Căn cứ vào các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế Cổ Điển Theo Ricardo, một trong những nhà kinh tế học cổ điển lớn nhất,nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng hàng
Trang 1PHẦN I
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ, TĂNG TRƯỞNG - PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG - PHÁT TRIỂN
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1 Khái niệm về đầu tư
Trong các lý thuyết kinh tế hiện đại tồn tại khá nhiều ý kiến bànluận xung quanh khái niệm và bản chất của đầu tư, mỗi ý kiến đưa ra đềuđúng trên khía cạnh mà lý thuyết xem xét Vì vậy, cần có một cách nhìntổng quan để hiểu được bản chất của đầu tư
Đầu tư đó là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành cáchoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất địnhtrong tương lai lớn hơn các nguồn lực đó bỏ ra để đạt được các kết quả
đó Nguồn lực đó là tiềm lực vật chất, tiềm lực phi vật chất, con người,tài nguyên, tiềm năng tài chính, phi tài chính, tài nguyên hữu hình, vôhình…
Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như vận hành một tàisản kinh doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc, vật tư cũng như để mua
cổ phiếu, trái phiếu lấy lời Những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dầnhoặc thỏa mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó cho người bỏ vốn cũngnhư toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương lai
Từ tất cả các khái niệm về đầu tư và xem xét nó trong quá trìnhbiến động của nền kinh tế ta thấy đầu tư là cơ sở để hình thành tư bản,trong đó bao gồm cả tài sản cố định, vốn sản xuất kinh doanh và cả vốn
Trang 2con người Như vậy, đầu tư là một khái niệm trừu tượng nên cần mộthình thức để thể hiện Trong kinh tế chính trị học, giá cả là biểu hiện củagiá trị trong những hình thái kinh tế xã hội khác nhau, tương tự như vậyvốn đầu tư là sự lượng hoá của đầu tư.
2 Khái niệm về tăng trưởng
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trongmột khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng đượcthể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô sự tăng trưởng phản ánh sự gia tăngnhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánhtương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Thunhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thunhập giá trị phản ánh qua chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn thể
nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người Như vậy, bản chất của
tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
3 Khái niệm về phát triển
Ngày nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển Qua thờigian khái niệm phát triển cũng đã đi đến thống nhất Phát triển kinh tếđược hiểu là quá trình biến đổi cả về mặt lượng và mặt chất, nó là sự kếthợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế - xãhội ở mỗi quốc gia Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo
ba tiêu thức:
Trang 3Một là, sự gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là
tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế là điều kiệncần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện nhữngmục tiêu khác của phát triển
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là
tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Đểphân biệt các giai đoạn phát triển hay so sánh trình độ phát triển kinh tếgiữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơcấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục
tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế xã hội không phải là tăng trưởnghay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xoá bỏ đói nghèo, suy dinhdưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch
vụ y tế, nước sạch, dân trí…
II. LÝ THUYẾT PHẢN ÁNH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU
TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
1 Căn cứ vào các lý thuyết tăng trưởng kinh tế của trường phái kinh tế Cổ Điển
Theo Ricardo, một trong những nhà kinh tế học cổ điển lớn nhất,nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng hàng đầu Từ đó, ông cho rằngcác yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn.Trong từng ngành và tuỳ từng trình độ kỹ thuật nhất định các yếu tố nàykết hợp với nhau theo một tỷ lệ nhất định, không thay đổi Ông cũng chorằng trong ba yếu tố trên thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất
Trang 4Trong nông nghiệp, đất đai là yếu tố quan trọng nhất tạo ra sự tăngtrưởng song đây cũng là yếu tố giới hạn sự tăng trưởng Vì khi sản xuấtnông nghiệp gia tăng trên những đất đai kém màu mỡ thì giá lương thựcthực phẩm sẽ tăng lên Do đó tiền lương danh nghĩa của công nhân cũngphải tăng theo tương ứng, lợi nhuận của các nhà tư bản có xu hướnggiảm Nếu cứ tiếp tục như vậy cho đến khi lợi nhuận hạ thấp, không thể
bù đắp được mọi rủi ro trong kinh doanh làm cho nên kinh tế trở nên bếtắc (địa tô ở mức cao, tiền công ở mức tối thiểu, lợi nhuận ở gần mứckhông ) Tình trạng này theo Ricardo chỉ có thể giải quyết bằng cáchđầu tư vào công nghiệp để xuất khẩu hàng công nghiệp rồi mua lươngthực rẻ hơn từ nước ngoài, hoặc phát triển công nghiệp để tác độngngược trở lại đối với nông nghiệp
2 Hàm sản xuất Cobb - Douglas
Lý thuyết giải thích mối quan hệ giữa các nguồn đầu vào và sựtăng trưởng trong sản phẩm quốc dân được gọi là hàm sản xuất ở góc độ
vi mô Hàm sản xuất miêu tả mối tương quan giữa tổng số đầu vào chotrước và tổng đầu ra có thể sản xuất được Trên góc độ quốc gia, hay nềnkinh tế rộng lớn, các hàm sản xuất miêu tả mối quan hệ giữa số lượng laođộng, vốn tư bản của một quốc gia với mức thu nhập quốc dân của quốcgia đó
Mô hình tăng trưởng dạng hàm sản xuất thường được sử dụngtrong nghiên cứu dạng phương trình:
Y = f (K, L, R, T)
Trong đó:
Trang 5LgY = LgA+ α LgK + β LgL
LgA = a LgK = kLgL = l
Ta có:
g = a + αk + βl
Trong đó:
g - tốc độ tăng trưởng
α - tốc độ tăng trưởng của yếu tố vốn
β - tốc độ tăng trưởng của yếu tố lao độngNhư vậy, sự tăng trưởng của yếu tố vốn cũng như yếu tố đầu tư gópphần to lớn đến tăng trưởng kinh tế
Trang 63 Mô hình tăng trưởng của Harrod-Domar
Mô hình tăng trưởng đơn giản và nổi tiếng nhất được ứng dụngrộng rãi đó là mô hình Harrod-Domar do hai nhà kinh tế Roy Harrod vàEvsey Domar người Mỹ nghiên cứu độc lập và đưa ra phổ biến nhữngnăm 1940 Đây là mô hình thể hiện mối quan hệ giữa đầu tư và tăngtrưởng
Nếu gọi đầu ra là Y, tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra là g:
Trang 7Hệ số k được gọi là hệ số ICOR (hệ số gia tăng vốn đầu ra) Hệ sốnày nói lên rằng: vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăngtrưởng; tiết kiệm của nhân dân và các công ty là nguồn gốc của đầu tư.Chỉ số ICOR thấp biểu hiện tình trạng đầu tư nghèo nàn Chỉ số ICORquá cao thể hiện sự lãng phí vốn đầu tư.
Phương trình này có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng
kế hoạch Nếu xác định được chỉ số k thì vấn đề còn lại của công tác xâydựng kế hoạch đơn giản chỉ là việc hoặc là ấn định tốc độ tăng trưởng đểxác định nguồn vốn đầu tư cần có là bao nhiêu hoặc là từ nguồn vốn đầu
tư có thể quay lại việc xác định tỷ lệ tăng trưởng có thể đạt là bao nhiêu
Mô hình Harrod - Domar có ý nghĩa quan trọng trong thời kỳ đầucủa các giai đoạn phát triển của bất kỳ một quốc gia nào Quan điểm chủyếu của mô hình này là nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố vốn, bởi vốn làvấn đề chủ yếu nhất để tăng trưởng kinh tế Các tổ chức tài chính quốc tếnhư Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế… cũng dựa vào mô hình này
để nhấn mạnh vai trò của viện trợ trong việc bù đắp các chênh lệch vềvốn và trao đổi ngoại thương
Song, mô hình đơn giản trên được sử dụng nhiều trong thực tế nêntất cả vấn đề quy lại ở chỉ số ICOR, trong khi tăng trưởng là kết quả củarất nhiều yếu tố như lao động, tay nghề, kỹ thuật mà mô hình nàykhông đề cập đến Tóm lại, nhược điểm của mô hình Harrod - Domar làchỉ quan tâm đến vốn mà bỏ qua vai trò của lao động, vai trò của kỹ thuậtcông nghệ và vai trò của chính sách
4 Lý thuyết gia tốc đầu tư của Keynes
Trang 8Để sản xuất một khối lượng sản phẩm cho trước cần phải có mộtkhối lượng cụ thể vốn đầu tư Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư
có thể được biểu diễn như sau:
x = Kt / yt
Trong đó:
Kt - vốn đầu tư tại thời kỳ t
Yt - sản lượng tại thời kỳ t
x - hệ số gia tốc đầu tư
Từ công thức suy ra:
Trang 9Tóm lại, lý thuyết gia tốc đầu tư phản ánh sự tác động sản lượngđến đầu tư Nếu x không đổi trong một thời kỳ nào đó thì công thức này
là cơ sở để dự báo quy mô vốn đầu tư trong nước tại một năm nào đó Lýthuyết còn phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tư vì khisản lượng tăng, mức tiêu dùng tăng ít, tiết kiệm phát triển cao, do đó đầu
tư phát triển
Song lý thuyết này có một số hạn chế, một là, lý thuyết giả địnhquan hệ giữa vốn và sản lượng cố định thực tế nó biến động do sự tácđộng của những nhân tố khác Hai là, thực chất của lý thuyết là xem xét
sự tác động của đầu tư thuần với sự biến động sản lượng chứ không phảicủa tổng vốn đầu tư Ba là, lý thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốnđều được thực hiện ngay trong một thời kỳ với sản lượng Thực tế khôngphải như vậy, không phải cứ gia tăng vốn đầu tư là gia tăng sản lượng
5 Lý thuyết số nhân đầu tư
Số nhân đầu tư phản ánh quan hệ giữa việc gia tăng đầu tư với giatăng sản lượng, phản ánh mức sản lượng thay đổi bao nhiêu khi đầu tưthay đổi một đơn vị
Công thức:
k = ΔY/ ΔI
Trong đó k - số nhân đầu tư
ΔY - Mức gia tăng sản lượng
ΔI - Mức gia tăng đầu tưTrong nền kinh tế đóng:
k = ΔY/ ΔS = ΔY/ (ΔY-ΔC) = 1/ ΔY/ ΔC) = 1/
(1-MPC)
Trang 10Theo l thuyết của Keynes, việc gia tăng đầu tư có tác động tới sảnlượng, vì:
0 ≤ MPC ≤ 1 => k > 1
Số nhân đầu tư là nhân tố phản ánh một chiều giữa đầu tư với sảnlượng Vì k > 1 nên mối quan hệ giữa ΔY và ΔI là quan hệ thuận NếuMPC càng lớn, k càng lớn do đó độ khuyếch đại của sản lượng càng lớn
và ngược lại nếu MPS càng lớn k càng nhỏ
6 Lý thuyết tân cổ điển
Theo lý thuyết này đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềmnăng) Còn tiết kiệm S = s y trong đó 0 < s < 1
s - Mức tiết kiệm từ một đơn vị sản lượng (thu nhập) và tỷ lệ tăngtrưởng của lao động bằng với tỷ lệ tăng dân số và ký hiệu là n
Theo hàm sản xuất, các yếu tố của sản xuất là vốn và lao động cóthể thay thế cho nhau trong tương quan sau đây
Y = A ert Kα N(1-α)
A ert biểu thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ
A > 0 và cố định, r tỷ lệ tăng trưởng của công nghệ, t là thời gian
α và (1- α) là hệ số co giãn của các thành phần sản xuất với các yếu
tố vốn và lao động Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo thì α và (1- α)biểu thị thu nhập quốc dân từ vốn và lao động
Từ hàm sản xuất Cobb-Douglas trên, ta có thể tính được tỷ lệ tăngtrưởng như sau:
g = r + αh + (1- α)n
Trong đó:
Trang 11n - tỷ lệ tăng trưởng lao động
Biểu thức trên cho thấy tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng có mốiquan hệ thuận với tiến bộ của công nghệ và tỷ lệ thuận tăng trưởng củavốn và lao động
Nếu gọi đầu tư ròng:
g = r/(1- α) + n
Như vậy trong “thời đại hoàng kim”, tỷ lệ tăng trưởng g phụ thuộcvào tỷ lệ tăng trưởng của công nghệ và lao động Điều này cho thấy,không thể có thu nhập trên đầu người tăng nếu không có sự tiến bộ củacông nghệ
Trang 127 Mô hình của R.Solow
Mô hình Harrod-Domar chỉ ra sự tăng trưởng là do kết quả tươngtác giữa tiết kiệm và đầu tư là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế.Tuy vậy trên thực tế thì tăng trưởng kinh tế có thể xảy ra không phải từ lý
do tăng đầu tư, hoặc ngược lại nếu đầu tư không có hiệu quả vẫn có thểdẫn đến không có sự tăng trưởng Kể cả trong trường hợp đầu tư hiệu quảthì sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm cũng chỉ có thể tạo nên gia tăng tốc độ tăngtrưởng kinh tế trong ngắn hạn chứ không thể dạt được trong dài hạn Từnhững lập luận này, năm 1956, dựa trên tư tưởng thị trường tự do của lýthuyết tân cổ điển, Robert Solow (1924) đã xây dựng nên mô hình tăngtrưởng mang những ý tưởng mới gọi là mô hình tăng trưởng Solow Nếunhư mô hình Harrrod-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thôngqua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Sollow đã đưathêm nhân tố lao động và tiến bộ công nghệ vào mô hình tăng trưởng
Xét một dạng hàm tổng sản xuất Cobb-Douglas giản đơn:
Y= Kα L(1-α)
Trong đó Y, K, L lần lượt là sản lượng, vốn và lao động
Từ mô hình tăng trưởng Harrod-Domar, ta đã có I = s.Y
Với Y là đầu tư của nền kinh tế và s là tỷ lệ tiết kiệm quốc giaNếu chia cả 2 vế phương trình này cho L ta được mức đầu tư bìnhquân một công nhân:
i = s y
Trang 13Tại mỗi thời điểm, lượng vốn là yếu tố quyết định sản lượng củanền kinh tế, nhưng lượng có thể thay đổi theo thời gian, dẫn đến tăngtrưởng kinh tế Mô hình Solow xác định hai lực lượng tác động tới sựthay đổi của lượng vốn là đầu tư (làm tăng lượng vốn) và khấu hao (làmgiảm lượng vốn).
Thay đổi lượng vốn = Đầu tư - Khấu hao.
Với quy mô dân số nhất định, giả sử tỷ lệ khấu hao vốn sản xuất là một số б không đổi, tức là mức khấu hao bình quân công nhân là (б k)
Đầu tư và khấu hao
Trang 14
8 Mô hình các giai đoạn phát triển của W.Rostow
Theo Rostow, kinh tế của một quốc gia sẽ trải qua năm giai đoạntrong sự phát triển Đó là giai đoạn xã hội truyền thống, giai đoạn chuẩn
bị cất cánh, giai đoạn cất cánh, giai đoạn chín muồi về kinh tế và giaiđoạn tiêu dùng đại chúng Ứng với mỗi giai đoạn là một dạng cơ cấungành kinh tế đặc trưng thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn đấy
Ở giai đoạn chuẩn bị cất cánh, ngành Công nghiệp bắt đầu phát
triển và đã xuất hiện đầu tư để phát triển ngành công nghiệp đồng thờicũng đầu tư vào các lĩnh vực khác như giao thông vận tải Thông qua đầu
tư, ngành công nghiệp sẽ phát triển tạo điều kiện cho nền kinh tế bướcsang giai đoạn sau - giai đoạn cất cánh Cơ cấu ngành kinh tế trong giaiđoạn này là cơ cấu nông - công nghiệp
Giai đoạn cất cánh: giai đoạn này có tỷ lệ đầu tư tăng nhanh từ 5–
10% trong NNP Đầu tư tạo điều kiện phát triển một số ngành Côngnghiệp mũi nhọn và các ngành này sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc lôikéo các ngành khác phát triển Theo Rostow, ngành chủ đạo ở đây làngành sản xuất hàng tiêu dùng Cơ cấu ngành kinh tế của giai đoạn này làCông nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ
Trang 15Giai đoạn chín muồi: tỷ lệ đầu tư tăng mạnh từ 10–20% NNP.
Đồng thời ở giai đoạn này đã xuất hiện nhiều cực tăng trưởng mạnh mới
Cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn này là Công nghiệp - Dịch vụ - Nôngnghiệp
Tóm lại, đầu tư sẽ thúc đẩy tăng trưởng các ngành cụ thể khácnhau
ở mỗi giai đoạn, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và bướctiếp sáng các giai đoạn phát triển cao hơn
III MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
1 Tác động của đầu tư đến tăng trưởng phát triển
1.1 Đầu tư tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Đầu tư (I) là một trong những bộ phận quan trọng của tổng cầu Vì vậy,
khi quy mô đầu tư thay đổi sẽ tác động trực tiếp đến quy mô tổng cầu, đó
là tác động ngắn hạn Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên củađầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo theo sự gia tăng của sản lượng và giácủa các yếu tố đầu vào Khi các thành quả của đầu tư phát huy tác dụngthì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sự thay đổisản lượng và giá các yếu tố đầu vào Và đạt tới mức cân bằng, sản lượngtăng trong khi giá cả giảm sẽ kích thích tiêu dùng và hoạt động sản xuấtcung ứng dịch vụ của nền kinh tế
Trang 16P
S
P1 E1
P0 E0 S’
P2
E2
D D’
1.2 Đầu tư tác động đến tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Tốc độ tăng đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ vận động và chuyển hoá Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thường theo chiều thuận, nghĩa là đầu tư lớn thì tăng trưởng cao Tuy nhiên cũng có những trường hợp diễn biến theo chiều ngược lại, đầu tư lớn mà không hiệu quả, hoặc lỗ nhiều Có những trường hợp đầu tư chưa đem lại hiệu quả ngay như đầu tư vào các dự án trung và dài hạn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng Chính do đặc điểm có độ trễ trong hiệu quả đầu tư nên Hệ số ICOR thường được dự tính cho các kế hoạch phát triển dài hạn, thường
là 5 năm
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng được thể hiện thông qua
hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) Hệ số ICOR là tỷ lệ vốn đầu tư so với tốc độ tăng trưởng (còn gọi là hệ số đầu tư tăng trưởng) Hệ
số ICOR cho biết muốn có một đồng tăng trưởng thì phải cần bao nhiều đồng vốn đầu tư
Trang 17Hệ số ICOR biểu hiện mối quan hệ giữa mức tăng sản lượng đầu ra(kỳ t) và mức đầu tư của kỳ (t-1) và được tính bằng công thức:
I = K/y
Trong đó: K - Mức thay đổi của vốn
y - Mức thay đổi của sản lượng
Hệ số ICOR phụ thuộc vào nguồn dự trữ và công nghệ sản xuất.ICOR càng cao chứng tỏ đầu tư càng đắt Hệ số ICOR ở một số nước có
xu hướng tăng và ICOR ở các nước phát triển thường cao hơn ở các nướcđang phát triển
Số liệu thống kê cho thấy hệ số ICOR thường nằm trong khoảng 3
và 4 trong thế kỷ 19, nhưng hệ số ICOR khác nhau đáng kể giữa cácngành kinh tế Mức tăng trưởng tiềm năng được tính bằng cách chia tỷ lệđầu tư cho hệ số ICOR Ví dụ một nước dùng 12% tổng thu nhập vào đầu
tư mới, và cần 3 đồng đầu tư để tăng 1 đồng kết quả/năm, khi đó tốc độtăng trưởng sẽ là 4% (12%/3) Nếu hệ số ICOR cao hơn, giả dụ cần 4đồng đầu tư mới để tăng 1 đồng kết quả/năm, khi đó mức tăng trưởng sẽ
là 3% (12%/4) Cần lưu ý rằng một nền kinh tế mạnh thường “sốngbằng” 80% kết quả, 20% còn lại có thể dùng để đầu tư mới và làm tăngmức tăng trưởng Vì vậy một trong số nhân tố quyết định mức tăngtrưởng là quy mô và sử dụng thặng dư xã hội
Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao hơn tốc độ tăng dân sốthì sản lượng bình quân đầu người không tăng Nếu ta muốn tính tốc độtăng trưởng kinh tế bình quân đầu người thì phải trừ đi mức tăng dân số
từ mức tăng trưởng kinh tế Vì vậy theo ví dụ trên mức tăng trưởng 4%,
Trang 18mức tăng dân số là 2% /năm sẽ có mức tăng trưởng trên 1 đồng đầu tưchỉ là 2%
Tăng trưởng kinh tế hoạt động như lợi ích kết hợp Một nền kinh tế
có sản lượng bình quân đầu người tăng ở mức 2%/năm sẽ gấp đôi sảnlượng bình quân đầu người trong vòng 36 năm Nếu tốc độ tăng giảmxuống còn 1,5%, sẽ cần 48 năm để gấp đôi sản lượng Nếu tốc độ tăngtrưởng tăng lên 2,5%/năm sẽ cần khoảng 29 năm Vì vậy, việc tăng hoặcgiảm tốc độ tăng trưởng có ý nghĩa khi xét tác động của nó trong vòng 3hoặc 4 thập kỷ (nguyên tắc 72 là phương pháp nhanh nhất để tính tácđộng của tăng trưởng tích luỹ Đơn giản, lấy 72 chia cho mức tăng trưởnghàng năm ta sẽ có kết quả là số năm cần để gấp đôi mức sản lượng bìnhquân đầu người)
Vì vậy, quá trình phát triển kinh tế bắt đầu khi có đầu tư đủ đểchuyển mức tăng trưởng kinh tế trên mức tăng dân số và duy trì được sựtăng trưởng Rostow, một sử gia kinh tế đã phát triển thuyết “giai đoạn”phát triển kinh tế, ông gọi điểm bắt đầu quan trọng là giai đoạn “cất cánh”
và từ cất cánh được sử dụng phổ biến Tuy nhiên Rostow đã cố gắng đểchứng tỏ rằng phần còn lại của quá trình phát triển kinh tế chắc chắn sẽxảy ra (ít hoặc nhiều) khi giai đoạn “cất cánh” đã xảy ra, một gợi ý chorằng từ “cất cánh” không hoàn toàn phù hợp với thực tế của lịch sử Mộtnhà kinh tế khác gọi giai đoạn bắt đầu này là “sự đâm chồi”- bằng chứngcủa các dấu hiệu tăng trưởng đầu tiên
Cần xét đến một số khía cạnh ít mang tính số lượng hơn của việctăng trưởng Một thời kỳ dài của tăng trưởng bền vững dẫn đến sự tăngtrưởng bình thường Các nhà lập chính sách hy vọng sẽ có tăng trưởng
Trang 19hội, hệ số ICOR và mức tăng trưởng kinh tế kết hợp mang lại cho xã hộitốc độ tăng trưởng 0,5%/năm / vốn đầu tư tăng trưởng, điều chắc chắn làkhông một ai muốn có tốc độ tăng trưởng này Nếu tốc độ tăng trưởngduy trì ở mức 0,5%/năm thì phải cần tới 144 năm để gấp đôi thu nhập từ
1 đồng vốn
Ở góc độ toàn nền kinh tế, hệ số ICOR biểu hiện tỷ lệ vốn đầu tư
so với tốc độ tăng trưởng GDP ở nước ta tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP còn thấp so với các quốc gia trong khu vực Vấn đề đặt ra là phải có các chính sách và biện pháp để tăng huy động vốn (cả về số lượng và tỷ lệ) và đặc biệt quan trọng là phải nâng cao hiệu quả quản lý
và sử dụng vốn đầu tư
Hệ số ICOR năm 1991 của Việt Nam là 0,39, tức là để có 1 đồng tăng trưởng cần phải đầu tư 0,39 đồng vốn Đến năm 2001, số liệu này là 3,82 Thực tế cho thấy càng tiếp cận sâu rộng với thị trường thế giới thì lợi thế cạnh tranh ban đầu sẽ giảm đi (tài nguyên phong phú, lao động rẻ) Nếu không phát huy được lợi thế cạnh tranh ban đầu và không tạo được những lợi thế cạnh tranh mới thì khó có thể đạt được mức tăng trưởng mong muốn
Đầu tư vốn cho khoa học công nghệ là một hướng đầu tư quan trọng và mang tính đặc thù Vốn đầu tư cho công nghệ sẽ mang lại hiệu quả cao trong phát triển dài hạn, tuy nhiên đây cũng là lĩnh vực đầu tư có nhiều rủi ro ở các nước mới thực hiện công nghiệp hoá, chính phủ đóng vai trò hỗ trợ chính trong phát triển khoa học và công nghệ Hiện nay ở nước ta quy định sử dụng 2% tổng ngân sách cho hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, nhưng trong thực tế chỉ đạt 1%, (chiếm 0,2%
Trang 20GDP) Đây là một tỷ lệ rất thấp và bất hợp lý so với tỷ lệ 2,5-3% ở các nước công nghiệp phát triển
Theo phân tích của Báo đầu tư [5] thì nguyên nhân của đầu tư kém hiệu quả ở nước ta hiện nay, trước hết là do việc chọn và quyết định dự
án đầu tư Nếu thời kỳ 1991-1997, hệ số ICOR là 2,6 thì hiện nay đã tăng lên khoảng 5,0
Cùng một đơn vị vốn có thể tạo ra những mức sản lượng rất khác nhau, phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn Hiệu suất của một đơn vị vốn
có thể giảm nếu việc quản lý lực lượng làm việc không hiệu quả hoặc không bảo đảm đủ nguyên vật liệu cho sản xuất, đồng thời cũng bị nhữngràng buộc về lực lượng lao động Vì những lý do này mà mức sản lượng thu được từ một lượng vốn sẽ rất khác nhau giữa các nước So sánh mangtính quốc tế về hệ số ICOR sẽ gặp khó khăn trong việc tính sự thay đổi
về vốn Ví dụ, trong liên doanh liên kết đầu tư ở nước ta phần góp vốn đầu tư của nước chủ nhà thường tính bằng giá trị đất đai, nhà xưởng và thực tế ở nước ta giá đất quá đắt và thay đổi rất nhanh Hoặc trong đầu tư xây dựng cơ bản thì chi phí cho giải phóng mặt bằng chiếm một phần rất lớn và chi phí này tăng lên theo giá đất đai do vậy cũng gây khó khăn cho việc xác định giá trị đầu tư Mặc dù có những khó khăn trong việc tính vốn đầu tư cũng như các yếu tố thuộc lĩnh vực quản lý, thì hệ số ICOR vẫn được sử dụng là một số đo hiệu quả đầu tư và so sánh hiệu quả đầu tư ở các nước khác nhau
Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế, không chỉ được đặt ra đối với nền kinh tế của một quốc gia mà còn phải đặt ra cho từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế và từng đơn vị kinh tế Việc đầu tư vào đâu,
Trang 21tế cao là những vấn đề mà các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách, xây dựng dự án đầu tư phải nghiên cứu kỹ
Đầu tư và tăng trưởng đang trở thành vấn đề kinh tế quan trọng hiện nay của đất nước Tăng thêm vốn đầu tư và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Đầu tư và tăng trưởng sẽ mang lại hiệu quả nếu có những giải pháp thích hợp
1.2.2 Mối quan hệ giữa cơ cấu đầu tư và tốc độ tăng trưởng
Các nhà kinh tế đều thừa nhận đầu tư là một trong những nhân tốquan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế, muốn có tăng trưởng phải
có đầu tư Tuy nhiên cơ cấu đầu tư (đầu tư vào đâu) là một vấn đề gâynhiều tranh cãi
Các nhà kinh tế đều đồng ý với nhau rằng cần có một cơ cấu đầu tư hợp
lý, để tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý Thuật ngữ "hợp lý" ở đây được hiểu là
cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế như thế nào để đảm bảo được tốc độ pháttriển nhanh và bền vững Mặc dù đồng ý với nhau như vậy nhưng các nhàkinh tế có quan điểm rất khác nhau về cách thức tạo ra một cơ cấu đầu tư
"hợp lý" Có một số quan điểm chủ yếu sau đây:
Quan điểm của trường phái tân cổ điển
Quan điểm này cho rằng Nhà nước không nên can thiệp vào nềnkinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực (Vốn, lao động ) mà sự vậnđộng của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này Trường phái nàykhẳng định một trong những ưu điểm của kinh tế thị trường đó là sự phân
bổ nguồn lực một cách tự động dưới sự tự điều khiển của thị trường Cácdoanh nghiệp với mục đích tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm những cơhội đầu tư tốt nhất cho mình Tuy nhiên giả thiết của trường phái tân cổ
điển là thị trường cạnh tranh hoàn hảo Đó là thị trường mà người bán và
Trang 22người mua không ai kiểm soát và có khả năng kiểm soát giá cả và có đầy
đủ thông tin trong cả hiện tại và tương lai Trong thực tế giả định này làmột điều phi thực tế, nhất là về thông tin
Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của chính phủ
Quan điểm nay cho rằng do thị trường không hoàn hảo, nhất là đốivới các nước đang phát triển, nên tự vận động của thị trường sẽ khôngmang lại kết quả tối ưu Thông tin không hoàn hảo có thể dẫn đến sảnxuất và đầu tư quá mức
Mặt khác, ở hầu hết các nước đang phát triển, kinh tế còn lạc hậu, phụthuộc vào nông nghiệp, nếu để thị trường tự vận động sẽ không tạo ra sựphát triển mạnh mẽ Nhà nước cần tạo ra sự khởi động ban đầu để hìnhthành nên các ngành công nghiệp Sự can thiệp của Nhà nước trong việcphân bổ nguồn lực cho công nghiệp là cần thiết Sở dĩ phải phát triểncông nhiệp bởi đây là khu vực có thể tăng năng suất nhanh nhất do ứngdụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngoài ra khu vực này còn tạo ra kíchthích cho toàn nền kinh tế Vì lý do đó mà các nước đang phát triển chủtrương đẩy mạnh phát triển công nghiệp, hay còn gọi là quá trình côngnhiệp hoá
Tuy nhiên, ở nhiều nước sự can thiệp quá mức của nhà nước vào quátrình công nghiệp đôi khi không hiệu quả Rất nhiều ngành công nghiệpđược hình thành theo ý chí chủ quan của một số nhà lãnh đạo, chứ khôngdựa trên các phân tích kinh tế kỹ càng Tham nhũng, các hoạt động tìmkiếm đặc lợi càng làm cho vấn đề thêm nghiêm trọng, lúc đó nền kinh tếchịu sự rủi ro rất cao của những quyết định sai
Quan điểm về tăng trưởng cân đối
Trang 23Ông đề nghị đầu tư nên hướng một lúc vào nhiều ngành để tăng cungcũng như kích thích cầu cho nhiều sản phẩm Sự phát triển trong côngnghiệp chế biến đòi hỏi một lượng đầu tư trong một thời gian dài; từ đóphát sinh sự phát triển song song cả hàng hoá phục vụ sản xuất cũng nhưphục vụ tiêu dùng Ý tưởng về cú huých lập luận rằng gia tăng mạnh mẽ
về đầu tư sẽ dẫn đến mức tiết kiệm tăng lên do gia tăng trong thu nhập.Theo Rosenstain - Rodan, mục đích của viện trợ nước ngoài cho cácnước kém phát triển là đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế tới mộtđiểm mà ở đó tốc độ tăng trưởng kinh tế mong muốn có thể đạt được trênnền tảng tự duy trì, không phụ thuộc vào nguồn tài trợ bên ngoài
Theo Nurske: ông ủng hộ sự phát triển cân đối, sản xuất hàng loạtnhiều loại sản phẩm để gia tăng cầu, lúc đó sẽ khai thác được "lợi thế
về qui mô", như vậy hiệu quả đầu tư mới cao và đẩy nhanh tốc độphát triển
Tăng trưởng không cân đối
Hirschman (1958) đưa ra một mô hình mang tính trái ngược Ôngcho rằng sự mất cân đối giữa cung và cầu tạo ra động lực cho nhiều dự ánmới Theo cách tiếp cận này vốn đầu tư cần được nhà nước phân phốicho những ngành công nghiệp trọng điểm, nhằm tạo ra cơ hội ở nhữngngành khác trong nền kinh tế; khái niệm về "liên hệ ngược" và "liên hệxuôi" cũng ra đời từ ông này Hai khái niệm này được tính toán từ môhình I/O Ông cho rằng sự mất cân đối này sẽ tạo ra sự phát triển
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi,nhiều định chế của cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh, nên các điều kiệncủa thị trường cạnh tranh hoàn hảo rõ ràng là chưa đáp ứng được Mặtkhác, nền kinh tế của ta đang ở mức phát triển thấp, chịu ảnh hưởng củamột thời gian dài trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung Tất cả những đặc
Trang 24tính đó cho thấy Nhà nước cần đóng vai trò quan trọng trong việc thúcđẩy sự phát triển kinh tế, không thể để thị trường tự thân vận động.
1.3 Đầu tư tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng
Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu
tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp với quy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực
Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu
tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp… đềuảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó,làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành
Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất
cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển
Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những
Trang 25lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua công cụ chính sách như thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và định hướng một cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịchchuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý.
Sự tác động của chính sách đầu tư đến cơ cấu kinh tế được thể hiện
ở các nội dung sau:
Thứ nhất, sự thay đổi về số tuyệt đối hoặc tỷ trọng vốn đầu tư trong
mỗi ngành, lĩnh vực sẽ làm thay đổi năng lực sản xuất, do đó làm thayđổi sản lượng của ngành đó, dẫn đến làm chuyển dịch cơ cấu ngành Mức
độ tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế phụ thuộc vào động thái tăngtrưởng mỗi ngành, mỗi lĩnh vực
Thứ hai, tốc độ tăng trưởng của mỗi ngành không chỉ phụ thuộc
vào việc gia tăng vốn đầu tư mà còn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụngnguồn vốn đó Nghĩa là vốn đầu tư phải được sử dụng phù hợp với cácnguồn đầu vào khác như: lao động, tài nguyên, theo tỷ lệ thích hợp đểphát huy được lợi thế của ngành Điều này thể hiện mức độ ảnh hưởngcủa cơ cấu vốn đầu tư đến cơ cấu kinh tế tùy thuộc vào hiệu quả sử dụngvốn đầu tư trong nội bộ ngành
Thứ ba, trong điều kiện nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa, đầu tư đượchình thành từ hai tác động: thị trường và định hướng của nhà nước Dướitác động của thị trường, việc phân bố đầu tư vào đâu, lựa chọn công nghệnhư thế nào, là do tác động của quy luật thị trường, của quan hệ cungcầu Điều này dẫn đến hình thành cơ cấu đầu tư và cơ cấu kinh tế tự phát
Để hạn chế những kết quả tự phát và làm cho quá trình chuyển dịch theođúng hướng, đúng mục tiêu đã đặt ra, nhà nước đã sử dụng hệ thống
Trang 26chính sách và các công cụ pháp luật để hướng cho các thành phần kinh tếđầu tư theo mục tiêu cơ cấu đã xác định.
1.4 Đầu tư tác động đến khoa học và công nghệ
Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: Phần cứng (máy móc thiếtbị), phần mềm (các văn bản, tài liệu, các bí quyết, ), yếu tố con người(các kỹ năng quản lý, kinh nghiệm), yếu tố tổ chức (các thể chế, phươngpháp tổ chức, …)
Muốn có công nghệ, cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành Đầu
tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới phát triểnkhoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá Đầu tư là điều kiệntiên quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của mộtquốc gia Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có côngnghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập khẩu công nghệ
Dù là lựa chọn nào đi nữa thì cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư.Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ lànhững phương án không khả thi
2 Tác động của tăng trưởng phát triển đến đầu tư
2.1 Tác động của tăng trưởng đến đầu tư
Đặt trong bối cảnh tổng quát và dài hạn, năng lực tăng trưởng của nềnkinh tế là yếu tố quan trọng xác định triển vọng huy động đầu tư mộtcách hiệu quả Vấn đề tăng trưởng - phát triển ở đây được nhìn nhận như
Trang 27một yếu tố tạo ra sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với lĩnh vực đầu tư cảtrong nước và nước ngoài
Vấn đề này liên quan đến một nguyên tắc mang tính chủ đạo trongviệc thu hút vốn đầu tư: Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khảnăng thu hút nó càng lớn
Thực chất của mối quan hệ này nằm trong mối quan hệ nhân quả củacác sự vật
Thứ nhất, với năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tíchlũy của nền kinh tế sẽ có khả năng gia tăng Khi đó quy mô cácnguồn vốn trong nước có thể huy động sẽ được cải thiện
Thứ hai, triển vọng tăng trưởng và phát triển càng cao cũng sẽ làtín hiệu tốt thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài
2.2 Tác động của cơ cấu kinh tế đến đầu tư
Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cấu kinh
tế phản ánh sự phát triển khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phâncông lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất Trạng thái cơ cấukinh tế là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển của mỗi quốc gia Quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra liên tục và gắn liền với sự pháttriển kinh tế Ngược lại, nhịp độ phát triển, tính chất bền vững của quátrình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu linhhoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thếtương đối của nền kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng đối vớihoạt động đầu tư vì gắn với nó là cả một động thái về phân bố các nguồnlực của một quốc gia trong những thời điểm nhất định vào những hoạtđộng sản xuất nhất định Chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện tính hiệu
Trang 28quả của việc phân bố nguồn lực Có c chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng hợp lý thì mới có thể tạo điều kiện cho việc hoàn thiện cơ cấu đầutư.
Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng pháttriển thì việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơ cấu kinh tế thể hiện đượccác lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nềnkinh tế toàn cầu, là cơ sở cho việc thu hut các nguồn vốn đầu tư nướcngoài
2.3 Tác động của phát triển xã hội đến đầu tư
Đầu tư được ví như một canh bạc Các nhà đầu tư đặt cược một
số tiền lớn trong điều kiện hiện tại và hy vọng thu được nhiều lợi nhuậnhơn trong tương lai Do vậy, đầu tư luôn đòi hỏi một môi trường thíchhợp, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, với xu thế cạnh tranh ngàycàng gay gắt
Môi trường đầu tư hiệu quả bao gồm nhiều yếu tố, trực tiếp,gián tiếp tác động đến hiệu quả của dự án đầu tư Đó là thực trạng của cơ
sở hạ tầng; những quy định của pháp luật đầu tư, nhất là những quy định
có liên quan đến lợi ích tài chính, chế độ đất đai, các thủ tục hành chính,tình hình chính trị - xã hội Nếu những yếu tố trên đây thuận lợi sẽkhuyến khích được các nhà đầu tư và thu hút đước nhiều nguồn vốn đầutư
Trong việc tạo lập môi trường đầu tư, Chính phủ giữ một vaitrò quan trọng Chính phủ thường quan tâm đến việc đưa ra các chínhsách nhằm tăng được lòng tin trong đầu tư và kinh doanh
Trang 301 Thực trạng về tình hình đầu tư ở Việt Nam
1.1.Đầu tư trong nước
Nguồn vốn khu vực nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước, vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước, trong đó
có cả vốn hỗi trợ phát triển chính thức (ODA) đưa vào ngân sách và tín dụng nhà nước cho vay lại
Theo số liệu thống kê về cơ cấu vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tếthì nguồn vốn trong nước đang chiếm một phần lớn trong tổng vốn đầu tưcủa nền kinh tế:
Trang 31Nguồn vốn khu vực nhà nước có vị trí rất quan trọng, nó là nguồnhình thành các công trình trọng điểm của quốc gia, nhất là các công trìnhkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của đất nước, những công trình mà cácthành phần kinh tế khác không thể hoặc không muốn đầu tư Nguồn vốnnày còn là nguồn có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơcấu vùng kinh tế, là nguồn mà nhà nước có thể trực tiếp điều hành…
Có thể rút ra một số nhận xét đáng lưu ý về nguồn vốn khu vực nhànước:
Một là, nguồn vốn nhà nước luôn chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ
cấu vốn đầu tư của Việt Nam
Hai là, tỷ trọng nguồn này tăng nhanh trong thời kỳ từ năm 1997
đến năm 2001, nhưng đã giảm nhanh trong giai đoạn 2001 - 2006
Ba là, nguồn vốn này không được quản lý chặt chẽ, khoa học, dễ
gây ra thất thoát lãng phí, quy trình huy động và sử dụng vốn không hiệuquả bằng nguồn vốn tư nhân và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Tốc độ gia tăng quy mô vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam là khánhanh trong giai đoạn 1991 – 2005 Giai đoạn 1991 – 1995 đạt29.1%/năm, từ 1996 – 2005 trung bình đạt trên 22%/năm
Năm 2000 quy mô vốn đầu tư là 92 nghìn tỷ VNĐ
Năm 2003 quy mô vốn đầu tư là 217 nghìn tỷ VNĐ
Năm 2004 tổng vốn ước đạt 258.7 nghìn tỷ VNĐ, bằng 104% kếhoạch năm và tăng gần 19% so với thực hiện năm 2004
Trang 32Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển so với GDP cũng có xu hướng giatăng mạnh mẽ: Năm 1991 là 17,6%, Năm 1997 là 30,9%, Năm 2002 là34,6%, Năm 2003 là 35%, Năm 2004 là 36,3%.
1.2.Đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI): Sau hơn 20 năm thực hiện
chính sách đổi mới, mở cửa, nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã từng bướcđóng góp phần bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cườngtiềm lực để khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trongnước như dầu khí, điện lực, bưu chính viễn thông,… Tính từ năm 1988đến giữa năm 2007, trên phạm vi cả nước đã có hàng nghìn dự án đượccấp phép với tổng số vốn đăng ký là hơn 75 tỷ triệu USD Trong giaiđoạn 2001 -2006, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm trung bìnhkhoảng 16,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Cho đến nay, Việt Nam đãthu hút được khoản 70 quốc gia và vùng lãnh thổ đưa vốn vào đầu tưdưới các hình thức khác nhau Năm 2007, lượng vốn FDI đăng ký mới và
bổ sung đạt 20,3 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay và tăng tới 68,8% sovới mức kỷ lục đạt được trong năm trước, vốn thực hiện ước đạt 4,6 tỷUSD, tăng khoảng 0,6% tỷ USD so với năm trước Cả nước đã thu hút
350 lượt dự án tăng vốn với số vốn trên 3,2 tỉ USD vốn đầu tư tăng thêmcủa các dự án cũ Vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào dịch vụ 63,7% vàcông nghiệp 35,0%, ngành nông - lâm nghiệp thủy sản 1,3%
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Trong thời gian
qua, việc thu hút ODA phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiệnđại hóa ở Việt nam đã diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có
Trang 33được 14 hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ với tổng mức vốn cam kếthơn 36 tỷ USD (viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20% Với quy mô tàitrợ khác nhau, hiện nay Việt Nam có trên 45 đối tác hợp tác phát triểnsong phương và hơn 350 tổ chức quốc tế và phi chính phủ đang hoạtđộng Với cam kết và giải ngân đạt kỷ lục (4,4 tỷ USD và 2 tỷ USD),cam kết cho năm 2008 đạt kỷ lục mới (5,4 tỷ USD)
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp: Năm 2007, ước đạt 5,6 tỷ USD, lớn
gấp 4,3 lần năm trước Tính đến hết năm 2007, tổng giá trị vốn hoá thịtrường chứng khoán Việt Nam đạt gần 500.000 tỷ đồng, bằng khoảng43,7% GDP của năm 2007, trong đó vốn đầu tư gián tiếp từ thị trườngchứng khoán ước đạt từ 4,5 đến 5 tỉ USD Luật Chứng khoán có hiệu lực
từ ngày 1/1/2007: tạo hành lang pháp lý quan trọng cho thị trường chứngkhoán Việt Nam phát triển Các tiêu chuẩn tham gia thị trường với nhiềuthành viên như: công ty chứng khoán, công ty niêm yết, công ty quản lýquỹ đã được nâng cấp Năm 2005, chính phủ Việt Nam đã phát hành đợttrái phiếu đầu tiên trên thị trường trái phiếu Hoa Kỳ với kết quả đượcđánh giá là khá thành công Bên cạnh đó, các đề án phát hành trái phiếuchính phủ và trái phiếu doanh nghiệp ra nước ngoài tiếp thep cũng đã vàđang được triển khai
2 Thực trạng về tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Trang 34đề ra (8,0-8,5%) Tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vàohàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực (Theođánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á-ADB thì năm 2007 kinh tếTrung Quốc tăng 11,2%; Việt Nam tăng 8,3%; Xin-ga-po tăng 7,5%; Phi-li-pin tăng 6,6%; In-đô-nê-xi-a tăng 6,2%; Ma-lai-xi-a tăng 5,6%; TháiLan tăng 4%).
Tổng sản phẩm trong nước năm 2007 theo giá thực tế
Thực hiện (Tỷ
Năm2006
Ước tínhnăm2007
Năm2006
Ước tínhnăm2007
Trang 35Kinh doanh bất động sản 36814 43509 3.78 3.80
So với tháng 12 năm 2006, giá tiêu dùng năm 2007 tăng 12,63%,trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 18,92%; nhà ở và vậtliệu xây dựng tăng 17,12%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng từ1,69% đến 7,27%
Giá tiêu dùng bình quân năm 2007 so với năm 2006 tăng 8,3%,trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,16%; nhà ở và vậtliệu xây dựng tăng 11,01%; các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ tăng3,18-6,15%
3 Thực trạng về tình hình cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Trong 5 năm qua, đã có sự chuyển dịch quan trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế, cơ cấu thành phần và cơ cấu lao động theo hướng pháthuy lợi thế so sánh trong từng ngành,lĩnh vực…Cụ thể:
Đơn vị tính:%
Trang 361 Cơ cấu kinh tế:
Trong đó:
Khu vực nông, lâm, thuỷ sản
Khu vực công nghiệp, xây dựng
Khu vực dịch vụ
2 Cơ cấu thành phần kinh tế:
Trong đó:
Kinh tế nhà nước
Kinh tế ngoài quốc doanh
Khu vực có vốn đàu tư nước
ngoài
3 Cơ cấu lao động:
Trong đó:
Khu vực nông, lâm, thuỷ sản
Khu vực công nghiệp, xây dựng
Khu vực dịch vụ
100
27,228,844,0100
40,253,56,3
71,111,417,5
100
24,536,738,8100
38,548,213,3
68,212,119,7
100
20,541,038,5100
38,047,015,0
57,018,025,0
4 Thực trạng về tình hình xã hội ở Việt Nam
Nhìn chung đời sống của dân cư tiếp tục ổn định và từng bước đượccải thiện Đời sống cán bộ, công chức, viên chức và người lao độnghưởng lương đã được cải thiện, qua 1 năm thực hiện Nghị định 94/2006/NĐ-CP và Nghị định 03/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh mức lương tốithiểu chung Thu nhập bình quân một tháng của một lao động trong khuvực Nhà nước đạt 2064,2 nghìn đồng, trong đó lao động do Trung ương
Trang 37nghìn đồng Tuy nhiên, mức thu nhập giữa các ngành, các loại hìnhdoanh nghiệp, các địa phương không đồng đều
Mặc dù chịu tác động của nhiều yếu tố như giá tiêu dùng liên tụctăng, sản xuất nông nghiệp ở một số vùng chịu ảnh hưởng nặng nề củabão lũ, nhưng đời sống của đại đa số dân cư ở nông thôn vẫn giữ đượcmức ổn định, do giá nông sản, thực phẩm tăng đã khuyến khích nông dânsản xuất hàng hóa, tăng thêm thu nhập Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đãgiảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007 vượt kế hoạch
đề ra (16%) Trong các vùng của cả nước tỷ lệ hộ nghèo đều giảm, nhưng
cá biệt một số tỉnh miền núi, tại những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bàodân tộc ít người số hộ nghèo vẫn còn chiếm tỷ trọng cao: Tỷ lệ hộ nghèocủa Lai Châu hiện nay là 55,32%; Điện Biên 40,77%; Hà Giang 39,44%
và Bắc Kạn 37,8%
Tình trạng thiếu đói vẫn xảy ra ở một số vùng bị thiên tai Theo báocáo của các địa phương, năm 2007 trên địa bàn cả nước có 723,9 nghìnlượt hộ với 3034,5 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói giáp hạt, giảm 6%
số lượt hộ và giảm 11,6% số lượt nhân khẩu thiếu đói so với năm trước
K hái quát lại, năm 2007 là năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2006
-2010, mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức, trong đó có những yếu tốkhông lường trước được, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạosát sao và khẩn trương của Chính phủ, sự nỗ lực của các ngành, các địaphương nên hầu hết các lĩnh vực kinh tế then chốt đều đạt được nhữngkết quả vượt trội so với năm 2006 và tạo đà cho những năm tiếp theophát triển mạnh hơn Năm 2007, tổng sản phẩm trong nước tăng 8,48%,cao hơn hẳn mức tăng 7,1% của năm 2002, cũng là năm bản lề của kế
Trang 38hoạch 5 năm 2001-2005; mức tăng của giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp
và thuỷ sản và mức tăng giá trị sản xuất công nghiệp đều đạt chỉ tiêuQuốc hội đề ra; kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng 21,5% cao hơn mứcQuốc hội đề ra; nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp tăngnhanh; tỷ lệ hộ nghèo của cả nước giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn14,75% năm 2007 Các lĩnh vực xã hội khác như giáo dục đào tạo, y tế,văn hoá thông tin, thể dục thể thao cũng có những tiến bộ lớn, quantrọng
Bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được trong năm 2007, nền kinh
tế cũng đang đứng trước những yếu kém và khó khăn
(1) Chất lượng tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn cònhạn chế, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ thấp, trong khi phải mở cửatheo lộ trình đã cam kết làm cho cán cân thương mại mất cân đối lớn,nhập siêu cao
(2) Tiến độ thực hiện và giải ngân vốn chậm, nhất là vốn trái phiếuChính phủ, công tác quản lý chất lượng xây dựng, giám sát thi công côngtrình còn yếu kém, gây thiệt hại, lãng phí về vốn và mất an toàn chongười lao động Khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa cao
(3) Giá tiêu dùng tăng nhanh, nhất là giá lương thực, thực phẩmđang tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống, đặc biệt là đời sống bộphận dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cóthu nhập thấp
(4) Một số vấn đề xã hội chậm được cải thiện như vệ sinh an toànthực phẩm, ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông cần được quan tâmgiải quyết đồng bộ và dứt điểm
Trang 39Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 07/2007/QH12 của Quốc hộikhoá XII về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2008 và phấn đấuhoàn thành về cơ bản một số chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 2006-
2010 vào năm 2008, chúng ta cần phải đề ra các giải pháp đồng bộ, thiếtthực nhằm huy động tối đa các nguồn lực, phát huy tính năng động, sángtạo của toàn xã hội, khắc phục có hiệu quả những yếu kém nêu trên vàbiến thời cơ, thuận lợi thành sức mạnh để tiếp tục phát triển nhanh và bềnvững
II/ THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VỚI TĂNGTRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1 Thực trạng về mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
1.1 Quy mô vốn đầu tư và sản lượng của nền kinh tế
Đầu tư phát triển là một trong những yếu tố quan trong nhất quyếtdịnh đến tăng trưởng kinh tế và giải quyết nhiều vấn đề xã hội, vì hoạtđộng này trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản trítuệ và nguồn nhân lực Đồng thời, góp phần quan trọng vào việc thựchiện các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư
và mặt bằng dân trí, bảo vệ môi trường sinh thái và đưa các chương trìnhphát triển kinh tế xã hội khác vào cuộc sống
Do nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư phát triển nêntrong những năm vừa qua chúng ta đã có nhiều chính sách và giải phápkhơi dậy nguồn nội lực và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để huyđộng vốn đầu tư phát triển Nhờ vậy, vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn
Trang 401991-2005 nhìn chung tăng liên tục với tốc độ cao (trừ năm 1998 có giảmsút chút ít so với năm 1996 do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính của các nước trong khu vực).
Bảng số 1: Vốn đầu tư và GDP qua các năm từ 1996-2005.
117.13 4
131.1 7
145.83 3
163.54 3
605.4 8
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kinh tế Việt Nam và thế giới
Qua bảng số liệu trên ta thấy, nếu so với năm 1996 thì vốn đầu tưnăm 2005 tăng khoảng 3,7 lần Tính chung tổng số vốn đầu tư toàn xã hộitheo giá hiện hành thì được khoảng 1732,869 nghìn tỉ đồng Trong đó,giai đoạn 1996 – 2000 đạt 752,944 nghìn tỉ đồng, giai đoạn 2000-2005