Trong đó, tác gỉa đã chỉ ra các giải pháp bám sát chu trình QL và tập trung vào đổi mới PP dạy học Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra được sự phối hợp giữa các giải pháp để tăng cường hiệu
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
LÊ THỊ LAN ANH
CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, QUẬN THANH
XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS NGUYỄN THỊ MỸ TRINH
Vinh - 2011
Trang 2Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các giáo sư, tiến sỹ,… khoa Sau đại học trường Đại học Vinh, các thầy cô giáo đã quản lý, giảng dạy, cung cấp tài liệu hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh - Cô giáo đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và hướng dẫn
tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Đảng ủy, UBND, HĐND Quận Thanh Xuân, phòng Giáo dục và Đào tạo Thanh Xuân, cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh các trường THCS trên địa bàn Quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội cùng bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện, động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện hoàn thành luận văn, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận được những
ý kiến từ phía Hội đồng chấm luận văn khoa học giáo dục trường Đại học Vinh và những ý kiến đóng góp của các Thầy, các Cô, các nhà khoa học Giáo dục, bạn bè đồng nghiệp và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, ngày 07 tháng 12 năm 2011
Tác giả
Lê Thị Lan Anh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Từ, cụm từ viết tắt
Trang 3BP; BPQL Biện pháp; Biện pháp quản lý
CL; CLGD Chất lượng; Chất lượng giáo dục CLDH Chất lượng dạy học
ND; NDCT Nội dung; Nội dung chương trình
PP; PPDH Phương pháp; Phương pháp dạy học
Trang 4Việt Nam bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của CNH, HĐH với nền KT tri thức cùng nhiều cơ hội và thách thức Để nắm bắt cơ hội phát triển, khắc phục và chuyển hoá khó khăn, cần phải nhanh chóng nâng cao CLGD & ĐT, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới Trong kết luận của Hội nghị Trung ương VI, khoá IX của Đảng CSVN đã khẳng định một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao
CLGD & ĐT là "Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về giáo dục.,,
Trong năm học 2009-2010 và năm học 2010-2011 Bộ GD&ĐT đã định hướng rất rõ mục tiêu nhiệm vụ chính của ngành GD & ĐT qua chủ để năm học
“Đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục” Những đổi mới trong
công tác QLGD nói chung và quản lý HĐDH trong các nhà trường được xem là khâu đột phá để nâng cao CLHT của người học, từ đó thực hiện thành công các mục tiêu GD đặt ra
Môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách
HS Vẻ đẹp thiên nhiên, truyền thống lịch sử, văn hóa cùng với tài hoa của con người Việt Nam đã được ghi lại trong văn học Qua học văn chương giúp chúng ta cảm nhận được tâm hồn Việt Nam: yêu nước, cần cù, sáng tạo, thanh lịch, tài hoa,
tế nhị, hiếu học, trọng lễ nghĩa…Ngay từ lúc còn bé thơ, trẻ em được tắm trong dòng văn học dân gian qua những lời ru, những câu chuyện của bà, của mẹ Lớn lên, con người lại được văn học chắp cánh ước mơ đến với một thế giới công bằng, đầy ắp tình yêu thương Cùng với năm tháng, nhận thức của các em cũng lớn lên, văn học lại giúp HS hiểu được giá trị và những vẻ đẹp của cuộc sống
Từ đó, tình yêu thương quê hương đất nước, yêu con người Việt Nam, yêu cuộc sống được hình thành trong tâm hồn các em Ngữ văn là môn học cơ bản trong nhà trường phổ thông có nhiệm vụ trau dồi kiến thức văn học cũng như rèn luyện kỹ năng nói và viết cho HS; ngoài ra còn góp phần hình thành nhân cách, đạo đức và nuôi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc cho chúng
Trang 5Thực tiễn cho thấy trong những năm gần đây có sự suy giảm CL đến mức đáng báo động về dạy và học môn Ngữ văn trong trường phổ thông Trong các kỳ thi ở phổ thông, tuyển đầu vào ở đại học có nhiều bài phân tích, bình giảng văn, thơ của các sỹ tử đã khiến GV chấm thi phải lên tiếng trước công luận rằng: HS ngày nay cảm thụ các tác phẩm văn học bằng những kiểu suy nghĩ bất thường, HS không biết rung cảm, đồng điệu trước những áng văn hay giàu giá trị nhân văn, thậm chí nhiều em không biết cách biểu thị suy nghĩ, quan điểm của bản thân bằng ngôn ngữ viết một cách mạch lạc Điều đó cho thấy CLDH môn Ngữ văn chưa đáp ứng được yêu cầu của XH và thời đại
Không nằm ngoài quy luật đó, thực trạng CLDH môn học Ngữ văn ở các trường THCS trên địa bàn Quận Thanh Xuân, Hà Nội hiện nay còn khá thấp Một trong những nguyên nhân là các trường THCS trên địa bàn chưa có các BP hữu hiệu để QL hoạt động DH môn Ngữ văn
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp
quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số BPQL nhằm nâng cao CL HĐDH môn Ngữ văn, từ đó góp phần nâng cao CL dạy và học môn Ngữ văn và CLGD học sinh trong nhà trường THCS trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
2.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý HĐDH môn Ngữ văn ở các trường THCS
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Các BPQL nhằm nâng cao chất lượng HĐDH môn Ngữ văn ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
Trang 64 Giả thuyết khoa học:
Nếu xác định được các BPQL mang tính khoa học, khả thi thì có thể nâng cao chất lượng HĐDH môn Ngữ văn ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý HĐDH môn Ngữ văn ở các trường THCS
4.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý HĐDH Ngữ văn ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
4.3 Đề xuất và thăm dò tính cần thiết, khả thi của một số BPQLnhằm nâng cao chất lượng HĐDH môn Ngữ văn ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu một số BPQL HĐDH môn Ngữ văn của hiệu trưởng ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội Đó là các trường trong khôi công lập: Trường THCS Việt Nam - Angieri; trường THCS Kim Giang; Trường THCS Khương Đình; Trường THCS Khương Mai;Trường THCS Nhân Chính; Trường THCS Phương Liệt; Trường THCS Thanh Xuân Bắc; Trường THCS Thanh Xuân Nam; Trường THCS Phan Đình Giót
Đề tài tiến hành khảo sát trên các đối tượng cụ thể sau: 27 CBQL (9 Hiệu trưởng; 9 Hiệu phó; 9 Tổ trưởng CM); 46 GV dạy Ngữ văn; 120 HS của các khối lớp của các trường THCS
7 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các PP phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá các tài liệu lí luận, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước có liên quan
Trang 7đến GD&ĐT, CL HĐDH nói chung và DH môn Ngữ văn nói riêng để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra
Chúng tôi xây dựng và sử dụng một hệ thống câu hỏi (xem phụ lục) để trưng cầu ý kiến của các CBQL và GV môn Ngữ văn ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội để tìm hiểu thực trạng việc DH môn Ngữ văn trên đại bàn này
6.2.2 Phương pháp quan sát: với mục đích quan sát cách thức QL, cách
thực hiện HĐ dạy và học môn Ngữ văn để thu thập tài liệu bổ sung cho kết quả
điều tra
6.2.3 Phương pháp phỏng vấn: để tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn
trong quá trình dạy Ngữ văn và QLHĐ dạy Ngữ văn của một số trường THCS
6.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm HĐ: tài liệu giảng dạy, CM của
GV và các sản phẩm học tập môn Ngữ văn của HS
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các PP thống kê toán học để xử lý số liệu thu được
8 Đóng góp mới của đề tài
- Làm rõ thực trạng HĐDH môn Ngữ văn và các BP quản lý HĐDH môn Ngữ văn của hiệu trưởng ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
- Đề xuất được một số BPQL nhằm nâng cao chất lượng HĐDH môn Ngữ văn của hiệu trưởng ở các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được bố trí trong 3 chương:
Trang 8- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
- Chương 2: Thực trạng quản lý HĐDH môn Ngữ văn tại các trường THCS
trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
- Chương 3: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng HĐDH
môn Ngữ văn ở các trường THCS trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà nội
Trang 9Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các tư tưởng GD tiến bộ trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam, gần đây đã
có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận GD và QL GD Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Ngọc Hải, Bùi Minh Hiền, Trần Quốc Thành, Trần Kiểm, Bùi Văn Quân…Các kết quả nghiên cứu của họ là những tri thức quý báu làm tiền
đề cho việc nghiên cứu lý luận GD và xây dựng, phát triển nền GD nước nhà
Về quản lý HĐDH trong các nhà trường được nhiều tác giả quan tâm Có thể giới thiệu một số luận văn tiêu biểu sau đây:
- " Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ủa Hiệu trưởng trường tiểu học tại
thành phố Thanh Hoá" của tác giả Viên Thị Dung- trường Đại học sư phạm Hà
Nội năm 2002
- " Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường các trường
THCS thực hiện chương trình SGK mới tại huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh" của
tác giả Nguyễn Kim Phụng- Đại học sư phạm Hà Nội năm 2003
Ngoài ra, một số tác giả tìm hiểu các BPQLcủa Phòng GD và đào tạo các địa phương đối với HĐDH ở các nhà trường Như:
- “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường Tiểu học của Phòng GD
huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc” của thạc sỹ Nguyễn Tuấn Huy năm 2005
- “ Biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trường Tiểu học của Phòng
GD quận 1- Thành phố Hồ Chí Minh” của thạc sỹ Nguyễn Thanh Tịnh năm 2006
Trang 10Nhìn chung, các nghiên cứu nói trên đã làm sáng tỏ thực trạng QL HĐDH bằng những cách tiếp cận khác nhau và đã đề xuất được một số BP cần thiết, khả thi
để nâng cao hiệu quả QL hoạt động này
Về quản lý HĐDH môn Ngữ văn hiện nay có một số luận văn Thạc sĩ tiều biểu
như:
- Luận văn của Trần Thị Sáu nghiên cứu về: Các biện pháp chỉ đạo đối với
phương pháp giảng dạy bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở quận Thủ Đức,TP Hồ Chí Minh Trong đó, tác gỉa đã chỉ ra các giải pháp bám sát chu trình QL và tập
trung vào đổi mới PP dạy học Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra được sự phối hợp giữa các giải pháp để tăng cường hiệu quả quản lý
- Luận văn của tác giả Đồ Văn Tuấn: Những biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn Ngữ Văn ở trường THPT Trần Nguyên Hãn,TP Hải Phòng đã đưa ra
những BP QLDH môn Văn ở trường THPT Trần Nguyên Hãn gồm:
+ BP xây dựng KH giảng dạy và HT
+ BP bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ CM
+ BP xây dựng nề nếp, nâng cao CL giảng dạy và HT
+ BP chỉ đạo đổi mới PPDH
+ BP tăng cường HĐ tham quan ngoại khoá
+ BP kiểm tra đánh giá
- Tác giả Phạm Thị Thanh Thủy với đề tài: Những Biện pháp quản lý hoạt
động dạy học môn Ngữ văn tại trường THCS Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội đã đưa
ra những BP quản lý HĐDH môn Ngữ văn ở trường THCS Giảng Võ gồm:
+ Nhóm BP xây dựng KH giảng dạy và HT
+ Nhóm BP QLHĐ giảng dạy của GV
+ Nhóm BPQL học tập của HS
+ Nhóm BPQL việc sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị DH
Trang 11Các nghiên cứu nói trên đã chỉ ra được một số BP quản lý HĐDH môn Ngữ văn đối với một trường học cụ thể, đã bám sát vào QTDH, tập trung vào đổi mới PPDH mà chưa đưa ra được những giải pháp đồng bộ và chuyên sâu để nâng cao CLDH môn Ngữ văn trong bối cảnh hiện nay
- Nhiều bài viết của các nhà QLGD, các GV tâm huyết với nghề trên báo GD
hay diễn đàn dân trí bàn về vấn đề DH Ngữ văn hiện nay (Đinh Xuân Lộc -Tiền
Giang; Minh Huệ - Hà Nam;Trần Quang Đại-Hà Tĩnh ) đã tập trung phân tích
nguyên nhân của thực trạng yếu kém về CL môn Ngữ văn và đề xuất những giải pháp chung nhằm nâng cao CL môn học này tại địa phương mình
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tập trung làm sáng tỏ các BPQL nâng cao
CL HĐDH môn Ngữ Văn các trường THCS quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo Một con người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [32, tr 480]
Henri Fayol cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng
cách vận dụng các HĐ (chức năng) KH hoá, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra” [40, tr 46]
Marry Parker Follett khẳng định: “Quản lý là một quá trình động liên tục,
kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại” [38, tr 33 ]
Trang 12Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: QL là: “Tác
động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [37, tr 1 ]
Từ các quan niệm trên, ta thấy: QL là một quá trình tác động có ý thức, có
định hướng và có tổ chức của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất trong điều kiện biến động của môi trường
Quá trình QL mang tính tổng hợp, không tuân theo những quy định cứng nhắc
mà phải mềm dẻo linh hoạt
1.2.1.2 Chức năng của quản lý
Chức năng của QL là những HĐ QL chuyên biệt, thông qua đó chủ thể QL tác động lên đối tượng QL nhằm thực hiện mục tiêu QL Có nhiều cách phân loại chức năng QL, tuy nhiên, có thể thống nhất ở 4 chức năng cơ bản sau đây:
a Chức năng kế hoạch
Làm KH là công tác trù liệu cho tương lai của tổ chức, tức hoạch định những vấn đề và cách thức giải quyết các vấn đề đó nhằm làm cho tổ chức có thể đối phó, thích nghi với những sự thay đổi trong tương lai Mức độ xa hay gần của tương lai
sẽ tuỳ thuộc vào tầm thời gian của công tác KH, công tác hoạch định Càng xa, mức độ dự báo càng khó chính xác, do vậy nhà QL cần phải thận trọng, khi thực hiện chức năng lập KH ND của chức năng KH là:
- Thu thập và phân tích tình hình phát triển của hệ thống và các yếu tố có ảnh hưởng
- Dự báo và chẩn đoán, xây dựng mục tiêu và hệ thống chỉ tiêu phát triển của
hệ thống trong kỳ KH
- Xác định các giải pháp thực hiện
b Chức năng tổ chức
Trang 13Công tác tổ chức là giai đoạn kế tiếp theo của công tác KH và là bộ phận không thể thiếu của chức năng QL
Chức năng tổ chức là quá trình bố trí, phân bổ, sắp xếp các nguồn lực theo một chương trình tối ưu nhất sao cho thực hiện tốt nhất các mục tiêu đặt ra ND của chức năng tổ chức:
- Xây dựng cơ cấu tổ chức
- Phân cấp, phân quyền, phân nhiệm hợp lý cho đội ngũ
- Bồi dưỡng và phát triển đội ngũ
- Tổ chức lao động một cách khoa học
- Phân phối hợp lý, đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện nhiệm
vụ của cá nhân và tổ chức
c Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo)
Lãnh đạo là quá trình tác động đến nhận thức, thái độ, tình cảm của con người sao cho họ sẵn sàng, tự giác, tích cực hoàn thành các nhiệm vụ được giao
Như vậy, chức năng này bao gồm "việc liên kết, liên hệ với người khác và động
viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức”
[38, tr 14 ]
Lãnh đạo là một trong những HĐ chủ yếu của các nhà QL vì nó giúp biến những sản phẩm của quá trình KH hoá và tổ chức thành hiện thực thông qua việc tác động đến con người Cũng thông qua lãnh đạo, tài năng của nhà QL thể hiện rõ nét với các công việc như tạo lập ảnh hưởng, hình thành uy tín với các thành viên, dẫn dắt tổ chức….ND của chức năng chỉ đạo là:
- Giao nhiệm vụ và hướng dẫn triển khai nhiệm vụ
- Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ
- Hỗ trợ, điều chỉnh
Trang 14- Tổ chức môi trường làm việc tích cực
d Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là quá trình xác định kết quả đã đạt được trên thực tế, so sánh đối chiều với các tiêu chuẩn đã đề ra, thu thập các thong tin phản hổi nhằm phát hiện sai lệch và đề ra chương trình hành động nhằm khắc phục những sai lệch đó, thực hiện mục tiêu, KH đề ra
Bốn chức năng trên tạo thành hệ thống QL thống nhất với một trình tự nhất định Trong quá trình thực hiện các chức năng QL, yếu tố thông tin có mặt ở tất cả các giai đoạn với vai trò là điều kiện PT không thể thiếu được
1.2.2 Quản lý giáo dục
Các khái niệm về QLGD cũng hết sức phong phú Có thể nêu:
- Kôndakốp cho rằng: " Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm trí của trẻ em " [25, tr 94]
- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là những hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ GD) nhằm làm cho
hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học,giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [51, tr 11]
- Theo Nguyễn Kỳ, Bùi Trọng Tuân: “Quản lý giáo dục được hiểu là những
tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, có quy luật)
Trang 15của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các
cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có CL và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của XH”.[36, tr 10]
- Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội/ tính trồi (emergence) của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động” [36, tr10]
Cũng theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của
chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,…một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tải lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội.”
Nhìn chung, có thể coi: Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích,
có kế hoạch, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực và phối hợp những nỗ lực của cán
bộ, giáo viên và học sinh để phát triển sự nghiệp giáo dục theo mục tiêu, quan điểm giáo dục của Đảng
1.2.3 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một tổ chức GD, là cơ sở trực tiếp thực hiện mục tiêu đào tạo với vai trò hình thành nhân cách, sức lao động, phục vụ phát triển cộng đồng
Phạm Minh Hạc cho rằng: "Quản lý trường học chính là QLGD tức là đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng với HS” [20, tr 11]
Trang 16QL nhà trường là một HĐ được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của QL, đồng thời có nét đặc thù riêng của QLGD để đẩy mạnh HĐ của nhà trường theo mục tiêu đào tạo.QL nhà trường gồm 2 chủ thể sau:
- Chủ thể bên ngoài nhà trường: các cơ quan GD cấp trên hướng dẫn và tạo điều kiện cho HĐ giảng dạy và HT của nhà trường hoặc những chỉ dẫn, những quyết định của các tổ chức bên ngoài nhà trường có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức cộng đồng GD nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện PP phát triển đó
- Các chủ thể bên trong nhà trường: BGH, tổ trưởng CM, bản thân GV thực hiện quản lý HS, QL quá trình DH, quản lý CSVC, trang thiết bị của trường học,
QL tài chính của trường học, QL mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng Bản chất của QL nhà trường là QLHĐ dạy, QLHĐ học và các HĐGD khác trong nhà trường để đạt được các mục tiêu GD đề ra
1.2.4 Quản lý hoạt động dạy học
1.2.4.1.Hoạt động dạy học
HĐDH bao gồm 2 mặt: HĐ dạy của GV và HĐ học của HS
Theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “Học là quá trình tương tác giữa cá thể với
môi trường, kết quả dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, trình độ hay hành
vi của cá thể đó.”[48, tr15]
“Dạy là sự truyền lại của thế hệ trước cho thế hệ sau những kinh nghiệm mà
XH đã sáng tạo và tích lũy được qua các thế hệ.,,[48, tr 16]
HT và GD trong nhà trường là HĐ đặc thù của học và dạy:
- “Học tập là việc có chủ ý, có mục đích định trước, được tiến hành bởi một
HĐ đặc thù - HĐ học, nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân”[48, tr18]
Trang 17- DH hay “Dạy theo phương thức nhà trường là sự truyền thụ những tri thức
khoa học, những kỹ năng và PP hành động, thông qua HĐ chuyên biệt của XH"
[48, tr 29]
Quá trình DH là "chuỗi liên tiếp các hành động dạy của người dạy và HĐ
học của người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định, nhắm thực hiện các nhiệm vụ DH”[48, tr 89]
Cấu trúc của quá trình DH bao gồm: mục đích, nội dung ; PP, các hoạt động
dạy - học (của GV- HS) và kết quả DH Các yếu tố trên có mối quan hệ hữu cơ với
nhau, chế ước và chịu sự chế ước lẫn nhau
1.2.42 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý HĐDH là QL hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS
a) Quản lý hoạt động dạy của GV:
GV vừa là đối tượng QL trong mối quan hệ các cấp QL bên trong nhà trường
(BGH, tổ trưởng CM ), vừa là chủ thể QL (trong mối quan hệ với HS) QLHĐ dạy
của GV bao gồm các ND sau:
- QL việc xây dựng, thực hiện KH và chương trình giảng dạy
- QL việc soạn bài và chuẩn bị bài trên lớp
- QL việc cản tiến ND chương trình, PP, hình thức tổ chức DH
- QL việc kiểm tra, đánh giá kết quả HT của HS
- QL việc thực hiện hồ sơ CM
- QL việc khai thác sử dụng CSVC và TBDH
b) Quản lý hoạt động học của HS: HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể tự QL
quá trình HT của mình ND QLHĐ học của HS bao gồm:
- GD động cơ, ý thức, thái độ HT của HS
- Hướng dẫn PP học tích cực cho HS
Trang 18- Xây dựng những quy định cụ thể về nề nếp HT trên lớp, ở nhà
- Phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong GD HS
- Khen thưởng và kỷ luật HS
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả HT của HS
1.2.5 Chất lượng và chất lượng dạy học
1.2.5.1 Khái niệm về chất lượng
- Bộ tiêu chuẩn ISO định nghĩa chất lượng là:
“Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối
tượng) đó khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”
- Theo từ điển Bách khoa: " Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những
thuộc tính bản chất của sự vật chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự phân biệt nó với sự vật khác”[52;439]
- Theo từ điển Việt Nam (2000) NXB chính trị: “ Chất lượng là tổng thể
những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, hiện tượng, làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác” [49; 384]
- Theo Kaoru I Shikawa: “ Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị
Trang 19ra của sản phẩm Còn trong GD đào tạo, CL được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra của chương trình GD đào tạo
1.2.5.2 Chất lượng dạy học
Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của nền GD trên thế giới Hầu hết các nước đều ra sức tìm mọi BP để nâng cao CL dạy và học Với mong muốn là làm sao để người dạy truyền đạt được kến thức một cách dễ dàng, người học nắm bắt và vận dụng được kiến thức đó trong thời gian ngắn nhất vào thực tế sản xuất, nghiên cứu một cách có hiệu quả, và do vậy càng lúc càng đặt ra những yêu cầu gay gắt trong việc nâng cao CL giảng dạy và cách đánh giá người học như thế nào là khách quan, công bằng, là động lực thúc đẩy để người học thấy đó là động lực, mục
tiêu phấn đấu như bữa cơm hàng ngày Vậy CLDH được đánh giá như thế nào?
Theo Phạm Quang Huân (Viện Nghiên cứu Sư phạm, ĐHSP Hà Nội): Có thể coi mức CL là những yêu cầu, những mong muốn đạt được phù hợp với trình độ
và điều kiện của GV, của lớp học, của nhà trường đối với các yếu tố tham gia vào quá trình như ND kiến thức, PP tổ chức, việc hướng dẫn của người dạy về cách thức HĐ để chiếm lĩnh tri thức cho người học…Chẳng hạn: người GV đặt ra yêu cầu cho người học cần đạt tới mức CL nào về ND kiến thức, về kỹ năng, thái độ; người dạy cần đạt những yêu cầu CL nào về việc chọn lựa, sắp xếp và trình bày
ND, về PP hướng dẫn, tổ chức và điều kiển HS tiến hành các HĐ nhận thức, về việc sử dụng, khai thác thiết bị và học liệu hỗ trợ DH …
Suy cho cùng, Chất lượng dạy học học chính là mức độ đạt được về kiến thức, kỹ
năng, thái độ của người học so với mục tiêu DH đặt ra Một quan niệm phổ biến
hiện nay coi kết quả học tập của môn học chính là CLDH của môn học đó
1.2.6 Nhà trường trung học cơ sở trong hệ thống GDQD
“Trường THCS là cơ sở GD của bậc trung học, bậc học nối tiếp giữa bậc
tiểu học và bậc THPT trong hệ thống GD quốc dân Việt Nam” [12] Trường THCS
là cơ sở GD thực hiện các mục tiêu GD cấp THCS
Trang 20a) Mục tiêu của giáo dụcTHCS:
“Giáo dục THCS nhằm giúp cho HS củng cố và phát triển những kết quả ở
Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để tiếp tục học THPT, trung cấp, trung học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”[12]
b) Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THCS:
Tại Điều 3, điều lệ Trường Trung học năm 2007 [19] có ghi:
- Tổ chức giảng dạy, HT và các HĐ GD khác của chương trình GD phổ thông
- Quản lý GV, CB, nhân viên, tham gia tuyển dụng và điều động GV, CB, nhân viên
- Tuyển sinh và tiếp nhận HS, vận động HS bỏ học đến trường, QLHS theo quy định của Bộ GD & ĐT
- Thực hiện KH phổ cập GD THCS trong phạm vi cộng đồng
- Huy động, QL, sử dụng các nguồn lực cho HĐ GD Phối hợp với gia đình
HS, tổ chức và cá nhân trong HĐ GD
- QL sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị quy định của Nhà nước
- Tổ chức GV, nhân viên và HS tham gia HĐ XH
- Tự đánh giá CLGD và chịu sự kiểm định CLGD của các cơ quan có thẩm quyền kiểm định CLGD
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.3 Quản lý hoạt đông dạy học môn Ngữ văn tại các trường THCS
1.3.1 Về dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở
1.3.1.1 Mục tiêu dạy học Ngữ văn: Theo các nhà nghiên cứu DH văn nhằm
“kích thích để một cái đẹp trong văn học nghệ thuật được phát triển và sinh sôi nảy
nở trong tâm hồn HS ở mỗi thời đại, để đi đến “sự đổ vỡ lặng im” trong tâm linh
Trang 21các em theo xu hướng của một nền GD” [8, tr16], là “khêu gợi tư tưởng, tình cảm,
niềm tin cho con người, là vũ khí tinh thần sắc bén, nhuần nhị giúp con người hình thành nhân cách toàn vẹn, nâng đỡ nhân cách con người phát triển” [50, tr216]
Dạy học môn Ngữ văn ở cấp THCS nhằm trau dồi kiến thức văn học cũng như rèn luyện kỹ năng nói và viết cho HS, góp phần hình thành nhân cách, đạo đức và nuôi dưỡng tâm hồn, ý thức dân tộc cho HS Từ đó, hình thành và phát triển con người toàn diện ở HS, đồng thời GD lý tưởng và đạo đức, từng bước giúp
HS cập nhật những vấn đề toàn cầu mà không quay lưng lại với truyền thống dân tộc, vừa giữ gìn bản sắc vừa hòa nhập xu thế phát triển chung của thế giới
“Học xong chương trình Ngữ văn ở THCS sẽ giúp cho HS nâng cao ý thức
giữ gìn sự giàu đẹp của Tiếng Việt và tình yêu văn học đối với các tác phẩm ưu tú của dân tộc và nhân loại Từ đó, HS sẽ có hứng thú và cách thức ứng xử, giao tiếp
có văn hóa đối với môi trường sinh sống Ý thức tôn trọng, yêu quý cái đẹp và cố gắng sáng tạo nên cái đẹp sẽ được bồi đắp và dần hình thành lên HĐ thẩm mỹ ở HS” [31, tr 10]
1.3.1.2 Đặc trưng của chương trình, nội dung dạy học môn Ngữ văn cấp trung học cơ sở:
Chương trình Ngữ văn ở cấp THCS được thiết kế với những định hướng cơ bản sau:
- Chương trình môn Ngữ văn (bao gồm cả phân môn Văn và phân môn Tiếng
Việt) được thiết kế cơ bản theo mô hình đồng tâm, nhưng đây không phải là mô
hình duy nhất, mà còn kết hợp với mô hình tuyến tính, kế thừa và nâng cao Mô hình thiết kế bài học đồng tâm ở môn Tiếng Việt và Tập làm văn có tác dụng giúp
HS rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt thành thục, và mỗi bài học đều được thiết
kế khác nhau Cấu trúc chương trình theo trục đồng quy gồm 6 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính công vụ là những kiểu văn bản được đan xen trong cả chương trình Tuy nhiên tùy theo từng lớp mà yêu
Trang 22cầu HS mức độ hiểu, thực hành khác nhau Những văn bản được chọn dạy đã mang một vị trí và tính chất mới Bên cạnh những tác phẩm hư cấu còn có những
văn bản nghị luận (xã hội và văn học) và văn bản nhật dụng (đây làm điểm mới so
với cấu trúc chương trình cũ) Vì cấu trúc chương trình theo trục đồng quy nên
phải thay đổi kết cấu chương trình theo nguyên tắc hàng ngang và đồng tâm để sắp xếp ND chương trình
- Tích hợp là một trong những xu thế DH hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi
mới chương trình và SGK phổ thông "Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt
trong toàn bộ môn học, từ Đọc Văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình DH; quán triệt trong mọi yếu tố của HĐ học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong PP DH của GV và tích hợp trong
HĐ học tập của HS; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo.”
Tích hợp bao gồm việc học đồng thời với việc dạy ND môn học DH theo hướng tích hợp các phân môn: Tiếng Việt;Văn học; Tập làm văn Sự tích hợp ấy được căn cứ từ quá trình nhận thức, quá trình học tập của HS Môn Tiếng Việt giúp các em tăng vốn từ, đặt câu linh hoạt Từ đó, HS biết trình bày đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh Môn Văn học tăng khả năng cảm thụ văn học và hiểu biết về tác phẩm văn chương cho HS Môn Tập làm văn giúp HS phân biệt những phương
thức biểu đạt cơ bản (tự sự, miêu tả, nghị luận, thuyết minh, hành chính) Từ đó,
HS thực hành viết 1 bài văn cụ thể dựa trên vốn từ đã có và những hiểu biết về tác phẩm văn chương Như vậy, phân môn Tập làm văn làm trục tích hợp có nghĩa là lấy năng lực tạo lập văn bản làm trọng tâm lâu dài Tích tích hợp của chương trình còn được thể hiện: tích hợp nhiều khả năng: nghe, nói, đọc, viết; tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa; tích hợp kiến thức và thực tiễn; tích hợp kinh nghiệm quá khứ và kinh nghiệm mới tiếp thu được
Trang 23ND chương trình môn Ngữ văn ở THCS cũng cần đạt đến việc cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng cho HS như các môn học khác đồng thời cũng mang đặc trưng riêng của môn văn: “Trọng tâm của việc rèn luyện kỹ năng Ngữ văn cho HS
là làm cho HS có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết khá thành thạo theo các kiểu văn bản
và có kỹ năng sơ giản phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận
và bình giá văn học”[31, tr 9]
1.3.1.3 Phương pháp dạy học môn Ngữ văn:
PPDH Ngữ văn cần đáp ứng các yêu cầu sau:
+ GV là người tổ chức, hướng dẫn, đóng vai trò người trọng tài, người cố vấn các HĐ của HS trong lĩnh hội giá trị văn bản
DH Ngữ văn ở THCS được định hướng theo PPDH tích hợp và tích cực Phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của HS ở tất cả các khâu: từ việc chuẩn bị bài, sưu tập tư liệu, phát biểu trong tổ, nhóm, tự đánh giá và đánh giá bạn, tham quan, HĐ thực tế theo đặc trưng bộ môn…HS cần chủ động tiếp cận tác phẩm theo hướng:
đọc-> suy ngẫm -> liên tưởng
Trang 24Mức độ 1: là chỉ cần sử dụng những thông tin có ngay trong văn bản Đó là
trường hợp câu trả lời có sẵn trong bài
Mức độ 2: là buộc phải suy nghĩ những thông tin có trong bài Đó là trường
hợp phải suy nghĩ ra câu trả lời từ những đầu mối có trong văn bản
Mức độ 3: là yêu cầu khái quát, liên hệ giữa những cái mà HS đọc với thế giới
bên ngoài bài học Khám phá văn bản theo hướng ấy thì HS không chỉ hứng thú, hiểu sâu văn bản mà còn liên hệ được một cách sinh động, tự nhiên việc học văn với những vấn đề của cuộc sống
1.3.2 Quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THCS
Có thể hiểu QLDH môn Ngữ văn là hệ thống những tác động có hướng đích của chủ thể QL (Hiệu trưởng) đến HĐDH môn Ngữ văn trong nhà trường THCS nhằm thực hiện có CL các mục tiêu DH môn học này
QLDH môn Ngữ văn hướng vào các ND sau đây:
- QL mục tiêu và chương trình, NDDH Ngữ văn
- QL việc đổi mới PP DH Ngữ văn
- QL hoạt động dạy Ngữ văn của Thầy
- QLHĐ học Ngữ văn của Trò
- QL công tác đào tạo và bồi dưỡng GV dạy Ngữ văn
- QL việc đổi mới các hình thức kiểm tra, đánh giá cho phù hợp chương trình, PP giảng dạy và yêu cầu của bộ môn Ngữ văn
1.3.2.1.Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình,nội dung hoạt động môn Ngữ văn
QL việc thực hiện mục tiêu, chương trình môn học không chỉ là việc QL GV thực hiện PPCT mà còn phải tiến đến kiểm soát được sự tác động của GV Ngữ văn trong quá trình hình thành nhân cách HS Do đó, người hiệu trưởng không chỉ
Trang 25dừng ở các BPQL hành chính mà còn cần sử dụng các BPQL khác, giúp GV Ngữ văn thực hiện được mục tiêu môn học.
Trong trường THCS, BGH đứng đầu là Hiệu trưởng (thông qua tổ trưởng bộ môn) QLHĐ dạy Ngữ văn theo chương trình, ND (theo quy định của Bộ GD và ĐT) với PP
đặc trưng của môn học qua việc lập KH và thực hiện KH DH môn học cho một năm học, tưng HK, từng tháng, từng tuần
QL việc thực hiện chương trình, NDDH môn Ngữ văn ở THCS phải nhằm thực hiện được mục tiêu của DH, chính là giúp HS nắm được kỹ năng dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết trên cơ sở trang bị kiến thức cơ bản về ngôn ngữ, sự hiểu biết về đất nước học; có được những phẩm chất, trí tuệ cần thiết để tiếp tục học cao hơn
Để QL tốt việc thực hiện chương trình DH môn Ngữ văn ở THCS, người Hiệu trưởng cần nhận thức sâu sắc và quán triệt nhận thức đó cho đội ngũ GV dạy Ngữ văn về định hướng đổi mới môn học Đó chính là:
- Kỹ năng đọc- hiểu của HS trong DH Ngữ văn được rèn luyện thông qua
việc tìm hiểu các kiến thức XH, cảm thụ được những vấn đề của cuộc sống qua văn chương, từ đó bồi đắp tư tưởng tình cảm, trang bị nhân sinh quan cho HS, hướng con người tới những giá trị nhân văn cao đẹp
- Kỹ năng tạo lập văn bản (là một trong mục tiêu quan trọng của DH Ngữ
văn) được rèn luyện thông qua việc thực hành tạo lập các văn bản ở những thể loại
khác nhau, hướng tới tính ứng dụng giao tiếp thực tiễn trong XH đang được coi là
Trang 26- Chương trình là cơ sở cho việc biên soạn SGK, QL quá trình dạy và học, kiểm tra kiến thức, hiểu biết, kỹ năng đọc hiểu, tạo lập văn bản vừa đánh giá kết quả học tập của HS và CL giảng dạy của GV
- SGK Ngữ văn mới cho THCS do Bộ GD&ĐT ban hành từ năm học 2006 -
2007 (từ lớp 6 đến lớp 9) bao gồm những bộ SGK dành riêng cho từng khối lớp
ND được mở rộng theo hình xoáy trôn ốc và bám sát ND của ba phân môn: Văn học; Tiếng Việt, Tập làm văn nhằm hướng tới mục tiêu cần đạt của GD Chương trình có sự điều chỉnh cho phù hợp ở mỗi năm, có sự thống nhất của BGD và thông qua sự kiểm tra đánh giá của các nhà QLGD ở các cấp Các trường THCS phải thực hiện tốt chương trình đã được Bộ GD&ĐT ban hành, coi chương trình là pháp lệnh cần thực hiện một cách nghiêm túc
1.3.2.2 Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn:
Hiện nay, CBQL thường được tập trung chỉ đạo của GV thực hiện một số PPDH tích cực Tuy nhiên, với đặc trưng môn học Ngữ văn, việc chỉ đạo thực hiện những PPDH mới không thể tách rời việc nâng cao năng lực QL của chính nhà QL
và năng lực CM của đội ngũ GV, không chỉ là QL giờ dạy trên lớp mà còn cả QLHĐ tự bồi dưỡng của GV Ngữ văn
QL việc đổi mới PPDH không chỉ đơn thuần tập trung vào việc QL sao cho
GV áp dụng một số PP mới vào DH Ngữ văn mà còn hướng vào nâng cao khả năng kết hợp linh hoạt với các PPDH truyền thống, trong đó có những PP đã gần như bị phủ nhận hoàn toàn ở các môn học khác thì vẫn được coi là đặc trưng của
môn Ngữ văn (như PP thuyết trình)
QL việc sử dụng các PT, TBDH môn Ngữ văn là thực hiện các BPQL để việc lựa chọn PT, TBDH phù hợp với đặc trưng môn học và sử dụng chúng trong DH Ngữ văn có hiệu quả nhất QL việc sử dụng PT, TBDH bao gồm QL việc sử dụng SGK, tài liệu tham khảo và các TBDH hiện đại Tuy nhiên, nếu như ở một số môn khoa học khác, việc đưa các thiết bị trình chiếu hoặc các PTDH vào giờ dạy
Trang 27thường không bị hạn chế về tần suất sử dụng thì đặc trưng DH Ngữ văn khiến cho việc sử dụng thiết bị quá nhiều hay quá ít trong giờ Ngữ văn đều ảnh hưởng đến hiệu quả học Ngữ văn Bên cạnh đó việc ứng dụng CNTT cũng mang lại hiệu quả đặc biệt trong CNTT vào DH Ngữ Văn có ý nghĩa rất quan trọng
1.3.2.2 Chất lượng hoạt động dạy của GV và HĐ học của HS
a) QLHĐ dạy của GV
Để CL HĐDH môn Ngữ văn của GV cần phải:
- QL việc chuẩn bị lên KH giảng dạy của GV: đây là khâu then chốt vì có chuẩn bị chu đáo, lường trước hết các khả của tiết học thì mới có đầy đủ các phương án để đưa kiến thức đến HS một cách tốt nhất hiệu quả nhất Cũng từ việc chuẩn bị KH giảng dạy mới có các phương án cho việc sử dụng các đồ dùng, PT hợp lý cho từng giờ dạy
- QL chất lượng các giờ dạy của GV: Đây là khâu quyết định đến chất lượng
HS, đòi hỏi thầy, cô giáo cần sử dụng quỹ thời gian từng tiết dạy một cách hợp lý, truyền tải kiến thức tập trung vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài dạy mà KH đã chuẩn bị, giải quyết tốt các tình huống có vấn đề nảy sinh, nhằm tập trung và huy động tối đa tinh thần học tập của HS nhằm đạt được kết quả cao nhất
- QL việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS:
Do môn Ngữ văn mang đặc trưng về tính hình tượng, tính biểu cảm, tính đa nghĩa…nên rất khó định lượng cụ thể kết quả DH môn Ngữ văn thông qua các
hình thức kiểm tra, đánh giá chúng Hiện nay, có các cách đánh giá như sau: Tự
luận, tăng cường trắc nghiệm khách quan và kết hợp với đánh giá của người dạy với việc tự đánh giá của người học Khi kiểm tra, đánh giá cần chú trọng cả kiến
thức lí thuyết và thực hành đặc biệt là vận dụng vào những tình huống gắn với đời sống, phát triển bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết
Trang 28Trong trường THCS cần xây dựng nhiều cách thức kiểm tra miệng, 15 phút, 1tiết, dưới các hình thức tự luận, trắc nghiệm ; để kết quả kiểm tra đánh giá đúng kết quả học tập của HS khâu ra đề là đặc biệt quan trọng Đề kiểm tra phải mang tính vừa sức, đảm bảo phân hoá được đối tượng HS, đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng của phần cần đánh giá; tìm tòi phát huy những HS có tố chất tốt để bồi dưỡng, phát hiện những thiếu sót, sai lầm của HS để phụ đạo
- Cùng với BGH nhà trường và các tổ CM cần QLCL đầu vào,CL đầu ra của
HS Bàn giao CL giữa BGH, phụ huynh và GV, làm tốt mối quan hệ GV và phụ huynh
b) Chất lượng hoạt động học của HS
QLHĐ học Ngữ văn của HS bao gồm:
- QLHĐ học ở trường: chương trình, ND, thời gian học chính khoá, ngoại khoá; sách vở đồ dùng học tập; nề nếp, ý thức học tập, kết quả học tập của HS
- QLHĐ tự học: xây dựng KH tự học; ND, thời gian và nề nếp tự học; công tác tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS
- QL mối quan hệ nhà trường- gia đình: đó là những thông tin về tình hình và kết quả học tập, rèn luyện của mỗi HS từ nhà trường, thầy cô giáo đến với phụ huynh; và thông tin phản hồi về việc tự học ở nhà của HS từ phụ huynh đến nhà trường; đấu mối trong việc đưa ra các PP giáo dục ý thức học tập của HS
Như vậy, với những nội dung QL quá trình học tập ở trên, người QL cần huy động được toàn bộ các bộ phận, chức năng để đảm bảo CL học tập và cải tiến CL từng khâu để nâng cao CL học tập cho HS đáp ứng yêu cầu XH
1.3.2.3 Quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học môn Ngữ văn
Việc kiểm tra, đánh giá trong khá nhiều môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên dễ đạt đến tính chính xác, khách quan, công bằng Trong khi đó, với
tư cách là môn khoa học XH nhân văn, lại mang đặc trưng về tính hình tượng và
Trang 29tính biểu cảm cao, việc kiểm tra đánh giá trong DH Ngữ văn nặng về chủ quan, khó đạt đến tính chính xác, khách quan công bằng Việc đổi mới kiểm tra đánh giá
cần được cân nhắc trong từng ND cụ thể (ví dụ: phần lớn các môn học có thể
chuyển sang kiểm tra hoàn toàn bằng trắc nghiệm khách quan thì môn Ngữ văn lại không thể) Rõ ràng, QLHĐ đổi mới kiểm tra đánh giá trong HĐDH Ngữ văn gặp
nhiều khó khăn hơn
Kết quả DH môn Ngữ văn được đánh giá ở CL dạy và học bộ môn mà trong đó:
- CL dạy của GV được đánh giá bằng CL giờ dạy và kết quả HS học môn Ngữ văn dựa trên mục tiêu môn học, mục tiêu giờ dạy, CL khảo sát HS để làm căn
cứ xếp loại đánh giá CL xếp loại giờ dạy (được phản ánh qua các phiếu dự giờ trong
của CBQL khi dự giờ thăm lớp, khảo sát định kỳ, thanh tra giờ dạy, thi GV giỏi với các điểm đánh giá theo từng bậc xếp loại) Ngoài ra, kết quả dạy của GV còn được
đánh giá ở chính ở CL xếp loại học lực bộ môn này của HS mà GV dạy
- CL học Ngữ văn của HS hiện nay có thể coi là CL xếp loại bộ môn Ngữ văn hiện nay với HS THCS và được phản ánh bằng điểm số ở các bài kiểm tra khảo sát CL, kiểm tra học kỳ, thi vào THPT và là điểm số TBC của các bài kiểm tra đã được quy định theo PPCT Ngoài ra CL xếp loại đạo đức của HS cũng phản ánh phần nào kết quả học môn Ngữ văn ở các trường THCS
1.3.2.4 Chất lượng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên dạy Ngữ văn
CL hoạt động đào tạo, bồi dưỡng CM, nghiệp vụ cho GV dạy Ngữ văn là QL những HĐ nhằm nâng cao trình độ, năng lực CM, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của HĐDH môn Ngữ văn cho đội ngũ GV Đó là các HĐ:
- Đánh giá đúng thực trạng trình độ, năng lực của đội ngũ GV dạy Ngữ văn của nhà trường
- Lập KH bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ theo hướng đạt chuẩn về CL, đáp ứng yêu cầu DH Ngữ văn theo mục tiêu đề ra
Trang 30- Tổ chức thực hiện KH
- Kiểm tra, đánh giá, rút bào học kinh nghiệm
ND bồi dưỡng CM, nghiệp vụ cho đội ngũ GV dạy Ngữ văn, đó là: những điểm mới, khó trong ND, chương trình SGK Ngữ văn, đổi mới PP DH, các kiến
thức và kỹ năng sử dụng các PT kỹ thuật hiện đại trong DH Ngữ văn (máy tính,
đèn chiếu, máy project chương trình học online trên internet))
Tổ chức bồi dưỡng GV theo chu kỳ về CM, nghiệp vụ sư phạm thông qua các hình thức: Bồi dưỡng thay SGK, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hóa,
tổ chức các buổi hội thảo, hội giảng, các buổi sinh hoạt chuyên đề để bồi dưỡng nâng cao năng lực và kiến thức, đặc biệt là năng lực HĐ thực tiễn cho GV
QL hoạt động bồi dưỡng CM, nghiệp vụ phải dẫn đến phong trào tự học, tự bồi dưỡng CM, nghiệp vụ của GV dạy Ngữ văn, bởi đó chính là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao CLDH Ngữ văn QLHĐ tự bồi dưỡng của GV cần đảm bảo KH sao cho việc tự bồi dưỡng của GV Ngữ văn trở nên có hiệu quả, thành cái đích đến của quá trình QL bồi dưỡng CM, nghiệp vụ cho GV dạy Ngữ văn
Như vậy, QLDH môn Ngữ văn trong nhà trường vừa mang đặc điểm chung của QLDH, vừa mang đặc điểm riêng của QL môn Ngữ văn
1.3.3 Các yếu tố quản lý ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng HĐDH môn Ngữ văn trong trường THCS
1.3.3.1 Những yếu tố bên trong nhà trường:
a) Nhận thức và năng lực quản lý HĐDH môn Ngữ Văn:
Môn Ngữ văn có một vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách
của HS M Gorki từng khẳng định: “Văn học là nhân học,,.Văn học là tấm gương
phản ánh cuộc sống Chức năng cao cả và ý nghĩa nhân văn của văn học vô cùng lớn
Nó là nguồn mạch trong trẻo nuôi dưỡng cho những gía trị nhân văn cao đẹp của
Trang 31con người: Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, hay những đạo lý dân tộc lễ, hiếu, tín, nghĩa Trong XH hiện đại hôm nay, càng cần hơn bao giờ hết sự cần thiết những phẩm chất cao quý đó ở mỗi con người Như vậy, môn Ngữ văn trong trường phổ thông có vai trò, vị trí rất quan trọng
Để QL tốt HĐDH môn Ngữ văn trong trường THCS, các cấp QL trong nhà trường cần nhận thức đầy đủ những đặc trưng trong mục tiêu, chương trình, ND,
PP DH, HĐ dạy và học môn Ngữ văn, cũng như kiểm tra, đánh giá kết quả DH môn học này Ngoài ra, họ cũng cần có nhận thức đúng, đủ về mục tiêu, ND, PP
QL HĐDH môn Ngữ văn Nếu có nhận thức đầy đủ về các vấn đề trên, đội ngũ QLcác trường sẽ có những tác động đúng đắn từ việc hoạch định KH DH của môn học cho từng khối lớp ở cấp học đến việc thực hiện các giải pháp tổng thể cho việc nâng cao CL học tập môn Ngữ văn trong nhà trường
b) Năng lực CM, nghiệp vụ của đội ngũ GV dạy môn Ngữ văn:
Đội ngũ GV dạy văn có ảnh hưởng lớn đến CLDH Ngữ văn GV dạy Ngữ văn trong nhà trường THCS là những người được đào tạo về CM và nghiệp vụ sư phạm Tuy nhiên, dù bằng cấp tương đương nhau nhưng trình độ CM nghiệp vụ của GV là không đồng đều Điều này ảnh hưởng lớn đến HĐDH Ngữ văn vì nó vốn là một môn học đòi hỏi hứng thú của cả GV và HS Dạy Ngữ văn không chỉ dạy kiến thức mà GV còn có nhiệm vụ định hướng cảm xúc, tình cảm, sự rung động đối với các chất liệu văn thơ của GV và HS Người GV không chỉ là người thầy mà còn là nhà phê bình văn học Người GV Ngữ văn là sợi dây liên kết giữa tác phẩm và HS, là người tạo điều kiện cho HS chủ động tiếp thu tác phẩm chứ không phải là người áp đặt kiến thức cho HS QLDH môn Ngữ văn trong nhà trường cần phải quan tâm đến nhân tố đặc biệt là người thầy
Hiện nay CL học bộ môn Ngữ văn bị giảm sút, người dạy và người học không còn mặn mà với bộ môn Ngữ văn Đối với người dạy, họ nhất cử nhất động đều
dạy theo một “lộ trình” định sẵn nhằm cung cấp kiến thức cơ bản (kiến thức
Trang 32chuẩn) cho HS Một số không nhỏ GV dạy thiếu tâm hồn, thiếu những cảm xúc
thực sự cho giờ dạy
c) Sự tích cực học tập môn Ngữ văn của HS
Rõ ràng kết quả học tập của bất kỳ môn học nào cũng phụ thuộc vào sự tích cực học tập của người học Để có kết quả cao, HS phải hứng thú với môn học đó, tích cực suy nghĩ, tích lũy kiến thức, trải nghiệm thực tiễn, sáng tạo trong học tập Tuy nhiên, hiện nay có tình trạng:
- HS lười đọc sách, coi sách là một “món hàng xa xỉ”; lười suy nghĩ, thụ động trong tiếp thu, phụ thuộc vào những bài văn mẫu (Nạn“văn mẫu” đã làm thui chột
tư duy, thui chột sự sáng tạo trong tiếp nhận văn học trong HS hiện nay)
- HS ít tự viết bài, ít tự sáng tác (nhật ký, đoản văn, suy nghĩ, cảm nhận ) nên
khi làm bài thiếu PP tư duy, còn lúng túng trong trình bày, diễn đạt ý
- Việc bỏ kỳ thi tốt nghiệp THCS đã ảnh hưởng không tốt đến việc DH môn Ngữ văn HS quan niệm: có thi mới có học Từ đó, suốt cả bốn năm học THCS,
HS thiếu hắn PP học bộ môn và vì thế CL dạy và học môn Ngữ văn nói riêng, của cấp học THCS nói chung còn nhiều hạn chế
13.3.2 Những yếu tố bên ngoài nhà trường
a) Sự phát triển KT của đất nước và những vấn đề đặt ra đối với việc DH Ngữ văn trong nhà trường:
- Nền KT thị trường với những ưu thế cạnh tranh thuộc về các ngành khoa học, công nghệ, KT, thương mại…vì thế đã tác động mạnh mẽ đến việc lựa chọn
và học tập văn hóa trong nhà trường phổ thông
Thực tế cho thấy ngay từ khi HS học ở THCS việc phân luồng định hướng nghề nghiệp đã được các bậc phụ huynh quan tâm Phần lớn các bậc phụ huynh
hướng cho con em mình theo học các môn khoa học tự nhiên (Toán, Lý, Hóa,
Sinh, Địa …) tạo tiền đề cho việc thi vào các trường ĐH, CĐ và trung cấp chuyên
Trang 33nghiệp, trung cấp nghề Bởi sinh viên theo học các chuyên ngành khối A và B thường sau khi ra trường dễ dàng tìm được việc làm có thu nhập cao, nhưng khối
C thì rất khó tìm việc làm Vì thế, hiện nay những HS thực sự học tốt và chọn ngành Ngữ văn có tỷ lệ thấp trong các trường phổ thông Theo bài viết: “Báo động
về chất lượng nhân lực ngành giáo dục,, của tác giả Trần Quang Đại ngày
26-4-2011 trên diễn đàn báo điện tử Dân trí: Năm 2010, cả nước chỉ có khoảng 5% thí
sinh thi vào khối C, tình hình năm 2011 cũng tương tự Cũng theo tác giả bài báo này thì thầy Phan Hoà, Phó Hiệu trưởng trường THPT Lê Viết Thuật (Nghệ An)
cho biết: “Chỉ những học sinh không theo học được các khối khác mới học khối C”
b) Những quy định về DH của Bộ GD và ĐT đối với môn Ngữ văn ở trường phổ thông:
- Chương trình Ngữ văn THPT còn khá nặng nề, dàn trải, ôm đồm, mang nặng tính hàn lâm, ít mang tính thực tiễn
- Việc quy định thời lượng tiết học gây áp lực lớn cho người dạy và người
học, tu đó tạo thành sự máy móc, rập khuôn trong việc phân bố thời gian tiết học (
tất cả đều phải qua 05 bước quy định )
- Việc vận dụng đổi mới PP chưa linh hoạt, chưa sáng tạo dẫn đến việc đặt
nhiều câu hỏi, làm vỡ vụn tiết dạy Ngữ văn Hoặc lạm dụng máy chiếu (thực chất
chỉ mang tính hỗ trợ, minh họa) nên dẫn đến tình trạng “ chiếu - chép” ( thay cho
“đọc - chép” trước đây )
- Đề thi môn Ngữ văn hàng năm chưa có tính đột phá, ít gắn với thực tiễn, chưa tạo sự hấp dẫn, chưa tạo tiền đề cho HS trình bày, sáng tạo …
c) Chế độ chính sách đối với GV phổ thông chưa thỏa đáng
Đồng lương của GV chưa đủ trang trải cuộc sống , GV phải làm thêm nhiều việc khác, từ đó, GV Ngữ văn thiếu thời gian đầu tư, nghiên cứu bài dạy Áp lực đời sống thường ngày đã làm cho GV nói chung, GV Ngữ văn nói riêng thiếu tâm huyết với nghề, thiếu sáng tạo trong giảng dạy
Trang 341.4 Sự cần thiết phải quản lý chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở các trường trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay
1.4.1 Định hướng của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về nâng cao chất lượng học tấp phổ thông nói chung, và dạy học trung học THCS nói riêng
Ngay từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Một dân tộc
dốt là một dân tộc yếu” Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc nâng cao
CLDH ở phổ thông Điều đó được thể hiện một cách hệ thống trong hàng loạt các Nghị quyết của Đảng
- Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển GD &ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH
và nhiệm vụ đến năm đã quyết định: “Cần đẩy mạnh CNH,HĐH nhằm mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, XH công bằng, vǎn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa XH Muốn tiến hành CN hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạn GD & ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững.,,
- Nghị quyết số 37/2004/QH11 ngày 03/12/2004 của Quốc hội cũng nhấn
mạnh chúng ta cần phải “Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo và CB QL GD đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo; đặc biệt coi trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp Hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện cho nhà giáo, CB QLGD thường xuyên tự học tập để cập nhật kiến thức, nâng cao trình
độ, kỹ năng về CM, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD” [27; 43]
Trong giai đoạn hiện nay, sự quan tâm của Bộ GD và ĐT đến vấn đề trên càng trở nên rõ nét hơn Theo chỉ thị số 3398/CHƯƠNG TRÌNH-BGDĐT về: “Nhiệm vụ
trọng tâm của GD mầm non,GD phổ thông, GD thường xuyên và GD chuyên nghiệp năm học 2011 – 2012,,, Bộ trưởng Bộ GD và Đào tạo chỉ thị năm học
2011-2012 toàn ngành tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm trong đó có :
Nhiệm vụ chung của các cấp học là: “Toàn ngành GD & ĐT quán triệt và triển
Trang 35khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, triển khai thực hiện Chương trình hành động đổi mới căn bản và toàn diện GD đào tạo nhằm nâng cao CL nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc CN hoá, hiện đại hoá, hội nhập
KT quốc tế của đất nước.,,
Như vậy: Đảng,Nhà nước Việt nam đã nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí của
GD nói chung và DH nói riêng trong nhà trường phổ thông đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, đã tập trung chỉ đạo nâng cao CLGD, chất lượng QLGD thông qua nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, văn bản hướng dẫn Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý HĐDH trong nhà trường THCS nói chung và quản lý HĐDH môn Ngữ văn nói riêng
1.4.2 Vai trò của môn ngữ văn đối với việc Giáo dục đạo đức, thẩm mỹ cho
học sinh
Chúng ta có thể nhận định, môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong sự phát triển XH loài người Nói như thế, môn Văn gắn liền với sự hình thành và phát triển của GD Ở mỗi giai đoạn lịch sử, môn Ngữ văn có vai trò và sứ mệnh riêng đều nhằm để phục vụ cho sự phát triển của XH Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà trường cách mạng ra đời cùng với những đổi mới cơ bản về quan điểm GD và ND đào tạo, vai trò vị thế của môn Ngữ văn càng ngày càng được khẳng định
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: văn học nghệ thuật là một “vũ khí
vô song” Trong nhiều văn kiện, Đảng ta xác định vai trò cực kì quan trọng của
văn học trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa XH Với khả năng riêng của hình tượng nghệ thuật được nghệ sĩ sáng tạo, văn học còn có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn và trí tuệ của bạn đọc
Trong trường phổ thông môn Ngữ văn, một môn học chứa đựng những ND phong phú, đa dạng về cuộc sống sinh động, về văn hóa tinh thần, tư tưởng tâm
Trang 36hồn của dân tộc Nó giành được một vị trí xứng đáng qua tỉ lệ thời gian học so với thời lượng chung ở chương trình phổ thông, đồng thời qua các kì thi quốc gia
Mục đích của việc học môn Ngữ văn là tạo ra ở trẻ em một năng lực đồng
cảm với thân phận con người Nhưng nếu chỉ đồng cảm thì chưa đúng với cách tồn
tại của văn chương, nghệ thuật Cái năng lực văn được tạo ra bởi môn Ngữ văn trong
nhà trường là lòng đồng cảm của con người đối với con người, và phẩm chất đó phải
dựa trên một Ngữ pháp nghệ thuật Lòng đồng cảm là một cốt cách tinh thần, ngữ
pháp nghệ thuật là một bộ khung vật chất, cả hai mặt vật chất - tinh thần đó làm nên
năng lực văn của HS Cảm nhận được vẻ đẹp nhân văn, rung cảm đồng cảm và có
những hành vi ứng xử nhân văn chính là sứ mệnh cao cả của môn học này Như vậy, môn Ngữ văn đã có vai trò lớn đối với GD thẩm mỹ, đạo đức cho HS
1.4.3.Định hướng phát triển Giáo dục của thành phố Hà nội, của Quận Thanh Xuân
1.4.3.1 Định hướng phát triển gióa dục của thành phố Hà nội:
Phát huy những kết quả đạt được trong giai đoạn 2006 - 2010 về lĩnh vực
GD và đào tạo, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV nhiệm
kỳ 2006 - 2010 và Chỉ thị số 23/CT-UBND ngày 17/7/2009 của ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc xây dựng KH phát triển KT-XH 5 năm 2011- 2015 đã
đề ra những mục tiêu và định hướng chung về phát triển KT và phát triển về công tác GD và đào tạo trong giai đoạn 2011 - 2015, đó là:
- Nâng cao CL đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH đất nước
và phát triển KT tri thức Đặc biệt, chú trọng đào tạo nhân lực có trình độ cao, CB QLgiỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề; đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn để thực hiện việc phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
- Đẩy mạnh công tác XH hóa trong lĩnh vực GD, đào tạo y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân và thể dục thể thao Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong các HĐ sự nghiệp và nâng cao CL cung cấp dịch vụ công
Trang 37- Phát huy tổng hợp các nguồn lực để phát triển sự nghiệp GD và nâng cao CLGD toàn diện, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia
- Đảm bảo huy động 28 % số cháu vào nhà trẻ, 95% số cháu vào mẫu giáo; 100% số trẻ 5 tuổi được đến lớp học, 100% số trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 100% HS tiểu học được học 2 buổi trên ngày; 100% HS học xong tiểu học vào lớp 6, phấn đấu
90 - 95% học học hết bậc trung cơ sở vào học các trường THPT, trung học chuyên nghiệp và học nghề; 45% trở lên số HS tốt nghiệp THPT vào học đại học, cao đẳng Phấn đấu tỷ lệ HS khá giỏi bậc tiểu học là 70%, bậc THCS là 45% và THPT
là 20%; giữ vững kết quả HSG phổ thông ổn định ở thứ bậc cao trong nước Nâng cao CL đào tạo, nhất là phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng cho sự phát triển KT - XH trong Thủ đô
- Đảm bảo đủ số lượng, CL và đồng bộ các loại hình GV: 100% GV phổ thông, GV nhà trẻ, GV mẫu giáo đạt chuẩn đào tạo, trong đó GV đạt trình độ trên chuẩn ở bậc tiểu học là 75%, THCS là 55%, THPT là 30% Đảm bảo về diện tích
và khuôn viên các trường học theo định mức tối thiểu Đến năm 2010, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100%; 100% số trường THCS và THPT có phòng học bộ môn, phòng thư viện theo quy định
1.4.3.2 Định hướng phát triển giáo dục của Quận Thanh Xuân
Theo định hướng phát triển GD năm 2010-2015, để đạt được mục tiêu đề ra, Ban chấp hành Đảng bộ quận Thanh Xuân khoá IV, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã xây dựng các chương trình và các đề án thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ Quận và đã triển khai thực hiện trong phạm vi toàn Quận.Trong đó theo phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển quận giai đoạn 2010-2015 về lĩnh vực GD và đào tạo là :
- Xây dựng đội ngũ GV, CBQ Lđảm bảo đủ về số lượng đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn theo quy định
- Đổi mới công tác QL, thực hiện tốt các cuộc vận động lớn của ngành, từng bước xây dựng nhà trường theo hướng chuẩn hóa, HĐH và XH hóa Bồi dưỡng
Trang 38nâng cao đạo đức nghề nghiệp, trình độ CM, kiến thức sư phạm, CLDH cho đội ngũ GV, kiến thức QL nhà nước cho CB lãnh đạo các trường
- Xây dựng môi trường GD lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và XH
- Nâng cao CL pháp luật, thể chất, hướng nghiệp, đảm bảo sự phát triển toàn diện, lành mạnh về sức khỏe, trí tuệ
Như vậy, QL nâng cao CLGD toàn diện trong đó QL nâng cao CLDH môn Ngữ văn là nhiệm vụ của các nhà QLGD sẽ góp phần nhằm đặt được những định hướng GD của Thành phố Hà Nội nói chung và Quận Thanh Xuân nói riêng
Kết luận chương 1
Trong chương này tác giả đã tập trung làm sáng tỏ các khái niệm: QL, QLGD, chất lượng HĐDH môn Ngữ văn, CLDH môn Ngữ văn, cũng như làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về DH môn học Ngữ văn trong trường THCS, Nội dung chất lượng HĐDH môn Ngữ văn trong nhà trường THCS và những yếu tố QL ảnh hưởng đến CL dạy và học môn Ngữ văn Những vấn đề lý luận nói trên sẽ định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng chất lượng HĐDH môn Ngữ văn trong các trường THCS ở Quận Thanh Xuân, thành phố Hà nội và đề xuất các giải pháp QL nâng cao chất lượng HĐDH môn Ngữ văn ở trong các nhà trường trên địa bàn này
ở chương 2 và chương 3 của luận văn
Trang 39Chương II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ, QUẬN THANH XUÂN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát tình hình Kinh tế, xã hội, giáo dục ở quận Thanh Xu n, thành phố Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Quận Thanh Xuân, thành phố Hà nội được thành lập từ 01/01/1997 với 11 phường; có diện tích 913,2 ha Quận Thanh Xuân giáp quận Hai Bà Trưng về phía Đông; phía Tây Bắc giáp quận Cầu Giấy, phía Tây giáp quận Hà Đông và huyện
Từ Liêm; phía Bắc quận Đống Đa; phía Nam giáp huyện Thanh Trì
- Từ ngày 01/8/2008 thực hiện Nghị quyết 15 của Quốc hội về việc mở rộng địa giới hành chính của Thủ đô, quận Thanh Xuân đã trở thành quận trung tâm, có địa bàn thuận lợi và gần các trung tâm chính trị, KT, văn hoá của Thủ đô và đất nước
- Đến tháng 4/2009 quận Thanh Xuân có 214.765 người (theo kết quả điều tra dân số) Mật độ dân số bình quân khoảng 24.252 người/ km2 Lao động trong độ tuổi của quận Thanh Xuân hiện nay khoảng 12000 ngàn người, chiếm 54,1% so với tổng dân số toàn Quận
2.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội
Qua 13 năm thành lập Quận, 25 năm đổi mới của Đảng, Nhà nước và Chính phủ với sợ nỗ lực của các cấp, các ngành, các đơn vị các doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước, nền KT của quận Thanh Xuân liên tục tăng trưởng, sản xuất CN
tăng bình quân 16,4 %/năm (tăng 2,2 so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ Quận lần
thứ III đề ra), giá trị thương mại dịch vụ tăng 14%/năm (tăng 2,3 so với chỉ tiêu
Đại hội Đảng bộ Quận lần thứ III đề ra) KT quận Thanh Xuân phát triển đúng định hướng cơ cấu: CN - Dịch vụ Ngành CN tuy có xu hướng giảm dần, nhưng
Trang 40vẫn chiếm tỷ trọng lớn (năm 2006 giá trị sản xuất CN chiếm 50%, đến năm 2010 giảm xuống còn 44,1 %) KT vốn đầu tư nước ngoài phát triển chậm, chiếm tỷ trọng nhỏ (năm 2006 chiếm 2,93% đến năm 2010 chiếm 1,76%) Một số dịnh vụ mới phát triển khá nhanh như ngân hàng, tín dụng, cho thuê nhà, khám chữa bệnh, dịch vụ, đào tạo nghề Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn quận Thanh Xuân tăng bình quân là 17.5 %/ năm, vượt cao so với KH được giao, năm sau thu cao hơn năm trước bình quân 48%/ năm, trong đó thu từ thuế ngoài quốc doanh tăng
53 %/ năm Chi ngân sách kịp thời, đáp ứng nhu cầu phát triển KT- XH, đảm bảo
an ninh, quốc phòng, QL nhà nước, đầu tư phát triển, đúng chế độ, tiết kiệm, hiệu quả Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, công tác an ninh chính trị được đảm bảo, trật tự an toàn XH được giữ vững, công tác quốc phòng và quân sự địa phương được tăng cường, hệ thống chính trị ngày càng được củng cố
2.1.3 Tình hình giáo dục
2.1.3.1 Tình hình chung:
- Quận Thanh Xuân là trung tâm văn hoá và GD Trên địa bàn Quận có nhiều trường ĐH, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề của trung ương cũng như địa phương với hàng vạn sinh viên và HS theo học
- Toàn quận Thanh Xuân có 2 trường THPT công lập, 3 trường phổ thông ngoài công lập liên cấp 2+3, 11 trường THCS, 12 trường tiểu học, 23 trường mầm non và 1 trung tâm GD thường xuyên, 1 trung tâm dạy nghề Mạng lưới trường, lớp của quận Thanh Xuân ngày càng được củng cố vững chắc và đi vào HĐ có hiệu quả
Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, coi "GD là quốc sách
hàng đầu", quận Thanh Xuân đã tập trung chăm lo sự nghiệp GD, coi đây là nhiệm
vụ chiến lược để xây dựng và phát triển con người Hệ thống các trường được quan tâm đầu tư cả về CSVC và đội ngũ GV Với thành tích chung của quận Thanh Xuân trong giai đoạn từ năm 2006 dến năm 2010 công tác GD & ĐT đạt kết quả