1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng huyện hà trung tỉnh thanh hóa

121 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 706,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN HUY

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM HỌC

TẬP CỘNG ĐỒNG HUYỆN HÀ TRUNG

TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

VINH 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN HUY

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TRỌNG VĂN

VINH 2011

Trang 4

và hoàn thành luận văn

Sở GD - ĐT Thanh Hóa; Phòng GD&ĐT huyện Hà Trung; Các cơ sở giáo dục trong toàn huyện; Các Phòng, Ban chuyên môn của HUYỆN UỶ, HĐND, UBND huyện Hà Trung; Đảng uỷ, HĐND, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Hà Trung; Các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Trọng Văn, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Dù đã rất cố gắng, song trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp ý chân thành từ phía các chuyên gia, thầy cô giáo, bạn

bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn ! Vinh, tháng 11 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Văn Huy

Trang 5

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

1 XHCN

2 CNH, HĐH 3 CBQL

4 QLGD

5 TD - TT 6 CSVC 7 KT - XH

8 GD - ĐT

9 HU 10 HĐND

11 UBND 12 KH - KT

13 NQ

14 MN

15 TH

16 THCS

17 THPT

18 PCGDTH 19 TTHTCĐ

20 TTGDTX- DN

21 PCGDTHCS

22 XHHGD

23 XHHT

24 XMC

25 BTVH

26 PCGD

Xã hội chủ nghĩa Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá Cán bộ quản lý Quản lý giáo dục Thể dục - thể thao Cơ sở vật chất Kinh tế - Xã hội Giáo dục - Đào tạo Huyện uỷ Hội đồng nhân dân Uỷ ban nhân dân Khoa học - kỹ thuật Nghị quyết Mầm non Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Phổ cập giáo dục tiểu học Trung tâm học tập cộng đồng Trung tâm giáo dục thường xuyên- Dạy nghề Phổ cập giáo dục trung học cơ sở Xã hội hóa giáo dục Xã hội học tập Xóa mù chữ Bổ túc văn hóa Phổ cập giáo dục

Trang 6

MỤC LỤC

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và phát triển

giáo dục huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

2.4 Thực trạng sử dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

của các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

57

Chương 3 Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt 61

Trang 7

động của các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

3.2 Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của các

TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

62

3.3 Kết quả thăm dò tính khả thi của các nhóm giải pháp quản lý

đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ huyện

Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với những bước tiến bộ nhảy vọt của khoa học công nghệ ngày nay, đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, nền kinh tế tri thức đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất Đó là những cơ hội và cũng là những thách thức lớn cho mọi quốc gia Trong bối cảnh đó, giáo dục được xem là một trong những nhân tố quyết định tương lai của các dân tộc Điều đó đòi hỏi giáo dục phải phù hợp với thời đại

Do vậy các nước trên thế giới đã và đang tiến hành cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả cho nhu cầu phát triển của đất nước

Trong tương lai, nền giáo dục các nước đều hướng tới những tư tưởng của nền giáo dục hiện đại Giáo dục phải dựa trên bốn trụ cột (UNESCO đã xác định 4 trụ cột giáo dục trong thế kỉ XXI đó là): Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để tự khẳng định mình Bốn trụ cột này phải đặt trên nền tảng học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập (XHHT)

Xây dựng XHHT là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với đặc điểm thời đại và tình hình của đất nước Xây dựng và phát triển TTHTCĐ chính là xây dựng XHHT từ cơ sở TTHTCĐ là một loại hình giáo dục phù hợp với thực tiễn KT - XH và đặc điểm lao động sản xuất của đại đa

số nhân dân

Kết luận của Hội nghị TW 6 (khoá IX) chỉ rõ: "Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu phát triển thực tế của đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời"

Văn kiện Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ rõ: “ Phấn đấu xây dựng

Trang 9

nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước”; “chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, tạo nhiều khả năng cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục”

Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình xã hội; xây dựng xã hội học tập tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người dân được học tập suốt đời” Trong Văn kiện Đại hội

XI của Đảng phần cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội lại tiếp tục khẳng định “ Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005 đã xác định: Xây dựng XHHT là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân

25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, với những thành tựu phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội Giáo dục, đào tạo nước ta đã có sự phát triển mạnh mẽ về qui

mô, chất lượng và hiệu quả, ngày càng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với giáo dục cả nước, Giáo dục - Đào tạo tỉnh Thanh Hoá đang có những bước phát triển mạnh mẽ về mạng lưới trường lớp, về chất lượng hiệu quả, là một trong những tỉnh phát triển

Trang 10

TTHTCĐ sớm trong cả nước, tỉnh đã kịp thời ban hành Chỉ thị, Nghị quyết, quy chế tổ chức hoạt động của TTHTCĐ, tạo ra phong trào phát triển TTHTCĐ ở các địa phương Trước năm 2000, xuất hiện tự phát 3 trung tâm thì đến năm 2008 Thanh Hóa đã cơ bản thành lập xong các TTHTCĐ tại các xã, phường, thị trấn

Nằm trong bối cảnh chung của tỉnh Thanh Hoá, Hà Trung với dân số 108.824 người, vùng đất bán sơn địa, giàu truyền thống văn hoá và cách mạng, là huyện anh hùng trong kháng chiến đang tiếp tục được phát huy trong quá trình xây dựng và phát triển toàn diện

Thấm nhuần sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Hà Trung tập trung mọi nguồn lực cho GD - ĐT, xác định đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Thực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ khóa 19, huyện đã thực hiện Chương trình hành động với nhiều giải pháp phát triển KT - XH, an ninh, quốc phòng Trong đó, trên lĩnh vực giáo dục, đang tập trung phát triển toàn diện, vững chắc các cấp học, bậc học, ngành học về qui mô chất lượng và hiệu quả…đẩy mạnh xây dựng CSVC, xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Đẩy mạnh phong trào XHHGD, khuyến học, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở Năm 2003 mới có 1 TTHTCĐ, nhưng đến năm 2006 đã có 25/25 xã, thị trấn thành lập được TTHTCĐ Một số trung tâm đi vào hoạt động có nề nếp và hiệu quả Đến với trung tâm, người dân "cần gì, học nấy", giải đáp câu hỏi: "Trồng cây gì, nuôi con gì?", "Trồng hay nuôi như thế nào?", "Làm như thế nào để xóa đói giảm nghèo?" Đây là những vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống nên người dân tự giác đến học và có nơi còn tự nguyện đóng kinh phí Hình thành một đội ngũ giảng viên là những nông dân sản xuất giỏi, nghệ nhân, chuyên gia ở các ban, ngành, đoàn thể cùng tham gia Theo thống kê, đến năm 2010 đã có hơn 98.421 lượt người tham gia học

Trang 11

tập tại các TTHTCĐ Nội dung học tập chủ yếu là thông tin thời sự, chính sách, pháp luật, chuyển giao công nghệ, KH - KT; nâng cao chất lượng cuộc sống Điều đáng nói là, thông qua học tập tại TTHTCĐ, nhận thức của người dân được nâng cao, việc XHH các khoản đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chuyển đổi ruộng đất tiến hành dễ dàng và thuận lợi hơn so với trước đây Mặc dầu mới hình thành nhưng các TTHTCĐ ở Thanh Hoá nói chung, ở

Hà Trung nói riêng đã góp phần quan trọng trong việc giúp cộng đồng, đặc biệt là nông dân có cách để xóa đói giảm nghèo và giúp họ "khôn lên", góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên bên cạnh đó còn bộc lộ những hạn chế, đó là nhận thức về vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo các địa phương trong việc xây dựng TTHTCĐ còn chưa đầy đủ, mang tính hình thức Mặt khác sự hỗ trợ về kinh phí cho các TTHTCĐ, sự đầu tư lại chưa tương xứng, hầu hết các trung tâm hoạt động dựa vào CSVC, trang bị của xã, thị trấn Hầu hết lãnh đạo trung tâm đều kiêm nhiệm, chế độ phụ cấp còn ít ỏi và thiếu kinh nghiệm trong tổ chức, quản lý hoạt động Sự phối hợp giữa các TTHTCĐ với các cơ quan chuyên môn, các tổ chức chính trị, xã hội chưa thường xuyên, hiệu quả chưa rõ nét Phương pháp truyền đạt kiến thức của đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên ở các trung tâm còn nhiều bất cập, phần lớn giáo viên chưa có nghiệp vụ sư phạm, kinh nghiệm dạy học, nhất là đối với các đối tượng người học là nông dân lớn tuổi… Vì thế số trung tâm hoạt động hiệu quả chưa nhiều Theo đánh giá, khoảng 40 - 50% số TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả

Xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của ngành giáo dục, của toàn huyện,

là công việc khá mới mẻ đối với huyện nhà nói riêng và đối với nhiều địa phương khác trong tỉnh, trong cả nước nói chung

Là một người làm công tác quản lý Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện,

Trang 12

cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn đối với các TTHTCĐ, tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở làm thế nào để góp phần thúc đẩy các trung tâm học tập cộng đồng hoạt động thường xuyên và đạt hiệu quả cao Do đó tôi

chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của các

trung tâm học tập cộng đồng huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa” để nghiên

cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ xã, thị trấn thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý các TTHTCĐ

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

4 Giả thuyết khoa học

Có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa nếu đề xuất được một số giải pháp quản lý có cơ sở khoa học và có tính khả thi

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về TTHTCĐ

5.1.2.Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

5.1.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

5.2 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa dưới góc

độ quản lý giáo dục

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp lý thuyết, khái quát hoá các nhận định độc lập

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra; tổng kết kinh nghiệm giáo dục, lấy ý kiến chuyên gia…

6.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu

7 Những đóng góp của đề tài

- Đóng góp về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết, phân tích, khái quát hóa các nhận định độc lập để từ đó bổ sung về mặt lý luận hoạt động của TTHTCĐ

- Đóng góp về mặt thực tiễn: Thông qua khảo sát thực tiễn hoạt động của các TTHTCĐ phát hiện những khó khăn, tồn tại cần giải quyết trong công tác quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ xã, phường, thị trấn

Đề ra được các giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục các kí hiệu viết tắt, tài liệu tham khảo, kết luận và kiến nghị, luận văn có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 3 Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của

các TTHTCĐ huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về TTHTCĐ

Tổng Giám đốc UNESCO khu vực, ông Victor Ordonez, đánh giá như

sau: “Trung tâm học tập cộng đồng có thể coi là phát minh quan trọng nhất

mà bấy lâu nay thế giới đang tìm kiếm” Chính vì vậy, UNESCO đã và đang

nỗ lực biên soạn nhiều tài liệu tập huấn nhằm giúp cho các nhà lãnh đạo ở địa phương nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của Trung tâm học tập cộng đồng, giúp cho họ có năng lực quản lý và điều hành các Trung tâm học tập cộng đồng Xem việc xây dựng và phát triển Trung tâm học tập cộng đồng là một giải pháp quan trọng để phát triển cộng đồng ở mỗi quốc gia nhằm góp phần làm giảm sự cách biệt về trình độ dân trí giữa thành thị và nông thôn Đến năm 2006, riêng khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã có 41 nước xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, tiêu biểu như:

*Nhật Bản: Trung tâm học tập cộng đồng là một hình thức học tập tự

nguyện của người dân tại các xã, phường Mô hình này xuất phát từ các

"Terakoya" của Nhật Bản, xuất hiện khá phổ biến vào thế kỷ 19 với khoảng 15.000 trung tâm "Terakoya" là một trung tâm học tập quy mô nhỏ do tư nhân lập nên để làm nơi học tập cho người lớn Các trung tâm này đã giúp cho người dân Nhật Bản có được những kỹ năng biết chữ cơ bản và một số kiến thức hành dụng cần thiết trong cuộc sống Người Nhật đã khẳng định công cuộc hiện đại hóa Nhật Bản dựa một phần vào những công dân Nhật đã

được các "Terakoya" này đào tạo Số TTHTCĐ ở Nhật Bản phát triển từ năm

1947 có 3.543 trung tâm, đến năm 2002 có 17.947 trung tâm Riêng năm 2006

Trang 15

cả nước Nhật Bản có 18.000 TTHTCĐ hoạt động dưới sự bảo trợ của Nhà nước trung ương và địa phương cùng với 76.883 TTHTCĐ tự quản

*Thái Lan: Ở Thái Lan, giáo dục được tổ chức theo 5 khu vực hành

chính Để quản lý các hoạt động giáo dục thường xuyên ở mỗi khu vực hành chính có các trung tâm nguồn, ở cấp huyện có TTGDTX và cấp xã có TTHTCĐ Năm 2006 có 7 trung tâm nguồn (riêng thủ đô Băng Kốc có 3 trung tâm), 858 TTGDTX cấp huyện và 7.000 TTHTCĐ cấp xã Tổng biên chế cho các trung tâm này là 10.600 người (riêng số biên chế cho 7 trung tâm nguồn là 400 người)

Nguyên tắc điều hành và hoạt động của các TTHTCĐ ở Thái Lan:

- TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân Người đứng đầu trung tâm phải có định hướng cụ thể để phát triển trung tâm, đảm bảo để mọi người có

cơ hội được học tập

- TTHTCĐ hoạt động theo cơ chế mở Mọi người trong cộng đồng có thể đến học bất cứ lúc nào

- TTHTCĐ phải trở thành cầu nối thông tin giữa mọi người, gắn được việc học chữ và việc thực hành trong cuộc sống hàng ngày

- TTHTCĐ phải có mạng lưới liên kết với các cơ sở giáo dục, với các

tổ chức xã hội, các cơ sở sản xuất và các chuyên gia trên các lĩnh vực

Về chính sách quản lý các TTHTCĐ:

- Sử dụng TTHTCĐ như một công cụ quan trọng để điều hành và tổ chức hoạt động chung của cộng đồng

- Sử dụng tối đa nguồn lực và kinh nghiệm quản lý cộng đồng

- Kết hợp chặt chẽ với các chương trình giáo dục, với nhu cầu thực tế

và truyền thống của địa phương

- Cho phép mọi người trong cộng đồng sở hữu và đánh giá chất lượng, hiệu quả của trung tâm

Trang 16

- Phân công ít nhất một giáo viên tham gia quản lý các chương trình giáo dục của trung tâm

* Myanmar

Mô hình TTHTCĐ được xây dựng tại Myanmar từ năm 1994 Được sự trợ giúp của UNDP, UNESCO và các tổ chức phi chính phủ khác, đến nay Myanmar đã có 480 TTHTCĐ Ở đây TTHTCĐ được xác định là một cơ sở giáo dục taị một làng xã, nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy, được thành lập và quản lý bởi nhân dân địa phương, cung cấp cho nhân dân những cơ hội học tập đa dạng nhằm phát triển và cải thiện chất lượng cuộc sống TTHTCĐ

Nghiên cứu sự phát triển của các TTHTCĐ trên thế giới tôi thấy: Các nước trên thế giới đều rất quan tâm đến giáo dục cộng đồng, lấy cộng đồng làm mục tiêu và động lực cho sự phát triển giáo dục vì cộng đồng Sự cam kết, quan tâm của Chính phủ; sự tham gia của các lực lượng xã hội; sự đầu tư thích đáng của các nguồn lực; sự bình đẳng đối với các đối tượng hưởng thụ

- Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó trên thế giới Trước yêu cầu của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới kinh tế, văn hóa nước ta, cần

Trang 17

thiết phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển các TTHTCĐ Phải tạo điều kiện để người dân tham gia học tập thường xuyên, học tập

suốt đời

1.1.2 Sự phát triển TTHTCĐ của Việt Nam

1.1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng

Chủ trương phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng, xây dựng một nền giáo dục cho mọi người, xây dựng “xã hội học tập” Từ cơ sở của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, là những chủ trương mang tính chiến lược mà Đảng ta nêu lên bắt nguồn từ tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [ 30, Tr

46] Tư tưởng này phù hợp với xu thế thế giới

Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển Giáo dục - Đào tạo, trong đó xây dựng và phát triển các TTHTCĐ

là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được thể hiện qua các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước là:

- Nghị quyết TW4 khóa VII, Nghị quyết TW2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Kết luận Hội nghị TW 6, Hội nghị TW7 (khóa IX), Nghị quyết TW9 (khóa IX), Văn kiện Đại hội X của Đảng Chỉ thị 11- CT/TW của Bộ Chính trị khóa X

- Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ “Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành Đẩy mạnh đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình xã hội; xây dựng xã hội học tập tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người dân được học tập suốt đời”

Trang 18

Quyết định 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững và nhân rộng mô hình TTHTCĐ trên các địa bàn xã, phường, thị trấn trong cả nước nhằm thực hiện các chương trình XMC, giáo dục tiếp tục sau biết chữ và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư….”

Thông báo số 268/TB –VPCP ngày 24/12/2007 Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về mô hình tổ chức, quản lý và cơ chế tài chính của các TTHTCĐ đã chỉ rõ: “Xác định rõ tính chất hoạt động, vai trò, vị trí của các TTHTCĐ trong hệ thống giáo dục quốc dân là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng xã, phường, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân

cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm”;

Chỉ thị 02/2008/CT- TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ

đã yêu cầu: “Thực hiện các giải pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở GDTX, các TTHTCĐ, cơ sở dạy nghề, trong đó tập trung đổi mới nội dung, chương trình, tài liệu, phương pháp học tập đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân”

Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá, qua các thời kỳ, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND thường xuyên quan tâm, đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói riêng và

sự nghiệp nâng cao dân trí nói chung Bằng các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề

về giáo dục - đào tạo đã tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển GD-ĐT toàn diện, vững chắc Quan điểm về xây dựng XHHT được các cấp uỷ đảng, chính quyền quán triệt và sớm có văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện ở địa phương

Có thể có các cách đặt vấn đề khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho mọi người được học tập thường xuyên, đẩy mạnh thực hiện chủ

Trang 19

trương xây dựng XHHT từ cơ sở Các quan điểm đó được thể hiện ở các văn bản chủ yếu sau đây:

Quyết định số 3850/2005/QĐ-UBND ngày 12/2/2005 của UBND tỉnh Thanh Hóa, Quyết định số 753/2004/QĐ-UB ngày 16/3/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, Quyết định số 625/2005/QĐ-CT ngày 07/3/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc hỗ trợ kinh phí cho các TTHTCĐ ở

xã, phường, thị trấn

Chỉ thị số 02-CT/TU ngày 28/2/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Thanh Hóa, Chỉ thị số 14/CT-UBND ngày 01/4/2008 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, Nghị quyết số 48 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tỉnh Thanh Hóa, ngày 24/7/2004

Trong Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ 17 nhiệm kỳ

2010 - 2015 chỉ rõ: “ Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực của toàn xã hội cho phát triển giáo dục đào tạo; nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung tâm học tập cộng đồng; đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.”

Quán triệt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh Thanh Hóa, huyện Hà Trung, đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng xã hội học tập, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ

Thường vụ Huyện ủy Hà Trung đã có chỉ thị số 14-CT/HU (ngày 20/4/2003), Thông tri số 04 TT/HU (ngày 05/9/2003) của Ban thường vụ huyện ủy, HĐND, UBND huyện Hà Trung có nhiều Nghị quyết chuyên đề về phát triển giáo dục, xây dựng TTHTCĐ UBND huyện có Đề án “Xây dựng

xã hội học tập giai đoạn 2000 - 2010” định hướng đến năm 2015; Quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng TTHTCĐ; và nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cấp thực hiện

Trang 20

Đại hội Đảng bộ huyện Hà Trung lần thứ 20 nhiệm kỳ 2010 - 2015 xác định rõ: “ Thường xuyên đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hội khuyến học từ huyện đến cơ sở, các trung tâm học tập cộng đồng Quan

tâm đến bậc học mầm non.”

Tóm lại, trong quá trình lãnh đạo phát triển KT-XH, củng cố an ninh, quốc phòng, cấp uỷ và chính quyền tỉnh, huyện luôn luôn đề cao vai trò của giáo dục, thường xuyên quan tâm đầu tư, chỉ đạo để giáo dục phát triển theo hướng đa dạng hoá, nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân đều được học tập, đảm bảo sự công bằng trong giáo dục Biểu hiện rõ nhất là quan điểm xây dựng XHHT từ cơ sở, với nền tảng là xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ

1.1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức học tập cộng đồng

Sau hơn 80 năm sống dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến với chính sách của thực dân Pháp “ngu dân dễ cai trị”, 99% nhân dân ta bị mù chữ, nên ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vấn đề “giáo dục cho mọi người” và “mọi người cho giáo dục”, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”[32 Tr 8] Người mong “ai cũng được học hành” Người coi nhiệm vụ chống giặc dốt được xếp thứ hai ngay sau chống giặc ngoại xâm Người đã nhấn mạnh: “Nay chúng ta

đã giành độc lập Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí” Để nhanh chóng chống nạn mù chữ cho người dân, ngày 8/9/1945 Chính phủ ký sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ: Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học ít nhất 30 người theo học;

Trang 21

Sắc lệnh số 20/SL, công bố việc học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người và hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết

đọc, biết viết chữ Quốc ngữ

Đến tháng 10/1945, trong “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”,

Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam cần phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”.[ 32.Tr 36]

Tư tưởng “Giáo dục cho mọi người” còn được Hồ Chí Minh thể hiện rõ khi Người trả lời báo chí tháng 1/1946: “ Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn

tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành”.[32.Tr.161] Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ kêu gọi mọi người học tập, mà còn kêu gọi mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời Đây chính là một

tư tưởng tiến bộ đi trước thời đại của Người Trong bức thư gửi Quân nhân học báo (tháng 4/1946), Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn… Muốn biết thì phải thi đua học Học không bao giờ ngừng Học mãi để tiến bộ mãi Càng tiến bộ càng thấy phải học thêm”[33.Tr 489] Đối với nhân dân, Bác khuyên “Học hành là vô cùng, học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt”.[32.Tr 220] Muốn cho ai cũng được học hành, Chủ tịch

Hồ Chí Minh kêu gọi: “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đọc Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, người ăn người làm chưa biết thì chủ bảo, người giàu thì mở lớp ở tư gia dạy cho người không biết chữ ở làng xóm láng giềng Các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm

mỏ, nhà máy thì mở lớp cho tá điền, những người làm của mình” [ 32 Tr 309]

Trang 22

Như vậy, có thể nói đây là những cơ sở đầu tiên của hình thức học tập cộng đồng, giáo dục cộng đồng, là những TTHTCĐ đầu tiên ở Việt Nam, với nhiệm vụ nhanh chóng thanh toán nạn mù chữ cho người dân lao động.“Từ chiến dịch chống nạn mù chữ năm 1945 - 1946 sau này đã trở thành những kinh nghiệm quốc tế đến tận cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI (Tuyên ngôn Jomtien - Thái Lan năm 1990 và khuôn khổ hành động Dakar - Sengal năm

2000 về giáo dục cho mọi người), đó là sự cam kết, quan tâm của chính phủ;

sự tham gia của các lực lượng xã hội; sự đầu tư thích đáng của các nguồn lực;

sự bình đẳng đối với các đối tượng hưởng thụ” [26.Tr 28]

1.1.2.3 Tình hình phát triển TTHTCĐ ở Việt Nam

Trong năm đầu thập kỷ 21, Chính phủ Việt nam đã phê duyệt Chiến lược phát triển Giáo dục đào tạo trong giai đoạn 2001-2010 Về lĩnh vực giáo dục không chính thống (Mục giáo dục thường xuyên) chiến lược đề cập: “Sự phát triển của NFE sẽ tạo ra những thuận lợi cho mọi người được học tập lâu dài sự phát triển này cũng phù hợp với những cơ hội và khả năng của người học để nâng cao tri thức, đào tạo nguồn lực con người đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Trên cở sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức giới thiệu chương trình phát triển Trung tâm học tập cộng đồng trên cả nước

Từ năm 1998 đến năm 2000, UNESCO đã viện trợ tài chính cho việc lập ra 7 TTHTCĐ Hiệp hội Quốc gia các Tổ Chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ) đã hỗ trợ 41 TTHTCĐ tại Việt Nam Những trung tâm này được xây dựng ở các xã khó khăn của các tỉnh miền núi phía bắc như Hoà Bình, Lai Châu, Hà Giang và chủ yếu dành để làm công tác xóa mù chữ, hướng dẫn

kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi cho người dân Tính từ khi xây dựng những Trung tâm học tập cộng đồng đầu tiên cho tới nay, thời gian vừa tròn 10 năm Trong khoảng thời gian đó, số lượng trung tâm học tập cộng đồng đã tăng lên rất nhanh Năm học 1998 - 1999, cả nước chỉ có 10 Trung tâm được xây dựng

Trang 23

thí điểm với sự hỗ trợ kinh phí của Nhật Bản Tính đến năm học 2010 - 2011,

số trung tâm tăng lên trên 9.600 Theo quyết định 112/2005/QĐ - TTg (ngày 18/5/2005) của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2010 phải phấn đấu để 80% số

xã phường trong cả nước có trung tâm học tập cộng đồng Nhưng chỉ đến cuối năm 2008, chỉ tiêu này đã được thực hiện, vượt quá mức qui định về thời gian

là 2 năm Hiện tượng đó nói lên rằng, nhân dân ta rất quan tâm đến loại hình giáo dục này Qua thực tiễn, cấp ủy Đảng, chính quyền nhiều tỉnh, thành phố

đã xác nhận TTHTCĐ không chỉ là công cụ thiết yếu để xây dựng XHHT từ

cơ sở mà còn là công cụ quan trọng để địa phương thúc đẩy đổi mới phát triển

KT - XH

TTHTCĐ đã góp phần đẩy mạnh việc củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác XMC - PCGDTH, nâng tỷ lệ PCGDTH đúng độ tuổi và tăng tỷ lệ người biết chữ

TTHTCĐ đã góp phần ổn định chính trị - xã hội, xây dựng khối đoàn kết nội bộ trong nhân dân và mối liên kết giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội trong cộng đồng xã, phường, thị trấn

TTHTCĐ đã góp phần nâng cao nhận thức về Hiến pháp và Pháp luật Hầu hết các TTHTCĐ đều đem đến cho nhân dân sự hiểu biết về hiến pháp, pháp luật và nếp sống văn hoá mới Các TTHTCĐ đã góp phần giúp người lao động biết cách xóa đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính đáng thông qua việc truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn Nhiều chuyên đề mới đã được ứng dụng và được thực tiễn đúc rút thành những bài học quý như nuôi ba ba thịt, ba ba giống ở xã Cảnh Thụy (Yên Dũng - Bắc Giang), Quận 12 (Tp Hồ Chí Minh), Đức Thuỵ (Quảng Bình); nuôi heo, bò, ong, cá bằng phương pháp áp dụng công nghệ mới ở tỉnh Đồng Nai Rất nhiều TTHTCĐ đã giúp bà con nông dân nuôi tôm, lợn hướng nạc, gà siêu trứng, bò sữa [ 23 Tr 21] TTHTCĐ góp phần thúc đẩy việc

Trang 24

thực hiện các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”

ở cộng đồng dân cư Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình xây dựng và phát triển TTHTCĐ còn có nhiều khó khăn, yếu kém

và bất cập, cụ thể là:

+ Về chỉ đạo, các TTHTCĐ hoạt động trong điều kiện văn bản pháp lý từ các

Bộ, Ngành chưa được triển khai thực hiện đồng bộ ở các địa phương

+ Các TTHTCĐ thiếu điều kiện làm việc, đến nay trên toàn quốc mới có khoảng 20 -23 % số TTHTCĐ có trụ sở riêng, 44,83% số TTHTCĐ có tủ sách riêng, 19-21 % số TTHTCĐ có phòng thiết bị riêng [23.Tr 15] Nguồn lực để

tổ chức và duy trì hoạt động của các TTHTCĐ chủ yếu dựa vào tinh thần trách nhiệm của ngành GD&ĐT, của Hội Khuyến học và chính quyền địa phương; lòng nhiệt tình của người dạy và người học

+ Nội dung, chương trình và hình thức tổ chức dạy học tuy đã được cải thiện song chưa đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân Việc tuyên truyền người học XMC còn nhiều hạn chế và hình thức tổ chức cho người lao động học tập còn nghèo nàn Mặt khác, do chưa có cơ chế phối hợp, phân rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành từ trung ương đến các đơn vị cơ cở nên nhiều ngành, tổ chức xã hội chưa có trách nhiệm hỗ trợ cho các TTHTCĐ hoạt động

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1 2.1 Trung tâm học tập cộng đồng:

TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm

Trang 25

TTHTCĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng Chức năng của TTHTCĐ: Hoạt động của TTHTCĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người, ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng; là nơi thực hiện việc phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật

đến với mọi người dân

Nhiệm vụ của TTHTCĐ:

+ Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác XMC và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng PCGD; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộng đồng; phối hợp triển khai các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các dự án, chương trình tại địa phương

+ Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, TDTT, đọc sách báo, tư vấn, khuyến học, giáo dục cho con em nhân dân phòng chống tệ nạn

1.2.2 Các hoạt động giáo dục của TTHTCĐ

Chương trình giáo dục, kế hoạch học tập:

+ TTHTCĐ thực hiện các chương trình giáo dục qui định tại khoản 1, điều 4 của qui chế

Trang 26

+ Giám đốc TTHTCĐ xây dựng kế hoạch dạy học và thời gian biểu cụ thể phù hợp với từng chương trình giáo dục

Tài liệu học tập: TTHTCĐ sử dụng tài liệu do các Bộ, Ngành, các cơ quan chức năng có liên quan biên soạn; các tài liệu địa phương do Sở GD&ĐT và các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền qui định hoặc tài liệu do các nhà chuyên môn có kinh nghiệm biên soạn

Bộ GD& ĐT thì được TTGDTX cấp huyện cấp chứng chỉ

+ Học hết các chương trình khác qui định tại khoản 1 Điều 4 Quy chế thì tùy theo nội dung, thời gian học, Giám đốc TTHTCĐ xác nhận kết quả học

1.2.3 Tính chất giáo dục của TTHTCĐ

- Đây là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân đáp ứng nhu cầu “cần gì học nấy”, “học để làm ngay”, “vừa học vừa làm” một cách thường xuyên, liên tục, học suốt đời của cán bộ và các tầng lớp nhân dân

- Đây là nền giáo dục phổ cập

- Đây là nền giáo dục hết sức đa dạng về nội dung, về hình thức tổ chức

- Trong quá trình giáo dục luôn diễn ra sự kết hợp hài hoà giữa giáo dục và

đời sống của người dân

Trang 27

1.2.4 Mục tiêu của TTHTCĐ

TTHTCĐ được thành lập ra nhằm cung cấp cơ hội học tập cho mọi

người trong xã, phường, thị trấn để: Phát triển nguồn nhân lực; cải thiện đời

sống và phát triển cộng đồng; xây dựng XHHT và góp phần thực hiện sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương Xã, phường, thị trấn

là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống tổ chức nhà nước, là cấp trực

tiếp nhất, gần dân nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nền tảng của mọi công tác là cấp xã" [ 34.Tr 458] và “ cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi ”

[33.Tr 371] Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi cụ thể hoá thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội Ở đây mọi thành viên gắn bó mật thiết bằng sinh hoạt cộng đồng, dòng họ, luôn luôn phát huy truyền thống

cố kết, ý thức tự lực, tự cường, lòng yêu quê hương đất nước, thực sự là nền tảng của xã hội có tính bền vững cao

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới thu được nhiều kết quả tốt đẹp đã làm cho bộ mặt nông thôn có sự thay đổi đáng

kể về mọi mặt theo hướng hiện đại hoá Tuy nhiên, một bộ phận nhân dân trình độ thấp, năng lực còn hạn chế, tư tưởng còn lạc hậu, chưa tiến bộ, đời sống còn thấp kém Việc bổ sung kiến thức, năng lực là việc làm cần thiết đặc biệt là sự thay đổi trong nhận thức để tìm ra cách đi mới, cách làm mới cho theo kịp thời đại

Chương trình tạo thu nhập (TTN) là một loại chương trình GDTX giúp người học tiếp thu hoặc nâng cao các kỹ năng nghề nghiệp để họ tiến hành những hoạt động tạo thu nhập Mục đích chính của chương trình TTN là cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người tham gia chương trình Trọng

Trang 28

tâm của chúng ta là xoá đói, giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực

Các chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống có ý nghĩa đặc biệt vì

nó liên quan trực tiếp đến việc cải thiện, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho người lao động; xây dựng môi trường trong sạch; tăng cường sức khoẻ cho cá nhân, cho cả cộng đồng; tạo sự phát triển kinh tế - xã hội có kế

hoạch

Xây dựng XHHT là một xã hội mọi người đều được học hành bằng hình thức giáo dục chính quy, không chính quy và tự học ở trong nhà trường và ngoài nhà trường, học thường xuyên, học suốt đời, học chữ, học nghề, học làm người, học để biết, học để làm việc, để chung sống, để phát triển cá nhân

và cộng đồng Đồng thời, mỗi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp phần xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo Góp phần thực hiện sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương

TTHTCĐ là nơi nhân dân ai cũng được đến đó để học chữ, học nghề,

được tập huấn kỹ thuật, nghe phổ biến các kiến thức phổ thông để ăn ở, vệ sinh, nuôi con khoẻ, dạy con ngoan, gia đình sống hoà thuận hạnh phúc… Học tập được kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, góp phần nâng cao mức sống trong xã hội, làm giàu đẹp cho quê hương

1.2.5 Nội dung và phương pháp học tập ở các TTHTCĐ

1.2.5.1 Nội dung

Ở TTHTCĐ người dân học những nội dung gì? Đây là vấn đề không nhỏ đặt ra cho mỗi trung tâm Với phương châm “cần gì học nấy”, “ học để làm ngay”, trên cơ sở thực tiễn của từng địa phương để có những lựa chọn nội dung học tập cho phù hợp Tuy nhiên, ta có thể khái quát vào năm nhóm chức năng sau đây:

Nhóm thứ nhất là "học văn hóa" bao gồm học chương trình XMC, sau

Trang 29

XMC, BTVH

Nhóm thứ hai là "chuyển giao" bao gồm bồi dưỡng, cập nhật những

kiến thức về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, chuyển giao công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất

Nhóm thứ ba là "cung cấp thông tin" bao gồm phổ biến thông tin

thời sự, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến và

giải thích Pháp luật

Nhóm thứ tư là "nâng cao chất lượng cuộc sống" bao gồm sinh hoạt

văn hoá, văn nghệ, thể thao, tư vấn những vấn đề về sức khoẻ, nghề nghiệp, bảo vệ môi trường, cuộc sống,

Nhóm thứ năm là "học nghề" chủ yếu nghề thủ công ( mây tre đan,

thêu ren, làm chiếu), nghề chăn nuôi (nuôi trâu, bò, dê, nuôi gà, nuôi vịt, nuôi

cá, trồng rừng, trồng cây công nghiêp ngắn ngày )

Những nội dung trên phù hợp với nhu cầu học tập của các loại đối tượng trong cộng đồng dân cư, đáp ứng nhu cầu hiểu biết để nâng cao chất lượng cuộc sống Trong chương trình đó, một người có thể học đồng thời nhiều nội dung

Nội dung học tập được thể hiện qua một số chương trình học tập sau:

Chương trình tương đương nhằm nâng cao trình độ văn hoá ứng với các lớp phổ thông, nhằm cung cấp những kiến thức hành dụng để người học vận dụng vào sản xuất, đời sống hàng ngày nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần thực hiện các mục tiêu KT - XH của cộng đồng, đất nước Đó là các chương trình XMC, BTVH tiểu học, THCS, tin học, ngoại ngữ thông dụng

Chương trình tạo thu nhập nhằm giúp người lao động biết cách xoá đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu

Trang 30

chính đáng thông qua việc tư vấn, chuyển giao khoa học công nghệ, truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn

Chương trình học theo sở thích nhằm khuyến khích và tăng cường các hoạt động học tập để làm tăng khả năng của mỗi người trong việc sử dụng thời gian, cải thiện cuộc sống và tự khẳng định mình

Chương trình định hướng tương lai nhằm cung cấp cho nông dân, công nhân, các nhà chuyên môn, các nhà lãnh đạo, các doanh nhân, những

người lập kế hoạch, những kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật mới nhằm làm cho họ thích ứng được với những biến đổi nhanh chóng về công nghệ trong thời đại ngày nay

đó có nghĩa là cần có sự tương tác tích cực giữa người dạy và người có học trong một môi trường học tập năng động

Không có phương pháp nào là tuyệt đối trong giảng dạy học tập cộng đồng Do vậy, việc giảng dạy tại TTHTCĐ, cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau tuỳ theo mục tiêu học tập Vì vậy trong cùng một thời gian cần phối hợp nhiều phương pháp nhằm phát huy ưu điểm cũng như hạn chế tối đa nhược điểm của từng phương pháp Liên kết và phối hợp là phương thức hoạt động chủ yếu của TTHTCĐ Đối tượng đến học tập tại TTHTCĐ là mọi người dân có thể là cá nhân hay một nhóm đại diện cho một tổ chức, thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi trình độ văn hoá từ mù chữ đến sau đại học Họ tham gia các hình thức học tập tuỳ theo nhu cầu cá nhân,cần gì học nấy

Trang 31

1.2.5.3 Hình thức học tập

Phương thức hoạt động và đối tượng người học phong phú và đa dạng như vậy, nên các hình thức tổ chức hoạt động của TTHTCĐ rất đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo để tạo điều kiện tốt nhất cho người học theo các hình thức sau:

Học tập không theo cấp lớp, trình độ văn hoá, lứa tuổi, giới tính: Các buổi nói chuyện; các lớp học theo chuyên đề; các lớp tập huấn chuyển giao ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế

xã hội, hướng nghiệp; Hội thảo đầu bờ (tại chỗ); các hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về các chủ đề khác nhau; các câu lạc bộ; Tham quan thực tế; tổ chức hội thi, giao lưu văn hoá,…

Các lớp học theo cấp, lớp, có qui chế chặt chẽ để lấy văn bằng, chứng chỉ như: các lớp XMC, BTVH, học nghề, ngoại ngữ, tin học…

Các buổi tư vấn về giáo dục, khuyến học, tự học, giáo dục từ xa, khuyến nông - lâm - ngư nghiệp với những cá nhân, gia đình hay nhóm dân

cư có nhu cầu

Tóm lại, việc học tập ở các TTHTCĐ với nhiều loại đối tượng, đa dạng

về nội dung, phong phú về hình thức học tập với mục tiêu cuối cùng là nhằm trang bị cho học viên những kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để họ có khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn xã hội

1.2.6 Nguồn lực của TTHTCĐ

TTHTCĐ là cơ sở giáo dục không chính quy, ngoài công lập, do dân lập để phục vụ nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc học tập của nhân dân, coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhưng ngân sách nhà nước còn rất nhiều khó khăn nên chỉ hỗ trợ một phần, còn nguồn lực chính phải phát huy sức mạnh của cả cộng đồng Việc huy động các nguồn lực phải theo phương thức “xã hội hóa”,

Trang 32

không trông chờ vào cấp trên mà phải tận dụng các nguồn lực ngay tại cộng đồng Nguồn lực gồm nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực

*Nhân lực

Bộ máy tổ chức: Mỗi TTHTCĐ có một Ban giám đốc gồm đại diện lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể của xã, phường, thị trấn; đại diện các trường Tiểu học, THCS do Chủ tịch UBND huyện ra quyết định thành lập

Giảng viên, giáo viên, hướng dẫn viên: Gồm những người có trình độ, chuyên môn kỹ thuật của các ban ngành, đoàn thể các cấp; cán bộ, kỹ sư, bộ đội, giáo viên đã nghỉ hưu, các cụ cao tuổi, các cựu chiến binh, lão thành cách mạng, các nghệ nhân, người lao động giỏi ở các cơ sở sản xuất, giáo viên các TTGDTX, các trường tiểu học, THCS, THPT, các trường Đại học, Cao đẳng và những người khác ở địa phương

*Vật lực có thể tận dụng ngay những cái sẵn có ở địa phương như hội

trường của UBND xã, nhà văn hoá, Có thể mượn, tận dụng CSVC của các trường học trong những ngày nghỉ, và sẽ mua sắm dần

*Tài lực Nguồn tài chính để xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị,

tài liệu học tập, bồi dưỡng giảng viên, báo cáo viên, tổ chức các hoạt động của trung tâm được lấy từ các nguồn: Kinh phí ngân sách xã, thị trấn hằng năm được HĐND xã, thị trấn phân bổ; sự hỗ trợ ban đầu và hằng năm từ ngân sách nhà nước; kinh phí các chương trình hoặc dự án; kinh phí tập huấn của các ban, ngành, đoàn thể góp vào; kinh phí thu từ các hoạt động của trung tâm; huy động sự đóng góp, tài trợ, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân,…

* Tin lực Một nguồn lực không thể thiếu trong TTHTCĐ là thông

tin Các thông tin này có thể tìm kiếm, khai thác ở Internet để phục vụ cho cộng đồng Ngoài ra, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng có thể khai thác những gương điển hình tiên tiến, những bài học về nâng cao chất

Trang 33

lượng cuộc sống, các tin tức về chính trị, xã hội,

1.2.7 Quản lý các TTHTCĐ

1.2.7.1 Khái niệm về quản lý

Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của loài người Xã hội phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức điều hành cũng khác nhau theo chiều hướng càng được nâng lên Ngày nay quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi nơi, ở mọi chỗ, mọi cấp và liên quan đến mọi người Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:

- “Quản lý: 1.Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định 2 Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.[36.Tr.742]

- “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu

của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.[27.Tr 15]

- “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [27.Tr 15]

- “ Hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của người quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ

chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[ 16 Tr.12]

- “Quản lý mọi hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phù hợp những nỗ lực mỗi cá nhân với tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu xác định”.[46.Tr 16]

- “ Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”.[46 Tr 12]

Trang 34

Từ những quan điểm trên, ta có thể khái quát hoạt động quản lý theo cách hiểu như sau: Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức

Qua những định nghĩa trên, ta thấy rõ quản lý có những nét đặc trưng

cơ bản về bản chất của hoạt động quản lý như sau:

- Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể và khách thể quản lý "Ai quản lý?" đó là chủ thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một người hoặc một tổ chức

"Quản lý ai?", "quản lý cái gì?", "quản lý sự việc gì?" đó là khách thể quản lý Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức hay là sự vật cụ thể, cũng

có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn

- Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, "Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lý" [46.Tr 23] Chủ thể quản lý thực hiện các tác động thông qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch

- Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt, gắn với lao động tập thể và là kết quả của sự phân công lao động xã hội, nhưng lao động quản lý lại có thể phân chia thành một hệ thống các dạng hoạt động xác định mà theo

đó chủ thể quản lý có thể tác động vào đối tượng quản lý Các dạng hoạt động xác định này được gọi là chức năng quản lý Trong mọi quá trình quản lý, người CBQL phải thực hiện một dãy chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách lôgíc, bắt đầu từ lập kế hoạch rồi tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và cuối

Trang 35

cùng là kiểm tra đánh giá Quá trình này được tiếp diễn một cách "tuần hoàn"

và được gọi là chu trình quản lý Ta có thể hiểu chu trình quản lý gồm các chức năng sau: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra Quản lý cần có thông tin nhiều chiều Thông tin là nền tảng của quản lý Do vậy, có thể coi thông tin là chức năng đặc biệt cùng với 4 chức năng đã nêu trên Mối quan

hệ giữa các chức năng quản lý được thể hiện tại theo sơ đồ sau đây:

Sơ đồ: Các chức năng cơ bản của quản lý

1.2.7.2 Khái niệm về quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội Lĩnh vực này ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống; giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển

Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần QLGD

là sự điển hình nhất vì đây là quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách Sự hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài

Một vài định nghĩa về quản lý giáo dục:

Kế hoạch

Chỉ đạo

Thông tin quản lý

Trang 36

- “ Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối

và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế

hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.[ 37.Tr 22]

- “ Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.[ 44Tr 85]

- “ Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt đến mục tiêu của nó”.[16.Tr.15]

- QLGD cũng có những chức năng cơ bản là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản lý và chu trình quản lý

- Nội dung QLGD là quản lý các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục tổng thể, gồm có: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục, đồng thời quản lý CSVC, thiết bị dạy học, giáo dục, môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục

Tóm lại, quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trình dạy học giáo dục diễn ra ở tất cả các cấp học, bậc học và cơ sở giáo dục, làm cho quá trình đó vận động đúng hướng, đúng đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước

1.2.7.3.Giải pháp quản lý giáo dục:

- Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định…tiến tới

Trang 37

nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng ưu việt, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt ra Tuy vậy, để có được những giải pháp đó, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn khách quan, khoa học và chính xác

- Giải pháp QLGD là những cách thức tác động của chủ thể quản lý hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của hệ thống giáo dục, làm cho

cả hệ thống đó vận hành đạt kết quả cao nhất

1.2.7.4 Quản lý TTHTCĐ

- TTHTCĐ là một hình thức giáo dục không chính quy, của dân, do dân,

vì dân, do cấp uỷ Đảng chỉ đạo, UBND địa phương đứng ra thành lập và quản

lý Như vậy, quản lý TTHTCĐ do UBND xã, phường, thị trấn thực hiện

“ TTHTCĐ do UBND cấp xã quản lý trực tiếp và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của phòng giáo dục và đào tạo”.[6.Tr 2]

- Theo nghĩa là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động”, quản lý

+ Cách thức tiến hành: huy động cộng đồng vào việc tổ chức thực

hiện các chương trình; Khuyến khích học viên tham gia các chương trình được tổ chức tại trung tâm; giám sát việc thực hiện chương trình theo đúng tiến độ; tổ chức các hoạt động nhằm thắt chặt mối quan hệ giữa cộng đồng với trung tâm

Như vậy, quản lý các TTHTCĐ là một quá trình quản lý cả về CSVC lẫn con người, quá trình tổ chức và điều khiển các hoạt động của TTHTCĐ

Trang 38

1.3 Hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ

1.3.1 Giải pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ:

Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề khó khăn Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định, tiến tới nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng ưu việt, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt ra Tuy vậy, để có được những giải pháp đó cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn khách quan, khoa học và chính xác Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ là cách giải quyết những khó khăn, tồn tại và bất cập trong hoạt động của TTHTCĐ nhằm đưa TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả; cho mọi người dân ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, áp dụng những kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm vào sản xuất và đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng

1.3.2 Hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ

Hiệu quả là kết quả đích thực Hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ là làm cho người dân ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, áp dụng những kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm vào sản xuất và đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng

1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ

Hoạt động của các TTHTCĐ ở huyện Hà Trung còn có những tồn tại và bất cập nhất định do chưa có hệ thống giải pháp phù hợp Các cấp, các ngành

và ngay các TTHTCĐ còn chưa chú trọng đúng mức đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ, từ xây dựng kế hoạch đến quản lý nội dung

Trang 39

các chương trình học tập, quản lý tổ chức các hoạt động học tập còn chưa bài

bản, khoa học Cán bộ quản lý của một số trung tâm còn lúng túng, thực hiện

các chức năng của quản lý giáo dục chưa hiệu quả Tính khoa học và tính khả

thi của kế hoạch còn chưa cao vì chưa phối hợp chặt chẽ với các ban ngành,

đoàn thể xã hội và chưa thực sự dựa vào thực tế nhu cầu học tập của người

dân ở địa phương Nhu cầu học tập của nhân dân, đặc biệt là nông dân là rất

lớn và đa dạng, trong khi đó các TTHTCĐ mới chỉ đáp ứng được phần nào,

có những nơi còn bộc lộ tính hình thức trong tổ chức học tập, chất lượng và

hiệu quả còn hạn chế Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động của các TTHTCĐ

chưa thường xuyên, chưa kịp thời Các điều kiện đảm bảo cho cán bộ quản lý

làm việc, cho việc tổ chức các hoạt động của TTHTCĐ chưa đáp ứng yêu cầu

Vai trò các trường học trên địa bàn đối với TTHTCĐ còn “mờ nhạt” Chỉ đạo

của Phòng GD & ĐT chưa thực sự sâu sát, thiếu chuyên viên chuyên trách có

kinh nghiệm…

Tiểu kết chương 1

Nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ là một đòi hỏi có tính

khách quan nhằm duy trì sự phát triển bền vững TTHTCĐ, đáp ứng yêu cầu

phát triển KT - XH Chính vì vậy, để các TTHTCĐ phát triển đáp ứng nhu

cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của nhân dân, góp phần nâng cao

dân trí và xóa đói giảm nghèo, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

thì việc sử dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ

trên địa bàn huyện Hà Trung là hết sức cần thiết cả trước mắt và lâu dài

Trang 40

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và phát triển giáo dục huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Đặc điểm địa lý, dân cư, dân số

2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên:

Hà Trung là một huyện nằm về phía Bắc của tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 21 km về phía bắc, có Quốc lộ 1A đi qua với chiều dài khoảng 8 km (Từ cầu Đò Lèn đến cầu Tống Giang) Có vị trí địa lý phía Đông giáp huyện Nga Sơn, phía Tây giáp huyện Vĩnh Lộc, phía Nam giáp huyện Hậu Lộc phía Bắc giáp thị xã Bỉm Sơn và huyện Thạch Thành; Diện tích đất

tự nhiên 244 km2 Huyện có thuận lợi về giao thông, cận kề khu kinh tế động lực phía bắc Tỉnh Thanh Hóa (Bỉm Sơn, Thạch Thành), gần thành phố Thanh Hóa và thị xã Bỉm Sơn, có điều kiện để giao lưu, phát triển mọi mặt Với địa hình bán sơn địa, đồng ruộng trũng, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng lớn của thời tiết, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, vốn đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ,

xây dưng nông thôn mới

Huyện Hà Trung thuộc vùng khu IV (cũ), một mặt mang những đặc điểm chung của khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu Bắc Bộ, mặt khác khí hậu mang những đặc điểm riêng của tiểu vùng Bắc Trung Bộ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,50C Lượng mưa trung bình khoảng 1800 mm Độ ẩm không khí bình quân là 84,5%

2.1.1.2 Dân số, dân cư, nguồn nhân lực

Huyện Hà Trung có 24 xã và 01 thị trấn, có 196 thôn và 06 tiểu khu , với dân số vào thời điểm cuối năm 2010 khoảng 108824 người, với 31885 hộ

Ngày đăng: 03/10/2021, 17:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w