Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Vinh
và quá trình công tác của bản thân tôi tại trường THPT Phan Đình Phùng
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu khoa Sau đại học, Hội đồng khoa học – đào tạo chuyên ngành Quản lý giáo dục thuộc trường Đại học Vinh Xin cảm ơn các thầy, các cô đã tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đến PGS.TS Hà Văn Hùng - người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tác giả xin cảm Sở Giáo dục & đào tạo thành phố Hà Nội, Phòng Giáo
Đình Phùng và tất cả các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp
đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài khoa học này nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong muốn được sự nhận xét, góp ý của quý thầy cô và các bạn !
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Lê Thị Mỹ Dung
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh THPT 22
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế , bất cập qua đánh giá thực trạng 67
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở
3.2 Một số biện pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS ở trường
THPT Phan Đình Phùng Quận Ba Đình, TP Hà Nội 72 3.3 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 91
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở GDĐĐ : Giáo dục đạo đức
GV : Giáo viên GVCN : Giáo viên chủ nhiệm GVBM : Giáo viên bộ môn CMHS : Cha mẹ học sinh ĐTN : Đoàn Thanh niên CB-GV-NV : Cán bộ-giáo viên-nhân viên
GD : Giáo dục QLGD : Quản lý giáo dục GD- ĐT : Giáo dục và Đào tạo XHCN : Xã hội chủ nghĩa TNCS : Thanh niên Cộng sản GDTX : Giáo dục Thường xuyên SGK : Sách giáo khoa
HĐNGLL : Hoạt động Ngoài giờ lên lớp GDCD : Giáo dục công dân
CBQL : Cán bộ quản lý
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, t một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục
Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế mới c ng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức và những giá trị nhân văn tác động đến đại đa số thanh niên và học sinh như: có lối sống thực dụng, thiếu ước mơ và hoài bão, lập thân, lập nghiệp; những tiêu cực trong thi cử, bằng cấp, chạy theo thành tích Thêm vào đó, sự du nhập văn hoá phẩm đồi truỵ thông qua các phương tiện như phim ảnh, games, mạng Internet… làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên và học sinh, nhất là các em chưa được trang bị và thiếu kiến thức
dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu.Trong nhà trường phổ thông số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm bạo hành trong trường học đáng được báo động Một số cán bộ quản lý,
Trang 6giáo viên chưa thật sự là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ việc rèn luyện đạo đức cho học sinh
Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo Nghị quyết TƯ 2 khóa VIII nhấn mạnh: Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện” [8]
Trường THPT Phan Đình Phùng c ng không đứng ngoài thực trạng đó Trong những năm qua, nhiều gia đình, cha mẹ mải làm ăn, lo kiếm tiền, không chăm lo đến sự học hành, đời sống của con trẻ Hàng loạt các hàng quán mọc lên với với đủ loại các trò chơi t đánh xèng, bi A, games, chát…để móc tiền học sinh Số thanh niên đã ra trường không có việc làm thường xuyên tụ tập, lôi kéo học sinh bỏ học tham gia hút thuốc, uống rượu, ma tuý, trộm cắp, cắm quán, đánh nhau và nhiều tệ nạn khác, làm cho số học sinh yếu
về rèn luyện đạo đức của trường ngày càng tăng
Xuất phát t những lý do khách quan, chủ quan như đã phân tích, là
giáo viên một trường THPT, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Một số i n
ph p qu n n ng o h t ng ho t ộng gi o o ho họ sinh ở tr ng T T h n nh h ng qu n nh th nh phố Nội”
làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng về đạo đức của học sinh và công tác quản lý giáo dục đạo đức ở trường THPT Phan Đình Phùng để rồi t đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho trường THPT Phan Đình Phùng
Trang 73 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
Bằng việc đề xuất và thực hiện tốt một số biện pháp quản lý hợp lý, khoa học thì sẽ nâng cao được chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho họch sinh ở trường THPT Phan đình Phùng, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Việc kiểm tra đánh giá công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Một số vấn đề về hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh
Phân tích nguyên nhân của hiện trạng
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
5.2 h m vi nghiên u
- Đề tài nghiên cứu thực trạng và biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh THPT Phan Đình Phùng
Trang 8- Nghiên cứu khảo sát thực tiễn trường THPT Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
6.2 h ơng ph p nghiên u thự tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp chuyên gia trao đổi, phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết, đúc rút kinh nghiệm
6.3 h ơng ph p xử số i u ằng to n họ
- Xử lý số liệu bằng toán học thống kê
- Sử dụng các phần mềm tin học trong xử lý số liệu, thiết kế, trình bày, minh họa
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường
THPT Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Chương III: Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Phan Đình Phùng, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 9CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu
Để tồn tại và phát triển, con người ngay t thời nguyên thủy đã phải có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau trong tổ chức bày đàn, thị tộc, bộ lạc…Các quan hệ đơn giản của xã hội ban đầu chưa có giai cấp theo tiến trình phát triển của loài người ngày càng trở nên phong phú và phức tạp, đòi hỏi mỗi cá nhân sống trong cộng đồng phải thường xuyên tự giác điều chỉnh thái độ hành vi của mình trong giao tiếp, ứng xử sao cho phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc xã hội, không vi phạm đến nhu cầu, lợi ích của người khác Khi đó, cá nhân được tập thể, cộng đồng coi là người có đạo đức Trái lại, những cá nhân biểu hiện thái độ, hành động chỉ vì lợi ích của riêng mình, gây nên tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của người khác, của cộng đồng….bị xã hội chê trách, phê phán, thì cá nhân đó bị coi là vô đạo đức
Dù sống trong xã hội nào, con người c ng phải có hai mặt: năng lực và phẩm chất (tài và đức) là hai mặt cơ bản hợp thành trong một cá nhân, mới tạo nên được hạnh phúc của cá nhân và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Nếu con người chỉ có đức mà không có tài thì làm việc gì c ng khó, nhưng nếu có tài mà không có đức có khi còn đem lại hậu họa lớn cho bản thân và xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì c ng khó [7]
Con người sinh ra chưa có đạo đức, nhân cách, mà nó hình thành và phát triển bởi giáo dục trong suốt cuộc đời trong môi trường kinh tế- xã hội được xác định Chính vì lẽ đó vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức ở thời đại nào
c ng được quan tâm, chú ý của mọi thành viên trong xã hội Sự cần thiết phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để tận dụng tài năng phục vụ cho
Trang 10lợi ích của gia đình và xã hội là nhân cách tốt đẹp của con người công dân chân chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay Công tác giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vào việc định hướng hình thành và phát triển nhân cách Những phẩm chất đạo đức tiến bộ không phải tự nhiên
mà có, mà phải thong qua quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong lao động và đấu tranh bền bỉ như Bác Hồ đã dạy ngọc càng mài càng sang, vàng càng luyện càng trong” mới có thể giữ vững và nâng cao được những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của cá nhân, phù hợp với lợi ích chung của xã hội [8]
Ở nước ta hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhân cách con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tích cực, c ng đã xuất hiện một số mặt tiêu cực trong xã hội, có ảnh hưởng tới công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường Nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu sâu về lĩnh vực giáo dục đạo đức nói chung và học sinh cấp THPT (Trung học phổ thông) nói riêng, các tài liệu nghiên cứu đã nêu lên nhiều tài liệu cụ thể chứng minh các tình trạng suy thoái đạo đức của học sinh, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chỉ biết hưởng thụ, không biết cống hiến, bỏ học, chán học, mục đích động cơ học tập chưa rõ….là những vấn đề nổi cộm trong những năm gần đây [2]
T đó để khẳng định vấn đề giáo dục đạo đức trong xã hội nói chung và trong nhà trường nói riêng là việc làm cần thiết và phải tiến hành thường xuyên, liên tục Để làm tốt công tác giáo dục đạo đức cần phải có các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh phù hợp mang lại hiệu quả cao trong tình hình hiện nay Vấn đề giáo dục đạo đức học sinh đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục, nhiều cán bộ quản lý giáo dục, đã có một
số công trình nghiên cứu như:
+ Một số vấn đề về đạo đức- giảng dạy và giáo dục đạo đức ở trường THPT- của Phạm Khắc Chương [6]
Trang 11+ Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên - sinh viên và phương pháp giáo dục - của PGS.TS Đặng Quốc Bảo trường quản lý cán bộ giáo dục đào tạo [4]
+ Tác giả Đoàn Nam Đàn với việc giáo dục đạo đức cho giới trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh [9]
+ Thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên, học sinh, sinh viên – của Hà Nhất Thăng viết trên tạp chí Ngiên cứu giáo dục số 39/2002 [30]
Ở Hà Nội, ngành giáo dục- đào tạo đã quan tâm và có nhiều văn bản chỉ đạo về việc giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh trong nhà trường và
đã tổ chức nhiều chương trình hội thảo, tọa đàm về công tác phòng chống tệ nạn xã hội như ma túy, uống rượu, bạo lực … xâm nhập học đường Tuy nhiên ở các trường trong thành phố Hà Nội nói chung và ở trường THPT Phan Đình Phùng nói riêng về lý luận và thực tiễn vấn đề đạo đức chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Vì vậy, tôi mong rằng với đề tài Những biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Phan Đình Phùng quận Ba Đình thành phố Hà Nội” sẽ góp phần cải thiện và nâng cao đạo đức cho học sinh, để các em v a là người
có tài, v a là người có đức, góp phần xây dựng Đảng và Đất nước ngày càng vững mạnh và ngày càng phát triển
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài:
Nghiên cứu về đạo đức và công tác giáo dục đạo đức không thể đặt nó trong sự biệt lập, càng không thể tách rời phạm trù đạo đức một cách riêng lẻ Đạo đức chỉ có ở con người và nó gắn liền với điều kiện kinh tế- xã hội, điều kiện lịch sử cụ thể Chính vì lẽ trên, để hiểu vấn đề giáo dục đạo đức chúng ta cần sử dụng phương pháp tiếp cận sao cho phù hợp để tìm ra những mối liên
hệ có tính quy luật trong quá trình giáo dục đạo đức Mặt khác, muốn làm
Trang 12sang tỏ nó trong mối liên quan giữa các khái niệm như: đạo đức, giáo dục đạo đức, các giá trị đạo đức, biện pháp, biện pháp quản lý giáo dục đạo đức… T
đó chúng ta có cách nhìn tổng thể về công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT trong giai đoạn hiện nay
1.2.1 Qu n
T khi con người sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu có sự quản lý Tính chất của việc quản lý thay đổi và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
Đã có nhiều tác giả định nghĩa về quản lý như:
+ Tác giả Hà Sĩ Hồ đã định nghĩa quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [16]
+ Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: quản lý là tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến [28]
Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội có liên quan mật thiết với nhau Nếu không có tổ chức thì không biết quản lý ai và ngược lại, nếu không có quản lý thì tổ chức sẽ không tồn tại và phát triển được
Quản lý là hoạt động cần thiết trong mọi hoạt động của xã hội t thấp đến cao, t đơn giản đến phức tạp Quản lý bao gồm những công việc chỉ huy
và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc nhằm đạt mục tiêu của tổ chức, của nhóm đề ra Mục đích hay mục tiêu của hoạt động quản lý là
do chủ thể quản lý đề ra dựa vào mục đích hay mục tiêu chung của xã hội hay
Trang 13do sự cam kết thỏa thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý
Như vậy quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt: Chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, giáo dục… bằng một hệ thống các luật định, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
1.2.2 Gi o o
- Vị trí - nghĩ ủ ho t ộng gi o o :
+ Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp cho học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ: của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cả cá nhân với chính mình [3]
+ Trong các mặt giáo dục, giáo dục đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng vì như Hồ Chủ Tịch đã nêu: Dạy c ng như học, phải biết chủ trọng cả tài lần đức Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng, nếu không có đạo đức cách mạng thì có tài c ng vô dụng” [24]
+ Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa cơ bản lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong mọi tình huống chú không phải chỉ được thực hiện khi
có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách
+ Trong nhà trường giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, và nếu công tác này được quan tâm quản lý, chỉ đạo sẽ là cơ sở
để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung vì đức dục có mối quan
hệ mật thiết và định hướng cho các hoạt động khác trong nhà trường
+ Để thực hiện những mục đích, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường THPT nhất định phải tập hợp được nhiều lực lượng, nhiều tác động, trong đó:
Trang 14Vai trò của tập thể sư phạm giữ một vị trí quan trọng, trong đó quan trọng nhất là vai trò của người hiệu trưởng, người quản lý, chỉ đạo việc thực hiện giáo dục đạo đức của nhà trường
Vai trò của cấu trúc và nội dung chương trình môn giáo dục đạo đức
c ng góp phần không nhỏ đối với công tác này [13]
+ Quá trình dạy học chủ yếu được tiến hành bằng các giờ học trên lớp, còn quá trình giáo dục đạo đức không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp mà nó còn được thể hiện thông qua tất cả các hoạt động có thể có trong và ngoài nhà trường
+ Kết quả của hoạt động giáo dục đạo đức còn phụ thuộc rất lớn vào nhân cách của người thầy, gương đạo đức của người thầy sẽ có những tác động quan trọng vào việc học tập và rèn luyện của học sinh
+ Để giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả, yếu tố tập thể giữ vai trò hết sức quan trọng Công tác giáo dục đạo đức chó học sinh chỉ đạt kết quả tốt khi nó có sự tác động đồng thời của các lực lượng giáo dục: Nhà trường, gia đình và xã hội
+ Hơn bất cứ một công tác giáo dục nào khác, việc giáo dục đạo đức đòi hỏi nhà giáo dục phải nắm vững cá tính, hoàn cảnh sống cụ thể của t ng
em để định ra sự tác động thích hợp
+ Giáo dục đạo đức là một quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi công phu, kiên trì, liên tục và lặp đi lặp lại nhiều lần
Trang 151.2.3 Qu n ho t ộng gi o o
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với t ng học sinh” [12] Vậy thì quản
lý hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường là việc hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học ở trên lớp nhằm đảm bảo đúng tư tưởng chính trị của bài giảng Nội dung bài giảng trên lớp phải đảm bảo tính cơ bản, tính hiện đại, tính khoa học của hệ thống kiến thức Bên cạnh đó hiệu trưởng c ng chỉ đạo thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm hình thành và phát triển những phẩm chất tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh
1.2.4 Ch t ng
Chất lượng là một khái niệm quá quen thuộc với loài người ngay t những thời cổ đại, tuy nhiên chất lượng c ng là một khái niệm gây nhiều tranh cãi Tùy theo đối tượng sử dụng, t chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng c ng khác nhau Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá tr u tượng đến mức người ta không thể đi đến một cách diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn thay đổi Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau: Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
Trang 16Ở đây yêu cầu là các nhu cầu và mong đợi được công bố, ngụ ý hay bắt buộc theo tập quán T định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:
+ Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì
lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình
+ Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng c ng luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng
+ Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phi xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ t phía khách hàng mà còn t các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
+ Nhu cầu có thể được công bố rõ rang dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng c ng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ rang, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng
1.2.5 Ch t ng ho t ộng gi o o
Chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức: Mục tiêu của hoạt động giáo dục đạo đức là giúp cho mỗi cá nhân nhận thức đúng đắn các giá trị của đạo đức, biết hành động theo các chuẩn mực đạo đức, công bằng và nhân ái, biết sống vì mọi người, vì sự tiến bộ của xã hội……Trong đó, mục tiêu cơ bản của GDĐĐ là hình thành cho mọi người thói quen sống và làm việc theo các chuẩn mực đạo đức.Chất lượng hoạt động giáo dục được thể hiện qua việc
Trang 17đáp ứng được những yêu cầu trên của xã hội Cụ thể là đáp ứng được những chuẩn mực đạo đức Theo Phạm Minh Hạc thì chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH (có thể xác định một cách tương đối) được chia thành 5 nhóm, phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị như:
có lý tưởng XHCN, yêu quê hương đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức hướng vào sự tự hoàn thiện bản than như:
tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận…
+ Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với mọi người và dân tộc khác: nhân nghĩa, hiếu lễ, khoan dung, vị tha, hợp tác, bình đẳng, lễ độ, tôn trọng mọi người, thủy chung, giữ chữ tín
+ Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống ( môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa – xã hội) như: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên, xây dựng xã hội dân chủ bình đẳng… Mặt khác, có ý thức chống lại những hành vi gây hại đến con người và môi trường sống, bảo vệ hòa bình, bảo vệ và phát huy truyền thống,
di sản văn hóa của dân tộc và của nhân loại
Tóm lại, chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức được thể hiện bằng sự trang bị cho đối tượng giáo dục những hiểu biết và niềm tin về các chuẩn mực
và quy tắc đạo đức, giáo dục về lối sống cá nhân, ý thức về các mối quan hệ trong gia đình, trong tập thể và ngoài xã hội, ý thức về cuộc sống trong lao động sang tạo, về trách nhiệm trong công việc, về nghĩa vụ lao động và bảo
vệ Tổ quốc… để xã hội ngày càng tốt đẹp hơn!
Trang 181.3 Giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
1.3.1 Kh i ni m o
Để tồn tại và phát triển, con người phải hoạt động và tham gia các mối quan hệ xã hội KHi quan hệ với người khác và với xã hội, nếu con người có cách giao tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích chung của mọi người, của cộng đồng xã hội thì được mọi người coi là có đạo đức Ngược lại, cá nhân nào có thái độ hành vbi làm tổn hại tới lợi ích của người khác, của cộng đồng….bị xã hội chê trách, lên ác thì cá nhân đó bị coi là thiếu đạo đức
Vậy đạo đức là một hiện tượng xã hội, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn t bản thân cuộc sống Thông thường trong cuộc sống, mỗi người phải ý thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và nhu cầu phải làm gì trong tương lai Những hoạt động đó có sự chi phối về các mối tương quan giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội cho phép tới một giới hạn nhất định trong vòng trật tự chung của cộng đồng, của dân tộc… nhằm đảm bảo quyền lợi cho tất cả các thành viên vươn lên tích cực, tự giác tạo thành động lực phát triển của xã hội Đó chính là những quy tắc, chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất
cả các mối quan hệ xã hội, để t đó đánh giá con người có đạo đức hay không
có đạo đức Vì thế có thể hiểu đạo đức một cách khái quát qua một số định nghĩa sau:
Trong cuốn T điển học sinh” do Nguyễn Lương Ngọc- Lê Khả Kế (Nhà XBGD- Hà Nội 1972) định nghĩa: Đạo là phép tắc cơ bản thông thường, cần phải có giữa người với người” và Đức là tính nết tốt, tư cách tốt, hợp với phép tắc đối xử đúng đắn giữa con người với nhau”
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội [20]
Trang 19Trong t điển của Liên Xô (c ) do M.M Rodentan chủ biên đã được dịch bằng tiếng Việt (NXB Tiến Bộ Và NXB Sự Thật - 1986) định nghĩa: Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội, thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội” [13]
Tóm lại: Đạo đức là một hệ thống các qui tắc, chuẩn mực biểu hiện sự
tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và với cả bản thân mình
Trong quá trình xã hội phát triển, những quan niệm về đạo đức và vô đạo đức, thiện và ác, chính và tà c ng thay đổi theo Như trong xã hội phong kiến, qui định con người phải có năm cái đức lớn” Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí – Tín”, riêng người phụ nữ còn có thêm Tam tong, tứ đức” Đến thời đại Hồ Chí Minh Ng thường” của Người là: Nhân- Nghĩa - Trí - D ng - Liêm” Như vậy mỗi giai cấp lại có một kiểu đạo đức của mình để giải quyết những mâu thuẫn giữa cái chung và cái riêng của xã hội, khái niệm đạo đức ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn
Đạo đức gồm ba vấn đề lớn: quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức và cuối cùng là hành vi đạo đức Chúng hợp thành một tam giác có quan hệ hữu cơ với nhau [21] [22]
+ Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức Như quan hệ giữa các thế hệ, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ tập thể, quan hệ giữa cá nhân với xã hội, quan hệ bạn bè, quan hệ giữa nam và nữ
+ Ý thức đạo đức phản ánh những quan hệ đạo đức dưới dạng những qui tắc, chuẩn mực phù hợp với những quan hệ đạo đức Trong thành phần của ý thức đạo đức có hai hệ thống cơ bản gồm tri thức đạo đức và tình cảm đạo đức Ý thức đạo đức là tiêu chuẩn giá trị cao nhất tạo nên bản chất đạo
Trang 20đức của con người, tạo nên đồng cảm của hành vi đạo đức Ý thức đạo đức luôn được gắn với hành vi đạo đức
+ Hệ thống hành vi đạo đức của con người và sự hiện thực hóa ý thức đạo đức trong đời sống, tạo nên thực tiễn đạo đức Không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức trở nên vô nghĩa trống rỗng và chỉ là những giáo lý chung
Trong nhà trường XHCN, giáo dục đạo đức cho học sinh là phát triển mặt đạo đức của nhân cách, là hoàn thành ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh theo những nguyên tắc đạo đức cách mạng mà tấm gương sáng ngời là đạo đức mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh [25] [26]
Giáo dục đạo đức gắn bó hữu cơ với giáo dục tư tưởng chính trị Giáo dục tư tưởng chính trị có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan và định hướng chính trị- xã hội cho ý thức và hành động cá nhân Ngoài ra giáo dục đạo đức còn liên quan mật thiết với giáo dục pháp luật Giáo dục pháp luật có tác dụng củng cố và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức [23]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Đạo đức là một hình thái
ý thức xã hội có nguồn ngốc t lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội Đạo đức là một hình thức ý thức xã hội phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội Vì vậy, tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội c ng thay đổi theo Và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính giai cấp, tính dân tộc” [5] Như vậy đạo đức là một phạm trù lịch sủ và mang tính giai cấp Vì vậy giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ phải tính đến những điều kiện chính trị - xã hội cụ thể, phải gắn với định hướng chính trị của đất nước Không thể có thứ đạo đức thuần túy” của một dân tộc mà không chịu tác động, ảnh hưởng của tinh hoa văn hóa nhân loại C ng không có thứ đạo đức chịu tác động phi chính trị trên thế giới” mà không nhằm mục đích cuối cùng của dân tộc, giai cấp
Trang 21Do đó, cần phải nhận thức mối quan hệ lẫn nhau giữa đạo đức tiên tiến với thực tiễn xây dựng xã hội, với nguồn năng lực và hiệu lực của một hệ tư tưởng Việc đổi mới công tác giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ ngày nay phải dựa trên cơ sở mối tương quan giữa lĩnh vực vật chất, lĩnh vực tinh thần và lĩnh vực chính trị của xã hội trên cơ sở Chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh [11]
1.3.2 Giáo o ho họ sinh T T
* ặ iểm t m tuổi:
Trong tài liệu Một số vấn đề về đạo đức và giảng dạy ở trường THPT của PGS.TS Phạm Khắc Chương cho rằng muốn cho công tác giáo dục thành công, nhất định phải hiểu đối tượng và phải tôn trọng đối tượng là một chủ thể, một nhân cách có những nhu cầu chính đáng, những tiềm năng quý giá như ham hoạt động, ham hiểu biết, đòi hỏi được sự chủ động, độc lập, sáng tạo, thích ứng, tiếp thu nhanh cái mới, sôi nổi, nhiệt tình đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh THPT
Các nhà nghiên cứu cho rằng giữa giáo dục và phát triển nhân cách tác động qua lại với nhau rất mật thiết Vì vậy để có thể tác động có hiệu quả đến
sự phát triển nhân cách, giáo dục phải dựa vào những đặc điểm nhân cách của
t ng lứa tuổi nhất định, thậm chí của t ng cá nhân [23] [27] [30]
Người ta xác định ứng với t ng lứa tuổi là một giai đoạn phát triển nhân cách Như vậy đối với thế hệ trẻ, chúng ta nhận thấy còn nhiều giai đoạn phát triển nhân cách nối tiếp nhau theo thời gian, mang tính quy luật, chu kỳ nhất định phản ánh sự luân phiên của các hoạt động chủ đạo Giai đoạn trước tạo tiền đề và điều kiện cho giai đoạn sau, giai đoạn sau không những tạo tiền
đề và điều kiện của giai đoạn trước mà còn tạo ra những chất mới về tâm lý, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ
Trang 22Đối với học sinh THPT ở độ tuổi t 15 đến 18, đây là giai đoạn chuyển tiếp t tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên, vì vậy đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh THPT có sự giao thoa tâm lý lứa tuổi của tuổi thiếu niên và tuổi thanh niên
Căn cứ vào những tài liệu trên có thể khái quát những đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT như sau:
+ Học sinh THPT có độ tuổi t 15 đến 18 đây là độ tuổi trong giai đoạn phát triển nhanh về thể lực với tâm lý, sinh lý, đây là thời kỳ chuyển tiếp t trẻ con sang người lớn, c ng lứa tuổi này học sinh THPT có nhu cầu mạnh mẽ
về tình bạn, tình yêu Đặc biệt là họ đang tự xây dựng cho mình những quan điểm riêng và c ng đang quyết định kế hoạch viễn cảnh của cuộc sống cho bản thân, có thể khái quát một số đặc điểm sau:
- Giàu ước mơ hoài bão
- Muốn sớm có công ăn việc làm ổn định nghề nghiệp
- Có tính hoài nghi khoa học có khát vọng tìm tới cái chân”, thiện”, mỹ”
- Muốn tỏ rõ vai trò của người lớn, tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đặc biệt là các hoạt động văn thể mỹ
- Nhanh nhận thức được các chuẩn ực giá trị quy tắc yêu cầu của đạo đức xã hội, chính trị, lý tưởng và lẽ sống, có ý thức tự học và hướng nghiệp tích cực
- Có khả năng giao lưu phong phú, phóng khoáng và hào hiệp nhiệt tình và hăng hái trước những công việc nặng nhọc, khó khăn và những thử thách của cuộc sống
- Đây là lứa tuổi phát triển tình cảm phong phú, đó là tình cảm dân tộc, quốc gia, nhân loại
- Có lòng nhân ái biết sống có tình nghĩa, có ý thức làm việc thiện
Trang 23Đặc biệt đây c ng chính là quá trình quan trọng để hoàn thiện nhân cách của một con người Phạm Minh Hạc và Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Nhân cách là toàn thể những thuộc tính đặc biệt mà có một cá thể nào có được trong hệ thống các quan hệ xã hội, trên cơ sở hoạt động bà giao lưu, nhằm chiếm lĩnh các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần Những thuộc tính đó bao hàm các thuộc ltinhs về trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, thể chất….vv [12] [28] Sự phát triển phong phú các quan hệ xã hội, các loại hình hoạt động, các thành tựu văn hóa vật chất và tinh thần đã tạo tiền đề cho sự phát triển đầy đủ nhân cách Sự phát triển nhân cách bao gồm các mặt phát triển về thể chất, về tâm
lý và về xã hội của cá nhân Sự phát triển về mặt thể chất biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng cơ bắp, sự hoàn thiện các giác quan, sự phối hợp các vận động….Sự phát triển về mặt tâm lý biểu hiện ở những biến đổi
cơ bản trong các quá trình nhận thức, xúc cảm, ý chí, ở sự hình thành các thuộc tính tâm lý mới của nhân cách Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở những biến đổi trong cư xử với những người xung quanh, trong việc tích cực tham gia vào đời sống xã hội….Chính vì vậy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là vô cùng quan trọng
* Những nhi m v ủ gi o o ho họ sinh:
Bản thân đạo đức không bao giờ tự tồn tại, tự bản thân nó phải tồn tại dưới hình thức hành vi đạo đức thể hiện trong cách sử thế, trong phong cách, trong nếp sống của con người Để hình thành các phẩm chất đạo đức c ng như nhân cách cho học sinh, công tác giáo dục đạo đức nói chung và dạy môn GDCD nói riêng trong nhà trường phải thực hiện các nhiệm vụ:
- Hình thành ở học sinh các hành vi ứng xử của mình phải phù hợp với lợi ích xã hội, giúp học sinh lĩnh hội được một cách đúng mức các chuẩn mực đạo đức được qui định
Trang 24- Giáo dục văn hóa ứng xử đúng mực thể hiện sự tôn trọng và quí trọng lẫn nhau của con người trong tất cả các mối quan hệ
- Biến kiến thức đạo đức thành niềm tin, nhu cầu của mỗi cá nhân để đảm bảo các hành vi của cá nhân được thực hiện đúng chuẩn mực
- Bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tính tích cực, bền vững và các phẩm chất ý chí để đảm bảo cho hành vi luôn theo đúng các yêu cầu đạo đức
- Rèn luyện thói quen hành vi đạo đúc để trở thành bản tính tự nhiên của mỗi cá nhân và duy trì lâu bền thói quen này
Như vậy giáo dục đạo đức thực chất là hình thành những qui tắc chuẩn mực hành vi cho các em học sinh, giúp các em hoàn chỉnh nhân cách mà mô hình của nhân cách này đã được xã hội xây dựng và đòi hỏi ở các em Nhiệm
vụ của giáo dục đạo đức là bằng các tác động của mình dần dần đưa các em đến đích cuối cùng Đó là những nhân cách mà xã hội đã đặt trách nhiệm cho ngành giáo dục nhằm đào tạo những con người có đức có tài Muốn làm được điều đó nhà giáo dục phải tổ chức được các hành vi, đạo đức giúp các em hình thành và phát triển các yếu tố đạo đức cơ bản tạo thành nền tảng cốt lõi nhân cách con người
* Những nội ung ơ n trong gi o o ho họ sinh T T:
Đạo đức thực chất là những chuẩn mực về hành vi của con người trong quan hệ xã hội Đó là sự kết tinh những giá trị qua thời gian, để mỗi người điều chỉnh cách sống cho phù hợp với xã hội Giảng dạy đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh THPT nói riêng phải lấy tấm gương tiêu biểu trong sáng của Hồ Chí Minh là mục đích lý tưởng Đức độ của Người là sự kết tinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc, kết tinh các giá trị tinh thần của nhân dân Việt Nam suốt mấy ngàn năm tồn tại và phát triển Như vậy nội dung đạo đức cho học sinh THPT là những phẩm chất đạo đức
xã hội XHCN qui định các mối quan hệ của họ đối với xã hội, với lao động,
Trang 25với người khác và với chính bản thân Các phẩm chất đã được phân chia theo các nhóm quan hệ sau [31] [32] [33]:
i Những phẩm chất qui định các mối quan hệ của cá nhân với xã hội
Đó là giáo dục cho cá nhân long yêu nước, yêu CNXH, trung thành với tổ quốc, tha thiết với lợi ích của nhà nước, sẵn sang bảo vệ tổ quốc, tự hào về thành tựu xã hội, văn hóa của đất nước, quí trọng quá khứ vẻ vang và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Lòng yêu nước XHCN gắn chặt với tinh thần quốc
tế vô sản Tinh thần quốc tế vô sản đòi hỏi tình hữu nghị và hợp tác giữa các nước trên thế giới vì độc lập tự do và hòa bình và tiến bộ xã hội, sự hiểu biết, kính trọng những giá trị văn hóa của các dân tộc khác
ii Các phẩm chất đạo đức qui định quan hệ của cá nhân với lao động
Đó là giáo dục bồi dưỡng cho học sinh có thái độ đúng đắn đối với các loại hình lao động nói chung đặc biệt đối với học tập phải nghiêm túc chăm chỉ có tinh thần tự giác cao, có trách nhiệm trong công tác, cần cù trong lao động, tiết kiệm trong tiêu dùng…
iii Các phẩm chất qui định quan hệ của học sinh đối với người khác
Đó là các phẩm chất đạo đức cơ bản qui định quan hệ giữa người và người trong xã hội Trước hết là đối với những người ruột thịt trong gia đình là ông
bà, cha mẹ, anh chị em ruột, gần xa, tiếp đến là thầy cô giáo, bạn bè, hàng xóm, cộng đồng dân tộc… đó là lòng nhân ái, sự tôn trọng biết quan tâm và sẵn sàng giúp đỡ người khác, luôn có hành động hướng thiện, bảo vệ hạnh phúc người khác Đồng thời có thái độ không khoan nhượng với mọi biểu hiện vi phạm quyền con người hoặc hạ thấp phẩm giá con người Tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa là phẩm chất đạo đức cơ bản điều chỉnh quan hệ cá nhân, với xã hội và tập thể Vì thế cần giáo dục cho học sinh hăng hái tham gia các hoạt động có ích cho xã hội, tôn trọng các nguyên tắc và chuẩn mực
do tập thể đề ra, có tinh thần đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau trong khi thực
Trang 26hiện công việc chung
iiii Những phẩm chất đạo đức qui định thái độ của học sinh đối với bản thân, đối với ứng xử của bản thân Đó là giáo dục cho học sinh có đức tính khiêm tốn thật thà, lòng tự trọng (Biết giữ gìn phẩm giá và danh dự của cá nhân) đặc biệt là có cách ứng xử có văn hóa như lễ độ, nhường nhịn, trật tự,
vệ sinh… Những phẩm chất này gắn liền với lĩnh vực ý chí hành động của học sinh được thể hiện trong học tập, lao động, trong sinh hoạt đoàn thể và trong cuộc sống hàng ngày
Những nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh nói trên có mối quan hệ chặt chẽ, hòa nhập lẫn nhau tạo nên những phẩm chất đạo đức phong phú, đa dạng trong nhân cách Những phẩm chất này qui định, tăng cường cho nhau, nghĩa là việc hình thành một phẩm chất này sẽ là điều kiện thúc đẩy sự phát triển của những phẩm chất đạo đức khác
Nói tóm lại, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trước hết tập trung vào giáo dục tình cảm trách nhiệm đối với tổ quốc, quê hương, đối với truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại, giáo dục về lẽ sống và lối sống của cá nhân trong mối quan hệ với cuộc sống xã hội Đó chính là mục đích sống, cách sống phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức xã hội, là sự giáo dục về nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tập thể, gia đình, đồng loại,
về tính nhân văn, nhân đạo, trong mọi mối quan hệ như về tình thầy trò, tình bạn, tình yêu…
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục cho học sinh THPT
Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THPT thông qua những quyết định những kế hoạch và chương trình hoạt động để thực hiện kế hoạch giảng dạy, hoạt động ngoài giờ c ng như công tác kiểm tra, tổng kết
1.4.1 X y ựng kế ho h
Giáo dục đạo đức là một quá trình trong đó khâu đầu tiên là xây dựng kế
Trang 27hoạch Kế hoạch hoá là chức năng quan trọng hàng đầu trong công tác quản
lý Vì thiếu tính kế hoạch giáo dục khó đạt được kết quả cao [29] [30]
Lập kế hoạch là quyết định trước cái gì cần phải làm, làm như thế nào, khi nào làm, và ai làm cái đó
Lập kế hoạch là một quá trình đòi hỏi có tri thức, xác định đường lối và đưa ra các quyết định trên cơ sở mục tiêu, sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng
Muốn kế hoạch có tính khả thi và hiệu quả cần phải đầu tư suy nghĩ để hoạch định t những vấn đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể T những vấn đề mang tính chiến lược đến những vấn đề mang tính chiến thuật trong mỗi giai đoạn Khi xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh, người Hiệu trưởng cần dựa trên những cơ sở sau: Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức trong năm học Thực trạng
này thể hiện rõ trong bảng tổng kết năm học Qua đó thấy được ưu và nhược điểm của công tác giáo dục đạo đức, những vấn đề gì còn tồn tại, t đó xếp ưu tiên t ng vấn đề cần giải quyết
Phân tích kế hoạch chung của ngành, trường, t đó xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức Kế hoạch này là kế hoạch cụ thể về một mặt giáo dục quan trọng của nhà trường, trong đó thể hiện sự thống nhất giáo dục đạo đức với các mặt giáo dục khác phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường
Tìm hiểu đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương Vì quá trình giáo dục đạo đức thống nhất biện chứng với quá trình xã hội, với môi trường sống
Tìm hiểu các chuẩn mực, giá trị đạo đức trong xã hội của chúng ta hiện nay và xu thế giá trị đạo đức trên thế giới để xây dựng nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh
Xác định điều kiện giáo dục như cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời
Trang 28gian,sự phối hợp với lực lượng giáo dục trong trường và ngoài trường
Những yêu cầu khi xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức:
Kế hoạch phải thể hiện được tính khoa học, kế th a, toàn diện, cụ thể và trọng tâm trong t ng thời kỳ
Kế hoạch phải phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém, củng cố ưu điểm, vạch ra được chiều hướng phát triển trong việc hình thành đạo đức ở học sinh
Kế hoạch phản ảnh được mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp, kiểm tra, đánh giá
Kế hoạch thể hiện được sự phân cấp quản lý của Hiệu trưởng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và cụ thể
Do đó việc xây dựng kế hoạch giáo dục nói chung và đặc biệt là kế hoạch giáo dục đạo đức thì Hiệu trưởng cần quan tâm nhiều đến hiệu quả xã hội và động lực mục tiêu của nhà trường, đưa ra tầm nhìn mới và tuyên truyền để làm biến đổi nhận thức và hành động của các thành viên trong nhà trường Bản kế hoạch được xây dựng xong vào tháng 7, tháng 8 Sau đó phổ biến thảo luận đóng góp trong lãnh đạo, Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên, các tổ trưởng và sau đó phổ biến cho toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên vào tháng 9 thông qua hội nghị Công nhân viên chức
Việc thành lập kế hoạch không đơn thuần là quá trình lý thuyết (nằm trên bàn giấy) mà phải thực hiện Do đó phải có yếu tố con người tham gia vào Vì vậy xây dựng kế hoạch không những được coi là quá trình tương tác giữa con người với con người, con người với kế hoạch mà còn phải có sự giải thích, quyết định và lựa chọn
1.4.2 Tổ h thự hi n kế ho h
Là xếp đặt một cách khoa học những yếu tố, những lượng người, những
Trang 29dạng hoạt động của tập thể người lao động thành một hệ toàn vẹn, bảo đảm cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu đưa hệ tới mục tiêu
Tổ chức chính là sinh thành ra hệ toàn vẹn, tạo ra hiệu ứng tổ chức Lênin đã cho rằng: Một trăm người sẽ mạnh hơn một ngàn người khi một trăm người này biết tổ chức lại thì nó sẽ nhân sức mạnh lên mười lần” [13]
Tổ chức thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh phải xuất phát t quan điểm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Học sinh là chủ thể của hoạt động nhận thức và rèn luyện phẩm chất đạo đức dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên Có như vậy thì những chuẩn mực giá trị đạo đức của xã hội
sẽ trở thành những phẩm chất riêng trong nhân cách của học sinh
Tổ chức thực hiện việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT có liên quan mật thiết đến việc tổ chức hoạt động học tập văn hoá trong nhà trường Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch gồm:
Giải thích mục tiêu, yêu cầu, của kế hoạch giáo dục đạo đức Thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch
Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, kinh tế Khi sắp xếp bố trí nhân sự, Hiệu trưởng phải biết được phẩm chất và năng lực của t ng người, mặt mạnh, mặt yếu, nếu cần có thể phân công theo t ng ê kíp” để công việc được tiến hành một cách thuận lợi và có hiệu quả
Định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện Thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc Trong việc tổ chức thực hiện, Hiệu trưởng cần tạo điều kiện cho người tham gia phát huy tinh thần tự giác, tích cực, phối hợp cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ
1.4.3 Chỉ o thự hi n kế ho h
Chỉ đạo là hướng dẫn cụ thể theo một đường lối chủ trương nhất định (trang 164 tự điển…)
Trang 30Chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức trong nhà trường phổ thông là chỉ huy, ra lệnh cho các bộ phận trong nhà trường thực hiện những nhiệm vụ để bảo đảm việc giáo dục đạo đức diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả
Trong quá trình chỉ đạo, Hiệu trưởng cần kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch bằng cách thu thập thông tin chính xác, phân tích tổng hợp, xử
lý thông tin để đưa ra những quyết định đúng đắn Có thể đó là những quyết định điều chỉnh, sửa sai (nếu thấy kế hoạch có vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn) để hoạt động giáo dục đạo đức diễn ra theo đúng kế hoạch
Việc chỉ đạo giáo dục đạo đức sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền và thuyết phục, động viên kích thích, tôn trọng, tạo điều kiện cho người dưới quyền được phát huy năng lực và tính sáng tạo của họ
1.4.4 Kiểm tr thự hi n kế ho h gi o o ho họ sinh
Kiểm tra là công việc rất cần thiết trong quản lý, giúp nhà quản lý biết được tiến độ thực hiện kế hoạch, đối tượng được phân công thực hiện kế hoạch, t đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời và có hướng bồi dưỡng sử dụng cán bộ tốt hơn
Kiểm tra thường đi liền với đánh giá, đó là những phán đoán nhận định
về kết quả của công việc dựa trên mục tiêu đề ra
Kiểm tra, đánh giá là một chức năng quản lý, thiếu chức năng này người quản lý sẽ rơi vào tình trạng chủ quan duy ý chí hay buông lỏng quản lý Trong quản lý giáo dục đạo đức việc kiểm tra đánh giá có ý nghĩa không chỉ đối với nhà quản lý giáo dục mà còn có ý nghĩa đối với học sinh Vì qua kiểm tra đánh giá của giáo viên, học sinh hiểu rõ hơn về những hoạt động của mình, khẳng định được mình T đó hoạt động tích cực hơn, tự giác hơn, biết
tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu chung của xã hội
Trang 31Việc kiểm tra đánh giá phải khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai Sau kiểm tra phải có nhận xét, kết luận, phải động viên khen thưởng, nhắc nhở kịp thời những sai trái thì mới có tác dụng
Hiệu trưởng có thể kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, cần xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì việc kiểm tra đánh giá mới khách quan công bằng rõ ràng chính xác
1.5 Tiểu kết chương 1
Những năm gần đây do tác động ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường một số hành vi vi phạm pháp luật các tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng Đặc biệt những nơi có tốc độ phát triển nhanh các tệ nạn càng phát triển, điều đó tác động xấu tới giáo dục nói chung và giáo dục học sinh trong nhà trường nói riêng, nhất là công tác giáo dục đạo đức Trường THPT Phan Đình Phùng c ng không ngoại lệ, chính vì vậy, để phù hợp với hoàn cảnh hiện tại cần thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Để đạt được mục đích này chúng tôi tiếp tục đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường THPT Phan Đình Phùng, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội Các kết quả nghiên cứu lý luận ở chương I này cùng với các kết quả nghiên cứu thực tiễn ở chương II tiếp theo, sẽ là cơ sở khoa học
để chúng tôi đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt đông giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Phan Đình Phùng, Quận
Ba Đình, Thành phố Hà Nội
Trang 32
Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 1.979 người/km² Mật độ dân
số cao nhất là ở quận Đống Đa lên tới 35.341 người/km², trong khi đó, ở những huyện như ngoại thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, mật độ dưới 1.000 người/km²
Về cơ cấu dân số, theo số liệu 1 tháng 4 năm 1999, cư dân Hà Nội và
Hà Tây chủ yếu là người Kinh, chiếm tỷ lệ 99,1% Các dân tộc khác như Dao, Mường, Tày chiếm 0,9% Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73 % dân số, người Mường 0,76 % và người Tày chiếm 0,23 %
Năm 2009, dân số thành thị là 2.632.087 chiếm 41,1%, và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%
2.1.2 ặ iểm về kinh tế
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng, trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địa phương nhận được đầu tư trực tiếp t nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 290 dự án Thành phố c ng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân c ng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp của
Trang 33thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp c ng thu hút gần 500.000 lao động Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội
Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu
cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ c ng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư của thành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực m i nhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố c ng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trong dân cư
2.1.3 ặ iểm về văn hó – xã hội – gi o
Hà Nội ngày nay vẫn là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam Năm
2009, Hà Nội có 677 trường tiểu học, 581 trường trung học cơ sở và 186 trường trung học phổ thông với 27.552 lớp học, 982.579 học sinh Hệ thống trường trung học phổ thông, Hà Nội có 40 trường công lập, một vài trong số
đó nổi tiếng vì chất lượng giảng dạy và truyền thống lâu đời, như Trung học Chuyên Hà Nội - Amsterdam, Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Huệ, Trung học Chu Văn An, Trung học Trần Phú Bên cạnh các trường công lập, thành phố còn có 65 trường dân lập và 5 trường bán công Hà Nội c ng là địa điểm của ba trường trung học đặc biệt, trực thuộc các trường đại học, là Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ thuộc Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Trung học phổ thông chuyên Khoa
Trang 34học Tự nhiên thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Trung học phổ thông Chuyên thuộc Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội Các trường trung học chuyên này là nơi tập trung nhiều học sinh phổ thông ưu tú không chỉ của Hà Nội mà còn của toàn Việt Nam Cùng với các trung học danh tiếng, hệ thống giáo dục của thành phố vẫn duy trì những trường bổ túc và cả các lớp học xóa mù chữ Sau khi Hà Tây được sát nhập vào thành phố, Hà Nội hiện đứng đầu Việt Nam về số lượng người không biết chữ Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đạo tạo Việt Nam năm 2008, toàn thành phố có gần 235.000 người mù chữ trên tổng số 1,7 triệu người của cả quốc gia
Là một trong hai trung tâm giáo dục đại học lớn nhất quốc gia, trên địa bàn
Hà Nội có trên 50 trường đại học cùng nhiều cao đẳng, đạo tạo hầu hết các ngành nghề quan trọng Năm 2007, tại thành phố có 606.207 sinh viên, Hà Tây c ng tập trung 29.435 sinh viên Nhiều trường đại học ở đây như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Y, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Học viện
Kỹ thuật Quân sự, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là những trường đào tạo
đa ngành và chuyên ngành hàng đầu của Việt Nam
Do kinh tế của thành phố Hà Nội phát triển nhanh dẫn đến sự phát triển
về văn hoá - xã hội - giáo dục Nhiều nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ mọc lên, những trung tâm văn hoá giải trí xuất hiện, do sự thay đổi t nghèo sang giàu nhanh chóng (bán đất đai) đã tạo nên tâm lý thích hưởng thụ, ăn chơi Vì vậy bên cạnh những nhu cầu văn hoá, giải trí lành mạnh thì c ng xuất hiện những kiểu đua đòi ăn chơi ở một số thanh thiếu niên Các tệ nạn xã hội trong lứa tuổi thanh niên và nhất là học sinh đã xuất hiện và có chiều hướng gia tăng
Trang 352.2 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trường THPT Phan Đình Phùng
2.2.1 Ý th thự hi n nội quy ủ họ sinh
Kết quả nghiên cứu về ý thức thực hiện nội qui trong học sinh của trường được trình bày qua bảng 1 sau đây:
BẢNG 1: VIỆC THỰC HIỆN NỘI QUY Ở TRƯỜNG
Trang 36+ Về việc chấp hành nội qui:
Có 38.4 % số ý kiến trong học sinh cho rằng học sinh đã chấp hành nghiêm túc nội qui của trường, nhưng có tới 56% học sinh thỉnh thoảng có vi phạm và 5.6% các em cho rằng có hiện tượng học sinh thường xuyên vi phạm Tỉ lệ trên cho thấy học sinh ở các trường chưa chấp hành nghiêm túc nội quy và hiện tượng học sinh vi phạm nội quy là đáng lo ngại
Điểm trung bình M = 2,32 càng khẳng định kết quả trên
+ Về ý thức thái độ thực hiện nội quy
Có tới 65.1% học sinh cho rằng các em tự giác chấp hành nội quy, nhưng có tới 34,9% số các em cho rằng chỉ khi có kiểm tra hoặc bị phạt mới thực hiện nội qui Như vậy ý thức chấp hành nội qui chưa được cao
Điểm trung bình M = 2,61 cho thấy ý thức chấp hành nội qui của học sinh chưa cao, chỉ đạt ở mức trung bình khá
+ Về hiện tượng học sinh đánh nhau ở trường:
Có 25,8% số ý kiến trong học sinh cho rằng học sinh không đánh nhau,
Trang 37tuy nhiên lại có 74,2% ý kiến cho rằng học sinh đánh nhau là phổ biến và thỉnh thoảng có xảy ra Tỉ lệ này cho thấy học sinh ở các trường thỉnh thoảng
có đánh nhau, và điều này c ng đáng lo ngại
Điểm trung bình M = 2.23 phù hợp với kết quả trên và điều này c ng đáng lo ngại
+ Về hiện tượng học sinh đánh bài:
Có 69,8% số ý kiến trong học sinh cho rằng học sinh không đánh bài, tuy nhiên lại có 29% số ý kiến cho rằng đánh bài chỉ xảy ra ở một số ít và nhiều là 1,2% Vậy hiện tượng học sinh đánh bài thỉnh thoảng c ng có
Điểm trung bình M = 2,69 phù hợp với kết quả trên và điều này chúng ta
c ng cần phải quan tâm
+ Về hiện tượng học sinh hút thuốc lá:
Có 24,3% số ý kiến trong học sinh cho rằng học sinh không có hút thuốc, tuy nhiên lại có 62,5% ý kiến cho rằng có hút ít và 13,2% là hút nhiều Như vậy hiện tượng học sinh hút thuốc là có xảy ra
Điểm trung bình M = 2,11 phù hợp với kết quả trên và điều này cho thấy chúng ta cần phải quan tâm vì t việc hút thuốc là sẽ dễ dàng dẫn đến sử dụng chất ma tuý
+ Về hiện tượng sử dụng chất có nguồn gốc ma tuý:
Có 91,2% số ý kiến cho rằng trong học sinh không có sử dụng, tuy nhiên lại có 8.8%, ý kiến cho rằng có và có một số ít sử dụng Vì vậy mặc dù điểm trung bình 2.91 c ng không cho phép chúng ta lạc quan về kết quả này
+ Về ý thức chấp hành luật lệ giao thông:
Có 74,8% số ý kiến cho rằng trong học sinh có một số vi phạm,19,6% không có học sinh vi phạm, 5,6% đa số học sinh vi phạm Như vậy ý thức chấp hành luật lệ giao thông chưa cao Điểm trung bình 2,14 phù hợp với kết quả trên và cho thấy học sinh THPT Phan Đình Phùng việc chấp hành nghiêm
Trang 38chỉnh luật lệ giao thông chỉ ở mức trung bình khá
+ Ý thức về việc bảo vệ môi trường:
Có 55,7% số ý kiến cho rằng học sinh thỉnh thoảng có xả rác và xả rác
b a bãi, chỉ có 44,3% học sinh không xả rác Vậy ý thức của học sinh trong việc bảo vệ môi trường chưa cao
Điểm trung bình 2,23 cho thấy học sinh THPT Phan Đình Phùng ý thức bảo vệ môi trường chỉ ở mức trung bình
+ Ý thức lao động vệ sinh trường sở:
Có 43,1% số ý kiến cho rằng học sinh lao động là tự giác, có 56,9% số
ý kiến cho rằng các em làm là vì nghĩa vụ và bị ép buộc, không thích lắm, rất ghét 5,6% Điều này cho thấy ý thức của học sinh trong lao động vệ sinh trường sở chưa cao
Điểm trung bình 2,38 cho thấy học sinh THPT Phan Đình Phùng ý thức lao động vệ sinh trường sở chỉ ở mức trung bình
2 Đi học vì tương lai của mình 250 48,92
3 Đi học để có cơ hội thăng tiến 38 7,4
4 Đi học để giúp đỡ gia đình 66 12,9
5 Đi học để xây dựng đất nước 107 20,9
Trang 39Nhận xét bảng 2:
Có 48.92% số ý kiến trong học sinh cho biết học vì tương lai của mình, 20.9% học để xây dựng đất nước, điều này chứng tỏ đa số các em có ý thức động cơ học tập tương đối đúng và mang tính xã hội tương đối cao Tuy nhiên
c ng có 2.1% không biết học để làm gì Điều này chúng ta cần phải giáo dục cho các em
2.2.3 Kết qu xếp o i h nh kiểm ủ họ sinh
Biểu hiện kết quả giáo dục đạo đức của học sinh được thể hiện rõ trong xếp loại hạnh kiểm Tìm hiểu về xếp loại hạnh kiểm của học sinh ở 5 trường THPT chúng tôi thu được bảng sau: