1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sự vận dụng mối quan hệ đó trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam

13 976 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất Sự Vận Dụng Mối Quan Hệ Đó Trong Quá Trình Phát Triển Kinh Tế Nhiều Thành Phần Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 75,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế kỉ 19, Mác và ănghen đã đa ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất.Thật vậy, sự tác động của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ p

Trang 1

I Mở đầu

Từ khi con ngời biết lao động thì phơng thức sản xuất cũng ra đời, ứng với mỗi giai đoạn phát triển của xã hội là một phơng thức sản xuất khác nhau Loài ngời đã trải qua năm phơng thức sản xuất theo trật tự từ thấp lên cao: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, t bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa Đó là quá tự nhiên của sự phát triển lịch sử, thể hiện tính liên tục lịch sử

Thế kỉ 19, Mác và ănghen đã đa ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất.Thật vậy, sự tác động của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lợng sản xuất đã đợc loài ngời qua những giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử thừa nhận

Nó chính là quy luật vận động và phát triển của xã hội qua sự thay đổi kế tiếp từ thấp đến cao của các phơng thức sản xuất Vậy quan hệ sản xuất là gì? Lực lợng sản xuất là gì? Quan hệ giữa chúng ra sao? Các nớc có nền kinh tế phát triển phải chăng là nhờ quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực l-ợng sản xuất, còn các nớc có nền kinh tế kém phát triển lại không thấy có vấn đề này Quy luật này đợc vận dụng nh thế nào trên thế giới và ở nớc ta?

Đó là những câu hỏi mang tính triết học đã đợc đặt ra và cần phải giải quyết những câu hỏi đó

Vì vậy, em đã chọn đề tài “ Mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất Sự vận dụng mối quan hệ đó trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở việt nam cho bài viết của mình Do thời gian và hiểu biết còn hạn chế nên bài

viết không thể tránh đợc những sai sót Em rất mong có đợc những ý kiến

đóng góp nhiệt tình của thầy cô để bài viết của em đợc hoàn thiện hơn

II Nội dung

1.Cơ sở lý luận của mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất

và quan hệ sản xuât.

Lịch sử phát triển của xã hội là lịch sử vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội từ thấp lên cao Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là do sự tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất…

Trang 2

Muốn tồn tại, phát triển, xã hội phải không ngừng hoạt động để sản xuất, hay nói cách khác, sản xuất là đặc trng của con ngời và xã hội loài

ng-ời Sản xuất bao gồm sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất chính bản thân con ngời, mà giữa chúng luôn có sự tác động qua lại

Nền sản xuất xã hội là một thể thống nhất gồm nhiều mặt, nhiều mối liên hệ, trong đó có hai loại quan hệ cơ bản: quan hệ giữa con ngời với tự nhiên, giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất, trao đổi, tiêu dùng

Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải là hai bộ phận tách biệt mà là hai loại quan hệ trong cùng một thực thể thống nhất cấu thành nên phơng thức sản xuất Trong quá trình sản xuất vật chất, con ngời không ngừng làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và biến đổi chính mình Một trong những hiện tợng xã hội đợc tìm thấy trong nền sản xuất vật chất là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lợng sản xuất vật chất Đây cũng chính là một nội dung cơ bản chi phối toàn bộ

đời sống sản xuất xã hội

Phơng thức sản xuất là cách thức con ngời thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài ngời Mỗi hình thái kinh tế xã hội đợc đặc trng bởi một phơng thức sản xuất riêng đóng vai trò quyết định mọi mặt của đời sống xã hội Phơng thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lợng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tơng ứng Nh vậy, lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt đối lập nhng thống nhất trong một phơng thức sản xuất

Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên trong quá trình sản xuất Lực lợng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con ngời trong quá trình sản xuất vật chất Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao động với kĩ năng lao động của họ và t liệu sản xuất mà trớc hết là công

cụ lao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con ngời và t liệu sản xuất, trớc hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực lợng sản xuất Trong các yếu tố của lực lợng sản xuất, yếu tố ngời lao động đóng vai trò là chủ thể tác động vào đối tợng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kĩ năng lao động của con ngời ngày càng đợc nâng cao, đặc biệt là trí tuệ của con ngời không ngừng phát triển, hàm lợng trí tuệ của lao động ngày càng cao Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng

đóng vai trò chính yếu.Cùng với ngời lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực lợng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất Công cụ lao động do con ngời tạo ra là “ sức mạnh tri thức đã đợc vật thể hóa” nó là yếu tố động nhất của lực lợng sản xuất Cùng với quá trình tích lũy kinh nghiệm, với những phát minh sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng đợc cải tiến và hoàn thiện, làm biến đổi toàn bộ t liệu sản xuất Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội Trình độ phát triển của công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục

Trang 3

tự nhiên của con ngời, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất ( sản xuất và tái sản xuất xã hội ) Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt : quan hệ về

sở hữu đối với t liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm làm ra.Trong quan hệ sản xuất, quan hệ

sở hữu về t liệu sản xuất giữ vai trò quy định các quan hệ khác Quan hệ sở hữu do con ngời tạo ra nhng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất, nó có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy quá trình sản xuất Quan hệ trong phân phối sản phẩm lao

động tuy do quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý chi phối, nhng nó kích thích trực tiếp đến lợi ích của con ngời,tác động đến thái độ của con ngời trong lao động sản xuất và do đó co thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển

ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, không có lực lợng sản xuất nào lại không gắn bó với những quan hệ sản xuất nhất định Nếu sản xuất với t cách là mối liên hệ kỹ thuật giữa con ngời với tự nhiên chỉ đợc thực hiện thông qua các quan hệ kinh tế xã hội, giữa ngời với ngời thì ngợc lại, những mối quan hệ kinh tế xã hội đó cũng chỉ tồn tại đợc là nhờ có quan hệ giữa con ngời với tự nhiên trong xã hội Đây không phải là những mối liên hệ giản đơn, bất biến, không mâu thuẫn mà là những mối quan hệ biện chứng phức tạp và không ngừng phát triển Nh vậy, giữa lực lợng sản xuất và quan

hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng

Khi trình độ lực lợng sản xuất còn thủ công thì nó mang tính chất cá nhân thể hiện ở chỗ, chỉ một ngời có thể sử dụng đợc rất nhiều công cụ khác nhau trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm Nh vậy tất yếu dẫn

đến quan hệ sản xuất sở hữu t nhân về t liệu sản xuất Do đó quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất vật chất và đời sống xã hội là quan hệ thống trị

và bị trị, bóc lột và bị bóc lột

Khi công cụ cơ khí ra đời, trình độ sản xuất công nghiệp thì một ngời không thể sử dụng đợc nhiều mà chỉ một công cụ lao động, hoặc một bộ phận, chức năng của công cụ lao động ấy Nh vậy, quá trình sản xuất phải nhiều ngời tham gia, sản phẩm làm ra là thành quả của nhiều ngời ở đây, lực lợng sản xuất đã mang tính xã hội hóa và tất yếu dẫn đến quan hệ sản xuất sở hữu xã hội về t liệu sản xuất Nhờ đó, quan hệ giữa ngời với ngời trong mỗi cộng đồng là quan hệ bình đẳng, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau

Quan hệ sản xuất với t cách là hình thức xã hội của sản xuất, bao giờ cũng thích ứng với một trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất quy định trình độ của quan hệ sản xuất Chúng tác động lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, biểu hiện trong quá trình sản xuất và tái sản xuất ra đời sống xã hội Trong mối liên hệ này,quan hệ sản xuất khi nó phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất thì

Trang 4

tạo địa bàn cho lực lợng sản xuất phát triển.ở đâu, lúc nào quan hệ sản xuất không còn tác dụng tạo địa bàn cho lực lợng sản xuất phát triển thì lúc đó quan hệ sản xuất không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Đây đợc xem là một nguyên lý rất cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và đã đợc toàn bộ sự phát triển của lịch sử loài ngời chứng minh là

đúng

Khuynh hớng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sự phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lợng sản xuất,trớc hết là công cụ lao động.Chính sự vận động, phát triển của lực lợng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó ở trạng thái đó, quan hệ sản xuất là hình thức phát triển và tạo địa bàn đầy đủ cho lực lợng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là, nó tạo

điều kiện sử dụng và kết hợp tối u giữa ngời lao động với t liệu sản xuất, do

đó lực lợng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó Sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “ xiềng xích “, kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất Tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất, để thúc đẩy lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển Điều này cũng có nghĩa là phơng thức sản xuất cũ mất đi, phơng thức sản xuất mới ra đời thay thế

Tuy vậy, khi phù hợp cũng nh lúc không phù hợp, quan hệ sản xuất luôn có tính độc lập tơng đối và tác động trở lại sự phát triển lực lợng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái

độ của con ngời trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ Do đó tác động đến

sự phát triển của lực lợng sản xuất Khi nào quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất thì nó phát huy tính tích cực đối với sự phát triển của lực lợng sản xuất Trong xã hội có giai cấp, mỗi phơng thức sản xuất khác nhau và mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất khi nào nó sản sinh ra giai cấp, mà vì lợi ích của mình, các giai cấp ấy sử dụng hết khả năng kinh tế,

kỹ thuật và tài năng tổ chức của mình để phát triển lực lợng sản xuất xã hội Ngợc lại, quan hệ có thể là hình thức trói buộc sự phát triển khi nó không còn phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất Nh vậy, quan hệ sản xuất có thể tác động theo hai hớng : hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa chúng lại không hề đơn giản, trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội

2 Cơ sở thực tiễn việc vận dụng mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất

và quan hệ sản xuất trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở việt nam.

Trang 5

Vận dụng những t tởng và quan điểm nói trên vào điều kiện cụ thể của nớc ta, Đảng ta đã đề ra đờng lối kết hợp cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất nhằm tạo địa bàn cho lực lợng sản xuất phát triển Nhờ đó mà sẽ thúc đẩy nhanh tiến trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH

ở mỗi giai đoạn lịch sử, không có lực lợng sản xuất nào lại không gắn bó với những quan hệ sản xuất nhất định Nếu sản xuất với t cách là mối liên hệ kỹ thuật giữa con ngời với tự nhiên chỉ đợc thực hiện thông qua các quan hệ kinh tế - xã hội giữa ngời và ngời thì ngợc lại, những mối quan

hệ kinh tế -xã hội đó cũng chỉ tồn tại đợc là nhờ có quan hệ giữa con ngời với tự nhiên trong xã hội Đây không phải là những mối quan hệ giản đơn, bất biến, không mâu thuẫn mà là những mối quan hệ biện chứng phức tạp

và không ngừng phát triển

Quan hệ sản xuất với tính cách là hình thức xã hội của sản xuất, bao giờ cũng thích ứng với một trình độ phát triển nhất định của lực lợng sản xuất Trình độ phát triển của lực lợng sản xuất quy định trình độ của quan hệ sản xuất Hai mặt quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất tác động lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, biểu hiện trong quá trình sản xuất và tái sản xuất ra đời sống xã hội Trong mối quan hệ biện chứng này, quan hệ sản xuất khi nó phù hợp với trình độ của lực lợng san xuất thì tạo địa bàn cho lực lợng sản xuất phát triển Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực l-ợng sản xuất là sự phù hợp của hình thức và nội dung ở đâu, lúc nào quan

hệ sản xuất không còn tác dụng tạo địa bàn cho lực lợng sản xuất phát triển thì lúc đó quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất Đây là một nguyên lý đợc xem là rất cơ bản của chủ nghĩa Mac- LêNin đã đợc toàn bộ sự phát triển của lịch sử loài ngời chứng minh

là đúng

Đảng và nhà nớc luôn luôn nhận thức đúng vị trí của quy luật và đã thể chế hoá nó vào đờng lối sản xuất Vận dụng những t tởng và quan điểm nói trên, Đảng ta đã đề ra đờng lối kết hợp cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất, nghĩa là cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới nhằm mục đích tạo địa bàn cho lực lợng sản xuất phát triển

Theo quan điểm của Đảng: Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vao trò chủ đạo; kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc

Việc hình thành đờng lối xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Đờng lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta đã khẳng định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kì quá độ Song, chúng ta không thể tiến hành công nghiệp hoá trên cơ sở một nền kinh tế nhỏ bé, lạc hậu, thô sơ về mọi mặt trong đó sản sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Công nghiệp hoá

đòi hỏi nông nghiệp phải cung cấp một khối lợng lớn lơng thực và nguyên

Trang 6

liệu cho công nghiệp Nhng với nền kinh tế tiểu nông, sản phẩm làm ra không đáp ứng đợc nhu cầu của công nghiệp chế biến và xuất khẩu

Thực tế chỉ ra rằng, ngày nay để nớc ta tiến hành công nghiệp hoá XHCN thì nền kinh tế không thể duy trì quan hệ sở hữu t nhân về t liệu sản xuất mà phải cải tạo quan hệ đó, từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất Xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở kinh tế xã hội quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá Xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ ở Việt Nam Nền kinh tế

cũ với cơ chế quản lí bao cấp, tập trung đã kìm hãm năng lực sáng tạo và tính năng động của các chủ thể trong sản xuất kinh doanh Chủ trơng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị tr-ờng thay cho nền kinh tế quản lí theo cơ chế bao cấp tập trung là sự thay thế tất yếu, là sự thay đổi quan hệ sản xuất cũ để xây dựng quan hệ sản xuất mới Xây dựng chế độ XHCN về kinh tế trên cơ sở chế độ công hữu về t liệu sản xuất nhằm phát triển hơn nữa lực lợng sản xuất Chủ trơng của

Đảng là xây dựng kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo, mở đờng đa các thành phần kinh tế khác chiếm lĩnh u thế của nền kinh tế quốc dân Khi chuyển t liệu sản xuất từ hình thức sở hữu t nhân sang hình thức sở hữu ( cộng sản ), quan hệ sản xuất đã giải quyết đợc những vấn đề về hình thức sử dụng, phơng thức tồn tại của t liệu sản xuất trong cơ cấu kinh tế Việc lựa chọn hình thức kinh tế

có tính quyết định tới việc hình thành các thành phần kinh tế trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ là phổ biến tiến lên XHCN, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN đã có những yếu tố khách quan làm cơ sở cho sự phát triển tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở Việt Nam

Thứ nhất: Trình độ chủ yếu của lực lợng sản xuất ở nớc ta là thủ

công và tiểu thủ công nghiệp Chính điều này đã làm cho quá trình lao động của họ dần tách rời nhau và tách rời khỏi thành quả lao động của họ

Thứ hai: Những ngời lao động thủ công tham gia vào quá trình sản

xuất phân tán trên địa bàn rộng, nền sản xuất nhỏ và phân tán nên khó tổ chức và quản lí sản xuất đợc tốt

Thứ ba: Cở sở vật chất của nớc ta còn quá nghèo nàn lạc hậu so với

sự phát triền chung của thế giới, phơng pháp lao động thủ công và dựa trên kinh nghiệm là chủ yếu trong khi đó các nớc đã áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất từ rất lâu Chính vì vậy tính xã hội hoá trong lao động cha cao

Thứ t: Trình độ của lực lợng sản xuất còn chênh lệch nhau quá

nhiều giữa thành thị và nông thôn, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa đồng bằng và miền núi

Đó chính là những trở ngại lớn cho Việt Nam trong bớc chuyển tiếp

từ một hình thái kinh tế - xã hội kém phát triển sang một hình thái mới hiện

đại hơn phù hợp với những chuẩn mực và giá trị của nền văn minh nhân loại

và của tiến bộ xã hội

Trang 7

Chính lúc đó, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang tạo ra

b-ớc ngoặt phát triển của loài ngời, mở ra một nền văn minh mới, tác động sâu sắc đối với cuộc sống của các tộc ngời trên thế giới, tạo cho các nớc

đang phát triển và chậm phát triển trong đó có Việt Nam thời cơ mới nhng cũng không ít thách thức trên con đờng lựa chọn sự phát triển của mình Để vựợt qua những chớng ngại vật mang tính toàn cầu đó, Việt Nam đã chủ

động và mạnh dạn thay đổi hẳn đờng lối kinh tế của mình: từ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trờng và một trong những yếu tố quyết định tới thay đổi đó là sự phát triển cao của lực lợng sản xuất Tính chất quốc tế hoá của lực lợng sản xuất đã tạo nên xu thế mới trong quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc, làm thức tỉnh các dân tộc đi vào con

đờng phát triển tiến lên Chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn T bản chủ nghĩa Lực lợng sản xuất của Việt Nam đã hoà nhập cùng với xu thế chung của lực lợng sản xuất trên toàn thế giới

Đảng và nhà nớc đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc nhằm nhận thức đúng hơn và có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan trọng là công cuộc xây dựng cơ cấu kinh tê mới, về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong những chặng đờng đầu tiên khi mới phát triển, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trờng, phê phán triệt để cơ chế bao cấp lạc hậu, lỗi thời và quyết định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh Xuất phát từ trình độ và tính chất của lực lợng sản xuất ở nớc ta vừa thấtp vừa không đồng đều nên không thể nóng vội, chủ quan xây dựng quan hệ sản xuất một thành phần dựa trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về t liệu sản xuât Hình thức kinh tế nhiều thành phần góp phần giải phóng mọi khả năng để phát triển lực lợng sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội

Qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất đã đúng trong những thay đổi nền kinh tế Việt Nam

Về mục đích : xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng

Xã hội chủ nghĩa nhất là trong những chặng đầu của thời kì quá độ, lực l-ợng sản xuất còn yếu kém cần đợc củng cố, tạo cơ sở xây dựng thành công trên nền tảng cơ sở vật chất của Chủ nghĩa xã hội Dùng cơ chế thị trờng để khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo của ngời lao động, kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chủ nghĩa xã hội nhằm tạo tiền đề vững chắc về kinh tế cho sự phát ra đời của phong thức sản xuất chủ nghĩa xã hội Phát triển lực lợng sản xuất hiện

địa gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù họp trên cả 3 mặt: Sở hữu về t liệu sản xuất, quản lí và tổ chức sản xuất, phân phối sản phẩm

Về chế độ sở hữu: Là chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về t liệu

sản xuất chủ yếu từng bứoc đợc xác lập cà sẽ chiếm hữu u thế tuyệt đối khi Chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng xong về cơ bản

Về chế độ phân phối : Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phân

phối chủ yếu dựa trên kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân

Trang 8

phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh, góp phần đẩy mạnh phân công lao động xã hội, hình thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Hiện nay, chúng ta đang từng bớc xây dựng xã hội XHCN, một xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế

độ sở hữu công cộng về t liệu sản xuất chủ yếu Các hình thức sở hữu có thể

đan xen, hỗn hợp với nhau trên cơ sở 2 hình thức sở hữu cơ bản từ đó hình thành nên nhiều thành phần kinh tế: T nhân, quốc doanh, hợp doanh, liên doanh, doanh nghiệp có vồn đầu t nớc ngoài

Nh đã nói ở trên, sở hữu về t liệu sản xuất đợc coi là yếu tố hàng đầu quyết định các mối quan hệ sản xuất, quyết định tới chế độ phân phối và chế độ quản lí Đó cũng là lí do vì sao muốn xoá bỏ sự bóc lột, bất công thì phải xoá bỏ chế độ t hữu về t liệu sản xuất

Trong thực tế, khoa học kĩ thuật đã đợc nớc ta áp dụng tối đa để trở thành lực lợng sản xuất quan trọng Nếu nh trớc những năm giải phóng, nền kinh tế nớc ta chủ yếu là dựa vào nông nghiệp và một số nghề thủ công với năng suất rất thấp, thậm chí còn không đủ để phục vụ nhu cầu trong nớc thì

đến năm 1986, với khoa học và kĩ thuật, công nghiệp hoá nông nghiệp ( nh

sử dụng máy móc thay sức lao động của ngời, sử dụng các loại giống cây trồng tốt cho năng suất cao và thích nghi đợc với khí hậu,môi trờng của Việt Nam ) thì sản lợng đã tăng rất nhanh vừa thoả mãn nhu cầu trong nớc vừa để xuất khẩu

Đảng và nhà nớc cũng đã định hớng rõ muốn phát triển lực lợng sản xuất thì phải đầu t vào giáo dục và cơ sở hạ tầng cho ngành giáo dục để nâng cao nguồn nhân , đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất

n-ớc và phát triển kinh tế trí thức

Tuy chủ trơng và chính sách là công nghiệp hoá - hiện đại hoá nhng

Đảng và nhà nớc vần khẳng định ngành Nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ

đạo, tạo tiền đề cho công nghiệp phát triển Bởi bản chất nớc ta là một nớc nông nghiệp với những điều kiện tự nhiên phong phú để phát triển ngành này Mặc dù chúng ta cũng có những điều kiện tốt để phát triển công nghiệp nhng với trình độ lực lợng sản xuất nh hiện nay thì không thể nhanh chóng xây dựng một nền công nghiệp vững chắc, có sức cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế giới Đồng thời cơ sở hạ tầng cũng cha cho phép nớc ta phát triển ngành công nghiệp

Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế tự do làm ăn, phát triển nhng không đợc tách rời ra khỏi sự quản lí của nhà nớc Nhà nớc bằng pháp luật, chiến lợc, qui hoạch, kế hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trờng, áp dụng các hình thức kinh tế

và phơng pháp quản lí của kinh tế thị trờng để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng, bảo vệ lợi ích nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân

Trang 9

Nền kinh tế sản xuất hàng hoá nhiều thành phần tự nó đã chứa đựng những mâu thuẫn Có những thành phần kinh tế vì lợi ích của mình có thể hoạt động theo hớng Chủ nghĩa t bản.Thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể mang tính chất xã hội chủ nghĩa nhng cha thích nghi đợc với cơ chế thị trờng, làm ăn kém hiệu quả nên ở đây diễn ra cuộc đấu tranh định hớng gay gắt Vì vậy để thực hiện đợc sự định hớng Xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần thì sự lãnh đạo của Đảng và quản lí kinh tế của Nhà nớc giữ vai trò quyết định Việc vận dụng các quan điểm của triết học trong xây dựng và quản lí kinh tế có một ý nghĩa thực tiễn vô cùng sâu sắc

3 Định hớng và các giải pháp.

Lý luận cũng nh thực tiễn gần 18 năm đổi mới đã chứng minh sức sống

và vai trò to lớn của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta Các thành phần kinh tế ấy không tồn tại biệt lập với nhau mà bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ nhau, cạnh tranh với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Song để khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận lợi, tiếp tục thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế, phát huy nguồn lực xây dựng nền kinh tế quốc dân vững mạnh trớc hết tập trung tháo giỡ những vớng mắc chính sau:

Nhận thức đúng về sự cần thiết tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta Phải thực sự giải phóng t tởng cho các chủ thể các thành phần kinh tế, tạo sân chơi bình đẳng, lành mạnh cho các thành phần kinh tế Khắc phục tâm lý mặc cảm, kỳ thị, sợ chệch h-ớng xã hội chủ nghĩa, mất độc lập chủ quyền, đi theo hh-ớng t bản chủ nghĩa… Từ đó ngại ngùng, không dám cho các thành phần kinh tế phát triển với mọ năng lực của nó Thực tế chúng ta có Đảng vững mạnh, có Nhà nớc với hệ thống pháp luật và các cấp quản lý chặt chẽ, ý thức độc lập tự chủ của nhân dân rất cao nên không dễ gì chệch hớng con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội khiến ta phải băn khoăn, lo ngại không dám chấp nhận nó Phải coi đây là hình thức quá độ cần thiết, tạo sức mạnh vật chất cho nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội

Hoàn thiện hệ thống pháp luật để định hớng, điều chỉnh, quản lý kinh tế

vĩ mô với các thành phần kinh tế bằng pháp luật, xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách, thích hợp, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế bình đẳng,

tự chủ, tự do phát triển lâu dài Đổi mới nội dung, phơng pháp quản lý của Nhà nớc sao cho đúng, hiệu quả, thực sự “chặt” mà không gò ép, cứng nhắc, “ thoáng” mà không buông Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, chúng

ta có cơ chế “thoáng” song vẫn giữ đợc độc lập tự chủ của đất nớc để tăng tính hấp dẫn đối với các nhà đầu t nớc ngoài giúp phát triển nhanh, mạnh, vững chắc ở một số ngành, lĩnh vực, địa bàn trọng tâm trọng điểm nh một

số nớc đã làm

Trang 10

Thực hiện công khai, công bằng, dân chủ trong chính sách đầu t, quản

lý, thuế, tài chính… đối với các thành phần kinh tế Xóa cơ chế “xin-cho”,ngăn chặn hữu hiệu xu hớng quay lại bao cấp trong một số ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế Khắc phục mọi biểu hiện đặc quyền lợi, ban phát, chạy chọt, tham nhũng, hối lộ… trong các khâu của quá trình vận hành nền kinh tế nhiều thành phần gắn với thị trờng

Chăm lo đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ các loại cho các thành phận kinh tế Tăng cờng ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế Mở rộng thông tin và tăng cờng khả năng lãnh đạo của Đảng và định hớng của Nhà nớc đối với các thành phần kinh tế để đảm bảo sản xuất kinh doanh đúng định hớng đáp ứng nhu cầu thị trờng trong nớc và quốc tế Đảng và Nhà nớc tạo điều kiện cho các chủ thể các thành phần kinh tế tiếp cận thị trờng khu vực và quốc

tế, giúp cho việc chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới, tăng cớng sức cạnh tranh, tiếp thu đợc những tiến bộ khoa học- công nghệ và kinh nghiệp quản lý tiến bộ của thế giới

Coi trọng bảo vệ môi trờng sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế nhằm bảo đảm phát triển ổn định, bền vững Kiên quyết phát hiện, ngăn chặn kịp thời những vi phạm làm ô nhiễm môi trờng gây tổn thấp cho sản xuất kinh doanh và gây tác hại ảnh hởng đến sức khoẻ con ngời

Thực hiện nghiêm việc xử phạt những chủ thể kinh tế, các đơn vị kinh

tế, sản xuất, kinh doanh hàng kém phẩm chất,làm hàng giả, gian lận trong sản xuất, kinh doanh để tạo nên nền kinh tế lành mạnh, bền vững, khắc phục những biểu hiện sai trái, tiêu cực của các thành phần kinh tế có thể xảy ra gây nên những biến động về kinh tế- xã hội của đât nớc

III Kết luận và kiến nghị.

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất phát triển của lực lợng sản xuất là quy luật cơ bản của xã hội loài ngời Quy luật này tác động ở mọi lúc mọi nơi nhng tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể mà biểu hiện của nó có thể khác nhau song bản chất của quy luật thì không thay đổi Thực tiễn xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta đã chứng minh rằng lực lợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng hợp quan hệ sản xuất bị lạc hậu mà cả khi quan hệ sản xuất phát triển không

đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất Đây là một trong những cơ sở lí luận quan trọng nhất trong toàn

bộ đờng lối đổi mới ở nớc ta và nó đã góp phần đặc biệt quan trọng vào việc xác định con đờng đúng đắn hơn đi lên chủ nghĩa xã hội

Ngày đăng: 25/12/2013, 11:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w