1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4

134 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

49 Bảng 1.6: Thực trạng kỹ năng tổ chức hướng dẫn của GV trong việc hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4... Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được quy trì

Trang 1

LuËn v¨n th¹c sÜ gi¸o dôc häc

Vinh - 2011

Trang 2

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, với tình cảm chân thành cho phép tôi

được tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:

- BGH nhà trường, khoa Sau đại học, khoa Giáo dục trường Đại học Vinh

đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu hoàn thành các

chuyên đề của bậc đào tạo Sau đại học

- Các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học đã giảng dạy và giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

- Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Bá Minh - Người

hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập,

nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo Đức Thọ, Ban

giám hiệu, giáo viên và học sinh của các trường Tiểu học đã nhiệt tình cộng tác

và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn

- Có được thành quả này, tôi vô cùng biết ơn đến gia đình, bạn bè, người

thân, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và

nghiên cứu

- Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những

thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý

thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 11 năm 2011

Tác giả

Âu Thị Quyên

Trang 3

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Lịch sử vấn đề nghiờn cứu 6

1.1.2 Một số khỏi niệm cơ bản 7

1.1.2.1 Thao tỏc 7

1.1.2.2 Sơ đồ thao tác 8

1.1.2.3 Thao tỏc cơ bản 8

1.1.2.4 Hành động 8

1.1.2.5 Sơ đồ hành động 9

1.1.2.6 Bản chất thao tỏc theo quan niệm của Piagiờ và cỏc nhà Tõm lớ học hoạt động 9

1.1.2.7 Bài tập, bài toỏn, bài toỏn phõn số 12

1.1.3 Cỏc dạng toỏn phõn số lớp 4 13

1.1.4 Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học 20

1.1.5 Những thao tỏc cơ bản để giải cỏc dạng toỏn phõn số lớp 4 21

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25

1.2.1 Thực trạng kỹ năng giải toỏn phõn số của học sinh lớp 4 25

1.2.2 Thực trạng hỡnh thành cỏc thao tỏc giải toỏn phõn số lớp 4 26

1.2.3 Thực trạng nhận thức về quy trỡnh hỡnh thành những thao tỏc cơ bản để giải cỏc dạng toỏn phõn số lớp 4 32

1.2.3.1 Nhận thức của học sinh lớp 4 về quy trỡnh sử dụng thao tỏc để giải cỏc dạng toỏn phõn số 32

1.2.3.2 Thực trạng của việc sử dụng thao tỏc để giải một số dạng toỏn phõn số ở lớp 4 35

1.2.4 Thực trạng kỹ năng tổ chức hướng dẫn của GV trong việc hỡnh thành những thao tỏc cơ bản để giải cỏc dạng toỏn phõn số lớp 4 48

1.2.4.1 Thực trạng kỹ năng hướng dẫn của GV 48

Trang 4

thành những thao tác cơ bản để giải toán phân số lớp 4 53

Tiểu kết chương 1 54

Chương 2: NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH HÌNH THÀNH NHỮNG THAO TÁC CƠ BẢN ĐỂ GIẢI CÁC DẠNG BÀI TOÁN PHÂN SỐ Ở LỚP 4 56

2.1 Nguyên tắc xây dựng nội dung và quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số của HS lớp 4 56

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 56

2.1.2 Nguyên tắc hệ thống 56

2.1.3 Nguyên tắc hiệu quả 56

2.1.4 Nguyên tắc khả thi 56

2.2 Xây dựng những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số cho HS lớp 4 57

2.3 Quy trình hình thành các thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4 58

2.3.1 Xác định mục đích, yêu cầu 58

2.3.2 Xác định các thao tác cơ bản cña tõng d¹ng to¸n 60

2.3.3 Tæ chøc h×nh thµnh c¸c thao t¸c gi¶i to¸n cho tõng d¹ng to¸n cô thÓ 64

Tiểu kết chương 2 97

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 98

3.1 Giới thiệu khái quát về quá trình thực nghiệm 98

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 98

3.1.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 98

3.1.3 Nội dung thực nghiệm 98

3.1.4 Phương pháp thực nghiệm 100

3.1.5 Tổ chức thực nghiệm 100

3.1.5.1 Xác định thời gian thực nghiệm 100

3.1.5.2 Chọn cơ sở và đối tượng thực nghiệm 100

3.1.5.3 Chọn bài thực nghiệm 101

Trang 5

3.1.5.5 Tiến hành thực nghiệm 113

3.1.5.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả thực nghiệm 113

3.1.5.7 Xử lý kết quả thực nghiệm 115

3.2 Kết quả thực nghiệm 116

3.2.1 Kết quả lĩnh hội tri thức 116

3.2.2 Kết quả hình thành kĩ năng 117

3.3 Kết luận chung về thực nghiệm sư phạm 119

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121

1 Kết luận 121

2 Kiến nghị 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC 124

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Trang

Danh mục bảng:

Bảng 1.1 Mức độ tổ chức hình thành thao tác giải toán phân số của HS lớp 4 27

Bảng 1.2 Mức độ thể hiện trong giáo án về việc tổ chức hình thành thao tác giải toán phân số của HS lớp 4 27

Bảng 1.3: Kết quả điều tra nhận thức của HS lớp 4 về quy trình sử dụng những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số 33

Bảng 1.4: Kết quả khảo sát thực trạng của việc sử dụng thao tác để giải các dạng toán phân số ở lớp 4 36

Bảng 1.5: Kết quả khảo sát thực trạng kỹ năng hướng dẫn của GV về quy trình hình thành thao tác để giải toán phân số cho HS lớp 4 49

Bảng 1.6: Thực trạng kỹ năng tổ chức hướng dẫn của GV trong việc hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4 54

Bảng 3.1: Kết quả điểm số của HS 116

Bảng 3.2: Kết quả học tập của học sinh thực nghiệm và đối chứng: 116

Bảng 3.3: Mức độ độc lập của HS trong giờ học: 118

Danh mục biểu đồ: Biểu đồ 3.1: Kết quả học tập của HS thực nghiệm và đối chứng 117

Biểu đồ 3.2: Mức độ hoạt động độc lập của HS trong giờ học 118

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mục tiêu của việc dạy, học môn Toán ở TH hiện nay không phải chỉ hạn chế ở việc cho HS học thuộc các công thức, quy tắc toán học hay rèn luyện kỹ năng tính toán, đo đạc, tìm ra kết quả cho những bài toán có sẵn mà quan trọng phải lµm sao trang bị cho HS cách tự hoạt động và tự phát hiện ra kiến thức lí thuyết, tạo cho các em khả năng tự học, khả năng khái quát hoá vừa sức, khả năng nắm vững kiến thức lý thuyết cụ thể và kiến thức trừu tượng Qua đó, hình thành ở các em HS khả năng đưa ra được các bước giải quyết các bài tập cũng như các tình huống đa dạng nảy sinh trong học tập và trong đời sống

Ở bậc TH, học toán thực chất là học làm toán Song để làm được toán thì việc nắm khái niệm, nắm được các bước hay thao tác làm bài để vận dụng gi¶i to¸n có vị trí hết sức quan trọng Nó thể hiện rõ nét năng lực vận dụng các khái niệm, các tri thức toán và sự vận dụng linh hoạt của trẻ Trong toán học nói riêng và trong các môn học khác nói chung việc nắm được khái niệm, nắm được các thao tác giải quyết vấn đề là chìa khoá để giải quyết các bài tập tiếp theo của bài học

Để giúp HS nắm khái niệm, vận dụng các thao tác một cách dễ dàng, linh hoạt và nhớ vững chắc Trong dạy học người GV luôn tổ chức cho HS hoạt động

và tự tìm ra cách giải bằng chính hoạt động của mình thông qua các bước làm hay các thao tác cụ thể Từ các thao tác cụ thể các em chuyển tải những kiến thức chưa biết đối với bản thân trước đó thành khái niệm cho bản thân Việc sử dụng các thao tác trong hình thành khái niệm cũng như giải toán giúp HS không những tự mình tìm ra khái niệm và xác định các bước giải cho bài toán một cách

rõ ràng, đầy đủ mà qua đó còn giúp HS rèn tư duy lôgíc, khả năng trình bày rõ ràng mạch lạc, giúp phát triển kĩ năng trình bày vấn đề Vì vậy thông qua các thao tác đã liên kết được cái đã cho của bài toán với cái chưa biết phải tìm trong một mối quan hệ toán học trừu tượng có tác dụng quan trọng trong việc giúp HS định hướng tìm cách giải đồng thời giải bài toán đầy đủ các bước, trình bày bài

Trang 9

giải một cách dễ hiểu dễ nắm và ghi nhớ sâu sắc hơn Chính vì vậy trong việc hình thành khái niệm hay giải các dạng toán cần hướng HS hoạt động bằng các thao tác cụ thể, hợp lí

Xuất phát từ tâm lí HSTH nhất là HS đầu cấp TH Tư duy của trẻ em bậc

TH chuyển dần từ tính trực quan cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Đối với

HS lớp 4 - Giai đoạn 2 ở TH thì tư duy trực quan cụ thể đã chuyển dần sang tư duy trừu tượng HS đã nắm được bản chất của sự việc hành động, đã bước đầu

có khả năng tư duy thuần tuý tinh thần, trí tuệ bên trong HS căn cứ vào trực quan cụ thể để trừu tượng hoá và khái quát hoá những dấu hiệu bề ngoài của sự vật Tư duy của HS lớp 4 bước đầu đã thoát khỏi tính cụ thể, nhận thức được ý nghĩa của sự vật, làm quen với suy luận để rút ra kết luận Vì vậy việc cần thiết

ở giai đoạn này là hình thành cho các em những thao tác cơ bản cụ thể trong học tập nói chung và học môn toán nói riêng

Trong thực tiễn giảng dạy toán ở TH, đa phần HS còn lúng túng trong các bước giải toán, đặc biệt đối với nội dung toán phân số với nhiều dạng toán khác nhau nên HS thường lúng túng trong các bước giải Một trong những nguyên nhân cơ bản là HS chưa được chuẩn bị cho việc làm quen với tư duy trừu tượng, khái quát mà các thao tác không chỉ giúp cho HS đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ cái khó hiểu đến cái dễ hiểu qua các thao tác giải toán Đồng thời các thao tác giải toán không chỉ giúp vạch cho HS tìm hiểu đề toán và định hướng giải một cách dễ dàng mà còn giúp HS suy nghĩ tích cực, tìm tòi phương pháp tốt nhất

để giải bài toán, giúp các em nắm chắc và vận dụng được kiến thức sử dụng các thao tác, mô hình trong việc hình thành các khái niệm Toán học sẽ tạo điều kiện cho HS tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc, chắc chắn HS thấy rõ được ý nghĩa lôgic của những mối liên thuộc toán học và trong quá trình sử dụng sẽ đào sâu, củng cố tư duy toán học Sử dụng thao tác trong dạy toán ở TH nói chung, dạy các khái niệm toán nói riêng sẽ tạo ra những điều kiện tốt nhất để điều khiển quá trình học tập của HS (chính qua các thao tác làm việc và từ các mô hình toán học, HS tự xây dựng sẽ giúp GV phán đoán công việc của các em có được tiến

Trang 10

hành trôi chảy không, em nào cần được giúp đỡ) Đặc biệt việc HS đưa ra chính xác, đầy đủ các thao tác có ý nghĩa giáo dục rất lớn, giúp cho HS có một tư duy lôgíc, chặt chẽ, tạo hứng thú tìm những lời giải thông minh, chính xác, khuyến khích các em tìm tòi cách giải hay, làm giảm sự mệt mỏi và nâng cao nuôi d-ưỡng sự chú ý của các em

Như vậy vai trò của sử dụng các thao tác trong dạy toán là rất lớn, nhưng một số GV chưa có nhiều kinh nghiệm và phương pháp khi hướng dẫn HS sử dụng các thao tác giải toán, hay HS sử dụng chưa hợp lý nên hiệu quả chưa cao Xuất

phát từ những lý do cơ bản trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quy

trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4”

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số ở lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng học tập môn toán cho học sinh TH

3 Khách thể, phạm vi nghiên cứu

Quá trình giải toán phân số của học sinh lớp 4

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Nội dung và quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4 cho HSTH

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số cho HS lớp 4 thì sẽ giúp các em giải quyết được những khó khăn trong việc giải toán phân số ở TH

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Khái quát hoá các tri thức lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu

6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giải toán phân số của HS lớp 4

- Nghiên cứu thực trạng hình thành các thao tác giải toán phân số lớp 4

- Nghiên cứu thực trạng nhận thức và kỹ năng của GV trong việc hình thành

Trang 11

những thao tác cơ bản để giải toán phân số cho HS lớp 4

6.3 Đề xuất nội dung và quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4

7 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng bộ các phương pháp sau:

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nhằm làm rõ về mặt lý thuyết quy trình hình thành những thao tác cơ bản để

giải các dạng toán phân số cho HS lớp 4

7.2 Phương pháp quan sát

Quan sát việc dạy, học của GV và HS để phân tích thực trạng, tìm hiểu tính khả thi của việc đưa ra quy trình hình thành những thao tác cơ bản trong việc giải các dạng toán phân lớp 4

7.3 Phương pháp điều tra

Xây dựng bộ anket để điều tra thực trạng sử dụng các thao tác trong giải toán phân số lớp 4

Phỏng vấn, toạ đàm, trao đổi để nắm bắt tình hình sử dụng thao tác trong giải toán phân số lớp 4

7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Dùng để kiểm nghiệm hiệu quả của việc sử dụng quy trình hình thành thao tác giải các dạng bài toán phân số cho HS lớp 4

7.5 Phương pháp toán thống kê

Dùng để xử lý số liệu

8 Đóng góp của luận văn

- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận có liên quan đến quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng học tập môn toán cho HS lớp 4

- Luận văn chỉ ra được thực trạng nhận thức về các thao tác giải toán phân

số của HS lớp 4

- Luận văn xây dựng được nội dung và quy trình hình thành những thao

Trang 12

tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Nội dung và quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

Từ đó Piagiê đã xây dựng cả một lý thuyết về sự phát sinh và phát triển trí tuệ cá thể Theo ông: “Quá trình phát triển trí tuệ với phương pháp tiếp cận tư duy biện chứng tạo nên một cơ sở khoa học khá chắc chắn cho Tâm lý học phát triển: Tri thức nảy sinh từ hành động, phát triển tâm lý tựu trung lại là phát triển trí tuệ cùng với tình cảm, xúc cảm bao gồm quá trình nảy sinh, hình thành và phát triển, từ cảm giác vận động: tiền thao tác, thao tác cụ thể, thao tác hình thức qua quá trình nội tâm hoá”

Ông định nghĩa trí tuệ (thông minh) là sự thiết lập và vận hành các thao tác được sắp xếp cẩn thận và có khả năng chuyển hoá qua lại Ông đã đưa ra quá trình hình thành các thao tác “cụ thể” như sự kết hợp hai lớp hay phép cộng hai con số là những hành động chọn lọc trong số những hoạt động khái quát nhất Và khái niệm bảo tồn có thể dùng làm chỉ số Tâm lý học của quá trình hoàn thành một cấu trúc thao tác

Quá trình hình thành thao tác được chia làm 4 giai đoạn cơ bản:

+ Giai đoạn cảm giác vận động (từ 0 đến 2 tuổi)

+ Giai đoạn tiền thao tác tư duy (từ 2 đến 7 tuổi)

Trang 14

+ Những thao tác cụ thể (7 đến 11 tuổi)

+ Thao tác mệnh đề lôgíc hay những thao tác hình thức (từ 11-12 đến 14-15 tuổi) Tuy nhiên những nghiên cứu của ông là những nghiên cứu chung về lý thuyết thao tác và về sự phát triển trí tuệ Bên cạnh đó trong xu hướng giáo dục ngày nay các nhà sư phạm ngày càng chú ý hơn đến vấn đề giáo dục cho HS cách suy nghĩ, cách lập luận, cách giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động tích cực Một trong những mục tiêu cốt lõi của quá trình dạy học trong nhà trường nói chung và trong trường Tiểu học nói riêng là hình thành và rèn luyện cho HS phương pháp tự học, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua các thao tác Nói cách khác thực tiễn dạy học ở trường TH, dạy học các môn học ở

TH đặt ra cho mỗi GV nhiệm vụ hình thành các thao tác Việc nghiên cứu để đưa

ra các phương pháp tác động giúp HS tự giác hoạt động tích cực hơn trong hoạt động học nói chung và các thao tác cơ bản giải toán phân số nói riêng thì chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến

Chính vì vậy, công trình nghiên cứu của chúng tôi tập trung đi sâu vào nghiên cứu quy trình hình thành những thao tác cơ bản giải toán phân số cho HS lớp 4 để giúp HS có kĩ năng sử dụng thao tác để giải một số dạng toán phân số, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giải toán phân số cho HS lớp 4

1.1.2 Một số khái niệm cơ bản

Trang 15

Như vậy có thể hiểu: Thao tác là chỉ việc thực hiện những động tác theo

trình tự và yêu cầu kỹ thuật nhất định

Đối tượng của thao tác không phải là những sự vật có thực mà là những hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu Thao tác không phải là đơn vị tâm lí độc lập, nó không có mục đích riêng, chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích của một hoạt động nào đó

Trang 16

Hành động (Action) là cách ứng xử của cá nhân đối với sự tác động của các yếu tố môi tr-ờng bên ngoài

1.1.2.5 Sơ đồ hành động

Sơ đồ hình thành hành động trí tuệ trẻ em là công trình của nhà Tâm lý học Liên Xô cũ P Ia Galperin Ông đã tập trung nghiên cứu và xác lập đ-ợc các b-ớc của quá trình hình thành hành động trí tuệ

B-ớc 1: Lập cơ sở định h-ớng của hành động

B-ớc 2: Hành động với đồ vật hay vật chất hoá

B-ớc 3: Hành động nói to không dùng đồ vật

B-ớc 4: Hành động với lời nói thầm

B-ớc 5: Hành động rút gọn với lời nói bên trong

1.1.2.6 Bản chất thao tỏc theo quan niệm của Piagiờ và cỏc nhà tõm lý học hoạt động

Thao tỏc là cỏi diễn ra bờn trong, nú cú tớnh rỳt gọn tối đa chỉ cũn lại sơ

đồ trở nờn cơ động, linh hoạt Thao tỏc cú thể thực hiện hũa vào nhau Thao tỏc quy định phương thức và trỡnh độ của hoạt động trớ tuệ Xuất phỏt từ hành động, thao tỏc được hỡnh thành từ hành động Từ đú năng lực của con người cú bản chất thao tỏc

Theo J.Piagiờ hành động trong tõm lý học hoạt động rỳt gọn, chưa đề cập đến tớnh mục đớch Cũn thao tỏc mang tớnh mục đớch tức cú mục đớch rừ ràng Vỡ vậy hành động trớ tuệ là hành động cú mục đớch, cú sử dụng cụng cụ Mà cụng

cụ là nơi kết tinh năng lực người, năng lực người này được xỏc lập bởi một chuỗi thao tỏc tương ứng Chuỗi thao tỏc tương ứng làm nờn phương thức và trỡnh độ hoạt động của trớ tuệ

Từ quan điểm về bản chất thao tỏc của năng lực người (trớ tuệ) Cỏc nhà tõm lớ học hoạt động cho rằng: Khỏi niệm là năng lực thực tiễn của loài người, được kết tinh lại, được gửi vào đối tượng, năng lực này được xỏc lập bởi một chuỗi thao tỏc và được sắp xếp theo trật tự tuyến tớnh

Trờn cơ sở đú khi tổ chức dạy học hỡnh thành khỏi niệm chỳng ta cần chuyển nội dung dạy học thành mục đớch của hành động học và xỏc định những

Trang 17

công cụ cần thiết hay còn gọi là chuỗi thao tác cơ sở để HS có thể thực hiện hành động làm ra sản phẩm - Đây chính là mục đích của thao tác

Sau khi xác định được bản chất khái niệm tức là chuỗi thao tác cần thực hiện và lựa chọn vật liệu sư phạm để tổ chức các hành động học tập nhằm hình thành ở HS những thao tác làm nên bản chất của khái niệm

Đối với J.Piagiê, trí tuệ có bản chất thao tác và được trẻ em xây dựng nên bằng chính hành động của mình Sự phát triển trí tuệ được hiểu là sự phát triển

hệ thống thao tác Thao tác đó là hành động bên trong, nó được nảy sinh từ các hành động có đối tượng bên ngoài Thao tác và hành động có chung lôgíc, tuy nhiên khác với hành động thao tác có tính rút gọn và đối tượng của nó không phải là những sự vật có thực mà là những hình ảnh, biểu tượng, kí hiệu

Thao tác có tính chất thuận nghịch, bảo tồn và tính liên kết Các thao tác được cấu trúc thành thể thống nhất định (cấu trúc thao tác) Thao tác trí tuệ không có sẵn trong đầu đứa trẻ, cũng không nằm trong đối tượng khách quan,

mà được hình thành ngay trong mối tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng, thông qua hành động, có nghĩa là đứa trẻ xây dựng cấu trúc trí tuệ cho mình Thời kì đầu trẻ em tiến hành thao tác với vật thể cụ thể Sau đó các vật liệu cụ thể được thay bằng kí hiệu, khái niệm, mệnh đề… Trí tuệ được phát triển tới mức thao tác hình thức - mức trưởng thành

Theo A.N.Leonchev và các nhà tâm lí cùng xu hướng giải thích thao tác

có phần khác với J.Piagiê Các nhà tâm lí học này giải thích hành động và thao tác trong cấu trúc chung của hoạt động Theo đó hành động trí tuệ được hiểu là hành động tâm lí trọn vẹn, chịu sự chi phối bởi một mục đích ý thức, còn thao tác là phương tiện, là cơ cấu kĩ thuật để triển khai đến mục đích đó Thao tác không có mục đích tâm lí riêng Cấu trúc của thao tác được định hình trong các ph-ơng tiện (công cụ) kĩ thuật trọn vẹn, chịu sự chi phối bởi một mục đích ý thức Vì vậy, quá trình hình thành thao tác thực chất là quá trình học cách sử dụng các công cụ đó Thời kì đầu quá trình học này chính là hành động tâm lí Sau đó hành động đ-ợc luyện tập và kĩ thuật hoá để trở thành thao tác Như vậy

Trang 18

mặc dù thao tác khác hành động nhưng nó được sinh ra từ hành động, kĩ thuật hoá nó, tước bỏ mục đích và chuyển nó vào trong một hành động khác Khi chuyển thành thao tác, hành động được rút gọn và thuần thục

Việc phân loại thao tác theo các nhà tâm lí học này, dựa vào phân loại hành động Để gọi tên hành động người ta căn cứ vào các hình thức thể hiện của đối tượng và phương tiện mà nó sử dụng Có ba hình thức hành động:

+ Hành động vật chất, có đối tượng là các dạng vật thật và phương tiện của hành động là công cụ kĩ thuật

+ Hành động tinh thần, có đối tượng là các hình ảnh tâm lí, các dạng kí hiệu + Hành động trí óc có đối tượng là ý nghĩa của chủ thể và công cụ là ngôn ngữ bên trong (là ngôn ngữ không lời, hướng vào bên trong chủ thể, nó chỉ là những kí hiệu cơ động chứa nghĩa khách quan của sự vật và ý nghĩa của chủ thể

về sự vật đó)

Tương ứng với ba hình thức hành động trên có ba loại thao tác: Thao tác vật chất (thao tác trên vật thật); Thao tác tinh thần (thao tác bằng các loại hình ảnh tâm lí, kí hiệu, ngôn ngữ); Thao tác trí óc (thao tác bằng ngôn ngữ bên trong

- bằng ý nghĩ)

Đối với các nhà tâm lí học có quan điểm trên, việc xác định trình độ trí tuệ không chỉ dựa vào sự hiện diện của thao tác mà còn phải căn cứ vào cách triển khai các thao tác đó đến mục đích Nghĩa là căn cứ vào phương tiện và cách sử dụng nó của chủ thể Như vậy trong cách giải thích của các nhà tâm lí học hoạt động, nói hành động là chủ yếu hướng tới tính trọn vẹn và tính mục đích của nó, còn nói tới thao tác là hướng tới cơ cấu kĩ thuật của một hành động nhất định

Trên cơ sở đó để thực hiện một hành động nào đó, ít nhất phải thoả mãn hai điều kiện: Một mặt về phía chủ thể phải ý thức được biểu tượng về đối tượng cần hình thành tức là phải trả lời đ-ợc câu hỏi đạt tới cái gì? Mặt khác về phía khách quan, hành động bị chi phối bởi hai yếu tố đó là những hoàn cảnh vật chất bên ngoài (xã hội tự nhiên…) và lôgíc kĩ thuật để hình thành đối t-ợng, tức là phải trả lời được câu hỏi đạt tới cái đó như thế nào? Hay nói cách khác hành

Trang 19

động phải thực hiện nhiệm vụ (nhiệm vụ là mục đích được đề ra trong những hoàn cảnh nhất định) Muốn vậy phải có phương thức hành động và A.N.Lêônchiev gọi nó là thao tác

Thao tác không phải là đơn vị tâm lí độc lập, nó không có mục đích riêng, chỉ là phương tiện để thực hiện mục đích một hành động nào đó Nó thuần tuý là

cơ cấu kĩ thuật, máy móc của hành động, nó vô hồn có thể được tháo lắp, đập

vỡ, chắp ghép và tự do tham gia vào bất kì hành động nào nếu hành động đó phù hợp với nó về lôgíc Nói chung, số phận của thao tác là sớm hay muộn cũng trở thành chức năng của máy móc Mặt khác thao tác không phụ thuộc vào hành động mà ngược lại tiến trình tiến tới mục đích phụ thuộc vào các thao tác này Hiển nhiên là cùng với một mục đích nhưng trong những điều kiện khác nhau, chủ thể hành động phải có các thao tác khác nhau

Thao tác có chức năng và số phận khác với hành động, nhưng lại được sinh ra từ hành động, nó là kết quả của việc cải tổ hành động, do việc đưa hành động này vào hành động kia, hay do diễn ra kĩ thuật hoá hành động

1.1.2.7 Bài tập, bài toán, bài toán phân số

Trong "Hệ thống thuật ngữ trong công nghệ giáo dục" của Hồ Ngọc Đại

có viết [1,74]:

Bài toán: Tình huống có chất liệu mới (cần được phát hiện trong hình

thành) Bài toán chứa trong bản thân mình nguồn gốc vật chất cùng tất cả các yếu tố và mối liên hệ cấu thành khái niệm, nhưng còn chưa tường minh (còn trừu tượng) Giải bài toán bằng một số hành động học, bắt đầu từ hành động phân tích, nhằm phát hiện ra nguồn gốc của khái niệm, các yếu tố cấu thành khái niệm, mối liên hệ làm nên cấu trúc lôgic của khái niệm Sau đó, xây dựng các thao tác, tinh chế khái niệm cho đến khi khái niệm đạt đến hình thái chính thống, chính thức

Kết quả của việc giải bài toán là tạo ra một chất liệu mới, lần đầu tiên được hình thành ở HS

Trang 20

Bài tập: Tình huống cho chất liệu đã có thể hiện ở trên nhiều vật liệu khác,

nhằm mục đích củng cố chất liệu đã biết hoặc vận dụng nó Bài toán tạo ra cái mới của chất liệu, còn bài tập thì dùng sự tươi mới về vật liệu để củng cố chất liệu

đã có

Bài tập không đem lại chất liệu mới nhưng làm cho chất liệu mới định hình vững chắc hơn Trong các bài tập, chất liệu mới sẽ biểu hiện ở nhiều tình huống khác nhau, với các vật liệu khác nhau (có khi trái ngược nhau) nhờ vậy chất liệu có sức sống và hấp dẫn hơn

Theo cách nói quen thuộc, bài toán đem lại tri thức mới, còn bài tập nhằm rèn luyện kỹ năng Từ bài toán sang bài tập có thể coi như bước chuyển trực tiếp

từ khoa học sang công nghệ

Bài toán phân số:

- Phân số

Phân số là biểu thị một hay nhiều phần của một đơn vị được chia thành

những phần bằng nhau và thường được viết dưới dạng

, trong đó số nguyên p được gọi là tử số, còn q là mẫu số của phân số

Tử số p chỉ số các phần của đơn vị được lấy còn mẫu số q là bao nhiêu, thì đơn vị được chia là bấy nhiêu phần bằng nhau.[11, 75]

- Bài toán phân số: Là những tình huống có chất liệu mới được trìng bày

dưới dạng các phép tính hay ngôn ngữ nhằm giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức và thao tác thực hành đã học, rèn luyện kỹ năng tính toán, từng bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng thực hành vào thực tiễn (học tập và đời sống)

1.1.3 Các dạng toán phân số lớp 4

Trong chương trình toán lớp 4 hiện hiện nay, các bài toán phân số có thể

phân thành 2 nhóm chủ yếu sau:

Trang 21

Nhúm thứ nhất: Gồm 4 dạng toỏn:

a Cỏc bài toỏn về đọc, viết phõn số

- Cỏc bài toỏn phõn số lớp 4 được học trong chương 4: Cỏc phộp tớnh với phõn số, giới thiệu hỡnh thoi Cỏc bài toỏn về đọc, viết phõn số mang tớnh khỏi

niệm mở đầu của chương Đối với HS lớp 4, sau khi được trang bị những kiến thức cơ bản về cỏc phộp tớnh cộng, trừ, nhõn và đặc biệt là phộp tớnh chia và dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9 giỳp HS vận dụng kiến thức vừa học để nắm cỏc khỏi

niệm cũng như thực hành giải cỏc dạng toỏn phõn số

- Tất cả các số tự nhiên đều có thể viết d-ới dạng phân số có mẫu số bằng 1

Vớ dụ 1: Viết rồi đọc phõn số chỉ phần đó tụ màu trong mỗi hỡnh dưới đõy:

Vớ dụ 2: Viết theo mẫu:

12

Trang 22

Vớ dụ 3: Viết cỏc phõn số:

a) Hai phần năm b) Mười một phần mười hai c) Bốn phần chớn

d) Chớn phần mười e) Năm mươi hai phần tỏm mươi tư

Vớ dụ 4: Đọc cỏc phõn số:

9

5

; 17

8

; 27

3

; 33

19

; 100 80

Vớ dụ 5: Viết thương của mỗi phộp chia sau dưới dạng phõn số:

- Biết tìm phân số bằng phân số đã cho bằng hai cách:

+ Nhân cả tử số và mẫu số của phân số đó với cùng một số tự nhiên lớn

3 2

x

x

=

7

4 = 2 7

2 4

x

x

=

8

3 = 4 8

3

32

56 = 4

4

3 = 16

5

3 = 10

=

9 = 20

c Cỏc bài toỏn về quy đồng, rỳt gọn phõn số

Mục tiêu: Giúp HS

Trang 23

- B-ớc đầu nhận biết về rút gọn phân số và phân số tối giản

- Thực hành rút gọn phân số theo các b-ớc

- Thực hành quy đồng mẫu số hai hay nhiều phân số (cả ba tr-ờng hợp)

- Từ đó biết cách quy đồng hoặc rút gọn các phân số để tìm phân số bằng phân số đã cho Hoặc phân tích tử số và mẫu số của phân số đã cho thành tích của các thừa số giống nhau (ở tử số và mẫu số) để vận dụng tính nhanh

Vớ dụ 1: Rỳt gọn cỏc phõn số:

28

14

; 50

25

; 30

48

; 54 81

Vớ dụ 2: Trong cỏc phõn số dưới đõy, phõn số nào bằng

3 ; 12 8

Vớ dụ 3: Trong cỏc phõn số dưới đõy, phõn số nào bằng

5 ; 32 8

Vớ dụ 4: Tớnh (theo mẫu):

a)

7 5

3

5 3

2

x x

x x

b)

7 8 11

5 7 8

x x

x x

c)

5 3 19

5 2 19

x x

x x

Vớ dụ 5: Quy đồng mẫu số cỏc phõn số sau:

3 c)

3

1 ;4

1

và 5 4

Vớ dụ 6: Quy đồng mẫu số cỏc phõn số sau:

6

1

và 8

5 c)

12

5

và 8 3

Vớ dụ 7: Quy đồng mẫu số cỏc phõn số sau:

11 c)

2

1 ; 3

2

và 12 5

Vớ dụ 8: Viết cỏc phõn số lần lượt bằng

6

5 ; 8

9

và cú mẫu số chung là 24

d Cỏc bài toỏn về so sỏnh phõn số

Mục tiêu: Giúp HS

- Biết so sánh hai phân số cùng mẫu số, cùng tử số và so sánh hai phân số khác mẫu số

Trang 24

5 d)

7

8

và 8 7

Vớ dụ 2: So sỏnh cỏc phõn số sau với 1:

2

1 ; 5

4 ; 3

7 ; 5

6 ; 9

9 ; 7 12

Vớ dụ 3: Viết cỏc phõn số bộ hơn 1, cú mẫu số là 5 và tử số khỏc 0

Vớ dụ 4: Viết cỏc phõn số theo thứ tự từ bộ đến lớn:

5

b) 11

12 ; 11

16 ; 11

10

c) 20

6

; 12

9

; 32 12

Vớ dụ 5: Với hai số tự nhiờn 3 và 5 Hóy viết:

a) Phõn số bộ hơn 1

b) Phõn số lớn hơn 1

Nhúm thứ hai: Gồm gồm 3 dạng cơ bản sau:

e Cỏc bài toỏn thực hiện phộp tớnh với 4 phộp tớnh cộng, trừ, nhõn, chia phõn số

Mục tiêu: Giúp HS

- Biết cộng trừ hai, ba phân số có cùng mẫu số và khác mẫu số Biết thực hiện các phép tính nhân, chia đối với phân số

- Biết thứ tự thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia của biểu thức

- Biết và vận dụng một số tính chất của phân số: tính chất giao hoán, tính chất kết hợp, tính chất nhân một tổng hai phân số với một phân số, tính chất chia một hiệu hai phân số cho một phân số

5

- 7

2c) 3

2 + 5

2d) 7

8

- 3 2

Vớ dụ 2: Rỳt gọn rồi tớnh:

Trang 25

4 + 27

18 c)

7

8

- 8 4

8: 5

2

c) 2

1: 7 5

Vớ dụ 4: Tớnh:

a) 5 +

5

2b) 3 -

3 2

1

2

5

x 3

1 + 4

1) x 4 1

2b)5

3

x 21

17 + 21

17

x 5

1):

2 1

g Cỏc bài toỏn tỡm thành phần chƣa biết của phộp tớnh liờn quan đến phõn số Mục tiêu: Giúp HS

- Biết xác định phép tính và các thành phần ch-a biết trong phép tính

- Biết tìm các thành phần ch-a biết nh-: số hạng ch-a biết, số bị trừ, số trừ ch-a biết, thừa số ch-a biết, số bị chia và số chia ch-a biết trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số

3

X -

2

3 = 4

11

3

25

- X =

6 5

8

1: X =

h Cỏc bài toỏn giải cú cỏc số liệu là phõn số

Mục tiêu: Giúp HS

Trang 26

- Ôn về phÐp gộp hai nhóm phần tử hay về tìm thành phần chưa biết, về

cách tính diện tích hình chữ nhật, về cách tính chiều dài hoặc chiều rộng khi biết diện tích và chiều rộng hoặc chiều dài, về tìm số phần của một đơn vị, Và đặc biệt là kiến thức về thực hiện 4 phép tíng cộng, trừ, nhân, chia đối với phân số và

kĩ năng về quy đồng, rút gọn phân

Ví dụ 1: Hai ô tô chuyển gạo ở một kho Ô tô thứ nhất chuyển được

đó thời gian học của Nam là

4

1 ngày Hỏi thời gian ngủ của bạn Nam là bao nhiêu phần của một ngày?

bể Hỏi còn mấy phần của bể chưa có nước?

Ví dụ 7: Có một kho chứa xăng Lần đầu người ta lấy ra 32 850l xăng, lần sau

lấy ra bằng

3

1

lần đầu thì trong kho còn lại 56 200l xăng Hỏi lúc đầu trong kho

có bao nhiêu lít xăng?

Trang 27

1.1.4 Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học

Tư duy của trẻ em bậc TH chuyển dần từ tính trực quan cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát HS lớp 1, lớp 2 khi tiến hành phân tích, tổng hợp, khái quát thường căn cứ vào những đặc điểm bên ngoài cụ thể, trực quan Ví dụ khi thực hiện phép cộng trong phạm vi 10 hay 100 thì HS phải tiến hành bằng những hoạt động, thao tác cụ thể như đếm số lượng của từng nhóm sau đó thực hiện thao tác gộp các nhóm lại, bước tiếp theo lại thực hiện thao tác đếm trên những vật liệu cụ thể của nhóm gộp để tìm ra kết quả phép tính Các bài toán tính ở lớp

1 được các em xây dựng từ các vật liệu cụ thể như que tính, cái thuyền, tranh vẽ, v Trong sự phát triển tư duy của HSTH, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện

rõ ở các lớp đầu cấp Tư duy của HS chưa thoát khỏi giới hạn của trường nhìn và

do đó còn mang tính chất trực tiếp cảm tính Trẻ mới chỉ có khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá đối với những dấu hiệu ngoài của sự vật

mà nó có được bằng quá trình tri giác Vì vậy việc học tập của HS giai đoạn đầu của TH chưa có khả năng tư duy thuần tuý tinh thần, trí tuệ bên trong Tư duy của nó còn phải gắn với quá trình hành động hoặc tự giác vật chất Trẻ không thể

tư duy nếu không được hành động chân tay bằng các thao tác cụ thể hoặc nhìn thấy đối tượng Đối với HS lớp 4 Giai đoạn 2 ở TH thì tư duy trực quan cụ thể đã chuyển dần sang tư duy trừu tượng HS đã nắm được bản chất của sự việc hành động, đã bước đầu có khả năng tư duy thuần tuý tinh thần, trí tuệ bên trong HS căn cứ vào hoạt động của mình bằng chính các thao tác bên trong đã được quy định sẵn bởi các hành động đó cùng với trực quan cụ thể để trừu tượng hoá và khái quát hoá những dấu hiệu bề ngoài của sự vật Tư duy của HS lớp 4 bước đầu đã thoát khỏi tính cụ thể, nhận thức được ý nghĩa của sự vật, làm quen với các thao tác và suy luận để rút ra kết luận

Các em HSTH đã biết phân loại và phân hạng trong nhận thức Sự phân loại là căn cứ vào dấu hiệu chung chia các cá thể vào lớp vốn được coi là các khái niệm Sự phân hạng là sự sắp xếp các cá thể dựa vào các dấu hiệu có thể biến thiên

Trang 28

Người GV cần hướng dẫn HS hoạt động bằng các thao tác cụ thể trong dạy học, tuy nhiên không nên lạm dụng nó quá mức Cần dạy cho các em phân tích, tổng hợp, so sánh và suy luận Các thao tác đó đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng, tìm ra các hướng giải quyết bài tập làm phong phú thêm kinh nghiệm cảm tính của trẻ khi giải các bài tập cụ thể tương ứng Chú trọng ngay từ các lớp đầu cấp việc tổ chức hoạt động học để hình thành các thao tác trí

óc (biết cách lao động trí óc) cho HS

Việc sử dụng quy trình hình thành thao tác là cần thiết song nếu sử dụng quá nhiều và liên tục thì sẽ dẫn tới máy móc, rập khuôn hạn chế phát triển tư duy trừu tượng của HS Vì vậy GV cần đảm bảo chuyển dần dần, đúng lúc, phù hợp lứa tuổi, nhận thức, kiến thức của HS

1.1.5 Những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số lớp 4

Để xác định được chuỗi thao tác tương ứng mà HS cần thực hiện để giải các dạng toán phân số lớp 4 trước hết chúng ta phải hiểu rõ thao tác tư duy toán học Từ đó chúng ta sẽ chỉ ra những biểu hiện của từng thao tác trong quá trình giải toán phân số cho HS lớp 4

Các thao tác tư duy toán học thực chất là các thao tác tư duy nói chung tiến hành trên các đối tượng toán học, các quan hệ toán học, các nội dung toán học Như vậy ta có các thao tác tư duy là: Thao tác tư duy phân tích – tổng hợp; thao tác tư duy so sánh – tương tự; thao tác tư duy trừu tượng hoá – khái quát hoá – đặc biệt hoá

Ví dụ về thao tác phân tích – tổng hợp trong quá trình giải toán phân số

Phân tích là một thao tác tư duy diễn ra trong đầu chủ thể nhận thức nhằm

tách ra những thuộc tính, những bộ phận, những đặc điểm, tính chất của đối tượng được tư duy để nhận thức đối tượng sâu sắc hơn

Tổng hợp, là một thao tác tư duy trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc gộp

những thuộc tính, những thành phần của đối tượng tư duy thành một chỉnh thể,

từ đó nhận thức đối tượng được bao quát hơn

Trang 29

Phân tích và tổng hợp có liên quan mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình tư duy thống nhất Phân tích là cơ sở để tổng hợp, tổng hợp diễn

ra trên cơ sở phân tích

Ví dụ: Khi dạy bài “Quy đồng mẫu số các phân số”

Bài toán 1: Cho hai phân số

3

1

và 5

2 Hãy tìm hai phân số có cùng mẫu số,

đã biết (tìm hai phân số có cùng mẫu số, trong đó một phân số bằng

- Kiểm tra các kết quả theo điều kiện bài toán

Ví dụ về thao tác so sánh – tương tự trong quá trình hình thành dạng toán

“Quy đồng mẫu số các phân số”

So sánh là thao tác tư duy trong đó chủ thể tư duy dùng trí óc để xác định

sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng (hoặc giữa các thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của sự vật hiện tượng Nói cách khác so sánh là thao tác tư duy phản ánh đặc điểm giống nhau hoặc khác nhau giữa các đối tượng nhận thức và phân biệt được các đối tượng (đồng nhất hoặc không đồng nhất, bằng nhau hoặc không bằng nhau)

HS dựa vào tính chất cơ bản của phân số tìm và so sánh:

3

1 = 5 3

5 1

x

x

= 15

5

;

5

2 = 3 5

3 2

x

x

= 15 6

HS so sánh:

3

1 = 15

5

và 5

2 = 15 6

Trang 30

Hai phân số

15

5

và 15

đã được quy đồng mẫu số

Tương tự Theo quan niệm triết học tương tự là hình thức suy luận trong

đó từ chỗ hai đối tượng giống nhau ở một số dấu hiệu ta rút ra kết luận rằng các đối tượng này giống nhau ở một số dấu hiệu còn lại

Sau khi làm bài tập trên nhờ thao tác tương tự HS rút ra được cách quy đồng mẫu số các phân số:

- Ta lấy tử số và mẫu số của phân số

3

1 nhân với mẫu số của phân số

5 2

- Ta lấy tử số và mẫu số của phân số

5

2 nhân với mẫu số của phân số

3

1

Trừu tượng hoá là thao tác tư duy toán học được chủ thể nhận thức dùng

trí óc gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ không bản chất của một đối tượng toán học mà chỉ giữ lại những thuộc tính quan trọng, những dấu hiệu bản chất của đối tượng đó

Ví dụ về thao tác trừu tượng hoá – khái quát hoá trong quá trình hình thành dạng toán “Quy đồng mẫu số các phân số”

Khi giải xong bài toán ở ví dụ trên được kết quả là

15

5

và 15 6

- GV: Ta gọi hai phân số

15

5

và 15

6

là hai phân số đã được quy đồng

Như vậy, đặc điểm bản chất được giữ lại là: Hai phân số đã quy đồng bằng

hai phân số đã cho và có cùng mẫu số

Khái quát hoá: Trong dạy học toán, khái quát hoá là một thao tác tư duy

khá phổ biến giúp HS nhận thức được các đối tượng toán học Có hai dạng khái quát hoá:

+ Khái quát hoá ngoại diên: Là thao tác tư duy chuyển từ khái niệm hay tính chất nào đó có ngoại diên hẹp sang khái niệm hay tính chất có ngoại diên rộng hơn bao gồm cả tập hợp các đối tượng ban đầu

Trang 31

+ Khái quát hoá nội hàm: Là thao tác tư duy chuyển từ khái niệm hay tính chất nào đó có nội hàm hẹp sang khái niệm hay tính chất có nội hàm rộng hơn bao gồm khái niệm hay tính chất ban đầu

Ví dụ: Sau khi HS làm các bài toán về quy đồng mẫu số các phân số học

sinh khái quát hoá thành quy tắc: “Khi quy đồng mẫu số hai phân số ta có thể làm như sau:”

- Lấy tử số và mẫu số của phân số thứ nhất nhân với mẫu số của phân số thứ hai

- Lấy tử số và mẫu số của phân số thứ hai nhân với mẫu số của phân số thứ nhất

Đặc biệt hoá là thao tác tư duy toán học, chuyển một khái niệm hay tính

chất nào đó từ ngoại diên rộng sang tập hợp các đối tượng có ngoại diên hẹp hơn, chứa đựng trong tập hợp ban đầu

Ví dụ: Sau khi HS khái quát thành quy tắc quy đồng mẫu số hai phân số, HS nắm được các bước quy đồng mẫu số hai phân số; sử dụng thao tác đặc biệt hoá

HS vận dụng vào làm một ví dụ cụ thể sau phần lí thuyết

Ví dụ: Quy đồng mẫu số hai phân số sau:

7

2

và 4 3

HS vận dụng kiến thức lý thuyết vừa khái quát được đặc biệt hoá vào trường hợp cụ thể ví dụ trên

Tưởng tượng là quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có

trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ

sở biểu tượng đã có Tưởng tượng không được xem là một thao tác tư duy dựa vào ý thức, vì nó không tuân theo những yêu cầu nhất định, mặc dù có thể hình dung trình tự của tưởng tượng là: cảm giác, tri giác, biểu tượng đã có, hình ảnh mới Tưởng tượng được xem như là “thao tác tư duy của tiềm thức”, với những

kỹ thuật tiềm ẩn

Trong dạy học toán, tưởng tượng được coi như là một thao tác tư duy toán học, tưởng tượng gắn liền với tư duy trực giác – tư duy sáng tạo

Trang 32

Trí tưởng tượng có vai trò rất quan trọng trong sáng tạo toán học, phát triển trí tưởng tượng là một trong nhiều mục tiêu của việc dạy học toán nói chung và việc dạy học toán ở TH nói riêng

Như vậy trên đây chúng ta đã phân tích chuỗi thao tác tương ứng mà học sinh cần phải thực hiện để giải được dạng toán “Quy đồng mẫu số các phân số”

Đó là, thao tác phân tích – tổng hợp, thao tác so sánh – tương tự, thao tác trừu tượng hoá – khái quát hoá, thao tác đặc biệt hoá, tưởng tượng…

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng kỹ năng giải toán phân số của HS lớp 4

Để có được những cơ sở cần thiết cho việc xây dựng các quy trình hình thành những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số ở lớp 4 nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Toán cho HSTH nói chung và đem lại hiệu quả trong việc việc dạy học toán phân số - một nội dung toán rất quan trọng trong chương trình Toán TH, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng kĩ năng giải toán phân số của HS lớp 4 với các nội dung sau: dự giờ đánh giá kết quả giải toán HS qua từng tiết học, ra đề kiểm tra sau các tiết ôn tập của các bài học liên quan đến phân số, phỏng vấn HS về các bước giải toán qua các bài tập HS vừa thực hiện và nhận xét của HS về thuận lợi và khó khăn khi giải các bài toán đó

Qua khảo sát HS 3 lớp gồm 98 em của trường TH Đức Tùng cho thấy đa

số HS còn giải toán theo cảm tính hoặc theo bài mẫu mà GV hướng dẫn HS chưa hiểu được bản chất của từng dạng toán, chưa đưa ra được các bước giải cho từng dạng toán cụ thể Trước một bài toán cụ thể HS không biết bắt đầu từ đâu,

sử dụng những bước (thao tác) cụ thể nào? Việc định hướng giải cho từng dạng toán, bài toán cụ thể gặp nhiều khó khăn Vì vậy trong giải toán HS rất lúng túng, mỗi bài giải theo một cách, không tuân theo một quy trình các bước giải một cách chặt chẽ, việc thử lại kiểm tra kết quả gặp rất nhiều khó khăn dẫn đến việc giải sai hay bỏ sót kết quả

Trên cơ sở đó do trong quá trình luyện giải toán GV không chú ý sử dụng hay chỉ hướng dẫn một cách sơ sài các thao tác cơ bản để giải toán nói chung và

Trang 33

giải nội dung toán phân số nói riêng nên việc nắm và nhớ kiến thức đã học rất sơ sài Kiến thức cũ, kiến thức cơ sở chưa được tích luỹ một cách đầy đủ Vì vậy

mà trong giải toán HS gặp không ít khó khăn

Do thời gian học trên lớp có hạn, việc luyện tập các bài toán cùng dạng cũng không được thực hành thường xuyên Vì vậy kĩ năng giải toán nói chung và

kĩ năng giải toán phân số nói riêng còn rất yếu

1.2.2 Thực trạng hình thành các thao tác giải toán phân số lớp 4

Để nghiên cứu thực trạng hình thành các thao tác giải toán phân số lớp 4 chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát việc tổ chức hình thành các thao tác giải toán phân số ở 5 trường TH trên địa bàn huyện Đức Thọ với tổng số 20 giáo viên dạy 20 lớp 4 của 5 trường gồm các trường TH là: Đức Tùng, Đức Châu, Liên Minh, Thị Trấn và Tùng Ảnh Trong đó có 3 trường nằm ở tốp đầu của huyện về

cả chất lượng lẫn phong trào

Về trình độ 20 GV được khảo sát đạt trình độ cao đẳng chiếm 35% và trình độ đại học chiếm 65% Như vậy tất cả các GV được khảo sát đều đạt trình

độ trên chuẩn

Về thâm niên công tác: trong số 20 GV được khảo sát có 3 GV công tác dưới 5 năm (chiếm 15%), 9 GV công tác từ 5 đến 10 năm (chiếm 45%) và 8 GV công tác trên 10 năm (chiếm 40%) Từ đó cho thấy đội ngũ GV được các nhà trường bố trí dạy lớp 4 đa phần là GV có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên số lượng

GV trẻ cũng chiếm tỉ lệ đáng kể, đó là điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy một lớp có thể nói là có chương trình nặng và khó nhất so với toàn khối Trên cơ

sở đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập lẫn nhau giữa các GV dạy cùng khối và đặc biệt phát huy kết hợp giữa sức trẻ và kinh nghiệm Đối với những đối tượng này chúng tôi khảo sát, tìm hiểu về

- Thực trạng về mức độ tổ chức hình thành thao tác giải toán phân số lớp 4

- Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình thành thao tác giải toán phân số cho HS

Trang 34

Để có được kết quả điều tra khảo sát thực trạng với các nội dung trên chúng tôi sử dụng các phương pháp khác nhau với những nội dung khác nhau như phỏng vấn, phát phiếu điều tra, đánh giá về giáo án tổ chức dạy các tiết toán

trong chương Phân số - Các phép tính với phân số (SGK Toán 4)

a Mức độ tổ chức

Bảng 1.1 Mức độ tổ chức hình thành thao tác giải toán phân số cho HS lớp 4

Có tổ chức nhưng không thường xuyên và

còn mang tính hình thức

Bảng 1.2 Mức độ thể hiện trong giáo án việc tổ chức hình thành thao tác giải

toán phân số của HS lớp 4

Có thể hiện trong giáo án nhưng không

thường xuyên

Kết quả điều tra cho thấy trong số 20 GV của 5 trường được khảo sát có 3

GV thường xuyên đưa nội dung rèn luyện quy trình hình thành thao tác giải toán phân số vào mỗi tiết dạy toán phân số cho HS lớp 4 Và không chỉ cụ thể trên từng tiết dạy mà các GV còn thể hiện rất rõ trong việc chuẩn bị bài, soạn giáo

án Từ đó phát huy được tính tích cực học tập cho HS, rèn tư duy lôgíc và khả năng độc lập khi giải toán

Bên cạnh đó có một số lượng lớn chiếm đến hơn 65% số GV được khảo sát chưa thực sự quan tâm tới việc hình thành thao giải toán phân số cho HS lớp

Trang 35

4 vì thế mà việc thể hiện trong giáo án cũng sơ sài, đối phó làm cho việc giải toán của HS không chỉ lúng túng mà còn gặp rất nhiều khó khăn

Bên cạnh đó có ít nhất 2 GV (chiếm 10%) chưa có định hướng, chưa lập

kế hoạch và chưa xây dựng được nội dung quy trình hình thành thao tác giải toán rõ ràng Qua điều tra, phỏng vấn, đánh giá giáo án và dự giờ các đồng nghiệp chúng tôi thấy việc dạy giải toán phân số cho HS lớp 4, những GV này chỉ mới dừng lại ở cách giải từng bài và trong việc dạy đó GV đang chú trọng về tìm ra kết quả của bài toán đó chứ chưa quan tâm đến việc hướng dẫn HS sử dụng các bước giải, quy trình thao tác giải từng dạng toán qua những bài toán điển hình của dạng

Ví dụ 1: Tìm X:

a) X +

5

4 = 2

3

b)X -

2

3 = 4

11

c)3

25: X - 5

4 = 6 5

- Khi giải bài toán tìm X này GV mới quan tâm đến việc giúp HS tìm ra kết quả đúng của bài toán mà chưa chú ý đến việc hướng dẫn HS giải bài toán theo các bước chặt chẽ, khoa học

Với câu a) X +

5

4 = 2 3

GV bắt đầu bằng câu hỏi: Muốn tìm X ở câu này ta làm thế nào? Và HS

trả lời được: Ta lấy

2

3

- 5

Trang 36

mẫu số và cả thứ tự thực hiện phép tính Từ đó xâu chuỗi và chọn những kiến thức cần thiết cho việc giải từng bài toán cụ thể

Bước 4: Tiến hành giải toán, tìm kết quả, thử lại bằng các thao tác ngược

Bước 5: GV cho HS thực hành giải nhiều bài toán cùng dạng sử dụng các thao tác giải vừa hình thành

- Khi giải bài toán về tính chu vi của hình chữ nhật này GV thường dẫn dắt bằng những câu hỏi như: Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm thế nào? Khi biết diện tích và chiều rộng hình chữ nhật muốn tính chiều dài hình chữ nhật

đó ta làm thế nào? GV tiến hành giải bài toán mẫu, HS từ đó tương tự để giải các bài toán cùng dạng Vì vậy HS không những không được tự hoạt động tìm ra cách giải cho từng dạng toán cụ thể (trong khi lí thuyết các em đã nắm rất tốt)

mà HS do thụ động tiếp thu nên không hiểu được bản chất dạng toán cũng như việc trình bày bài giải cho dạng toán đó một cách tường minh

Mà đúng ra khi giải bài toán giải này GV phải hướng dẫn tổ chức cho HS thực hiện theo quy trình đầy đủ sau:

Bước 1: HS phải phân tích đề: cái gì đề toán đã cho và cái gì cần tìm Từ đó tóm tắt đề toán bằng lời hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng nhằm cụ thể đề toán

Bước 2: HS đưa ra những kiến thức có liên quan như: Kiến thức về tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, kiến thức về khi biết diện tích và chiều dài (hoặc chiều rộng) tính chiều rộng (hoặc chiều dài) còn lại Kiến thức về cộng, trừ, nhân, chia phân số, kiến thức về quy đồng mẫu số và cả thứ tự thực hiện phép tính Từ đó xâu chuỗi và chọn những kiến thức cần thiết cho việc giải từng bài toán cụ thể Bước 3: Tiến hành giải toán, tìm kết quả, thử lại bằng các thao tác ngược

Bước 4: GVcho HS thực hành giải nhiều bài toán cùng dạng sử dụng các thao tác giải vừa hình thành

b Những thuận lợi, khó khăn và hiệu quả thu được

Trang 37

Từ kết quả khảo sát chúng tôi rút ra một số thuận lợi và khó khăn mà các

GV thường gặp phải khi hình thành những thao tác giải toán cho HS nói chung

và hình thành thao tác giải các bài toán phân số cho HS lớp 4 nói riêng sau:

* Một số thuận lợi:

- Trong xu hướng đổi mới mạnh mẽ của giáo dục, với trọng tâm là hướng tới phát huy tính tích cực, tự giác sáng tạo của HS trong học tập, việc tiến hành tăng cường dạy học toán nói chung và dạy học toán phân số nói riêng bằng hệ thống các thao tác là một cách tiếp cận mới, phù hợp với tình hình thực tiễn và đáp ứng được yêu cầu dạy học bộ môn Tuy chưa phải là việc làm bắt buộc, chưa được đưa vào trong hệ thống các phương pháp dạy học nhưng việc đưa vào

và tiến hành hướng dẫn HS giải toán bằng những thao tác giải toán cơ bản thể hiện sự nhanh nhạy, năng động, sự linh hoạt và cả “nghệ thuật” dạy học của GV

Từ đó cho thấy việc học hỏi không ngừng và tìm tòi sáng tạo của đội ngũ GV rất đáng biểu dương

Thực tiễn dạy học cho thấy những ưu điểm và hiệu quả của việc dạy học toán nói chung và toán phân số nói riêng bằng các thao tác cơ bản giúp HS hứng thú tích cực hơn trong việc giải toán Từ đó phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cho HS trong học tập Và cũng từ đó mà chất lượng học tập được nâng cao Kết quả đó được phản ánh khá rõ nét ở những lớp mà GV trong quá trình dạy toán thường xuyên chú ý hình thành thao tác giải toán một cách bài bản, liên tục và có chiều sâu Đó là chất lượng giải toán của HS được nâng cao rõ rệt (qua các bài kiểm tra, cuộc thi chọn HSG trường và huyện) và cả chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

Được xem như một phương pháp dạy học mới, qua thực tiễn dạy học đã nhận được sự quan tâm của đông đảo GV cũng như cán bộ quản lí Bởi tất cả đều nhận thấy phương pháp dạy học này đã tạo điều kiện thuận lợi cho HS được học, được tiếp thu và lĩnh hội kiến thức bằng các thao tác, hoạt động của chính bản thân Nhờ các thao tác giải toán đã nắm HS tự tìm tòi khám phá cách giải, định hướng giải toán một cách đúng đắn, chặt chẽ và khoa học

Trang 38

Dạy học Toán nói chung và dạy học toán phân số nói riêng bằng những thao tác giải toán cơ bản giúp HS không chỉ tích cực chủ động trong việc học toán, độc lập và khám phá ra nhiều cách giải cho cùng một bài toán mà còn giúp

HS khắc sâu kiến thức cũ, ghi nhớ kiến thức mới nhanh chóng và vững chắc Đồng thời thực hành luyện tập kĩ năng giải toán thành thạo

- Để phát huy tính hiệu quả trong quá trình tổ chức hoạt động này đòi hỏi Ban giám hiệu cùng tất cả GV đứng lớp đồng tình và có trách nhiệm Vì vậy những thao tác giải toán cơ bản phải được hình thành ngay từ lúc HS bắt đầu học toán tức từ các lớp đầu cấp Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy đòi hỏi này gặp phải những khó khăn cơ bản sau:

+ Đa số GV dạy các lớp đầu cấp chưa chú ý đến việc hình thành thao tác giải toán cho HS với lý do toán đầu cấp còn đơn giản, HS có thể vận dụng bài tập tương tự là giải tốt

+ Đa số GV gặp nhiều khó khăn trong việc tổ chức hình thành thao tác cho từng dạng toán cụ thể Đặc biệt là kĩ năng xây dựng nội dung, GV chưa dự đoán được những tình huống có thể xẩy ra trong từng tiết học, vì thế mà chưa đưa ra được những giải pháp cho những tình huống đó Hơn nữa cách tổ chức và

kĩ năng tổ chức của một số GV còn lúng túng chưa đầy đủ lôgíc và khoa học, dẫn đến những thắc mắc của HS chưa được giải đáp một cách thoả đáng, làm cho HS đôi khi còn hoang mang vì cách giải mình tìm ra

Trang 39

+ Ngoài yêu cầu về chuyên môn, kĩ năng tổ chức, đòi hỏi người tổ chức phải đầu tư nhiều thời gian và công sức - một yêu cầu cao đối với GVTH - vốn

dĩ đã “quá tải” với công việc của mình

- Ngoài những khó khăn trên việc tổ chức hình thành thao tác giải toán phân số cho HS lớp 4 cũng gặp hạn chế cho HS Bởi việc hướng dẫn HS các bước giải toán một cách rõ ràng tỉ mỉ và thường xuyên liên tục qua tất cả các dạng toán, việc này chỉ mới phù hợp với những HS có lực học yếu kém còn với những đối tượng HS khá giỏi sẽ nhàm chán và đôi khi còn làm cho HS máy móc

sử dụng thao tác biến mình thành một “cỗ máy” chỉ việc áp dụng các bước rồi vận hành đúng Hạn chế sự sáng tạo của HS

1.2.3 Thực trạng nhận thức về quy trình hình thành những thao tác cơ bản

để giải các dạng toán phân số lớp 4

1.2.3.1 Nhận thức của học sinh lớp 4 về qui trình sử dụng thao tác để giải các

dạng toán phân số

Để có được kết quả nhận thức của HS lớp 4 về quy trình sử dụng thao tác

để giải các dạng toán phân số, chúng tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá tại 98 em

HS ở ba lớp 4 Trường tiểu học Đức Tùng (Trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1996-2000) Nội dung khảo sát:

a) Nêu những hiểu biết về thao tác giải toán phân số được sử dụng trong giải toán phân số ở lớp 4

b) Sự cần thiết của việc sử dụng thao tác để giải các dạng toán phân số ở lớp 4

c) Nhận thức về quy trình hướng dẫn của GV đối với việc sử dụng thao tác

d) Các thao tác thường dùng để giải toán phân số ở lớp 4

e) Đánh giá của GV về nhận thức của HS lớp 4 về quy trình sử dụng những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số

Trang 40

Kết quả thu được:

Bảng 1.3: Kết quả điều tra nhận thức của HS lớp 4 về quy trình sử dụng

những thao tác cơ bản để giải các dạng toán phân số

Thông qua kết quả tổng hợp của bảng 1.3 chúng tôi thấy:

HS chưa hiểu được bản chất của việc sử dụng thao tác Không ít em chưa hiểu thế nào là thao tác HS còn lẫn lộn giữa thao tác giải một bài toán với các bước tính nên chưa có hứng thú giải các bài toán nâng cao đối với HS khá giỏi và giải các bài toán trong SGK đối với HS trung bình Bởi trước một bài toán GV đưa ra

HS chưa biết bắt đầu từ đâu để giải Điều quan tâm là GV chưa đưa ra quy trình rèn luyện thao tác cho HS từ những bài toán dễ đến bài toán khó, phức tạp, từ thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp, mà dạy giải toán theo kiểu "ăn đong" dạy bài nào biết bài ấy dẫn đến HS khó hiểu, khó vận dụng không gây hứng thú

Trên cơ sở đó nhận thức của HS lớp 4 về qui trình sử dụng thao tác để giải các dạng toán phân số ở lớp 4 là chưa tường minh, chưa đầy đủ Các em cho rằng việc sử dụng các thao tác trong giải toán phân số ở lớp 4 là không cần thiết

nó chỉ là các hoạt động trong quá trình giải toán (trong khi đó, đối với việc giải toán phân số của HS lớp 4 các thao tác cơ bản là những hoạt động không thể thiếu được khi giải toán đặc biệt là đối với những dạng toán gốc, điển hình) Vì vậy HS thường ngại sử dụng các thao tác trong quá trình giải toán

Ngày đăng: 03/10/2021, 17:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Ngọc Đại (1994), Công nghệ giáo dục, tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục, tập 1
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
2. Hồ Ngọc Đại (1995), Công nghệ giáo dục, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ giáo dục, tập 2
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
5. Trần Diên Hiển (2007), Phát triển kỹ năng giải toán ở tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kỹ năng giải toán ở tiểu học
Tác giả: Trần Diên Hiển
Năm: 2007
6. Đỗ Đình Hoan (2002), Một số vấn đề cơ bản của chương trình Tiểu học mới. Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản của chương trình Tiểu học mới
Tác giả: Đỗ Đình Hoan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
7. Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng, Vũ Quốc Chung, Đỗ tiến Đạt, Đỗ Trung Hiệu, Trần Diên Hiển, Đào Thái Lai, Phạm Thanh Tâm, Kiều Đức Thành, Lê Tiến Thành, Vũ Dương Thụy (2009), Toán 4, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán 4
Tác giả: Đỗ Đình Hoan (chủ biên), Nguyễn Áng, Vũ Quốc Chung, Đỗ tiến Đạt, Đỗ Trung Hiệu, Trần Diên Hiển, Đào Thái Lai, Phạm Thanh Tâm, Kiều Đức Thành, Lê Tiến Thành, Vũ Dương Thụy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
8. Bùi Văn Huệ (1994), Tâm lý học tiểu học, Đại học sư phạm Hà Nội 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Năm: 1994
9. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (4/1995), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
10. Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hương (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, NXB Đại học SP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển tâm lý người
Tác giả: Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hương
Nhà XB: NXB Đại học SP Hà Nội
Năm: 2003
11. Hoàng Hữu Như, Lê Đình Thịnh, NXBKH Và KT (1993), Từ điển toán học 12. Nguyễn Bá Minh (chủ biên), Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2009), Tâm lí học lứatuổi và Tâm lí học sư phạm, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển toán học" 12. Nguyễn Bá Minh (chủ biên), Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2009), "Tâm lí học lứa "tuổi và Tâm lí học sư phạm
Tác giả: Hoàng Hữu Như, Lê Đình Thịnh, NXBKH Và KT (1993), Từ điển toán học 12. Nguyễn Bá Minh (chủ biên), Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Nhà XB: NXBKH Và KT (1993)
Năm: 2009
15. G. Pôlya (1975), Giải một bài toán như thế nào (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên), NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải một bài toán như thế nào
Tác giả: G. Pôlya
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1975
16. N. G. Kazanxki (1983), Lý luận dạy học cấp 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học cấp 1
Tác giả: N. G. Kazanxki
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
17. N. D. Lêvitôp (1970), Tâm lý học trẻ em và sư phạm, Tập 1, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em và sư phạm, Tập 1
Tác giả: N. D. Lêvitôp
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1970
14. Như Ý (chủ biên), Nguyễn Văn Kháng, Phan Xuân Thành, Từ điển Tiếng Việt thông dụng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w