Các công trình thành công của mảng này cần kể đến: Dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học [7] của tác giả Chu Thị Thủy An; Dạy học ngữ pháp ở tiểu học [38] của tác giả Lê
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, trên thế giới, xuất hiện một xu hướngnghiên cứu ngôn ngữ mới Đó là việc nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ tronghoạt động hành chức Những thành tựu ngôn ngữ học này đã ảnh hưởng rấtmạnh đến tình hình nghiên cứu của ngôn ngữ học Việt Nam Ở Việt Nam, đã
có rất nhiều công trình nghiên cứu theo xu hướng này được công bố, như: Giáo
trình tiếng Việt về ngữ dụng học [5] của tác giả Chu Thị Thủy An, Đại cương ngôn ngữ học - Ngữ dụng học [26] của tác giả Đỗ Hữu Châu, Sơ thảo ngữ pháp chức năng - Câu trong tiếng Việt [30] của tác giả Cao Xuân Hạo, Lôgic - ngữ nghĩa - cú pháp, Giáo trình Ngữ dụng học [36] của tác giả Đỗ Thị Kim Liên …
Nhờ những công trình mang tính chất giới thiệu lí thuyết ngôn ngữ học này, lànsóng nghiên cứu ngôn ngữ học theo hướng ngữ dụng lan toả khắp đất nước.Trong đó, mảng thành tựu lớn và có ý nghĩa nhất là việc ứng dụng lí thuyết nàyvào nghiên cứu câu kể trong tiếng Việt Các công trình thành công của mảng
này cần kể đến: Dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học [7] của tác giả Chu Thị Thủy An; Dạy học ngữ pháp ở tiểu học [38] của tác giả Lê Phương Nga; Câu chủ vị tiếng Việt [44] của tác giả Lê Xuân Thại; Quan điểm
về việc dạy học câu kể cho HS tiểu học của tác giả Nguyễn Minh Thuyết…Câu kể là câu được nghiên cứu từ góc độ sử dụng Vì thế, thay đổi quan điểm
từ nghiên cứu ngôn ngữ trong cấu trúc tĩnh tại sang nghiên cứu trong sử dụng,trong quan hệ với người nói, người nghe thì đây là hiện tượng ngôn ngữ chịuảnh hưởng đầu tiên và cũng là lĩnh vực thu được nhiều thành công nhất Ngônngữ học hiện đại đã có nhiều cái nhìn mới mẻ đối với loại câu kể này Nhữngthành tựu ngôn ngữ học này đủ để chúng ta xây dựng một nội dung mới về dạyhọc câu kể trong chương trình tiểu học đáp ứng nhu cầu đổi mới nội dung vàphương pháp dạy tiếng hiện nay
Trang 31.2 Xét từ góc độ lí luận dạy tiếng, việc dạy câu kể trong nhà trường tiểuhọc là một vấn đề luôn được quan tâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay mụctiêu của việc dạy tiếng đang được xác định là dạy cho HS một công cụ giao tiếp
và phương pháp dạy học tối ưu nhất được đề cao và có hiệu quả là dạy tronggiao tiếp
Tuy nhiên trên thực tế, GV và HS gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng khidạy học câu kể này Phần lớn GV chỉ đang dừng lại ở việc dạy câu kể trong cấutrúc tĩnh tại vốn có của nó, chưa quan tâm đến việc đạt được mục đích cuốicùng của việc dạy câu kể là HS biết sử dụng câu hay, phù hợp với văn cảnh,phù hợp với văn hoá giao tiếp của người Việt
Nghiên cứu việc dạy học câu kể ở tiểu học nói chung và việc dạy họccâu kể ở lớp 4 nói riêng theo quan điểm giao tiếp là một việc làm thiết thực,cấp bách để giải quyết những khó khăn, lúng túng trong dạy học tiếng Việt của
GV và HS lớp 4 hiện nay, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới nội dung,phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quảcao
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài luận
văn: “Dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp”.
2 Mục đích nghiên cứu
Từ việc đánh giá lại thực trạng dạy câu kể ở tiểu học, trên cơ sở cácthành tựu của ngôn ngữ học và lí luận dạy học tiếng Việt hiện đại, đề xuất cácbiện pháp dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học các kiểu câu phân loại theo mục đích nói trong phânmôn Luyện từ và câu ở lớp 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 4Đề tài tập trung khảo sát thực trạng và thử nghiệm ở các trường tiểu họcthuộc địa bàn Quận Gò Vấp và Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểmgiao tiếp thì kiến thức và kĩ năng sử dụng câu kể của HS sẽ được nâng cao, việc
sử dụng câu kể trong giao tiếp của HS sẽ chính xác và tinh tế hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
5.1 Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài: câu kể trongtiếng Việt, quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt, đặc điểm tâm lí của
HS lớp 4
5.2 Tìm hiểu thực trạng dạy học câu kể ở nhà trường tiểu học hiện nay.5.3 Đề xuất các biện pháp dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giaotiếp
5.4 Tổ chức thử nghiệm để kiểm tra tính hiệu quả của các biện pháp dạyhọc câu kể đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: sử dụng ở phần cơ sở
lí luận, lịch sử nghiên cứu vấn đề gồm:
6.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu: sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác
nhau để phục vụ cho đề tài
6.1.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết: nhằm phân tích, khái
quát các quan điểm về câu kể trong tiếng Việt; xây dựng cơ sở lí luận cho đềtài
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sử dụng ở phần
thực trạng vấn đề, biện pháp giải quyết vấn đề gồm:
Trang 56.2.1 Phương pháp quan sát: tổ chức quan sát các hoạt động giảng dạy,
học tập trong nhà trường liên quan đến việc dạy và học câu kể ở lớp 4, từ đó rút
ra một số kết luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu: sử dụng phiếu điều tra để thu
thập thông tin cần thiết về thực trạng dạy và học câu kể ở lớp 4 hiện nay
6.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: lấy ý kiến các GV trực tiếp
giảng dạy lâu năm, ý kiến các chuyên gia về thực trạng và biện pháp nâng caohiệu quả dạy và học câu kể ở lớp 4
6.2.4 Phương pháp thử nghiệm sư phạm: nhằm kiểm tra tính hiệu quả
của các biện pháp dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
6.3 Phương pháp thống kê toán học: nhằm xử lí các số liệu thống kê
liên quan đến thực trạng dạy và học câu kể, kiểm định độ tin cậy của các biệnpháp nâng cao hiệu quả dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
7 Đóng góp của đề tài
Qua kết quả khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp dạy câu
kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp, có thể coi là những đóng góp mớicho việc nâng cao chất lượng dạy học câu kể ở lớp 4 tại các trường tiểu họchiện nay
8 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3: Các biện pháp dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giaotiếp
Trang 6Chương 1
Cơ sở lí luận 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, vấn đề dạy câu chia theo mục đích nói nóichung và dạy câu kể nói riêng trong chương trình SGK Tiếng Việt ở tiểu họcđược nhiều nhà nghiên cứu sư phạm quan tâm và thu được nhiều kết quả mới
mẻ Có thể kể đến các tác giả và công trình tiêu biểu như:
- Chu Thị Thủy An, Bàn về nội dung dạy học ngữ pháp tiếng Việt ở tiểu
học [1], Một số suy nghĩ về việc dạy các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học hiện nay [4], Giáo trình tiếng Việt 1 [5], Những quan điểm cơ bản về “Câu phân loại theo mục đích nói” trong chương trình Tiếng Việt 4 [6], Dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học [7], Dạy học Luyện từ và câu ở tiểu học [8]
- Lê Thị Bích Hợi, Rèn kĩ năng sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục
đích nói cho HS tiểu học thông qua hoạt động ngoại khóa Tiếng Việt [32].
- Lã Thị Trà My, Dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói ở tiểu học [37].
Các tác giả này đã nghiên cứu vấn đề dạy học các kiểu câu chia theo mụcđích nói ở tiểu học, đề xuất việc lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học cáckiểu câu chia theo mục đích nói Trong đó, tác giả Chu Thị Thủy An đã đề xuấtquy trình cụ thể để dạy học các kiểu bài về câu chia theo mục đích nói [6,tr.49], phương pháp hướng dẫn HS thực hành về câu phân loại theo mục đíchnói [8, tr.134]
Về thực hiện mục tiêu dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, nhiềucông trình đã tập trung nghiên cứu nội dung, phương pháp như:
Trang 7- Chu Thị Thủy An, Chu Thị Hà Thanh, Dạy học Luyện từ và câu ở tiểu
học [8, tr.34].
- Chu Thị Hà Thanh - Lê Thị Thanh Bình, Quan điểm giao tiếp trong
dạy học tiếng Việt ở tiểu học [42, tr.22].
- Nguyễn Trí, Một số vấn đề dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở
tiểu học [52, tr.73]
- Nguyễn Thị Xuân Yến, Bàn về hệ thống bài tập dạy học tiếng Việt theo
nguyên tắc giao tiếp [58, tr.19]
Các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học tiếng Việt ở tiểu học thông quahoạt động giao tiếp, vấn đề dạy học các kiểu câu chia theo mục đích nói theoquan điểm giao tiếp Đây là những đóng góp rất cần thiết trong dạy học tiếngViệt ở tiểu học
Tuy nhiên, dù quan điểm giao tiếp đã được đề cập đến trong các côngtrình nghiên cứu của nhiều tác giả trong những năm gần đây nhưng chưa cócông trình nghiên cứu cách ứng dụng quan điểm giao tiếp vào dạy ở một kiểucâu, cụ thể là câu kể ở tiểu học
Trên cơ sở những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúngtôi tiến hành tìm hiểu ở một khía cạnh cụ thể hơn, đó là việc dạy câu kể cho HSlớp 4 theo quan điểm giao tiếp bằng việc đề xuất các biện pháp dạy câu kể cho
HS lớp 4 với mong muốn giúp HS có kĩ năng đặt câu kể, sử dụng câu kể hay,tinh tế, đảm bảo phép lịch sự trong các tình huống đời sống phong phú, sinhđộng mà HS gặp phải
1.2 Câu kể trong ngôn ngữ học
1.2.1 Câu kể trong ngôn ngữ học truyền thống
Trong ngôn ngữ học truyền thống, hệ thống câu chia theo mục đích nóinói chung và câu kể nói riêng là vấn đề được hầu hết các nhà ngữ pháp họcquan tâm nghiên cứu
Theo cách nhìn phổ quát của ngôn ngữ học truyền thống, câu chia theomục đích nói bao gồm bốn kiểu:
Trang 8- Câu trần thuật (còn gọi là câu kể).
- Câu nghi vấn (còn gọi là câu hỏi)
- Câu cầu khiến (còn gọi là câu khiến)
- Câu cảm thán (còn gọi là câu cảm)
Các kiểu câu này không chỉ được phân biệt về mặt nội dung (mục đíchgiao tiếp) mà còn mang những dấu hiệu hình thức riêng biệt Trong đó, câu kểđược phát biểu như sau:
Câu kể (câu trần thuật) là câu được dùng để kể, xác nhận (là có haykhông có), mô tả một vật với các đặc trưng (hoạt động, trạng thái, tính chất,quan hệ) của nó hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó
Ví dụ:
Tuần tới, có một buổi biểu diễn văn nghệ ở trường ta.
Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên, chắc nịch.
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta.
Khi nói, câu kể được hạ giọng ở cuối câu Khi viết, cuối câu kể có dấuchấm, chấm lửng hoặc hai chấm, chấm than
Ví dụ:
Nhà cửa dựng dọc theo bờ kênh, dưới những hàng đước xanh rì.
Vườn nhà em trồng rất nhiều loài cây: cam, xoài, cóc, ổi, mận…
Bác sĩ đáp:
- Bốn mươi mốt độ.
Cầu vồng đã hiện lên rồi!
Câu kể là loại câu được sử dụng phổ biến trong giao tiếp Xét về mặt lô gíc nội dung, ngôn ngữ học truyền thống chia câu kể làm hai loại: câu kể khẳngđịnh và câu kể phủ định
-Câu kể khẳng định thường nêu lên sự vật, hiện tượng được nhận định là
có tồn tại
Ví dụ:
Phong cảnh vịnh Hạ Long thật là đẹp.
Trang 9 Mùa xuân, trăm hoa đua nở.
Câu kể phủ định xác nhận sự vắng mặt hay không tồn tại của sự vật, hiệntượng hay sự kiện, xác nhận sự vắng mặt của đối tượng, đặc trưng của đốitượng trong hiện thực hoặc trong tưởng tượng bằng những phương tiện hìnhthức xác định Nói cách khác, đây là câu tường thuật lại một sự việc nhưng theochiều phủ định
Ví dụ:
Cả năm nay, tôi không được về thăm quê.
Xét về mặt hình thức, phương tiện biểu hiện câu kể là cấu trúc cú pháp
cơ bản hai thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ) hoặc một thành phần chính biểuthị nội dung mệnh đề Có điều, hình thức này không phải của riêng câu kể Câucầu khiến, câu nghi vấn đều có nội dung mệnh đề nên đều có cấu trúc cú pháp
cơ bản Tuy nhiên, so với các loại câu khác, cấu trúc câu kể phản ánh rất sátcấu trúc mệnh đề
1.2.2 Câu kể trong ngôn ngữ học hiện đại
Ngôn ngữ học hiện đại không phủ nhận những thành tựu đạt được củangôn ngữ học truyền thống Tuy nhiên, sự ra đời của lí thuyết hành vi ngôn ngữ
đã bổ sung kịp thời những khoảng trống của ngôn ngữ học truyền thống
1.2.2.1 Hành vi ngôn ngữ và câu kể
Theo lí thuyết ngữ dụng học, nói năng là một hoạt động, khi ta nói mộtcâu là ta đang thực hiện một hành động ngôn ngữ - J.L.Austin (1962) cho rằng:
“Hành vi ngôn ngữ gồm có: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời”.
Hành vi ở lời là những hành vi lời nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệuquả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra mộtphản ứng tương ứng ở người nhận [26, tr.240] Việc phát hiện ra hành vi ở lời
có thể xem là một thành tựu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học theo hướngchức năng giao tiếp
Trang 10Nhờ cú lớ thuyết hành vi ở lời, ngữ phỏp hiện đại thấy được rằng: hỏi, kể,cầu khiến, cảm thỏn… là cỏc hành vi ngụn ngữ Cỏc hành vi ở lời này đượcchuyển tải bằng cỏc phương tiện hỡnh thức nhất định mà người ta gọi là cõu Hệthống cõu phõn loại theo mục đớch núi núi chung và cõu kể núi riờng trong ngữphỏp truyền thống thực chất đó được phõn loại dựa trờn hai tiờu chớ: hành vi ởlời (hành động ngụn trung) và dấu hiệu hỡnh thức.
Theo J.R.Searle, cú thể chia hành vi ngụn ngữ thành năm nhúm:
- Xỏc nhận: là những hành vi ở lời cung cấp thụng tin về hiện thực khỏch
quan, kốm theo thỏi độ tin tưởng và trỏch nhiệm của người núi đảm bảo tớnhchõn lớ của những thụng tin đú
Vớ dụ: Hành vi miờu tả, thụng bỏo, nhận định, xỏc nhận, chứng thực,…
- Hứa hẹn: là những hành vi ở lời cam kết thực hiện một nghĩa vụ, một
hành động nào đú trong tương lai
- Tuyờn bố: là những hành vi ở lời làm nờn những thay đổi trong thế giới
hiện thực ngay cả khi thực hiện hành vi đú
Vớ dụ: Hành vi tuyờn bố, tuyờn ỏn, tuyờn ngụn, buộc tội,…
- Biểu lộ: là những hành vi ở lời bày tỏ tỡnh cảm, cảm xỳc, thỏi độ của
người núi đối với sự vật, sự việc nào đú hoặc đối với người nghe
Vớ dụ: Hành vi phàn nàn, cảm thỏn, cảm ơn, xin lỗi,…
Như vậy, từ những kết quả nghiờn cứu ở trờn đó giỳp cho cỏc nhà ngụnngữ học hiện đại thấy được quan niệm sai lầm, phiến diện khi phõn loại cõutheo mục đớch núi gồm: cõu kể, cõu hỏi, cõu cầu khiến, cõu cảm Mục đích nói
của con ngời thực chất rất phong phú, đa dạng Khi phân ra bốn kiểu kể, hỏi,
cầu khiến, cảm thán là đã căn cứ nhiều vào dấu hiệu hình thức của câu Thực ra,
Trang 11riêng kiểu câu kể đã có thể biểu hiện ở rất nhiều mục đích nói - hành vi ở lờikhác nhau.
1.2.2.2 Hành vi ở lời trực tiếp, hành vi ở lời gián tiếp và câu chính danh, câu không chính danh
Dùng câu kể theo lối trực tiếp (hành vi ở lời trực tiếp): tức là được dùng
đúng với chức năng vốn có của chúng, còn gọi là dùng với chức năng nguyêncấp của chúng Quy ước chung gói gọn cách dùng này là cách trực tiếp Cụ thể,câu kể được dùng với chức năng kể
Ví dụ: Câu kể được dùng với mục đích trình bày:
Đêm nay gió mát, trăng tròn và sáng hơn hôm qua
Dùng câu kể theo lối gián tiếp (hành vi ở lời gián tiếp): cách thực hiện
hành động bằng câu kể dưới hình thức gián tiếp được quy ước gói gọn là cáchgián tiếp Cách gián tiếp được dùng rộng rãi cả trong quan hệ tôn trọng lẫntrong quan hệ thân hữu, cả trong giao tiếp quy thức lẫn trong giao tiếp kháckhông quy thức
Mặt khác, sự lịch sự trong giao tiếp ngày càng được coi trọng một cáchphổ biến Diễn đạt hành động nói dưới câu kể theo lối gián tiếp dùng để tạotính lịch sự trong giao tiếp Văn minh ngôn ngữ ngày càng được nâng cao vàhình thức gián tiếp là một trong những phương tiện giúp làm tăng tính lịch sựtrong giao tiếp
Ví dụ: Khi gặp nhau chúng ta thường hỏi nhau bằng những câu:
Anh (chị, chú, bác,…) đi đâu đấy?
Và người nghe chỉ việc mỉm cười, đáp lại: Vâng, chào anh (chị, chú,…).
Như vậy, hành vi hỏi ở trên được thực hiện bằng câu nghi vấn nhưng lạinhằm vào cái đích của hành vi chào Hành vi chào đã được thực hiện gián tiếpthông qua hành vi hỏi
Cơ chế thực hiện hành vi ở lời gián tiếp: “Khi người nói thực hiện trựctiếp hành vi ở lời A tức người nói đã ngầm thực hiện hành vi ở lời B nào đómột cách gián tiếp (thông qua A)”
Trang 12Tuy nhiên, cũng không nên lạm dụng hình thức này đến mức độ làm cho
sự giao tiếp thiếu tính thân thiện và tính chân thành trong những trường hợpcần thiết, nhất là trong nền văn hóa Việt Nam
Câu kể còn dùng để tạo nên những sắc thái tiêu cực như nói cạnh, nóikhóe, nói móc, châm chọc, xỏ xiên,… (tất nhiên trong những trường hợp cầnthiết phải dùng thì ta không coi sắc thái này là tiêu cực)
Như vậy, dùng câu kể theo lối gián tiếp là dùng câu kể không đúng vớichức năng vốn có của chúng Đây là một cách nhìn nhận mới về câu kể của ngữpháp hiện đại Một câu có hình thức là trần thuật cũng có thể hiệu lực ở lời của
nó là khẳng định, phủ định, hoặc nghi vấn, yêu cầu
Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu này, người ta chia câu kể trong hệthống câu phân loại theo mục đích nói ra làm hai loại câu:
+ Câu chính danh (câu điển hình)
+ Câu không chính danh (câu không điển hình)
Câu chính danh tức là cấu trúc chuyển tải các hành vi ở lời trực tiếp Đó
là những câu mà có mục đích nói thống nhất với các phương tiện hình thứcchuyên dụng và điều kiện sử dụng
Ví dụ: Câu kể được sử dụng để thuật lại, kể lại một sự kiện nào đó…Câu kể chính danh là những câu mà giá trị ngôn trung chỉ trình bày, nhậnđịnh, không yêu cầu trả lời, không yêu cầu thực hiện một hành động nào khác
và không bộc lộ tính cách, cảm xúc
Ví dụ:
Cái nhà tranh, mấy cây cau hình như vừa đứng thẳng hơn lên để chào chàng.
Anh ấy thấy lòng thanh thản.
Họ nhìn chúng tôi chòng chọc, như cố nhớ xem có phải chúng tôi đã có lần rụt rè đến nhà họ xin một chân đánh máy hoặc bán hàng không.
Trang 13Tất cả những câu trên đều có giá trị ngôn trung là những nhận định,những trình bày Nội dung trình bày có thể là một sự so sánh, một tâm trạng,một suy nghĩ, một thắc mắc,…
Câu không chính danh là hiện tượng sử dụng các hành vi ở lời gián tiếp.
Khi một câu có mục đích này lại được sử dụng với mục đích nói khác, với điềukiện sử dụng khác, tức là giữa nội dung (mục đích nói) và hình thức của câukhông tương ứng: 1 - 1, được gọi là câu không chính danh Nghĩa của câukhông chính danh phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, là nghĩa hàm ẩn Do đó,câu không chính danh thường đem lại tính lịch sự, tế nhị trong giao tiếp và giúpgiao tiếp đạt hiệu quả cao
Ví dụ: Để yêu cầu, đề nghị thì ta có thể dùng câu kể thay cho dùng câu
khiến Như vậy, tính tinh tế, hiệu quả giao tiếp có khi hay hơn rất nhiều so với dùng câu chính danh.
Kiểu câu kể có dạng không chính danh có thể sử dụng theo lối giao tiếpgián tiếp, hàm ẩn
Câu kể có thể thực hiện hành vi yêu cầu, đề nghị, mỉa mai, từ chối, hứa
hẹn, đe dọa
Ví dụ:
Từ chối: Thật tiếc! Tối nay em có hẹn rồi!
Hứa hẹn: Chắc chắn con sẽ đạt điểm cao trong kỳ thi sắp tới.
1.2.2.3 Tính lịch sự và yếu tố đảm bảo phép lịch sự khi sử dụng câu kể
Lịch sự trong giao tiếp là vấn đề ứng xử giữa người nói và người nghe,theo đó mà quan hệ liên nhân được hình thành trên cơ sở sử dụng ngôn ngữ cóchiến lược, nhằm đảm bảo được tính văn hoá, tính bảo toàn thể diện của haiphía
Trong những năm gần đây, khi nghiên cứu các kiểu câu phân loại theomục đích nói nói chung, nghiên cứu câu kể nói riêng người ta quan tâm nhiềuđến các phương tiện đảm bảo tính lịch sự Quan tâm đến tính lịch sự tức làquan tâm đến hiệu quả giao tiếp
Trang 14Các phương tiện đảm bảo tính lịch sự:
- Lựa chọn các hành vi ngôn ngữ phù hợp: phương thức sử dụng các
hành vi ngôn ngữ gián tiếp được xem là một phương thức có tính phổ niệm
Ví dụ: Để yêu cầu em đừng chơi nữa, người chị có thể dùng câu:
Chơi nhiều như thế không tốt đâu.
Tuy nhiên, đối với người Việt Nam, lịch sự là trang trọng, nhưng chânthành và không khách sáo Lịch sự tạo cho giao tiếp đạt hiệu quả cao hơn, tạonên sự tin tưởng, hoà đồng Vì vậy, trong những mối quan hệ đã trở nên gầngũi, thân thiết thì ta thường dùng hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Ví dụ: Đối với một người bạn thân thì câu nói: “Anh đi với em tí!” đạt hiệu quả hơn câu: “Anh có thể đi với em tí được không?”.
- Lựa chọn các từ xưng hô phù hợp: Các từ xưng hô đóng vai trò quy
chiếu vị thế xã hội của người giao tiếp Vì vậy, để đảm bảo phép lịch sự, người
ta phải lựa chọn xưng hô cho phù hợp
Đối với người trên hoặc xa lạ, chưa quen biết, ta nên lựa chọn cách xưng
hô tôn vinh vị thế của họ; còn đối với những người thân thiết, gần gũi, chúng tanên chọn các cặp từ xưng hô định vị quan hệ xã hội gần gũi, tạo nên sắc tháitình cảm thân mật
Ví dụ: So sánh hai câu của một người chồng nói với vợ:
Hôm qua, tôi và cô đã nói chuyện với nhau.
Hôm qua, mình và anh đã nói chuyện với nhau.
Cặp từ xưng hô “mình - anh” trong câu 2 có sắc thái tình cảm thân mật hơn cặp từ “cô - tôi” Do đó, tính lịch sự và hiệu quả giao tiếp của câu 2 sẽ hơn
Trang 15 Cháu cảm ơn bác ạ.
Hiệu quả giao tiếp ở câu 2 sẽ cao hơn câu 1
Ngoài ra, người ta cũng chú trọng việc lựa chọn sử dụng các câu nói có
nội dung phù hợp để không ảnh hưởng đến thể diện của người đối thoại Theo
phương thức này, người ta phải né tránh việc đề cập đến các vấn đề cá nhân,riêng tư, những điểm yếu, điểm mạnh của người đối thoại, né tránh việc khen,chê không đúng lúc, đúng chỗ
Ví dụ: Khi người bán vải nói với khách hàng: “Bác mập nên không mặc
quần này vừa.” là đã vi phạm nguyên tắc này.
Dạy tiếng Việt ở tiểu học là hướng đến mục tiêu rèn luyện cho HS nănglực giao tiếp bằng ngôn ngữ Vì vậy, không thể không lựa chọn những vấn đềcần yếu của lí thuyết lịch sự vận dụng vào quá trình xây dựng bài tập, xây dựngtình huống rèn luyện kĩ năng nói và viết cho HS
Tóm lại, những kết quả nghiên cứu về câu phân loại theo mục đích nóinói chung, câu kể trong ngôn ngữ học truyền thống và với những nhìn nhậnmới của ngôn ngữ học hiện đại, mà chúng ta phân tích ở trên, là cơ sở khoa họcvững chắc, là xuất phát điểm để hướng tới việc thực hiện tốt mục tiêu dạy cho
HS một công cụ giao tiếp để học tập và tư duy
1.3 Hoạt động giao tiếp và quan điểm giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt ở tiểu học
1.3.1 Hoạt động giao tiếp
1.3.1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một hoạt động quan trọng để phát triển xã hội loài người Cónhiều phương tiện giao tiếp, trong đó ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất,
Trang 16Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin) và kí
mã (phát thông tin); trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể thực hiện bằng haihình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết)
Theo quan điểm giao tiếp, mục đích của việc dạy bất kì ngôn ngữ nàocũng phải hình thành và phát triển cho người học cả bốn kĩ năng: nghe, nói,đọc, viết
Trước hết, căn cứ vào hai cực đối lập của sự giao tiếp (phát thông tin nơi thu nhận thông tin), sẽ có hai hoạt động cơ bản là phát và nhận Theo kiểuloại ngôn ngữ (ngôn ngữ nói - ngôn ngữ viết) làm phương tiện giao tiếp thì cáchoạt động phát và nhận lại được phân làm hai, là viết và đọc Như vậy, là cóbốn loại hoạt động cơ bản: đọc, nghe, nói, viết Ở phương diện cách thức hoạtđộng, nói và viết đi theo lộ trình từ ý đến lời, tạo nên lời để phát ra; nghe vàđọc đi theo lộ trình từ lời đến ý Đứng ở góc độ hoạt động của người sử dụngngôn ngữ, nói và viết là hoạt động chủ động hay là kĩ năng sản sinh, trong đó
Có thể hình dung theo sơ đồ sau:
nói
đọcviết
ngheNgôn ngữ nói
Ngôn ngữ viết
Tiếp nhậnSản sinh
Trang 17
Dạy học tiếng phải chú ý phát triển cả bốn kĩ năng này cho người học để
họ có thể tham gia chủ động và tích cực vào tất cả các hoạt động giao tiếp Rèncho HS nói và viết là rèn cho HS cách sản sinh lời nói Rèn cho HS nghe vàđọc là rèn cho HS tiếp nhận để hiểu người khác
Muốn tham gia vào hoạt động giao tiếp, HS vừa phải biết tiếp nhận, vừaphải biết sản sinh ra văn bản (bao gồm cả nói và viết) Nhưng các kĩ năng đóphải có sự biến đổi, chuyển hóa về chất tức là tạo ra và làm giàu năng lực sửdụng lời nói của cá nhân vì dạy giao tiếp chính là dạy lời nói Theo hướng này,người học sẽ ít quan tâm đến các quy tắc ngôn ngữ, mà quan tâm đến việc tạo
ra câu nói, lời nói cụ thể Lời nói thì vô cùng phong phú, sinh động, vô hạn,biến đổi trong các hoàn cảnh sử dụng (giao tiếp) khác nhau
1.3.2 Cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt
Xét về mặt chức năng xã hội, "ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọngnhất của loài người" (V.I Lê - nin), là điều kiện tồn tại của xã hội Quá trìnhgiao tiếp chính là quá trình tiếp xúc giữa con người và con người nhằm mụcđích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo nghềnghiệp Phương tiện đạt hiệu quả cao nhất và đặc trưng cho loài người đó làngôn ngữ Con người dùng ngôn ngữ để tổ chức toàn bộ cuộc sống của họtrong xã hội, thông qua ngôn ngữ con người xác lập và điều chỉnh những mốiquan hệ tương tác nhiều mặt làm nên sự hài hoà và sự chuyển biến của cộngđồng dân tộc Vì thế trong mấy năm gần đây, ngôn ngữ luôn luôn đặt ra trongquan hệ với hoàn cảnh giao tiếp và người giao tiếp khi nghiên cứu Bên cạnh
đó, việc dạy ngôn ngữ trong nhà trường cũng được nhìn nhận theo một quanđiểm mới: Dạy tiếng là dạy một công cụ giao tiếp Mục tiêu chính của môn họctiếng mẹ đẻ trong nhà trường là rèn luyện cho HS các kĩ năng hoạt động lờinói: đọc, nghe, nói, viết, nhằm tạo ra cho HS khả năng đạt hiệu quả cao trong
Trang 18học tập và giao tiếp ở nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Quan điểm nàykhông chỉ được đề cao trong nước mà cả trên thế giới.
Ví dụ như chương trình dạy học của Ma lay si a đã xem tiếng Ma lay - si - a có vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội kiến thức, giao tiếp và thốngnhất đất nước “Sự thành thạo ngôn ngữ được coi trọng ở tiểu học Khi họcxong tiểu học, HS biết sử dụng ngôn ngữ phù hợp với trình độ phát triển củamình”
-Chương trình giáo dục của Thái Lan lại quy định tiếng Thái là quốc ngữ,việc dạy tiếng Thái phải nhằm trau dồi cho HS kĩ năng nghe, đọc, nói, viết vàkhả năng dùng ngôn ngữ để thông báo ý định, bày tỏ tình cảm một cách có hiệuquả cao, có ấn tượng sâu sắc, đúng mực, sáng tạo và thích hợp
Đặc biệt chương trình tiếng Pháp quy định: “Việc nắm vững tiếng Phápquyết định thành quả học tập ở trường tiểu học Một mặt, nó là khởi điểm chomọi môn học, mặt khác, nó hình thành tư duy rõ ràng, có tổ chức và chủ động,
nó tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống xã hội Chính vì vậy, nó là công cụđầu tiên mà tự do” Việc nắm vững tiếng Pháp trở thành tiêu chuẩn quan trọngđánh giá kết quả đào tạo ở bậc tiểu học Tiếng Pháp với tư cách là một môn họcmang tính lưỡng phân: một mặt nó cung cấp cho HS phương tiện để tư duy có
tổ chức, chủ động, sáng tạo, phương tiện để giao tiếp Mặt khác nó là đối tượng
để HS chiếm lĩnh quá trình học tập và rèn luyện, điều này có nghĩa là: tiếngPháp mang đến cho HS Pháp chìa khoá mở mang cánh cửa bước vào lâu đài trithức văn hoá của nhân loại Nó còn là điều kiện, phương tiện phát triển mọinăng lực cá nhân và sự tự do giao lưu trong cộng đồng
Còn ở Việt Nam, quan điểm này cũng đã được các nhà ngôn ngữ học vàcác nhà giáo dục quan tâm, đánh giá cao và đi vào nghiên cứu
1.3.3 Nội dung của quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt
1.3.3.1 Quan điểm này chi phối việc xác định mục tiêu giáo dưỡng củamôn Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học Mục tiêu của việc dạy tiếng Việt ở tiểuhọc là dạy cho HS sử dụng tiếng Việt để giao tiếp và học tập Những nhà lí
Trang 19luận dạy tiếng theo quan điểm này phân biệt cao độ mục đích cung cấp tri thức
về tiếng Việt và mục đích hình thành các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho HS.
Đối với HS tiểu học, mục tiêu cơ bản của việc học tiếng Việt là rèn luyện các kĩnăng đọc, nghe, nói, viết Việc cung cấp cho HS các tri thức về tiếng Việt chỉđóng vai trò hỗ trợ cho việc hình thành kĩ năng Các kiến thức này giúp cho HS
ý thức hoá quá trình hình thành các kĩ năng giao tiếp của mình, tức là giúp HS
lí giải tại sao mình lại đọc như thế, viết như thế Chính vì thế, các kiến thức về
tiếng Việt sẽ biến các kĩ năng giao tiếp của HS thành năng lực giao tiếp, cái mà
xã hội hiện đại đòi hỏi ở HS
Việc phát triển bốn kĩ năng lời nói làm cơ sở để phát triển tư duy cho HS
và giúp HS sử dụng tốt tiếng Việt trong giao tiếp là làm cho việc dạy tiếng Việthoà nhập chung với xu hướng của việc dạy tiếng trên thế giới, là hướng vàoviệc chuẩn bị cho con người Việt Nam của thế kỷ XXI, thích ứng với đời sống
xã hội ngày càng hiện đại
1.3.3.2 Để đạt được mục tiêu trên, việc lựa chọn nội dung dạy học làmột việc quan trọng Quan điểm giao tiếp lựa chọn cách làm là xuất phát từ hệthống kĩ năng để lựa chọn kiến thức Trục cơ bản của chương trình là bốn kĩnăng đọc, nghe, nói, viết Các kiến thức lí thuyết được lựa chọn nhằm phục vụcho việc hình thành và phát triển các kĩ năng đó của HS
Theo quan điểm này, kiến thức về tiếng Việt cung cấp cho HS nên ởdạng sơ giản nhưng cần phải đảm bảo tính hiện đại Các khái niệm lí thuyết cầnđược biến thành các quy tắc chỉ dẫn HS hành động Có như vậy quá trìnhchuyển hoá từ kiến thức thành kĩ năng hoạt động lời nói của HS mới diễn ra dễdàng; quá trình hình thành kĩ năng và tiếp thu kiến thức mới đi đôi với nhau
giúp HS hình thành được năng lực giao tiếp.
Việc sắp xếp nội dung dạy tiếng cũng phải hợp lí trong suốt bậc học đểcác kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nghe, nói, viết) của HS được phát triển cânđối và hài hoà
Trang 20Việc rèn luyện kĩ năng nhất là rèn luyện theo con đường nhà trường thìphải lấy kiến thức làm nền tảng Ngoài việc rèn luyện các kĩ năng đọc, nghe,nói, viết, chúng ta còn phải truyền thụ cho HS các kiến thức về cấu trúc bêntrong của ngôn ngữ Đó là cấu trúc từ, cấu trúc câu
Điều đó có nghĩa là ngoài việc cung cấp cho HS những kĩ năng như đọc,nghe, nói, viết, chúng ta cần cung cấp cho HS cả những tri thức, hai yếu tố này
có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau
Vì thế, giờ dạy lí thuyết hay luyện tập kĩ năng cần được thực hiện theotinh thần giao tiếp: kiến thức về từ, câu, dấu câu… phải được rút ra từ sự phântích các mẫu lời nói; các bài thực hành kĩ năng cần tuân thủ yêu cầu luyện tậptheo hệ thống các thao tác của hoạt động nói năng, xây dựng hệ thống bài tậpphản ánh cơ chế sản sinh và lĩnh hội lời nói thông qua các tình huống giao tiếp
Bên cạnh đó, việc rèn các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đòihỏi các nội dung và yêu cầu luyện tập gắn với sự đa dạng, sinh động hoạt độnglời nói trong các tình huống giao tiếp khác nhau, sắp xếp các tài liệu học tậpsao cho vừa cung cấp tri thức ngôn ngữ, vừa rèn luyện cho HS những kĩ nănggiao tiếp bằng ngôn ngữ một cách hiệu quả nhất Rất nhiều lời khuyên đưa ravới GV như: người dạy cần linh hoạt tổ chức được các hình thức và hoạt độngdạy học phong phú để người học trực tiếp tham gia thực hành giao tiếp, cần tạođiều kiện cho HS có nhu cầu giao tiếp, làm cho HS muốn và thích được nói,được viết, có tâm thế hào hứng tham gia nói, viết…; làm sao để HS dễ dàngxác định nội dung, mục đích giao tiếp, biết xác định và phân tích đặc điểm củahoàn cảnh giao tiếp, đối tượng giao tiếp…
1.3.3.3 Phương pháp dạy học đã thể hiện rõ trong quan điểm: dạy trong
hoạt động giao tiếp.
Nếu như ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp thì việc dạy nó cho HS cũngphải dạy như dạy sử dụng một công cụ Để khắc phục tình trạng có sự khác biệtgiữa tiếng Việt trong nhà trường và tiếng Việt ngoài xã hội, HS thực hiện cácyêu cầu về kĩ năng tiếng Việt của nhà trường tốt nhưng khả năng sử dụng ngôn
Trang 21ngữ trong đời sống lại còn kém Theo quan điểm này là phải lựa chọn nhữngtình huống lời nói điển hình và giàu tính sư phạm để đưa vào nhà trường Các
kĩ năng đọc, nghe, nói, viết của HS phải được rèn luyện trong những tìnhhuống lời nói sinh động, gần gũi với lời nói thực trong đời sống hàng ngày củaHS
Việc dạy học tất cả các phân môn, tất cả các bộ phận nội dung củachương trình Tiếng Việt đều phải làm theo hướng này Luyện từ và câu, Tậplàm văn, Tập đọc, Chính tả là những phân môn có thể đưa vào các tình huốnglời nói chân thực nhất để rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho HS Các kiểu loại lờinói gắn với các nghi thức lời nói điển hình, các dạng văn bản gần gũi, cần thiếttrong cuộc sống và đặc biệt là đối với lứa tuổi HS đều được luyện tập trong cácphân môn này Còn Học vần, Tập viết là những phân môn đóng vai trò rènluyện các kĩ năng đọc, viết sơ giản và kĩ thuật viết chữ đẹp cho HS
Để đạt được mục đích là rèn luyện kĩ năng giao tiếp, phương pháp dạyhọc cơ bản là tổ chức các hoạt động giao tiếp Quá trình học tiếng Việt của HS
là quá trình tham gia các hoạt động lời nói, qua đó, tự rút kinh nghiệm và hìnhthành cho mình các kĩ năng giao tiếp cần thiết trong học tập và đời sống
Các nhà nghiên cứu cho rằng tổ chức giờ học theo phương pháp giao tiếpcần đảm bảo các yêu cầu sau: [39]
- Sắp xếp các tài liệu, nội dung bài học phải theo định hướng của hoạtđộng giao tiếp
- Tạo ra các tình huống giao tiếp và sử dụng các tình huống đó trong dạyhọc
- Nâng cao tính thực hành trong việc dạy học tiếng Việt
- Khi dạy ngôn ngữ, cần đặt các đơn vị bậc thấp trong lòng các đơn vịbậc cao
Kiến thức về ngôn ngữ học của HS cũng được hình thành theo conđường này Kiến thức lí thuyết sẽ được tích hợp trong hệ thống bài tập tìnhhuống lời nói mà HS giải quyết để hình thành kĩ năng
Trang 22Vì vậy, muốn phương pháp dạy tiếng này thực hiện thành công thì yêucầu đầu tiên là phải có các hệ thống bài tập phong phú, đa dạng, được xây dựng
từ những tình huống lời nói sinh động, chân thực, đáp ứng được các yêu cầu vềkiến thức và kĩ năng của chương trình Khi các kĩ năng giao tiếp cơ bản của HS
đã hình thành thì cần cung cấp thêm các tri thức cần thiết về lí thuyết, các quytắc hướng dẫn hoạt động lời nói Mục đích của việc làm này là ý thức hóa quátrình giao tiếp của HS, giúp HS lí giải được cơ sở của các hoạt động giao tiếp,
biến các kĩ năng giao tiếp thành năng lực giao tiếp.
1.3.3.4 Hình thức dạy học cũng thể hiện rõ trong quan điểm: dạy trong
hoạt động giao tiếp.
Phương hướng tốt nhất để dạy các đơn vị ngôn ngữ trong hệ thống hànhchức là tìm mọi cách hướng HS vào hoạt động nói năng Muốn thực hiện đượcđiều này cần tạo các tình huống giao tiếp khác nhau để kích thích các động cơgiao tiếp cho HS Vì thế, việc dạy học tiếng Việt có thể diễn ra ở mọi lúc, mọinơi trong lớp học, trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội và trên tất cả các hoạtđộng giao tiếp ngôn ngữ, giờ học chính khóa, hoạt động ngoại khóa… Bởi môitrường và sinh hoạt là hình thức dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp hiệuquả nhất
Vì vậy, để thể hiện quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt cần kếthợp các hình thức dạy học: trò chơi học tập, hoạt động nhóm, phương tiện dạyhọc…
Theo quan điểm dạy học này, vấn đề các kiểu câu chia theo mục đích nóinói chung và câu kể nói riêng là một vấn đề đóng vai trò quan trọng trongchương trình dạy tiếng Việt ở tiểu học Bởi nghiên cứu câu về mục đích nói làcách nhìn về câu, về đơn vị giao tiếp cơ bản trong hoạt động giao tiếp, trongtình huống sử dụng Vì vậy, dạy về câu chia theo mục đích nói nói chung vàdạy về câu kể nói riêng là dạy cho HS sử dụng câu vào hoạt động lời nói cụ thể,gắn với các tình huống giao tiếp chân thực Nếu chỉ dạy cho HS về cấu tạo của
Trang 23câu thì việc chuyển hoá từ các hiểu biết về câu của HS sang sử dụng là rất khókhăn
Qua việc học các kiểu câu kể này, HS sẽ biết cách sử dụng các kiểu câutrong đời sống giao tiếp như thế nào, tình huống lời nói phù hợp với các kiểucâu ra sao Ngoài ra, HS còn có thể hiểu được giá trị sử dụng tinh tế của câu,giá trị ý nghĩa hàm ẩn đằng sau mỗi kiểu câu và quy tắc để có được điều đó.Dạy câu chia theo mục đích nói nói chung và dạy câu kể ở lớp 4 nói riêng làdạy HS giao tiếp đúng đắn, chính xác và tế nhị
1.4 Đặc điểm tâm lí của HS lớp 4 với việc học câu kể
Bậc tiểu học là bậc học nền tảng, đặt nền móng cho việc hình thành nhâncách của HS Bậc tiểu học là bậc học theo phương thức riêng mà nội dung,phương pháp và tổ chức của nó tác động đặc biệt đến sự phát triển tâm lí, việchình thành nhân cách HS Dạy tiếng Việt nói chung, dạy câu kể tiếng Việt nóiriêng, chúng ta phải chú ý đến đặc điểm tâm lí của HS để có phương pháp dạythích hợp
Nghiên cứu những vấn đề thuộc tâm lí học lứa tuổi HS tiểu học giai đoạnlớp 4 để GV có cái nhìn bao quát về: tri giác, trí nhớ, tư duy, khả năng chú ýcủa lứa tuổi này để có căn cứ lựa chọn nội dung dạy học, xác định mức độ, yêucầu, phương pháp dạy học cho phù hợp với quy trình tiến hành một giờ dạy họccâu kể; giảm thiểu giờ dạy lí thuyết, tăng cường và coi trọng dạy học câu kểtheo quan điểm giao tiếp
Trang 24đặc biệt hoạt động của HS để tri giác một đối tượng nào đó, dạy trẻ biết pháthiện những dấu hiệu thuộc tính, bản chất của sự vật và hiện tượng Khi kháiquát hoá, HS bắt đầu biết dựa vào những dấu hiệu bản chất, bên trong, nhữngdấu hiệu chung để tìm ra khái niệm, quy luật HS ở lớp 4 có khả năng phân biệtnhững dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngônngữ
1.4.2 Chú ý
HS lớp 4 chú ý có chủ định được duy trì ngay cả khi chỉ có động cơ xa(HS chú ý vào công việc khó khăn, nhưng không hứng thú vì kết quả nó chờđợi trong tương lai)
Trong lứa tuổi HS tiểu học, chú ý không chủ định được phát triển.Những gì mang tính mới mẻ, khác thường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của HS,không có sự nỗ lực của ý chí
Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì được chú ý không chủđịnh cho nên mỗi GV cần tìm cách làm cho giờ học được hấp dẫn và lí thú Tuynhiên, cần rèn luyện cho HS chú ý cả đối với sự vật, hiện tượng, công việckhông gây được chú ý trực tiếp, chưa phải là lí thú lắm
Khả năng phát triển chú ý có chủ định, bền vững, tập trung của HS lớp 4trong quá trình học tập là rất cao Bản thân quá trình học tập đòi hỏi HS phảirèn luyện thường xuyên sự chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí Sự chú ý có chủđịnh được phát triển cùng với sự phát triển động cơ học tập mang tính chất xãhội cao, cùng với sự trưởng thành ấy về ý thức trách nhiệm đối với kết quả họctập
1.4.3 Trí nhớ
Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở HS lứa tuổi lớp 4 nàytương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơntrí nhớ từ ngữ, lô - gíc HS nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng
cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những lời giải thích dài dòng.Thực nghiệm về trí nhớ của HS đã cho thấy nếu HS hiểu học ghi nhớ một tài
Trang 25liệu với việc biết trước nó là không cần trong quá trình học tập sau này; cònnhớ tài liệu khác với mục đích sẽ cần trong thời gian sắp tới thì ở trường hợpthứ hai, tài liệu sẽ được ghi nhớ nhanh hơn, lâu hơn và khi nhớ lại chính xáchơn Sở dĩ HS nhớ được một tài liệu nào đó là nhờ nguồn thông tin đến với HS
từ 5 giác quan: thị giác (nhìn), xúc giác (sờ mó), vị giác (nếm), khứu giác(ngửi), thính giác (nghe) Nguồn thông tin này xuất phát từ môi trường xungquanh nhưng HS chỉ giữ lại thông tin mà HS nghĩ là quan trọng sau này
Nhiệm vụ của GV là tập cho HS tâm thế để ghi nhớ, hướng dẫn HS thủthuật ghi nhớ tài liệu học tập, chỉ cho HS đâu là điểm chính, điểm quan trọng củabài học, tránh để HS ghi nhớ máy móc, chỉ học vẹt
1.4.4 Tư duy
HS lớp 4 có thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành độngthực tiễn đối với đối tượng đó HS ở các lớp này có khả năng phân biệt nhữngdấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Việchọc câu kể nói riêng và việc học câu tiếng Việt nói chung sẽ giúp HS biết phântích và tổng hợp
Đặc điểm tư duy của HS không có ý nghĩa tuyệt đối, mà có ý nghĩa tươngđối Trong quá trình học tập, sự phát triển của tư duy dẫn đến sự tổ chức lại mộtcách căn bản quá trình nhận thức, biến chúng tiến hành một cách có chủ định.Nhưng trí tuệ sẽ được phát triển đến mức mà cả tri giác lẫn trí nhớ không tài nàothực hiện được Ở đây, vai trò của nội dung và phương pháp dạy học đặc biệtquan trọng Nội dung dạy học và phương pháp dạy học được thay đổi tương ứngvới nhau thì trẻ em có thể có được một số đặc điểm tư duy hoàn toàn khác
Xuất phát từ những đặc điểm tâm lí trên, chương trình tiểu học thườngchia thành từng giai đoạn Mặc dù chương trình Tiếng Việt hiện hành khôngchia giai đoạn nhưng nội dung dạy học câu kể vẫn thể hiện tính giai đoạn rất rõ.Theo đó ở lớp 2, 3 việc dạy câu kể là dạy thực hành nói, viết thông qua một hệthống bài tập Lớp 4 chương trình bắt đầu cung cấp những khái niệm ngôn ngữ
cơ bản ban đầu về câu kể phù hợp với đặc điểm tâm lí và giúp HS có khả năng
Trang 26học tốt ở những bậc học sau Việc xây dựng nội dung dạy học câu kể ở lớp 4như vậy là phù hợp với từng giai đoạn phát triển tâm lí.
1.5 Tiểu kết chương 1
Từ những kết quả nghiên cứu trên đây, chúng tôi thấy rằng:
1.5.1 Nhờ sự soi sáng của lí thuyết ngữ dụng học, ngữ pháp học hiện đại
đã thu được nhiều thành tựu khoa học về các kiểu câu phân loại theo mục đíchnói, trong đó có câu kể Đây là cơ sở để xây dựng các biện pháp dạy về câu kểcho HS lớp 4 một cách khoa học, góp phần rèn luyện tốt kĩ năng sử dụng tiếngViệt cho HS
1.5.2 Những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại về hệ thống câu chiatheo mục đích nói nói chung và câu kể nói riêng có thể được ứng dụng vào dạyhọc ở tiểu học một cách hiệu quả Bởi vì hiện nay, quan điểm dạy học đangđược đề cao là dạy tiếng trong giao tiếp và để giao tiếp Câu chia theo mục đíchnói nói chung và câu kể ở lớp 4 nói riêng chính là các kiểu câu được nghiêncứu từ góc độ giao tiếp Dạy giao tiếp cho HS không thể không dạy HS sử dụngđơn vị giao tiếp cơ bản là câu
Trang 27Chương 2
Cơ sở thực tiễn 2.1 Khảo sát nội dung dạy học câu kể trong môn Tiếng Việt lớp 4
2.1.1 Mục tiêu của việc dạy học câu kể ở lớp 4
Câu kể là một bộ phận của nội dung dạy học tiếng Việt ở tiểu học nênmục tiêu của việc dạy câu kể phải thống nhất với mục tiêu của môn học TiếngViệt, hay nói khác là phải góp phần thực hiện hóa mục tiêu của môn học TiếngViệt Mục tiêu của môn học Tiếng Việt ở nhà trường tiểu học hiện nay đượcxác định như sau:
a Kĩ năng
Hình thành và phát triển bốn kĩ năng sử dụng tiếng Việt: nghe nói đọc - viết để học tiếng Việt ở các bậc cao hơn và để giao tiếp trong các môitrường hoạt động của lứa tuổi
Góp phần rèn luyện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, khái quát,
hệ thống…) và góp phần nâng cao phẩm chất tư duy, năng lực nhận thức
Trang 28c Thái độ
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, góp phần hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt
- Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
[45, tr.8]Mục tiêu giáo dưỡng - mục tiêu đặc thù của môn học Tiếng Việt ở tiểu
học nhằm hình thành và rèn luyện cho HS các kĩ năng giao tiếp (nghe, nói,
đọc, viết), bên cạnh đó, cung cấp cho HS các hiểu biết sơ giản về hệ thống tiếng Việt và tri thức sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp
Do vậy, mục tiêu của việc dạy câu kể ở lớp 4 là phải hình thành và rènluyện cho HS kĩ năng sử dụng câu - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ trong giaotiếp, đồng thời cung cấp cho HS những hiểu biết về cấu tạo câu kể và chứcnăng của các thành phần câu kể; về mục đích nói và vận dụng các quy tắc sửdụng các kiểu câu kể trong hoạt động giao tiếp
Ở lớp 4, việc hình thành các kiến thức và kĩ năng nói trên được thực hiệnchủ yếu thông qua các bài tập dạy về câu kể Mục tiêu của việc dạy học câu kểkhông chỉ hình thành cho HS kĩ năng sản sinh ra các câu kể đúng về mặt ngữpháp mà quan trọng hơn là HS phải sử dụng câu kể hay, phù hợp với từng hoàncảnh giao tiếp, phù hợp với từng tình huống, lời nói sinh động, phù hợp với vănhóa giao tiếp của người Việt Những kĩ năng này phải được hình thành trên cơ
sở tri thức về đặc điểm cấu tạo hình thức, mục đích nói và công dụng của cáckiểu câu kể, nhất là quy tắc sử dụng câu kể trong giao tiếp
2.1.2 N i dung d y h c câu k l p 4 ội dung dạy học câu kể ở lớp 4 ạy học câu kể ở lớp 4 ọc câu kể ở lớp 4 ể ở lớp 4 ở lớp 4 ớp 4
- Cuối câu kể có dấu chấm
Trang 29câu hỏi: Ai (con gì, cái gì)?.
+ Bộ phận thứ hai là vị ngữ, trả lời cho
câu hỏi: Làm gì?.
Vị ngữ trong
câu kể Ai làm
gì?
- Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì? nêu lên
hoạt động của người, con vật (hay đồ vật,cây cối được nhân hóa)
Vị ngữ có thể là:
+ Động từ
+ Động từ kèm theo một số từ ngữ phụthuộc (cụm động từ)
- Chủ ngữ thường do danh từ (hoặc cụmdanh từ) tạo thành
- Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào? chỉ đặc
điểm, tính chất hoặc trạng thái của sự vậtđược nói đến ở chủ ngữ
- Vị ngữ thường do tính từ, động từ (hoặccụm tính từ, cụm động từ) tạo thành
Trang 30- Chủ ngữ thường do danh từ (hoặc cụmdanh từ) tạo thành.
hỏi: Ai (cái gì, con gì)?.
+ Bộ phận thứ hai là vị ngữ, trả lời câu
hỏi: Là gì (là ai, là con gì)?.
- Câu kể Ai là gì? được dùng để giới thiệu
hoặc nêu nhận định về một người, mộtvật nào đó
vật được giới thiệu, nhận định ở vị ngữ
- Chủ ngữ trả lời cho câu hỏi: Ai? hoặc
Trang 312.1.3.1 Xét về mặt thời lượng, chương trình Tiếng Việt đã dành 13 tiếtdạy về vấn đề câu kể, bắt đầu từ tuần 16 học kì 1 đến tuần 28 học kì 2 của lớp
4 Điều này chứng tỏ rằng chương trình đã nhấn mạnh đến mục tiêu giao tiếp,chú trọng nhiều việc rèn luyện kĩ năng sử dụng câu kể và cung cấp các kiếnthức về câu kể trong sử dụng cho HS Những kiến thức về phân loại, nhận diệncác thành phần câu, các kiểu câu chia theo cấu tạo đã được giản lược nhiều
2.1.3.2 Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, câu kể được dạy trongphân môn Luyện từ và câu Các tiết Luyện từ và câu được xây dựng theo từngchủ điểm chung của môn Tiếng Việt, không tách thành một phần riêng Vì thế
mà nội dung không phân định thành từng chương riêng biệt, tránh những hiểulầm không đáng có
Nội dung dạy câu kể được dạy lồng ghép với các kiến thức về thànhphần cấu tạo câu và kiểu cấu trúc nội dung của câu Thông qua việc dạy về câu
kể, chương trình dạy cho HS về cấu tạo cơ bản của câu Đây là một việc làmthể hiện tính hợp lí và khoa học bởi vì câu kể là loại câu có cấu tạo ổn định,điển hình của câu tiếng Việt, những câu còn lại chỉ khác câu kể ở một số dấuhiệu hình thức nhất định
2.1.3.3 Mặc dù kiến thức về câu kể được đề cập với phạm vi không rộngsong những vấn đề nào đã được SGK đề cập tới đều được trình bày rất sâu sắc,thấu đáo Việc hình thành kiến thức về vị ngữ và chủ ngữ trong câu cũng được
tiến hành thông qua ba tiểu loại của câu kể: Câu kể Ai làm gì?, Câu kể Ai thế
nào?, Câu kể Ai là gì? Vì vậy, khái niệm vị ngữ, chủ ngữ đến với HS cũng rất
tự nhiên, dễ hiểu, không quá trừu tượng
2.1.3.4 Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, HS không chỉ được họcnhững khái niệm cơ bản về câu kể có hình thức thể hiện thống nhất với mụcđích sử dụng (hành động ngôn ngữ trực tiếp) mà HS còn được làm quen vớinhững kiểu câu có hình thức không chính danh, tức là kiểu câu có hình thứcnày nhưng lại thực hiện một mục đích, ý nghĩa khác (ta gọi đây là hành động
Trang 32gián tiếp) Cụ thể, SGK có bài “Giữ phép lịch sự khi bày tỏ yêu cầu, đề nghị”
(Tiếng Việt 4, tập 2, tr.110)
- Khi yêu cầu, đề nghị phải giữ phép lịch sự
- Muốn cho lời yêu cầu, đề nghị được lịch sự, cần có cách xưng hô cho
phù hợp và thêm vào trước hoặc sau động từ các từ làm ơn, giúp,…
- Có thể dùng câu hỏi, câu kể để nêu yêu cầu, đề nghị
Như vậy, thông qua bài học này, HS cũng được cung cấp kiến thức vềkiểu câu dùng để bày tỏ, yêu cầu, đề nghị, nhưng lại có hình thức thể hiện làcâu kể
2.1.3.5 Việc đưa nội dung dạy học kiểu câu có hình thức không chínhdanh vào chương trình là một điểm mới của chương trình SGK Tiếng Việt lớp
4, góp phần làm cho ngữ pháp nhà trường gắn bó khăng khít hơn với ngữ pháptrong đời sống, tạo điều kiện cho HS tiếp xúc với những kiểu câu có nghĩa hàm
ẩn, giúp HS nâng cao hiệu quả giao tiếp, cảm thụ được các văn bản nghệ thuậtmột cách sâu sắc
Trong thực tế, không phải lúc nào người ta cũng sử dụng câu chính danh
để thực hiện mục đích nói của mình
Ví dụ: Để yêu cầu, đề nghị thì thay vào việc dùng câu khiến ta có thể
dùng câu kể Như vậy, tính tinh tế, hiệu quả giao tiếp có khi hay hơn rất nhiều
so với dùng câu chính danh
Đồng thời, chương trình Tiếng Việt lớp 4 cũng đã chú ý hơn đến việcdạy các phương tiện biểu thị hiệu lực ở lời (phương tiện chuyên dùng biểu thịcủa hành vi) nhằm giúp HS nắm chắc hơn về dấu hiệu hình thức của từng kiểucâu
Ví dụ: Câu kể dùng để kể, tả hoặc giới thiệu về sự vật, sự việc; nói lên ý
kiến hoặc tâm tư, tình cảm của mỗi người; cuối câu có dấu chấm.
2.1.3.6 Chương trình Tiếng Việt lớp 4, vấn đề câu kể được triển khai
trên hai kiểu bài: Hình thành kiến thức mới và Luyện tập, thực hành.
Trang 33Kiểu bài Hình thành kiến thức mới gồm 10 bài, kiểu bài về Luyện tập,
thực hành chỉ có 3 bài.
Việc hình thành các tri thức lí thuyết về câu kể có vai trò đặc biệt quantrọng, nhằm giúp HS rèn luyện cách sử dụng câu kể đúng, hay, đạt hiệu quảgiao tiếp Nhờ những kiến thức lí thuyết về đặc điểm cấu tạo, dấu hiệu hìnhthức và công dụng của từng kiểu câu kể, HS sẽ lí giải được cơ sở khoa học củaviệc tạo lập những câu kể nói đúng ngữ pháp, phù hợp với mục đích sử dụng.Đặc biệt, những quy tắc sử dụng các mục đích gián tiếp của câu kể là nhữnghướng dẫn thiết thực giúp HS giao tiếp tinh tế, sâu sắc, có văn hóa
Tương ứng với 10 bài lí thuyết có 37 bài tập Mỗi bài có một bài phântích ngữ liệu, các bài tập này có ngữ liệu được phát biểu dưới dạng bài tập cóvấn đề
Ví dụ: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
Một đàn ngỗng vươn dài cổ, chúi mỏ về phía trước, định đớp bọn trẻ Hùng đút vội khẩu súng gỗ vào túi quần, chạy biến Thắng mếu máo nấp vào sau lưng Tiến Tiến không có súng, cũng chẳng có kiếm Em liền nhặt một cành xoan, xua đàn ngỗng ra xa Đàn ngỗng kêu quàng quạc, vươn cổ chạy miết.
(Theo Tiếng Việt 2, 1988)
1 Tìm các câu kể Ai làm gì? trong đoạn văn trên.
2 Xác định chủ ngữ trong mỗi câu vừa tìm.
3 Nêu ý nghĩa của chủ ngữ.
(Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì?, tập 2, tr.6)
Sau một hệ thống bài tập phân tích ngữ liệu để hình thành khái niệm vềcâu kể, SGK đưa ra một loạt bài tập thực hành nhằm củng cố khái niệm và vậndụng khái niệm vào hoạt động lời nói Có tất cả 33 bài thực hành được sắp xếp
cả trong kiểu bài lí thuyết ở mục luyện tập và cả ở bài thực hành Quá trìnhthực hiện các bài tập là quá trình tự củng cố, khắc sâu tri thức lí thuyết và tựrèn luyện kĩ năng sử dụng câu kể của HS
Trang 34Với hai mục tiêu là giúp HS củng cố lí thuyết và rèn luyện kĩ năng sử
dụng câu kể Các bài tập của kiểu bài Luyện tập thực hành và các bài tập ở mục
Luyện tập của kiểu bài Hình thành kiến thức mới có mục đích và hình thức
giống nhau Chúng bao gồm hai loại: bài tập nhận diện và bài tập vận dụng.
Bài tập nhận diện gồm 17/33 bài tập thực hành (tỉ lệ 51.5%), được xây
dựng nhằm mục đích giúp HS khắc sâu các kiến thức lí thuyết đã được hình
thành trong bài (đối với các bài tập ở mục Luyện tập) và các kiến thức lí thuyết
đã được hình thành ở các bài trước (với các bài tập ở kiểu bài Luyện tập thực
hành), chuẩn bị cho quá trình chuyển hóa kiến thức thành kĩ năng sử dụng Hay
nói cách khác, loại bài tập này có mục đích giúp HS củng cố kiến thức lí thuyếtthay cho việc đưa ra bảng hệ thống những nội dung lí thuyết như các bài ôn tập
về câu theo chương trình trước đây
Yêu cầu của bài tập nhận diện là HS dựa vào những quy tắc, những định
nghĩa lí thuyết vừa được học để nhận ra các hiện tượng ngôn ngữ đó trên cácngữ liệu mới mà bài tập đưa ra
Bài tập nhận diện về câu kể đa dạng và phong phú như nhận diện kiểucâu kể, nhận diện mục đích nói của câu kể, nhận diện các phương tiện hìnhthức biểu thị mục đích nói, nhận diện thành phần câu kể, nhận diện về tác dụngcủa câu kể, nhận diện về tính lịch sự hoặc hành vi ngôn ngữ gián tiếp của câu
kể Những nội dung này có khi tổng hợp trong cùng một bài tập
Ví dụ: Bài tập nhận diện kiểu câu kể kết hợp nhận diện thành phần câu kể:
Đọc và trả lời câu hỏi:
Rồi những người con cũng lớn lên và lần lượt lên đường Căn nhà trống vắng Những đêm không ngủ, mẹ lại nghĩ về họ Anh Khoa hồn nhiên, xởi lởi Anh Đức lầm lì, ít nói Còn anh Tịnh thì đĩnh đạc, chu đáo.
a) Tìm các câu kể Ai thế nào? có trong đoạn văn trên.
b) Xác định chủ ngữ của các câu vừa tìm được.
c) Xác định vị ngữ của các câu vừa tìm được.
Trang 35(Câu kể Ai thế nào?, tập 2, tr.23) Bài tập vận dụng gồm 16/33 bài tập thực hành (tỉ lệ 48.5%), có mục đích
giúp HS ứng dụng những kiến thức về câu kể đã được học vào hoạt động giaotiếp hàng ngày
Đây là loại bài tập có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc dạy về câu
kể Bởi vì, mục tiêu cuối cùng của việc dạy câu kể là rèn luyện kĩ năng sử dụngcâu kể trong hoạt động giao tiếp của HS
Bài tập vận dụng được bố trí sau bài tập nhận diện Bởi vì kiến thức líthuyết có được củng cố vững vàng thì mới chuyển hóa được thành kĩ năng sửdụng
Ở dạng bài tập này lại được cụ thể ra làm 2 loại là: bài tập xây dựng cấu
trúc câu kể và bài tập tình huống lời nói
Bài tập xây dựng cấu trúc câu kể gồm 3/16 bài tập vận dụng, dùng rèn
luyện kĩ năng sử dụng câu kể đúng ngữ pháp Bài tập này có thể chia thànhnhiều dạng nhỏ, dạy trong các bài thực hành về các kiểu câu kể, vị ngữ trongcâu kể và chủ ngữ trong câu kể
Ví dụ: Dạng bài tập cho sẵn thành phần câu, yêu cầu HS nối, ghép để tạothành câu:
Ghép những từ ngữ thích hợp ở cột A với cột B để tạo thành câu kể Ai là gì?:
Chim công là sứ giả của bình minh
(Vị ngữ trong câu kể Ai là gì?, tập 2, tr.61) Bài tập tình huống lời nói gồm 13/16 bài tập vận dụng, là kiểu bài tập
đặc trưng của phần câu chia theo mục đích nói nói chung và câu kể nói riêng.
Tác dụng của các bài tập tình huống lời nói này là đưa ra những tình huống để
HS đặt mình vào hoàn cảnh nói năng, sản sinh ra những câu nói phù hợp với
Trang 36yêu cầu của bài học, phù hợp với tình huống giao tiếp cụ thể, với các nhân tốgiao tiếp giả định
Bài tập tình huống lời nói không thể thiếu trong các bài luyện tập về câu
kể và là loại bài tập cần được xây dựng, sử dụng nhiều để đảm bảo việc dạyhọc tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Thực tế, bài tập tình huống trong dạy học về câu kể ở lớp 4 chưa thực sựphong phú, chưa thực sự được quan tâm đúng mức, số lượng bài tập còn ít vàchưa đảm bảo được sự phù hợp với nhiều đối tượng HS Trong khi nói đến tìnhhuống là nói đến một hoàn cảnh cụ thể nhưng mang tính giả định, tức là ví dụhoàn cảnh đó diễn ra như thật, do vậy tình huống cần phù hợp với cuộc sốngcủa HS, phù hợp với văn hóa vùng miền của HS
Cũng có thể chấp nhận việc thiết kế bài tập trong SGK không thể đápứng được các yêu cầu trên Tuy nhiên, GV cần nắm được mục tiêu của bài tậptình huống, nắm được cốt lõi của việc sử dụng dạng bài tập này để linh hoạttrong việc xây dựng thêm tình huống hay chỉnh sửa một số tình huống trongSGK nhằm đem lại hiệu quả giao tiếp tốt nhất ở HS
Bài tập tình huống lời nói trong SGK Tiếng Việt 4 về vấn đề câu kể đượcxây dựng thành bài tập cho HS tình huống, yêu cầu HS sáng tạo lời nói phù hợptình huống
- Tình huống chỉ gồm mục đích nói, hình thức nói
Ví dụ:
Em hãy đặt một vài câu kể cho mỗi tình huống sau:
(a) Kể về một việc em làm hàng ngày sau khi đi học về.
(b) Tả chiếc bút em đang dùng hàng ngày.
(c) Trình bày ý kiến của em về tình bạn.
(d) Nói lên niềm vui của em khi nhận điểm tốt.
(Câu kể, tập 1, tr.115)
Dạng bài tập này thiên về tạo lập cấu trúc nhưng vì dữ kiện có một nhân
tố là mục đích giao tiếp nên có thể để trong hệ thống bài tập tình huống
Trang 37- Tình huống gồm hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, hình thức
giao tiếp và đối tượng giao tiếp, yêu cầu HS tạo lập được câu kể mới
Như vậy, bài tập tình huống được xây dựng nhằm giúp cho HS đặt câu
kể vào trong ngữ cảnh để xác định mục đích nói của câu kể, đồng thời, yêu cầu
HS thực hành giao tiếp, rèn kĩ năng về các kiểu câu kể đã học qua các tìnhhuống Do đó, HS có điều kiện phát triển kĩ năng về câu kể và đặc biệt giúp HS
có khả năng tiếp nhận tinh tế, nhạy cảm và sản sinh những câu kể đúng, hay,làm cho ngôn ngữ của HS phong phú, sắc bén
2.1.4 Một số điểm mới về vấn đề dạy học câu kể ở lớp 4
Tóm lại, chương trình Tiếng Việt lớp 4 đã có rất nhiều điểm tiến bộ:
- Chương trình không chỉ dừng lại dạy các kiểu câu chính danh, có mụcđích nói và dấu hiệu hình thức thống nhất với nhau mà còn cho HS làm quenvới cách sử dụng các hành vi ngôn ngữ gián tiếp, kiểu câu không chính danh
Vì thế, HS được rèn luyện kiểu nói hàm ẩn, tế nhị bên cạnh các kiểu nói trựctiếp, hiển ngôn
- Chương trình nhấn mạnh mục đích sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, vìvậy, đã chú trọng các quy tắc lịch sự để nâng cao hiệu quả giao tiếp HS đượctiếp xúc với các kiến thức ngôn ngữ học hiện đại này qua các tình huống lời nóinhẹ nhàng, sinh động trong bài học Bên cạnh đó, chương trình chú ý nhiều đếncác phương tiện tình thái, phương tiện làm nên tính lịch sự, nâng cao hiệu quảgiao tiếp trong câu
- Vì chú trọng vấn đề thực hành giao tiếp nên trong quá trình dạy cáckiểu câu kể, chương trình đã đưa ra bài tập tình huống, giúp HS đặt mình vàohoàn cảnh nói năng, sản sinh ra những câu nói phù hợp với yêu cầu của bài
Trang 38học, phù hợp với tình huống giao tiếp chân thực trong cuộc sống hàng ngày.Kiểu bài tập tình huống này sẽ rút ngắn khoảng cách giữa tiếng Việt trong nhàtrường và tiếng Việt ngoài xã hội Nhờ đó, khả năng tiếp nhận ngôn ngữ của
HS sẽ nhạy cảm hơn, tinh tế hơn, HS cũng sẽ biết sản sinh các câu nói đúng,hay, phù hợp với hoàn cảnh để hiệu quả giao tiếp cao hơn
- Thông qua kiểu câu kể để dạy cấu trúc cơ bản của câu kể là cách làmhợp lí, giảm thời lượng dạy về cấu tạo câu kể
Những thay đổi của chương trình Tiếng Việt lớp 4 là cơ sở thực tiễn chonhững đề xuất ứng dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học câu kể ở lớp 4 của đềtài
2.1.5 Một số nội dung cần bàn thêm về vấn đề dạy học câu kể ở lớp 4
Bên cạnh những thành tựu (ưu điểm) nói trên, chương trình Tiếng Việt
về phần nội dung dạy học câu kể còn tồn tại một số vấn đề cần bàn cãi:
- Chương trình đã chú ý đến việc dạy HS sử dụng các kiểu câu khôngchính danh là một điểm đáng ghi nhận vì giao tiếp bằng các câu không chínhdanh thường tạo nên tính lịch sự, tế nhị, giúp cho sự diễn đạt của HS trở nên tựnhiên, dí dỏm, sắc sảo hơn Song chương trình chỉ mới dạy giá trị giao tiếp củacâu hỏi, đây là một điểm có phần phiến diện trong sự bố trí, phân bổ chươngtrình SGK Tiếng Việt 4, những kiểu câu còn lại trong đó có câu kể chưa được
đề cập đến
- Các bài dạy về chủ ngữ của các kiểu câu kể có sự trùng lặp Các kiểu
câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì? đều có chủ ngữ giống nhau, đều trả lời cho các câu hỏi Ai?, Cái gì?, Con gì?, đều do danh từ hoặc cụm danh từ đảm
nhiệm, có nội dung là nêu chủ thể thông báo của câu Sự khác nhau của cáckiểu câu này đều rơi vào vị ngữ:
+ Vị ngữ trong câu kể Ai làm gì? nêu lên hoạt động của người, con vật
(hay đồ vật, cây cối được nhân hóa) Vị ngữ có thể là: động từ hoặc động từkèm theo một số từ ngữ phụ thuộc (cụm động từ)
Trang 39+ Vị ngữ trong câu kể Ai thế nào? chỉ đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái
của sự vật được nói đến ở chủ ngữ Vị ngữ thường do tính từ, động từ (hoặccụm tính từ, cụm động từ) tạo thành
+ Vị ngữ trong câu kể Ai là gì? được nối với chủ ngữ bằng từ “là” Vị
ngữ thường do danh từ (hoặc cụm danh từ) tạo thành
Chính vì thế, việc dành 13 tiết dạy câu kể so với 21 tiết dạy các kiểu câuchia theo mục đích nói là chưa cân đối Tuy câu kể là loại câu được sử dụngrộng rãi nhất và từ câu kể có thể thêm các từ, thay đổi dấu câu để biến thànhcâu hỏi, câu cảm, câu khiến nhưng việc dành nhiều thời gian để dạy câu kể sẽlàm cho việc dạy học nội dung các kiểu câu khác bị mờ nhạt
- Dạy về các kiểu câu kể là dạy câu trong sử dụng Thế nhưng, chươngtrình dạy phần câu kể dành thời lượng cho dạy phần lí thuyết chiếm tỉ lệ quá
cao so với thực hành Kiểu bài Luyện tập thực hành chỉ chiếm tỉ lệ 3/13 bài Đó
là các bài:
+ Luyện tập về câu kể Ai làm gì?
+ Luyện tập về câu kể Ai là gì?.
+ Ôn tập về 3 kiểu câu kể Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì?.
Mặt khác, trong kiểu bài Luyện tập thực hành, các bài luyện tập lại thiên
về củng cố, nhận diện Bài tập vận dụng, loại bài tập có mục đích dạy HS sửdụng câu kể trong nói, viết có tỉ lệ chưa cao
- Mặc dù ở mục Nhận xét của kiểu bài Hình thành kiến thức mới, SGK
đã cung cấp các bài tập nhằm giúp GV và HS phân tích ngữ liệu, rút ra nhữngvấn đề cần ghi nhớ Thế nhưng, hệ thống bài tập này có nhiều bài chưa hợp lí,chưa tạo ra một sự ăn khớp giữa việc phân tích ngữ liệu, rút ra những dấu hiệukhái niệm cần thiết với việc trình bày các định nghĩa, các quy tắc của HS Vì
không thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa hai mục Nhận xét và Ghi nhớ
cho nên thao tác dẫn dắt HS nắm kiến thức lí thuyết của GV lúng túng, khôngmạch lạc
Ví dụ: Bài Câu kể Ai là gì? (Tiếng Việt 4, tập 2, tr.57)
Trang 40- Chú trọng khâu hướng dẫn HS vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vàohoạt động nói, viết, nhưng loại bài tập tình huống lời nói chưa thực sự phongphú Thực ra, muốn giúp HS ứng dụng các tri thức lí thuyết vào giao tiếp thực
tế, GV phải có một hệ thống bài tập tình huống phong phú để giúp HS thựchành luyện tập Bài tập xây dựng cấu trúc câu kể chỉ có tác dụng giúp HS nói,viết đúng ngữ pháp
2.2 Thực trạng dạy và học câu kể ở lớp 4 trong nhà trường tiểu học hiện nay
Để xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hànhkhảo sát vấn đề dạy học câu kể tiếng Việt lớp 4 ở một số trường tiểu học thuộcQuận Gò Vấp và Quận 1
2.2.1 Đối tượng khảo sát
Chuyên viên Phòng GD - ĐT phụ trách tiểu học, Hiệu trưởng, Phó Hiệutrưởng trường tiểu học (20 người), GV lớp 4 (47 người)
2.2.2 Nội dung khảo sát
- Thực trạng dạy câu kể cho HS lớp 4 theo quan điểm giao tiếp
- Chất lượng học tập và sử dụng câu kể của HS lớp 4
2.2.3 Các phương pháp điều tra, khảo sát
- Phỏng vấn các chuyên viên Phòng GD - ĐT, các Hiệu trưởng, Phó Hiệutrưởng trường tiểu học về vấn đề cần khảo sát
- Điều tra bằng An - két nhằm thu thập ý kiến của GV và HS lớp 4 về cácvấn đề cần nghiên cứu
- Dự giờ phân môn Luyện từ và câu - phần dạy câu kể của GV lớp 4.
- Quan sát hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS trên lớp, việcvui chơi, giao tiếp của HS trong giờ giải lao
2.2.4 Chọn mẫu khảo sát
Chúng tôi tiến hành chọn mẫu khảo sát theo cách ngẫu nhiên đại diệncho khu vực: các trường ở vùng ven (Quận Gò Vấp) và các trường thuộc trungtâm (Quận 1), Thành phố Hồ Chí Minh