1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị tỉnh thanh hóa giai đoạn 2011 2012

132 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa là đơn vị trực thuộc Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh, với chức năng cơ bản là đào tạo trình độ trung cấp lý luận chính trị, kiến thức pháp luật và quản lý

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sinh thời, khi bàn về vai trò của công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Mọi việc thành công hoặc thất bại là do cán bộ tốt hay kém, chính vì vậy, Người luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, phẩm chất cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và coi công tác huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng

Thực tiễn cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua đã chứng minh: Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng Sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo của Đảng và cao hơn là vận mệnh của Đảng, của dân tộc được quyết định bởi bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng và trình độ của đội ngũ cán bộ, đảng viên Bởi vậy, khi bàn về chiến lược công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hội lần thứ III Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: Cán bộ

là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và xu thế hội nhập quốc

tế ngày càng sâu rộng hơn, khi mà thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn, các nhân tố tích cực và tiêu cực đan xen nhau thì việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị, bản lĩnh cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

1.2 Hiện nay cả nước đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đối với Thanh Hoá, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã đặt ra mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2020 Thanh Hoá trở thành một trong những tỉnh tiên tiến Đây là mục tiêu chính trị, ý chí quyết tâm của Đảng

bộ, chính quyền, cả hệ thống chính trị và nhân dân trong tỉnh Để đạt được

Trang 2

mục tiêu trên, đòi hỏi phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến

cơ sở có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn cao, đủ năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị đã

đề ra trong giai đoạn mới

1.3 Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa là đơn vị trực thuộc Tỉnh ủy

và Ủy ban nhân dân tỉnh, với chức năng cơ bản là đào tạo trình độ trung cấp lý luận chính trị, kiến thức pháp luật và quản lý nhà nước, đồng thời bồi dưỡng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị từ cấp xã đến cấp tỉnh góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vững vàng

về bản lĩnh chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ… đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương, đất nước Ngoài ra, Trường Chính trị còn có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn, thực hiện chức năng tham mưu cho Tỉnh

ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác xây dựng đảng và phát triển kinh tế -

xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

1.4 Thực hiện chức năng, nhiệm vụ nêu trên, những năm qua Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa đã đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình

độ lý luận chính trị, phẩm chất cách mạng, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước cho đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị cơ sở Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng cán bộ và công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn trong giai đoạn mới đang đặt ra cho Trường Chính trị tỉnh phải nâng cao chất lượng toàn diện về cơ sở vật chất, trang thiết bị; về đội ngũ giảng viên, trong đó nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đóng vai trò quyết định

1.5 Nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2020”, chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống các giải pháp cơ bản nhằm

Trang 3

đẩy mạnh công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011 – 2020” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011 - 2020

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011 - 2020

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của các trường Chính trị trong giai đoạn hiện nay

5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa

5.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường chính trị tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2011 – 2020

Trang 4

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, gồm:

Phương pháp phân tích;

Phương pháp tổng hợp;

Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập thông tin thực tiễn, xây dựng

cơ sở thực tiễn của đề tài Nhóm phương pháp này bao gồm:

Phương pháp quan sát;

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục;

Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động;

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

6.3 Phương pháp thống kê toán học

7 Đóng góp của luận văn

7.1 Về mặt lý luận

Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh nói riêng

7.1 Về mặt thực tiễn

Đánh giá một cách toàn diện đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá hiện nay; từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2011- 2020

Trang 5

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán

Trang 6

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI

NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Lịch sử phát triển của xã hội loài người qua các thời kỳ, con người đều phải lao động để tồn tại và phát triển Trong đó, có nhiều hình thức lao động yêu cầu sự đoàn kết, phối hợp giữa con người với nhau trong một tập thể, ở một quy mô nhất định, mới đạt được hiệu quả, từ đó, xuất hiện dạng lao động mới mang tính đặc thù, được gọi là hoạt động quản lý

Đối với công tác giáo dục, việc nâng cao chất lượng quản lý giáo dục

và đào tạo là mục tiêu phấn đấu của toàn ngành nói chung và từng trường học nói riêng Hiện nay, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý đội ngũ, quản lý dạy học… của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Quá trình phát triển của xã hội loài người đã xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu về lý luận khoa học quản lý Các quan niệm quản lý sơ khai ra đời từ trong tư tưởng triết học cổ đại Hy Lạp và Trung Hoa, tiêu biểu như, Xôcrát (469 - 349 TCN), Platôn (427 - 347 TCN), Arixtốt (384 - 322 TCN), Khổng Tử (551 - 478 TCN), Mạnh Tử ( 372 - 289 TCN) Trong

đó, quan điểm quản lý của Khổng Tử, Mạnh Tử là “đức trị, lễ trị”, lấy chữ

“tín” làm đầu Đến thế kỷ XVI, phương Tây xuất hiện nhà sư phạm lỗi lạc J.A.Cômenxki (1592 - 1670), là người đặt nền móng cho lí luận dạy học tiên tiến, hoàn toàn xứng đáng với vị trí là “ông tổ của nền sư phạm cận đại”; ông đã đưa ra các vấn đề về giáo dục hòa nhập, giáo dục quốc tế, giáo dục tích cực, lấy học sinh làm trung tâm…; tư tưởng của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình giáo dục hiện nay Sang thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu như, Harold Kôntz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich đã công bố

Trang 7

“Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thành hệ thống, góp phần thúc đẩy ngành khoa học quản lý phát triển trên khắp thế giới

Ở Việt Nam khoa học quản lý mới hình thành vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, được kế thừa những tư tưởng tiến bộ của các bậc hiền triết thời cổ đại và các nhà khoa học hiện đại, nên ngành khoa học này đã có những thành tựu tương xứng với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế

Trong lĩnh vực quản lý giáo dục, ở Việt Nam, những năm qua đã xuất hiện nhiều nhà khoa học với các công trình nghiên cứu về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học mà tiêu biểu như, Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Vũ Ngọc Hải, Đặng Thành Hưng, Trần Kiểm, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên… Trong đó, các công trình nghiên cứu về

“Phương pháp lý luận khoa học giáo dục” của tác giả Phạm Minh Hạc (1981);

“Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” của Nguyễn Ngọc Quang (1989); “Các học thuyết về quản lý” của Nguyễn Thị Doan, Phùng Kỳ Sơn, Đỗ Minh Cương (1996); “Cơ sở khoa học của quản lý” của Nguyễn Minh Đạo đã góp phần to lớn vào thành công chung của ngành khoa học quản lý giáo dục

Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều đề cập đến vấn đề quản

lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường trên nhiều góc độ

Bước sang thế kỷ XXI, vấn đề nâng cao hiệu quả công tác quản lý trở thành yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển Những vấn đề về công tác quản lý trong nước, là tiền đề để tiếp tục nghiên cứu, tìm ra các biện pháp, giải pháp quản lý hiệu quả Đối với hệ thống Trường Chính trị Tỉnh, với chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong thời kỳ mới, thì vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý phải đặc biệt được quan tâm và nghiên cứu Trước đây, đã có một số công trình nghiên cứu được đăng tải trên các báo, tạp chí về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý,

Trang 8

như “Sự cần thiết phải nâng cao ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ Trường Chính trị Phú Thọ”, “Đưa nhà trường thoát khỏi tình trạng khó khăn vươn lên biến đổi về mọi mặt”, “Thực hiện tốt chức năng của người cán bộ quản lý”, “Suy nghĩ về công tác quản lý học tập trong trường Chính trị”, “Hiệu quả của việc kiểm tra toàn diện của nhà trường về hoạt động quản lý, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của các khoa, phòng”, “Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ”, “Thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng, công tác quản lý ở Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một vài khía cạnh của vấn đề nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong hoạt động quản lý dạy học, quản lý phục vụ các lớp học, quản lý nhân sự, quản lý tài sản, song, mới chỉ dừng lại ở dạng khái quát, chung chung Nhất là, vấn đề nghiên cứu về các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị Thanh Hoá chưa được

đề cập và nghiên cứu Do đó, việc nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị Thanh Hoá, giai đoạn 2011

- 2020 là yêu cầu cần thiết, có tác dụng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường, đáp ứng được nhiệm vụ, yêu cầu đào tạo cán bộ trong thời kỳ mới

1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội thì ở đó cần đến quản lý, kể cả nhóm chính thức và nhóm không chính thức, là nhóm nhỏ hay nhóm lớn, nhóm bạn bè, gia đình, hay các đoàn thể, tổ chức xã hội, bất

kể mục đích hoạt động như thế nào Trong quá trình xây dựng lý luận quản

lý, nhiều nhà nghiên cứu lý luận quản lý đã đưa ra các khái niệm về quản lý khác nhau

Trang 9

Theo Mary Parker Follet, quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác Afanaxev.A.G cho rằng, quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã hội, tập thể để những cái đó có lợi cho cả tập thể

và cá nhân, thúc đẩy sự tiến bộ của cả xã hội lẫn cá nhân

Theo Harold Kôntz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản

lý ”, cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nó” “Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [19, tr33]

Theo tác giả P.Barangé: Quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách đặt

ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt, là lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt các mục tiêu đã định

Theo Ômarốp: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) nhằm thực hiện các nhiệm vụ sản xuất và dịch

vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu

Trong Từ điển Tiếng Việt cho rằng: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định [41, tr 772]

Giáo trình “Quản lý Hành chính Nhà nước” của Học viện Hành chính Quốc gia nêu khái niệm: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến

Trang 10

Tác giả Nguyễn Bá Dương cho rằng: “Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể xã hội” [11, tr 55]

“Quản lý” là một từ Hán Việt được ghép giữa từ “quản” và “lý”,

“quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; “lý”

là sự sửa sang, sắp xếp làm cho nó phát triển Như vậy, “quản lý” là sự trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho sự vật ổn định và phát triển

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “Quản lý” có nghĩa là: Tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một số cơ quan; quản lý lao động, cán bộ quản

lý, quản lý theo công việc Trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì [44, tr 1363] “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể người quản lý (tổ chức quản lý), lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế và các hoạt động khác bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể” [30, tr 3] Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất hơn Đó chính

là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra

Ngoài các khái niệm trên còn xuất hiện nhiều khái niệm về quản

lý theo các quan điểm khác nhau như: Quan điểm triết học: Quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan để đạt mục tiêu nào đó Theo quan điểm kinh tế, F.Taylor (1856 - 1915), người theo trường phái quản lý theo kiểu khoa học: Quản lý là cải

Trang 11

tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc và quản lý

là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất

Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức của chủ thể quản

lý lên những người lao động để sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng, cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra theo đúng luật định hiện hành Như vậy, theo quan điểm kinh tế, quản lý luôn chú ý đến sự vận hành, hiệu quả kinh tế, phát triển sản xuất và sự tác động qua lại giữa các lực lượng sản xuất Theo quan điểm chính trị xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người

tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng" [18, tr 7]

Quan điểm của học thuyết Mác - Lênin về quản lý: Toàn thể thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, một hệ thống Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vậy, tức cũng

là một hệ thống

Theo quan điểm này thì quản lý là một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình hoạt động

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với yêu cầu khách quan Quản lý gồm hai thành phần như: Chủ thể quản lý là người hoặc

tổ chức do con người cụ thể lập nên: Khách thể quản lý có thể là người,

tổ chức, vừa có thể là vật thể cụ thể như; máy móc, môi trường, thiên

Trang 12

nhiên , vừa có thể là sự việc; luật lệ, quy chế, quy phạm kỹ thuật Song,

có khi khách thể là người tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp thấp hơn

Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại tương

hỗ lẫn nhau “Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý" [6, tr 45]

Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp lý các tác động nhằm đạt mục tiêu Do đó, quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa tri thức và lao động

Như vậy, có thể hiểu quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản

lý để đạt mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động

Hoạt động quản lý thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý

Chủ thể quản lý là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức

Cá nhân làm chủ thể quản lý được gọi chung là cán bộ quản lý

Chủ thể

quản lý

Công cụ quản lý

Khách thể quản lý

Phương pháp quản lý

Mục tiêu quản lý Môi trường QL

Trang 13

Đối tượng quản lý cũng là một cá nhân, một nhóm người hay một tổ chức Công cụ quản lý là các phương tiện mà chủ thể quản lý dùng để tác động đến đối tượng quản lý như các văn bản luật, quyết định, chỉ thị…

Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, phương pháp quản lý rất phong phú, phương pháp thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính - tổ chức, phương pháp tâm lý - giáo dục… Tuỳ theo tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau và kết hợp các phương pháp với nhau trong quá trình quản lý

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, là sự tác động

có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn

“Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân”[30, tr 5]

Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Vậy quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp qui luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến

Trang 14

tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ

và đối với từng học sinh” [20, tr 34]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạng thái về chất” [33, tr 35]

Nguyễn Gia Quý khái quát: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục đích đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân” [34, tr 12]

Khái niệm về quản lý giáo dục đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng cơ bản đều thống nhất về nội dung, bản chất

Quản lý giáo dục bao gồm:

Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý giáo dục các cấp

Khách thể quản lý: Hệ thống giáo dục quốc dân, các trường học Quan hệ quản lý: Đó là những mối quan hệ giữa người học và người dạy; quan hệ giữa người quản lý với người dạy, người học; quan hệ người dạy - người học;… Các mối quan hệ đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng hoạt động của nhà trường, của toàn bộ hệ thống giáo dục

Xét về góc độ khoa học: Quản lý giáo dục là điều khiển toàn

bộ những hoạt động của cả cộng đồng, điều khiển quá trình dạy và học nhằm tạo ra những thế hệ có đức, có tài phục vụ sự phát triển của xã hội Xét về mặt bản chất, quản lý giáo dục là một hiện tượng xã hội được thể hiện các mặt như:

Trang 15

Quản lý giáo dục là một loại hình hoạt động chuyên biệt nhưng ảnh hưởng đến toàn xã hội, mọi quyết định, thay đổi của giáo dục đều có ảnh h-ưởng đến đời sống xã hội

Quản lý giáo dục là loại hình quản lý được đông đảo thành viên tham gia Bản thân quản lý giáo dục là hoạt động mang tính xã hội, đòi hỏi phải huy động nhân lực, nguồn lực lớn

Giáo dục truyền đạt, lĩnh hội những giá trị kinh nghiệm lịch sử xã hội tích luỹ qua các thế hệ Xã hội muốn tồn tại, phát triển thì phải phát triển giáo dục và đào tạo

Nội dung quản lý giáo dục bao gồm một số vấn đề cơ bản, như xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển giáo dục, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng cán

bộ quản lý, giáo viên, huy động quản lý sử dụng các nguồn lực

Như vậy: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, cán bộ, kế hoạch hoá…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các

cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng

hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [25, tr 93]

Trong quản lý giáo dục, việc xác định các mục tiêu, mục đích giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng Nếu xác định không đúng mục tiêu, mục đích trong công tác quản lý giáo dục sẽ gây ra những tổn thất lớn lao

và để lại những hậu quả nặng nề

1.2.3 Quản lý trường học

Quản lý trường học là một bộ phận của quản lý giáo dục, được xác định trong một đơn vị, cơ sở cụ thể là trường học

Trang 16

Trường học: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của 2 nhân tố thầy - trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở” [3, tr 63]

Trường học là đơn vị cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục toàn diện cho các tập thể học sinh, sinh viên Trường học được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân và con dấu riêng

Quản lý trường học là một bộ phận của quản lý giáo dục, được xác định trong một đơn vị cơ sở cụ thể đó là trường học Quản lý trường học gồm 2 loại: Tác động của những chủ thể quản lý bên trong và bên ngoài nhà trường; tác động của những chủ thể quản lý bên trong Nhà trường

Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản

lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục Quản lý giáo dục (theo nghĩa rộng) là quản lý mọi hoạt động về giáo dục trong xã hội Các cấp quản lý giáo dục bao hàm từ trung ương đến địa phương và các cơ sở trường học

Quản lý giáo dục (theo nghĩa hẹp) là các hoạt động diễn ra trong ngành giáo dục và đào tạo hay một đơn vị cơ sở trường học, thì quản lý giáo dục được hiểu là quản lý một đơn vị cơ sở giáo dục và đào tạo, quản lý nhà trường hay quản lý trường học

Quản lý trường học là một nội dung quan trọng trong hệ thống quản

lý giáo dục, và là một trong những cơ sở của ngành giáo dục

Theo Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức

Trang 17

là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [20, tr 22] Ông nhấn mạnh: Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy và học

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của Nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học thế hệ trẻ tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [33, tr 35]

Quản lý trường học chính là công việc của nhà trường mà người cán

bộ quản lý thực hiện các chức năng, nhiệm vụ công tác của mình Đó chính

là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch của chủ thể quản lý tác động đến các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của quá trình dạy và học

Các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau, song tất cả đều có điểm chung về bản chất của quản lý trường học, đó là; hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý nhằm thúc đẩy trường học vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng để thực hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng mà Nhà trường được cấp trên giao phó Như vậy, có thể hiểu công tác quản lý trường học bao gồm; sự quản lý các quan hệ nội bộ của nhà trường và quan hệ giữa trường học với xã hội Bản chất của công tác quản lý trường học là quá trình chỉ huy, điều khiển, vận động các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành

tố trong nhà trường qui định

Trang 18

Các thành tố đó là: Mục đích giáo dục; nội dung giáo dục; phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục; giảng viên; học viên; cơ sở vật chất, thiết

bị phương tiện dạy học

Để đạt hiệu quả trong giáo dục và đào tạo, người cán bộ quản lý phải

có những phương pháp tạo nên mối quan hệ hỗ trợ tích cực của các thành

tố đó

Như vậy, quản lý trường học nói chung và quản lý trường Chính trị nói riêng là tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và công việc phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích đào tạo, bồi dưỡng

1.2.4 Đội ngũ và đội ngũ cán bộ quản lý trường học

1.2.4.1 Đội ngũ

Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa: Đội ngũ là khối đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng

Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu trong tác phẩm “Quản lý bộ máy tổ chức và quản lý nhân sự trong nhà trường”, cho rằng: Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp tập hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức)

1.2.4.2 Cán bộ quản lý

Theo Từ điển Tiếng Việt cán bộ quản lý là: “Người có chức vụ trong một

cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ” [41; tr 105]

Cán bộ quản lý là chủ thể quản lý gồm những người giữ vai trò tác động, ra lệnh kiểm tra, giám sát đối tượng quản lý Cán bộ quản lý là người chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý cơ quan và chịu sự lãnh đạo, quản lý của cấp trên

Trang 19

Cán bộ quản lý có thể là trưởng hoặc phó trưởng của một tổ chức được cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật nhà nước về việc được phân công phụ trách Cán bộ quản lý được phân ra nhiều cấp bậc khác nhau như; cán bộ quản lý cấp Trung ương; cán

bộ quản lý cấp địa phương; cán bộ quản lý cấp cơ sở

Như vậy, cán bộ quản lý là lực lượng quan trọng, không thể thiếu, làm nòng cốt của bộ máy tổ chức Do đó, cán bộ quản lý phải có những phẩm chất và năng lực nổi trội hơn những người khác trong đơn vị

1.2.4.3 Đội ngũ cán bộ quản lý trường học

Từ những khái niệm đã nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Đội ngũ cán

bộ quản lý trường học bao gồm những người đứng đầu Nhà trường, đứng đầu các khoa, phòng, bộ môn trong trường, tập hợp lại thành một lực lượng có trách nhiệm và quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ được phân công phụ trách, cùng hướng đến hoàn thành mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đã được xác định

1.2.5 Chất lƣợng và chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý

1.2.5.1 Chất lượng

Theo Từ điển Tiếng Việt: Chất lượng là phạm trù triết học biểu hiện những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lượng biểu hiện ra bên ngoài, qua các thuộc tính Nó

là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượng của

nó và không thể tồn tại ngoài quy luật ấy Một sự vật là một thể thống nhất giữa số lượng và chất lượng

Không có sự vật nào lại không có tính quy định về chất lượng, không

có sự tồn tại nào lại thiếu tính quy định về chất luợng Mỗi sự vật khác

Trang 20

nhau đều có tính quy định về chất lượng khác nhau Chất lượng của các sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua các thuộc tính của nó Mỗi sự vật bao gồm nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính tham gia vào việc quy định chất lượng của sự vật không giống nhau Thuộc tính bản chất tồn tại trong suốt quá trình phát triển của sự vật, giữ vai trò quyết định sự vật làm cho nó khác với sự vật khác, nếu thuộc tính cơ bản mất đi thì sự vật không còn nữa

Như thế, khái niệm về chất lượng là sự phản ánh mặt quyết định của

sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan

1.2.5.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

Chất lượng về đội ngũ cán bộ quản lý bao hàm nhiều yếu tố cộng hưởng như; tinh thần, trách nhiệm đối với công việc được phân công phụ trách; trình độ chuyên môn, trình độ nghiệp vụ quản lý, phương pháp quản

lý và trình độ lý luận chính trị; cơ cấu đội ngũ; năng lực quản lý

Từ quan niệm về đội ngũ cho chúng ta nhận thấy, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường học là toàn bộ những thuộc tính, đặc điểm của đội ngũ quản lý trường học Những thuộc tính, cấu trúc đó gắn bó với nhau trong một tổng thể thống nhất tạo nên giá trị và sự tồn tại, phát triển của độ ngũ, làm cho đội ngũ cán bộ quản lý khác với đội ngũ khác

1.2.6 Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường Chính trị

1.2.6.1 Giải pháp

Theo Từ điển tiếng Việt: “Giải pháp được xem là phương pháp giải quyết một công việc, một vấn đề cụ thể” [41; tr.387]

Còn theo Nguyễn Văn Đạm: “Giải pháp là toàn bộ những ý nghĩa có

hệ thống cùng với những quyết định và hành động theo sau, dẫn tới sự khắc phục một khó khăn” [12; tr 325]

Để hiểu rõ hơn khái niệm giải pháp, chúng ta cần phân biệt với một số khái niệm tương tự như: phương pháp, biện pháp Điểm giống nhau của các

Trang 21

khái niệm này đều nói về cách làm, cách tiến hành, cách giải quyết một công việc, một vấn đề Còn điểm khác nhau ở chỗ, biện pháp chủ yếu nhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể, trong khi đó phương pháp nhấn mạnh đến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc có mục đích

Theo Nguyễn Văn Đạm: “Phương pháp được hiểu là trình tự cần theo trong các bước có quan hệ với nhau khi tiến hành một công việc có mục đích nhất định” [12; tr 325]

Còn theo Hoàng Phê: “Phương pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một công việc nào đó” [32; tr 30 ]

Về khái niệm biện pháp, theo Từ điển tiếng Việt, đó là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [41; tr.64]

Như vậy, khái niệm giải pháp tuy có những điểm chung với các khái niệm trên nhưng nó cũng có điểm riêng Điểm riêng cơ bản của thuật ngữ này là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn đề, với sự khắc phục khó khăn nhất định Trong một giải pháp có thể có nhiều biện pháp

1.2.6.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị

là hệ thống các cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản

lý trường chính trị, thực chất là đưa ra các cách thức nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị

Trang 22

1.3 VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.3.1 Quyền hạn và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị

1.3.1.1 Quyền hạn và trách nhiệm của Hiệu trưởng

Hiệu trưởng là người trực tiếp lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động của Nhà trường theo quy định của pháp luật Hiệu trưởng có những quyền hạn và trách nhiệm sau:

Về tổ chức và nhân sự: Quyết định thành lập và giải thể các tổ chức của trường; ban hành và bãi bỏ các nội quy, quy định trong nội bộ trường nhằm đảm bảo việc điều hành, kiểm tra và giám sát mọi hoạt động của Nhà trường theo đúng các quy định hiện hành; quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh trong các tổ chức của Nhà trường; xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giảng viên; tổ chức việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và tạo điều kiện cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các sinh hoạt đoàn thể và hoạt động xã hội; tổ chức thi tuyển giảng viên, cán

bộ, nhân viên; quyết định việc tiếp nhận, chuyển ngạch các chức danh được thực hiện theo các văn bản quy định của nhà nước; thực hiện Quy chế dân chủ trong các hoạt động của nhà trường; bảo đảm quyền lợi người học theo quy định của Quy chế; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về các mặt hoạt động của trường theo quy định hiện hành; thực hiện chế độ khen thưởng,

kỷ luật theo quy định của nhà nước; đảm bảo trật tự, an ninh và an toàn trong nhà trường

Về đào tạo, bồi dưỡng: Tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng theo

quy định của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và Học Viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; chịu trách nhiệm về chất lượng đạo tạo, bồi dưỡng học viên hệ tập trung và hệ tại chức; xây dựng kế hoạch, tổ chức

Trang 23

thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tổng kết thực

tiễn, biên soạn tài liệu học tập

Về tài chính, tài sản và đầu tư: Hiệu trưởng là chủ tài khoản của Nhà trường, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ công tác quản lý tài chính và tài sản của nhà trường; ký duyệt hay bãi bỏ các quyết định về thu chi tài chính trong phạm vi quy định của trường, thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý tài chính, tài sản và đầu tư của nhà nước; quyết định về tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự của bộ phận nghiệp vụ tài chính kế toán trong trường; quyết định điều tiết các nguồn vốn, quỹ, nguồn kinh phí, điều động tài sản giữa các đơn vị trực thuộc trường; quyết định về kiểm tra tài chính, kiểm tra kế toán, kiểm toán, thẩm tra xét duyệt quyết toán trong nội bộ trường; quyết định ban hành quy chế chi tiêu nội bộ; quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng, tuỳ theo nội dung và hiệu quả công việc

Về quan hệ đối ngoại: Hiệu trưởng tổ chức thực hiện các nhiệm vụ

về đối ngoại theo quy định của pháp luật; nhất là, gìn giữ và phát huy mối quan hệ tốt đẹp với hệ thống Học Viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, với các trường đại học trong cả nước và các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các địa phương, đơn vị trong tỉnh

1.3.1.2 Quyền hạn và trách nhiệm của Phó Hiệu trưởng

Phó hiệu trưởng giúp Hiệu trưởng quản lý và điều hành các hoạt động của Nhà trường; trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực công tác theo sự phân công của Hiệu trưởng và giải quyết các công việc do Hiệu trưởng giao; khi giải quyết công việc, Phó Hiệu trưởng thay mặt Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về kết quả công việc được phân công phụ trách

Trang 24

1.3.1.3 Quyền hạn và trách nhiệm của các Khoa, Phòng chuyên môn

* Đối với Trưởng, Phó trưởng phòng chức năng:

Trưởng phòng là người đứng đầu phòng chức năng do Hiệu trưởng

bổ nhiệm Giúp việc cho Trưởng phòng có các Phó trưởng phòng Chế độ

bổ nhiệm, bổ nhiệm lại thực hiện theo quy định hiện hành

Trưởng phòng chức năng có trách nhiệm và quyền hạn như: Tham mưu và giúp Hiệu trưởng quản lý, tổng hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức thực hiện các nội dung công việc được giao; chuẩn bị các phương án, kế hoạch,

dự thảo các quyết định của Hiệu trưởng trong phạm vi chức năng; là đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện nhiệm vụ được phân công phụ trách; giải quyết công việc hàng ngày thuộc phạm vi quản lý của phòng; báo cáo kết quả công tác của đơn vị cho Hiệu trưởng theo định kỳ; tổ chức, theo dõi, kiểm tra cán bộ, viên chức trong đơn vị về việc thực hiện nhiệm vụ được giao; nhận xét, đánh giá cán bộ và nhân viên thuộc quyền; đề xuất việc khen thưởng, kỷ luật cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý của mình để cấp trên xem xét và quyết định

* Đối với Trưởng, phó khoa chuyên môn:

Đứng đầu các khoa là Trưởng khoa do Hiệu trưởng bổ nhiệm, và miễn nhiệm Giúp việc cho trưởng khoa có các Phó trưởng khoa do Hiệu trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm

Trưởng khoa có trách nhiệm và quyền hạn như: Là người chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về việc lãnh đạo, quản lý toàn diện và điều hành các hoạt động chuyên môn của đơn vị; tổ chức chỉ đạo đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao theo kế hoạch công tác và các nhiệm vụ khác; phân cấp trách nhiệm quản lý giảng dạy, chuyên môn, sinh hoạt khoa học cấp bộ môn, biên soạn giáo án, giáo trình; quản lý cán bộ, giảng viên và người học trong phạm vi quản lý của đơn vị; chỉ đạo các thành viên thuộc đơn vị nghiên cứu cải tiến, hoàn thiện nội dung giáo trình, chương trình, phương

Trang 25

pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi miễn cấp phó; đề nghị bổ sung hoặc thuyên chuyển lao động khi cần thiết; đề xuất các phương án hoặc tham mưu cho Hiệu trưởng về những lĩnh vực chuyên môn

1.3.2 Mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp nâng cao chất

Mục tiêu trên được cụ thể hoá thành các điểm sau đây:

i) Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý để có đủ số lượng, đồng bộ

về cơ cấu loại hình, vững vàng về trình độ, có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề, đảm bảo chất lượng về mọi mặt để đội ngũ này thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất công tác quản lý nhà trường

ii) Phải làm cho đội ngũ cán bộ quản lý luôn có đủ điều kiện, có khả năng sáng tạo trong việc thực hiện tốt nhất những mục tiêu của nhà trường đồng thời tìm thấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu phát triển của tổ chức, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý phải tạo ra sự gắn bó kết hợp mật thiết giữa công tác quy hoạch, kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển

iii) Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý là bao gồm sự phát triển toàn diện của người cán bộ quản lý - với tư cách là con người, là thành viên trong cộng đồng nhà trường, là nhà chuyên môn, nhà khoa học trong hoạt động sư phạm

về giáo dục

Trang 26

iv) Xây dựng phát triển đội ngũ là phải làm tốt công tác quy hoạch, xây dựng được kế hoach tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên liên tục

v) Kết quả của công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý không những chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho các nhà giáo mà còn cần phải quan tâm đến những nhu cầu thăng tiến, những quyền lợi thiết thực để thực sự làm cho người cán bộ quản lý gắn bó trung thành và tận tụy với sự nghiệp của nhà trường

1.3.3.2 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị

Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị bao gồm các vấn đề sau đây:

- Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị bảo đảm đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục chính trị trong giai đoạn hiện nay

- Xây dựng nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý trường chính trị Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn

và nghiệp vụ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị, tầm nhìn chiến lược, năng lực sáng tạo và tính chuyên nghiệp của cán bộ lãnh đạo, quản lý

- Xây dựng và ban hành chính sách mới đối với cán bộ quản lý trường chính trị

1.3.3.3 Phương pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ quản lý trường chính trị

Phương pháp xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị cũng được dựa trên những phương pháp quản lý nói chung

Trang 27

§ã là các phương pháp quản lý được vận dụng trong một nội dung cụ thể của quản lý - quản lý nhân sự trong tổ chức

Phương pháp quản lý nhân sự là hệ thống những cách thức, con đường mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động đến con người trong tổ chức, nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra

Các phương pháp quản lý con người trong tổ chức rất phong phú Chúng được hình thành chủ yếu từ ba cực tương ứng với ba trạng thái của quản lý:

- Trạng thái thứ nhất, nhà quản lý sử dụng các phương pháp dựa trên sự cam kết mang tính mệnh lệnh, cưỡng bức do quyền lực của mình mang lại

- Trạng thái thứ hai, nhà quản lý sử dụng phương pháp dựa trên sự đồng thuận, hợp tác của con người trong hệ thống Trong trường hợp này, mỗi người đều cảm thấy cần phải gắn bó với nhau để cùng làm việc trong

tổ chức thì mới đem lại kết quả chung và kết quả riêng như mong đợi

- Trạng thái thứ ba, nhà quản lý sử dụng các phương pháp dựa trên thành tựu của khoa học kỹ thuật trong quản lý

Trong khoa học quản lý và quản lý nhân sự, các phương pháp quản

lý được sử dụng để phát triển đội ngũ bao gồm:

i) Các phương pháp giáo dục, vận động, tuyên truyền

Nhóm phương pháp này bao gồm các cách thức tác động của chủ thể quản lý vào tư tưởng, tình cảm của con người trong tổ chức, nhằm nâng cao trách nhiệm, nhiệt tình của họ trong công việc, qua đó góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ

Trong phát triển đội ngũ, các phương pháp này còn được sử dụng để thuyết phục, động viên các cá nhân khi cần thiết phải có sự thay đổi trong

vị trí hoặc công việc Trong trường hợp này, các phương pháp giáo dục đã tác động đến cơ cấu của đội ngũ

Trang 28

Nhiều trường hợp, các phương pháp giáo dục còn được sử dụng để tác động đến các cá nhân hoặc nhóm thành viên trong đội ngũ để tạo ra sự hòa hợp trong các yếu tố giữa các cá nhân và của cả đội ngũ

Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm

lý Đặc trưng của phương pháp là tính thuyết phục, tức là làm cho con người phân biệt được phải - trái, đúng - sai từ đó nâng cao tính tự giác trong công việc và sự gắn bó trong tổ chức

Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý nhân sự

và phát triển đội ngũ vì đối tượng của quản lý nhân sự là con người - một thực thể năng động, là tổng hòa của nhiều mối quan hệ Vì lẽ đó tác động vào con người không thể chỉ có các tác động hành chính, kinh tế mà trước hết phải là tác động vào tinh thần, vào tình cảm của họ

ii) Các phương pháp hành chính

Các phương pháp hành chính là các phương pháp tác động dựa vào những mối quan hệ tổ chức, kỷ luật của tổ chức

Mối quan hệ tổ chức trong hệ thống quản lý là một đặc trưng của tất

cả các hệ thống quản lý Về phương diện quản lý, quan hệ tổ chức được biểu hiện thành mối quan hệ giữa quyền uy và phục tùng Vì thế các phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên tập thể những con người bằng các quyết định dứt khoát, mang tính bắt buộc, đòi hỏi mọi người trong hệ thống phải chấp nhận nghiêm ngặt, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng

Các phương pháp hành chính có vai trò quan trọng trong quản lý nhân sự, xây dựng đội ngũ của tổ chức Phương pháp này xác lập trật tự kỷ cương làm việc và hoạt động trong tổ chức, kết nối các phương pháp quản

lý khác nhằm phát huy đồng bộ sức mạnh của chúng

Các phương pháp hành chính cho hiệu lực tức thì ngay từ khi ban hành quyết định Hơn nữa, các phương pháp hành chính buộc đối tượng bị tác động phải thực hiện một cách bắt buộc, không có sự lựa chọn Điều này

Trang 29

khiến cho phương pháp có ưu thế trong việc giải quyết những tình huống nảy sinh trong tổ chức một cách có hiệu quả Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này đòi hỏi chủ thể quản lý phải có quyết định dứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ thực hiện và loại trừ khả năng có thể giải thích khác nhau đối với cùng một nhiệm vụ

iii) Các phương pháp kinh tế

Các phương pháp kinh tế là các phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế, để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ

Bản chất của các phương pháp này là đặt mỗi cá nhân vào những điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích của bản thân với lợi ích chung của tổ chức Điều đó cho phép cá nhân lựa chọn con đường hiệu quả để thực hiện nhiệm vụ của mình Các phương pháp kinh tế tác động lên con người trong tổ chức không phải bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là nêu mục tiêu nhiệm vụ phải đạt được, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế Do đó, các phương pháp kinh tế chấp nhận có thể có những giải pháp kinh tế khác nhau cho cùng một vấn

đề Đồng thời khi sử dụng các phương pháp này, chủ thể quản lý phải biết tạo ra những tình huống, những điều kiện để lợi ích cá nhân và từng nhóm phù hợp với lợi ích của cả tổ chức

Khi sử dụng phương pháp kinh tế, cần chó ý mét sè ®iÓm sau ®©y:

- Việc áp dụng phương pháp kinh tế luôn luôn gắn với việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tiền lương, tiền thưởng Nhìn chung, việc sử dụng các phương pháp kinh tế có liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ Để nâng cao hiệu quả sử dụng các phương pháp kinh tế phải hoàn thiện các đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan hệ thị trường

- Để áp dụng phương pháp kinh tế, phải thực hiện sự phân cấp quản lý một cách đúng đắn giữa các cấp quản lý

Trang 30

- Sử dụng các phương pháp kinh tế, đòi hỏi cán bộ quản lý phải có

đủ trình độ và năng lực về nhiều mặt Bởi vì sử dụng các phương pháp kinh

tế đòi hỏi cán bộ quản lý phải biết và thông thạo về các vấn đề kinh tế, đồng thời phải có phẩm chất đạo đức vững vàng

1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản

lý trường Chính trị trong giai đoạn hiện nay

Đội ngũ cán bộ quản lý trường học có vai trò rất quan trọng cho sự thành công hay thất bại trong sự nghiệp giáo dục của Nhà trường Sản phẩm lao động của đội ngũ cán bộ quản lý là “nhân cách - sức lao động” Đội ngũ cán bộ quản

lý trường học là một bộ phận lao động tinh hoa của Nhà trường, lao động của

họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy phát triển sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường

Khi nói về tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ quản lý trong bối cảnh giáo dục bước sang thế kỷ XXI, Tiến sĩ Raja Roy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng Ấn Độ, chuyên gia giáo dục nhiều năm của tổ chức giáo dục UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã phát biểu: Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục và đặc biệt trong việc hướng lại giáo dục: Trong quá trình dạy học giáo viên không chỉ là người truyền thụ những phần tri thức rời rạc, giáo viên cũng đồng thời là người hướng dẫn, người cố vấn, người mẫu mực của người học Giáo viên do đó không phải là người chuyên về một ngành hẹp mà là người cán bộ tri thức, người học suốt đời Trong công cuộc hoàn thiện quá trình dạy học, người dạy, người học là những người bạn cùng làm việc, cùng nhau tìm hiểu và khám phá

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 40, về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo

Trang 31

hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ

về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Trong các nhiệm vụ, cần lưu ý đến việc: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò trách nhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tuỵ với nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[13; tr3]

Nhìn chung, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của hệ thống trường Chính trị trong những năm qua được nâng lên đáng kể, góp phần to lớn vào

sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong cả nước, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới quê hương, đất nước Song, trong thực tiễn quản lý, đội ngũ này còn biểu hiện những hạn chế nhất định do nhiều yếu tố tác động, vì vậy, chúng ta cần có những biện pháp để tiếp tục khắc phục

Hiện nay, đất nước đang bước sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và phát triển nền kinh tế tri thức, đồng thời, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, đòi hỏi cấp thiết đối với Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đổi mới công tác quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội để thực hiện mục tiêu đề ra Vì vậy, hệ thống trường Chính trị tỉnh cần tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo yêu cầu của đất nước trong giai đoạn hiện nay

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Đội ngũ cán bộ quản lý là nhân tố quan trọng quyết định đến thành công hay thất bại của sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Nhà trường Đội ngũ cán bộ quản lý là trụ cột, là linh hồn để thực hiện nhiệm vụ, chức năng giáo dục

đã đặt ra Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường chính trị tỉnh

là yêu cầu cấp thiết trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn hiện nay

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Trường Chính trị cần xây dựng các giải pháp, kế hoạch cụ thể, xác định nguồn bổ sung đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp cho từng giai đoạn và chiến lược phát triển lâu dài của Nhà trường, trên cơ sở nhận thức đúng đắn những quy luật vận động, phát triển của các yếu tố liên quan đến đội ngũ cán bộ quản lý

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH

THANH HOÁ 2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH THANH HOÁ 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá

Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá tiền thân trực tiếp là Trường Đảng Hoàng Văn Thụ và trường Hành chính - Pháp lý tỉnh Trong đó, Trường Đảng Hoàng Văn Thụ đã được thành lập trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Theo Thông báo số 695-TB/TU, ngày 07-7-2009, của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá (khoá XVI) về xác định ngày truyền thống của Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá là ngày 04-6-1949, theo

“Quyết nghị án” Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ II

Hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành, tập thể Nhà trường luôn đoàn kết, quán triệt chủ trương, Nghị quyết của Đảng, bám sát chức năng, nhiệm vụ, không ngừng đổi mới, phát triển và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị Điều đó, được thể hiện trên tất cả các mặt hoạt động của Nhà trường trong các giai đoạn sau

Giai đoạn từ năm 1949 đến năm 1954: Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc bước sang giai đoạn tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công, nên cách mạng đòi hỏi có một đội ngũ cán bộ đông đảo, đáp ứng yêu cầu của hai nhiệm vụ chống đế quốc

và chống phong kiến Nhiệm vụ chính trị của Nhà trường là mở những lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày, bồi dưỡng cho cán bộ hiểu biết về cuộc kháng chiến, truyền đạt các Chỉ thị, Nghị quyết của tỉnh và tình hình nhiệm

vụ của đất nước, nâng cao tinh thần yêu nước, đạo đức cách mạng

Giai đoạn từ 1954 đến năm 1975: Dưới sự lãnh đạo của Ban Thường

vụ Tỉnh uỷ, sự chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Trung ương, Nhà trường bám

Trang 34

sát vào chức năng, nhiệm vụ, nhanh chóng chuyển hướng đào tạo, bồi dưỡng sát với tình hình, nhiệm vụ của đất nước là thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất

Tổ quốc

Vì vậy, Nhà trường vừa tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày, trang bị kiến thức về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, cải thiện đời sống nhân dân… vừa chuẩn bị đào tạo dài hạn cho cán bộ cơ sở, nhằm trang bị những hiểu biết cần thiết về lý luận Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, công tác Đảng và công tác vận động quần chúng sát với tình hình, nhiệm vụ của đất nước

Khi đế quốc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, trước tình hình và nhiệm vụ mới, Nhà trường đã nhanh chóng chuyển hướng hoạt động, vừa bảo đảm an toàn, vừa tiếp tục đào tạo với yêu cầu là trang bị cho cán bộ những hiểu biết về chiến đấu, phục vụ chiến đấu và tổ chức sản xuất, bảo đảm đời sống trong điều kiện có chiến tranh Mặt khác, phải đào tạo nhanh để cung cấp kịp thời đội ngũ cán bộ cho kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó, quán triệt Nghị quyết số NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khoá III) về công tác giáo dục chính trị Nghị quyết khẳng định: “Đại bộ phận cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý cơ sở phải học xong chương trình lý luận trung cấp” và “đi đôi với việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, phải giáo dục kiến thức về quản lý kinh tế, về chuyên môn kỹ thuật tương xứng với nhiệm vụ được giao”

23-Trước yêu cầu của công tác giáo dục lý luận chính trị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Ban Tuyên huấn Trung ương, Nhà trường đã làm tốt chương trình đào tạo sơ cấp và chuẩn bị cho việc đào tạo trung cấp lý luận chính trị

Trang 35

Giai đoạn từ năm 1975 đến 1985: Sau khi miền Nam hoàn toàn giải

phóng, đất nước thu về một mối, đặt ra cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ những nhiệm vụ mới, yêu cầu mới Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (tháng 12-1976) đã chỉ rõ: Ngày nay khi nước nhà đã được hoàn toàn độc lập và thống nhất, những vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra với tất cả chiều sâu, tầm cỡ rộng lớn và tính cụ thể của nó Điều đó đòi hỏi Đảng phải có sự nỗ lực đặc biệt trong công tác lý luận

Để thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn

cả nước tiến hành cách mạng chủ nghĩa xã hội, Nhà trường vừa tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo sơ cấp lý luận, vừa tiến hành đào tạo thí điểm chương trình trung cấp lý luận chính trị theo sự chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Trung ương vào những năm 1976, 1977, 1978 và từng bước vươn lên đảm nhiệm toàn bộ chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở, các ban, ngành, huyện, thị của địa phương, với hai hình thức đào tạo tập trung chính quy và đào tạo tại chức ở các huyện, thị xã với số lượng lớn, đáp ứng yêu cầu hoạt động thực tiễn của địa phương và tăng cường lực lượng cán bộ, giảng viên cho một số trường ở các tỉnh phía Nam

Giai đoạn từ năm 1986 đến 1993: Quán triệt sâu sắc đường lối đổi

mới toàn diện đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và rút kinh nghiệm của những khoá đào tạo trước, Nhà trường đã từng bước đưa việc mở lớp đào tạo cán bộ cốt cán cơ sở vào nề nếp, theo chức danh, cương vị trách nhiệm được phân công, bao gồm các lớp: Quản đốc phân xưởng, chánh phó Giám đốc xí nghiệp, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp

Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ nêu trên, Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá luôn coi trọng việc đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn hoạt động giảng dạy, học tập với đời sống thực tiễn Tập trung, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đưa cán bộ, giảng viên và

Trang 36

học viên đi nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn ở các mô hình tiên tiến trong tỉnh như: Yên Trường, Định Công (Yên Định), Xuân Thành, Đông Phương Hồng (Thọ Xuân)

Trong những năm 1989, 1990, 1991, tình hình kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn, tình hình thế giới biến động phức tạp, Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ Song, Nhà trường vẫn kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, duy trì quy mô đào tạo, bồi dưỡng, góp phần vào sự

ổn định tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước

Giai đoạn từ năm 1994 đến nay: Thực hiện chủ trương của Trung

ương về việc sắp xếp lại các trường Đảng, trường Hành chính địa phương, ngày 25-6-1994, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá ra Thông báo số 87-TB/TU về việc thành lập trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên cơ sở thống nhất trường Đảng Hoàng Văn Thụ và trường Hành chính - pháp lý tỉnh, ngày 28-7-1994 Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định số 853/TU-UBTH về việc thành lập trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh, ngày 05-9-1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) ra Quyết định số 88-QĐ/TW về việc thành lập Trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngày 02-11-1994, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá

ra Thông báo số 96-TB/TU về việc đổi tên trường đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ tỉnh thành Trường chính trị tỉnh Đặt dấu mốc quan trọng đối với sự phát triển của Trường chính trị tỉnh Thanh Hoá trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá quê hương, đất nước trong giai đoạn hiện nay

Các quyết định của Trung ương, của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò, chức năng của Trường chính trị tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn đổi mới toàn diện và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 37

Triển khai thực hiện các quyết định của Trung ương và của cấp uỷ địa phương, Nhà trường đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Điều đó được thể hiện cụ thể như sau:

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu định hướng của chiến lược cán bộ, gắn kết chặt chẽ với công tác quy hoạch cán bộ; coi trọng chất lượng đào tạo; phân định rõ giữa đào tạo cơ bản với bồi dưỡng theo chức danh; rút ngắn thời gian đào tạo, chú trọng đào tạo tập trung

Đổi mới, hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chọn lọc, thiết thực, sát với đối tượng và mục tiêu đào tạo, bao gồm 3 chương trình đào tạo chính: Trung cấp lý luận chính trị (nay là trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính), trung cấp Hành chính - Văn thư, trung cấp Pháp lý

Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, chú trọng nâng cao trình độ kiến thức với rèn luyện năng lực tư duy khoa học, khả năng xử lý tình huống; trau dồi đạo đức, lối sống; gắn bồi dưỡng lý luận với thực tiễn, học

đi đôi với hành; áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực nhằm phát huy cao độ tính chủ động, tích cực của người học

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần vào việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của cấp uỷ và chính quyền địa phương

Coi trọng việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên về mọi mặt; chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp đối với sự nghiệp trồng người của Đảng

Trang 38

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất

- kỹ thuật của Nhà trường để đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quê hương

Đáp ứng yêu cầu cán bộ cho sự nghiệp đổi mới, từ năm 1994 đến nay nhà trường đã mở rộng quy mô đào tạo, trung bình hàng năm có từ 50 đến 70 lớp với số lượng học viên từ 2.500 đến 3.000 học viên theo học ở các hệ đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường (tập trung và tại chức) Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị của địa phương được đào tạo, bồi dưỡng sau khi ra trường đã phát huy tác dụng tốt, góp phần tích cực vào sự thành công của sự nghiệp đổi mới quê hương, đất nước

Như vậy, sau nhiều năm xây dựng và trưởng thành, đến nay Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở; cán bộ, công chức, viên chức các ban ngành cấp huyện, cấp tỉnh Và phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ điển hình của khu vực Bắc Trung Bộ

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Nhà trường

2.1.2.1 Chức năng

Thực hiện Quyết định số 88/QĐ-TW ngày 05-9-1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về việc thành lập Trường Chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Hướng dẫn số 07-CT/TW ngày 28-7-1995 của Ban Tổ chức Trung ương về “Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 88-QĐ-TW” Quyết định số 238 QĐ/TU, ngày 28 tháng 07 năm 2011 “về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức của Trường Chính trị tỉnh”, xác định chức năng, nhiệm

vụ của Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá như sau:

Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tỉnh

ủy và Uỷ ban nhân dân tỉnh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hoá

Trang 39

Trường Chính trị Tỉnh có chức năng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức ở địa phương về lý luận chính trị, hành chính; đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức chính trị - xã hội; kiến thức về pháp luật và quản lý hành chính Nhà nước

2.1.2.2 Nhiệm vụ

* Về đối tượng đào tạo, bồi dưỡng

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể ở xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương trong tỉnh; đào tạo, bồi dưỡng trưởng, phó phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương trong tỉnh; đào tạo, bồi dưỡng trưởng, phó phòng của sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương trong tỉnh; đào tạo cán bộ dự nguồn, cán bộ trẻ ở các chức danh trên: Bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở và một số đối tượng khác về chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh; về đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước và một số lĩnh vực khác

* Về các loại hình đào tạo, bồi dưỡng

Nhà trường tổ chức các loại hình đào tạo trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính, trung cấp Hành chính - Văn thư và trung cấp Pháp lý cho cán

bộ lãnh đạo, quản lý, công chức của hệ thống chính trị cấp cơ sở; cán bộ, công chức, viên chức của cấp huyện, cấp tỉnh; đào tạo tiền công vụ đối với người mới được tuyển dụng vào công chức, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, cấp huyện; bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, chuyên môn, nghiệp vụ cho các chức danh cán

bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở xã, phường, thị trấn trong tỉnh; bồi dưỡng chuyên viên và các chức danh tương đương; bồi dưỡng nghiệp vụ, phương pháp

Trang 40

giảng dạy cho đội ngũ giảng viên và báo cáo viên của Trung tâm bồi dưỡng Chính trị cấp huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh; liên kết với các Học viện, các trường đại học mở lớp đào tạo đại học, sau đại học, cao cấp lý luận chính trị, trung cấp chuyên ngành và các lớp đào tạo bồi dưỡng khác cho cán bộ, công chức

* Về tổ chức quản lý đào tạo, bồi dưỡng

Tổ chức quản lý tốt các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, các lớp liên kết Triển khai và áp dụng hệ thống qui chế do Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh ban hành như, qui chế chiêu sinh, qui chế học viên, qui chế thi, kiểm tra, viết tiểu luận tốt nghiệp, xét công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp, thao giảng, dự giờ, giảng viên, chủ nhiệm lớp

và qui chế hoạt động khoa học Tổ chức đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo chặt chẽ, khách quan, chống các biểu hiện tiêu cực trong thi, kiểm tra

và bệnh thành tích

* Về tổ chức hoạt động bổ trợ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng

Tuỳ theo nội dung, chương trình lớp học, Nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức cho học viên đi nghiên cứu thực tế trong từng môn học và kết thúc khoá học Sau mỗi đợt đi thực tế học viên có bản thu hoạch, Nhà trường đánh giá kết quả thu hoạch như những bài kiểm tra, thi của môn học; xây dựng các báo cáo thực tế, kinh nghiệm thực tiễn, bài tập tình huống phù hợp với từng môn học, lớp học, để học viên được tiếp cận; duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tích cực tham gia nghiên cứu tổng kết thực tiễn của địa phương để phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

Xây dựng kế hoạch và thực hiện tuyển chọn, phân công, điều động, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng cho hiện tại và tương lai; duy trì chế độ giảng viên kiêm chức; phát huy tính tích cực, sáng tạo của giảng viên trong nghiên cứu, giảng dạy, Nhà

Ngày đăng: 03/10/2021, 17:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Chính phủ (2005), Đề án về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010” kèm theo Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11-1-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
1. Nguyễn Phúc Ân, (1994), Một số khía cạnh tâm lý xã hội đối với công tác lãnh đạo quản lý trong cơ chế thị trường, Nxb Trẻ Khác
2. Đặng Quốc Bảo, (1997), Một số khái niệm về QLGD - Trường CBQLGĐT - Hà Nội Khác
3. Đặng Quốc Bảo, (1995), Một số tiếp cận mới về khoa học quản lý và vận dụng vào quản lý giáo dục - Trường cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Khác
4. Bộ GD&ĐT (2007), Bác Hồ với sự nghiệp giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ (1999), Tập bài giảng đại cương về khoa học quản lý, trường Đại học Vinh Khác
6. Các Mác - Ăngghen toàn tập, (1993), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Đình Chính, (1995), Tâm lý học quản lý - Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Đình Chính, (1995), Bài tập tình huống quản lý giáo dục - Nxb Giáo dục Khác
10. Nguyễn Khắc Chương, (1992), J.A.Comenxki, Nhà giáo dục vĩ đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Bá Dương, (1999), Tâm lý học quản lý dành cho người lãnh đạo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Văn Đạm, (1994), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1994), Văn kiện hội nghị lần thứ 4 BCH/TW khóa VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, (2004), Chỉ thị của ban Bí thư TW về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, Ban Bí thư TW số 40 - CT/TW ngày 15-6-2004, Hà Nội Khác
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 2 BCH/TW khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BCH TW khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở của khoa học quản lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
20. Harold Koontz - Cyril Odonnell - Heinz Weihrich (1992), Những vấn đề cốt yếu về quản lý, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w