chiến lược “định giá thâm nhập” là chiến lược định giá trong đó doanh

nghiệp đưa ra mức giá tương đối thấp hơn mức giá của các đối thủ cạnh tranh.Mục đích là giúp doanh nghiệp thâm nhập thị trường và tăng nhanh lượng bánnhằm chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp khác Chiến lược này thường được

sử dụng với các sản phẩm mới đưa ra thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh.Các doanh nghiệp đã hoạt động lâu trên thị trường nhưng có biên lợi nhuận thấp

áp dụng chiến lược này nhằm ngăn cản các đối thủ cạnh tranh gia nhập thịtrường

- Chiến lược “định giá linh hoạt” là chiến lược định giá cho phép doanh

nghiệp có thể đàm phán với khách hàng về giá cả của sản phẩm Cụ thể, việcđịnh giá được thực hiện thông qua đấu giá cạnh tranh và đưa ra các hợp đồng cóthể đàm phán với các nhóm khách hàng quy mô lớn Trong đó đấu giá cạnhtranh là hình thức trong đó người mua sản phẩm yêu cầu những người cung cấpđưa ra bảng giá cho các hợp đồng yêu cầu, còn hợp đồng có thể đàm phán là hợpđồng trong đó các điều khoản và các mức giá được thiết lập thông qua trao đổigiữa người mua và người bán

Trang 26

3.3 Các chiến lược định giá hướng theo khách hàng

Trong những chiến lược này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tập trung và việcđưa ra các mức giá mà những người phân phối hoặc những người sở hữu đơnbảo hiểm có thể chấp nhận được Cụ thể, đối với các nhà phân phối, khi định giá

và thiết kế sản phẩm doanh nghiệp sẽ tập trung vào yếu tố thù lao tức là mức giáđược thiết kế sao cho sản phẩm của doanh nghiệp có mức hoa hồng cao hơn sảnphẩm của các doanh nghiệp khác

Còn đối với những người sở hữu đơn bảo hiểm, chiến lược định giá này sẽtập trung và yếu tố “giá trị sản phẩm” Nhưng cần lưu ý là với những kháchhàng khác nhau thì “giá trị sản phẩm” được quan niệm khác nhau Do vậy, khi

sử dụng chiến lược định giá hướng theo khách hàng, doanh nghiệp phải xác địnhđược các giá trị mà khách hàng mong muốn, và việc định giá sản phẩm củadoanh nghiệp phải chỉ ra cho khách hàng thấy rằng các giá trị mà khách hàngmong muốn là có sẵn trong sản phẩm của doanh nghiệp

Trong marketing nói chung, các ví dụ thường thấy của định giá khách hàng

là “định giá tâm lý”, “định giá hớt váng” và “định giá khuếch trương”, trong đó :

- Định giá tâm lý là chiến lược định giá dựa trên quan niệm cho rằng khách

hàng nhận thấy một số loại giá hay khoảng giá nhất định là hấp dẫn hơn cáckhoản giá khác Các doanh nghiệp áp dụng chiến lược định giá tâm lý cho rằngnếu giá cả được ấn định ở mức thấp hơn một chút so với mức giá dự kiến thìlượng sản phẩm bán ra sẽ đạt số lượng nhiều hơn Ngoài ra, đối với các sảnphẩm nộp phí định kỳ thì định giá tâm lý cũng thường giả định khách hàngmuốn mua sản phẩm hơn nếu giá sản phẩm được xác định trên cơ sở trả theotháng chứ không phải trả theo năm hay trả một lần

Chiến lược định giá tâm lý phù hợp nhất với những thị trường mà ở đókhách hàng cực kỳ nhạy cảm với giá cả của sản phẩm hoặc khi khách hàng cónhận thức cao về giá cả sản phẩm và cũng phù hợp với những sản phẩm đượcphân phối qua kênh phân phối trực tiếp

Trang 27

- “Định giá hớt váng” là chiến lược định giá trong đó doanh nghiệp sẽ đưa

ra mức giá cao nhất có thể cho bộ phận khách hàng có nhiều mong muốn nhấtđược sử dụng sản phẩm Với chiến lược này, doanh nghiệp hy vọng sẽ thu đượcdoanh thu lớn trong thời gian đầu Doanh thu này không những trang trải tất cảcác chi phí mà còn mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp Chiến lược nàythường được áp dụng với các sản phẩm được quảng cáo là có công nghệ mớinhất, hiện đại nhất như máy tính xách tay, điện thoại di động,,, còn đối với cácsản phẩm bảo hiểm nói riêng, các sản phẩm dịch vụ tài chính nói chung thì chiếnlược này gần như không được sử dụng

- Với chiến lược “ định giá khuếch trương”, doanh nghiệp sẽ đưa ra mức

giá thấp hơn mức giá thông thường cho một sản phẩm nhất định nhằm thúc đẩyviệc bán sản phẩm của tất cả các sản phẩm khác của doanh nghiệp

4 Phương pháp tính phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo hiểm cụ thể,các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau :

- Loại xe : Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, có mức

độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại

xe Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác định phí bảohiểm phù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thànhcác nhóm Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc,chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng Đối vớicác xe hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng…do

có mức độ rủi ro cao nên phí bảo hiểm thường được cộng thêm một tỉ lệ nhấtđịnh dựa trên mức phí cơ bản

Giống như cách tính phí bảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng chomỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau :

) (f d S

pb 

trong đó:

Trang 28

- Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó.Căn cứ vào số liệu

thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí thuần “ f ” cho mỗi đầu

C

T S

f ( với I = 1,2,…,n )

Trong đ ó : Si : số vụ tai nạn giao thông xảy ra năm thứ i

Ci : số xe tham gia bảo hiểm TNDS năm thứ i

Ti : Thiệt hại bình quân một vụ tai nạn trong năm thứ i

- Các chi phí khác, hay còn gọi là phần phụ phí ( d ), bao gồm các chi phí

như đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý…Phần phụ phí này thường được tínhbằng một tỉ lệ phần trăm nhất định so với phí bồi thường

- Khu vực giữ xe và để xe : Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm nào

cũng quan tâm đến nhân tố này Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểmtính phí bảo hiểm tính phí bảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặtchẽ

- Mục đích sử dụng xe : Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí bảo

hiểm Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra Ví dụ, xe

do một người về hưu sử dụng do mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóngphí bảo hiểm thấp hơn so với xe do một thương gia sử dụng để đi lại trong

Trang 29

những khu vực rộng lớn Rõ ràng xe lăn bánh trên đường càng nhiều, khả năngxảy ra rủi ro tai nạn sẽ càng cao

- Tuồi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người

thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm Số liệu thống kê cho thấy rằngcác lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi Trong thực tế,các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50hoặc 55 tuổi do kinh nghiệm cho thấy số người này ít gặp tai nạn hơn so với cáclái xe trẻ tuổi Tuy nhiên, với những lái xe quá lớn tuổi, thường phải xuất trìnhgiấy chứng nhận sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mớinhận bảo hiểm Ngoài ra, để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty thườngxuyên yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất xảy ra với xe(mức miễn thường ) Đối với những lái xe trẻ tuổi mức miễn thường này thườngcao hơn so với những lái xe có tuổi lớn hơn

 Giảm phí bảo hiểm : Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn thamgia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức phígiảm so với mức phí chung theo số lượng tham gia bảo hiểm Ngoài ra, hầu hếtcác công ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham giabảo hiểm không có khiếu nại và tăng tỉ lệ giảm giá này cho một số năm không

có khiếu nại gia tăng Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơgiới

Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt độngmột số ngày trong năm, thì chủ xe chỉ phải đóng phí cho những ngày hoạt động

đó theo công thức sau :

 Biểu phí đặc biệt : Trong những trường hợp đặc biệt khi khách hàng có

số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều, để tranh thủ sự ủng hộ, các công ty bảohiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó Việc tính toán biểu phíriêng này cũng tương tự như cách tính phí được đề cập ở trên, chỉ khác là chỉdựa trên các số liệu về bản thân khác hàng này, cụ thể :

Trang 30

- Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm;

- Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng ởnhững năm trước đó;

- Tỉ lệ phụ phí theo quy định của công ty;

Trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, công tybảo hiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt Còn nếu mức phí đặc biệt được tính

là cao hơn ( hoặc bằng ) mức phí chung, tức là tình hình tổn thất của khách hàngcao hơn hoặc bằng mức tổn thất bình quân chung, thì công ty bảo hiểm sẽ ápdụng mức phí chung

 Hoàn phí bảo hiểm : Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm

cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó,

ví dụ như ngừng hoạt động để tu sửa xe Trong trường hợp này thông thườngcông ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động đócho chủ xe Số phí hoàn lại được tính như sau :

Tuỳ theo từng công ty bảo hiểm khác nhau mà quy định tỉ lệ hoàn phí làkhác nhau Nhưng thông thường tỉ lệ này là 80%

Trong trường hợp chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm khi chưa hếtthời hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảohiểm cho thời gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xechưa có lần nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm

Chương II : Tình hình áp dụng phí bảo hiểm vật chất xe cơ giới

tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm AAA

I Sơ lược về công ty

1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển

Công ty Cổ Phần Bảo Hiểm AAA, tên giao dịch tiếng Anh là "AAAAssurance Corporation", trụ sở chính tại: 02 Bis Trần Cao Vân, Quận 1, TP Hồ

Trang 31

Chí Minh, được Bộ tài chính cấp giấy phép thành lập số 30/GP/KDBH ngày28/02/2005; Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm AAA chính thức hoạt động tại thịtrường bảo hiểm Việt Nam được gần 03 năm

Phương châm hoạt động là: "Nhanh – Đúng - Đủ", Công ty Cổ phần Bảohiểm AAA cam kết không ngừng mang lại nhiều hơn nữa những dịch vụ tiện íchcho khách hàng

AAA chính là chữ viết tắt của 3 từ "An tâm – An tâm – An tâm", là biểutượng cho khầu hiệu "Quyền được an tâm" của công ty, công ty mong muốnđem đến sự An tâm cho khách hàng – An tâm cho nhân viên – An tâm cho đốitác và cổ đông của công ty Trên logo của công ty AAA được ghép lại chắc chắntheo lối phong thuỷ ngũ hành tạo thành một biểu tượng bền vững hình kim tựtháp đồng thời là sự phát triển của ngành bảo hiểm nói riêng, của xã hội nóichung mà trong đó có sự góp sức của AAA

Sau 03 năm hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, công ty đã có rất nhiềunhững hoạt động nhằm tạo vị trí trong thị trường và thúc đẩy hoạt động kinhdoanh, có những sự kiện quan trọng đánh dấu những thay đổi ý nghĩa đối vớicông ty:

Ngày 02/11/2005: tại TPHCM, Công ty cổ phần Bảo hiểm AAA chính thức

ra mắt và đi vào hoạt động

Ngày 05/04/2007: chính thức khai trương Sở giao dịch tại miền Bắc và ChiNhánh Hà Nội tại 174 - Lê Duẩn (hiện nay tại 155 – Láng Hạ) Đây là một sựkiện đánh dấu sự phát triển của công ty ra miền Bắc, mở rộng địa bàn hoạt động.Ngày 09/04/2007: Bộ tài chính phê duyệt công văn số 217/CV/07-AAAngày 15/03/2007 của công ty về việc xin tăng vốn điều lệ từ 80 tỷ VNĐ lên 380

tỷ VNĐ Công ty bảo hiểm AAA đã khẳng định được tiềm lực tài chính và tăngkhả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ khi mà sựcạnh tranh đó ngày càng trở nên gay gắt

Trang 32

Ngày 27/05/2007: Ký bán 2 triệu cổ phiếu cho Tập đoàn Bankinvest củaĐan Mạch Đây là một đối tác lớn đang quản lý nguồn vốn hơn 25 tỷ đô la Mỹ,trong đó có quỹ đầu tư PENN trị giá 80 triệu đô la Mỹ Đối tác này ngoài việcchuyển giao các bí quyết quản lý, phát triển kinh doanh sẽ là cầu nối công ty vớithị trường bảo hiểm Đan Mạch và các nhà đầu tư Đan Mạch

10/01/2008: Công ty Cổ Phần Bảo hiểm AAA được vinh dự xếp hạng trongtop 100 Cúp Vàng Thương hiệu Việt 2007 do Liên hiệp các Hội Khoa học vàKinh Tế Việt Nam tổ chức Đây là giải thưởng do người tiêu dùng chọn quaMạng thương hiệu Việt nhằm ghi nhận và tôn vinh những doanh nghiệp, thànhviên có những nỗ lực xây dựng và phát triển thương hiệu,làm ra các sản phẩm,dịch vụ chất lượng được người tiêu dùng đánh giá cao

20/01/2008: Nhận "Vương miện vàng chất lượng Quốc tế" của Tổ chứcsáng tạo quốc tế BID, dành cho doanh nghiệp đạt thành tựu xuất sắc về chấtlượng phục vụ

14/02/2008: Thành lập "Trung tâm trợ giúp khẩn cấp toàn cầu", với sự liênkết trực tiếp từ 49 tổng đài trên thế giới Theo đó, khách hàng khi mua sản phẩmbảo hiểm "Du lịch toàn cầu" của công ty sẽ có quyền yêu cầu trợ cấp khẩn cấp24/24 tại quốc gia mình đang đi du lịch Điều đặc biệt là nhân sự sử dụng trả lờiTổng đài trợ giúp khẩn cấp là những thanh hiên giỏi bị khuyết tật, đây là mộtchiến lược tuyển dụng mang tính nhân văn sâu sắc Với sự thành lập này, sảnphẩm bảo hiểm du lịch đa mang một dấu ấn khác biệt và thể hiện ưu thế hơn sovới những sản phẩm đang có trên thị trường

2 Cơ cấu Tổ chức của Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm AAA

Tham gia sáng lập công ty gồm: 10 cổ đông

1) Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội - Số 3 Liễu Giai, Ba Đình, HàNội

2) Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam – 279 Lý Thường Kiệt,Quận 11, TP Hồ Chí Minh

Trang 33

6) Ông Nguyễn Ngọc Anh – 270/45 Phan Đình Phùng, Phú Nhuận, TP HồChí Minh.

7) Ông Nguyễn Trọng Bảy – 237/11 Phan Đình Phùng, Phú Nhuận, TP HồChí Minh

8) Bà Trương Thị Quốc Khánh – 453/158 Lê Văn Sỹ, Quận 3, TP Hồ ChíMinh

9) Ông Lê Việt Thành - Số 2 đường 49, quận 2 TP Hồ Chí Minh

10) Ông Ngô Quang Dũng – 482/60 A7 Lê Quang Định, Bình Thạnh, TP

Hồ Chí Minh

Ban điều hành công ty

- Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc : Bà Đỗ Thị Kim Liên

- Phó chủ tịch HĐQT : Ông See Chin Thye

- Trưởng ban tư vấn : Ông Nguyễn Nam Cường

- Phó Tổng Giám đốc : Ông Đinh Nam Thắng

- Phó Tổng Giám đốc : Ông Lê Việt Thành

- Giám đốc tài chính: Ông Nguyễn Tuấn Đức

Trang 34

ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

KIỂM TOÁN ĐỘC LẬPTỔNG GIÁM

ĐỐC

PHÒNG

CNTT

PHÓ TGĐ

GĐ VÙNG

BAN CỐ VẤN

PHÓ TGĐ

GĐ CHI NHÁNH

G

Đ KTHUẬT

GĐ KDOANH

GĐ HÀNH CHÍNH

GĐ TÀI CHÍNHBAN KIỂM

SOÁT

Ngày đăng: 25/12/2013, 12:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Doanh thu phí một số nghiệp vụ của chi nhánh bảo hiểm AAA tại  Hà Nội - MỘT số KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG tác xác ĐỊNH PHÍ bảo HIỂM vật CHẤT XE cơ GIỚI tại CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM AAA
Bảng 1 Doanh thu phí một số nghiệp vụ của chi nhánh bảo hiểm AAA tại Hà Nội (Trang 38)
Bảng   : Tỷ lệ phí bảo hiểm vật chất xe ôtô thay mới không tính khấu  hao - MỘT số KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG tác xác ĐỊNH PHÍ bảo HIỂM vật CHẤT XE cơ GIỚI tại CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM AAA
ng : Tỷ lệ phí bảo hiểm vật chất xe ôtô thay mới không tính khấu hao (Trang 45)
Bảng :  phí bảo hiểm ngắn hạn - MỘT số KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG tác xác ĐỊNH PHÍ bảo HIỂM vật CHẤT XE cơ GIỚI tại CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM AAA
ng phí bảo hiểm ngắn hạn (Trang 46)
Bảng : Phí bảo hiểm dài hạn - MỘT số KIẾN NGHỊ TRONG CÔNG tác xác ĐỊNH PHÍ bảo HIỂM vật CHẤT XE cơ GIỚI tại CÔNG TY cổ PHẦN bảo HIỂM AAA
ng Phí bảo hiểm dài hạn (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w