XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP.... Tuy nhiên, thực tế trong giờ học tiếng Việt, đặc biệt trong giờ dạy lýthuyết về câu ghép
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ CƯƠNG
DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGHỆ AN, NĂM 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ CƯƠNG
DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Chuyên ngành: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Chu Thị Thủy An
NGHỆ AN, NĂM 2012 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 41 BẢNG
Bảng 1.1: Thực trạng nhận thức và việc tổ chức dạy câu ghép của GV ở lớp 5
17
Bảng 1.2: Ý kiến học sinh về khái niệm và đặc điểm của câu ghép 23
Bảng 1.3: Kết quả bài tập thực hành về câu ghép của học sinh 25
Bảng 2.1: Bảng nội dung các bài dạy câu ghép trong sách Tiếng Việt 5, tập hai 32
Bảng 3.1: Mô tả khái quát đối tượng thử nghiệm 60
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát chất lượng trước khi thử nghiệm 63
Bảng 3.3: Kết quả kiểm tra sau khi thử nghiệm 63
Bảng 3.4: Mức độ hứng thú học tập của HS 65
2 BIỂU ĐỒ Biểu đồ: Biểu đồ cột thể hiện mức độ kết quả học tập của lớp TN và ĐC 64
LỜI CẢM ƠN
Trang 5Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo, nhiều thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và gia đình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Chu Thị Thủy An, người
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo ở khoa Giáo dục và phòng Sau Đại học trường Đại học Vinh, các thầy giáo, cô giáo ở phòng Nghiên cứu khoa học trường Đại học Đồng Tháp cùng các thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học 18 – Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Châu Phú, cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và đội ngũ cán bộ quản lý, cùng đông đảo bạn đồng nghiệp
ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã cung cấp tài liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở thực tế, tổ chức thử nghiệm và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho đề tài.
Mặc dù đã rất nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong nhận được những lời chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 10 năm 2012
Trần Thị Cương
MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1.1 Câu ghép và vấn đề dạy câu ghép ở Tiểu học 5
1.1.2 Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp 6
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
1.2.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 8
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4-5 11
1.2.3 Câu ghép trong tiếng Việt 13
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 15
1.3.1 Thực trạng dạy học câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 15
1.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng 16
1.3.3 Nguyên nhân của thực trạng dạy và học câu ghép 27
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 29
2.1 CÁC NGUYÊN TẮC DẠY CÂU GHÉP THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP Ở LỚP 5 29
2.1.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 29
2.1.2 Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của học sinh 30
2.1.3 Dạy câu ghép phải đặt trong ngữ cảnh 31
2.2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG DẠY HỌC VỀ CÂU GHÉP Ở LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 31
2.2.1 Mục tiêu dạy học câu ghép theo quan điểm giao tiếp 31
2.2.2 Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay 32
2.2.3 Trên quan điểm giao tiếp, đề xuất bổ sung một số nội dung dạy học về câu ghép 35
Trang 72.3 DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP THÔNG QUA VIỆC VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC TÍCH CỰC 42
2.3.1 Các khái niệm 42
2.3.2 Vận dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ trong dạy học câu ghép 43
2.3.3 Vận dụng phương pháp luyện tập theo mẫu trong dạy học câu ghép 43
2.3.4 Vận dụng phương pháp giao tiếp trong dạy học câu ghép 44
2.3.5 Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học câu ghép 46
2.3.6 Vận dụng phương pháp trò chơi học tập trong dạy học câu ghép 49
2.4 XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 52
2.4.1 Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép cho HS lớp 5 gắn với chủ điểm và ngữ cảnh 52
2.4.2 Xây dựng hệ thống bài tập dạy câu ghép trong sự kế thừa và mở rộng vốn từ cho HS lớp 5 54
2.4.3 Xây dựng bài tập tình huống dạy câu ghép cho HS lớp 5 thông qua giờ học các tiết dạy thể loại văn miêu tả 55
2.4.4 Xây dựng bài tập giúp HS lớp 5 nhận diện và sử dụng đúng mục đích diễn đạt của câu ghép 56
Chương 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 59
3.1 MỤC ĐÍCH THỬ NGHIỆM 59
3.2 NỘI DUNG THỬ NGHIỆM 59
3.3 ĐỐI TƯỢNG THỬ NGHIỆM 60
Trang 83.4 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM 61
3.5 TỔ CHỨC THỬ NGHIỆM 62
3.6 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM 63
KẾT LUẬN CHUNG 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bước vào thế kỉ XXI, thế kỉ mở đầu một thiên niên kỉ mới, đất nướcchúng ta bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,cũng như bắt đầu đặt ra nhiều vấn đề mới như nền kinh tế tri thức, sự pháttriển của công nghệ thông tin, xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa trong kinh
tế, vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Từ nhữngthay đổi đó, nước ta cũng đã tiếp tục đổi mới giáo dục và cách làm giáo dụctheo tinh thần Đại hội VI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV (khóa 7), Nghịquyết Hội nghị Trung ương II (khóa 8) cũng như Nghị quyết Đại hội Đảng lầnthứ 9
Những thay đổi quan trọng trong kinh tế, xã hội, giáo dục đã dẫn tớinhững yêu cầu mới trong dạy tiếng nói chung, dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng Đểtiếng Việt trở thành công cụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, cho sựphát triển giáo dục, cho sự hội nhập quốc tế, việc dạy tiếng Việt phải nhằmvào cả hai chức năng của ngôn ngữ (công cụ tư duy và công cự giao tiếp);phải chú trọng vào cả bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết); phải hướng tới sựgiao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp
Chức năng giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ V.BKasevich khẳng định: “Truyền đạt thông tin là một trong những dạng và bìnhdiện giao tiếp cần yếu nhất giữa con người với con người Vì vậy, nói theoV.I.Lênin, “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của conngười” Vì thế, dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là tạo điều kiệncho học sinh tham gia vào hoạt động giao tiếp, học trong giao tiếp, bằng giaotiếp và để giao tiếp Qua đó sẽ phát triển mọi mặt kỹ năng giao tiếp của họcsinh: nghe – nói – đọc – viết,…
Trang 10Tuy nhiên, thực tế trong giờ học tiếng Việt, đặc biệt trong giờ dạy lýthuyết về câu ghép, giáo viên thường chú trọng đến hình thành khái niệm vềcâu ghép, cách nối các vế câu trong câu ghép mà chưa quan tâm đến việc dạyhọc sinh kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câubằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp Nhiều giáo viên thường chỉ chú trọngviệc truyền tải nội dung kiến thức mà chưa nắm vững mục đích dạy cho họcsinh kỹ năng để giao tiếp.
Việc học của học sinh cũng nghiên nhiều về hình thức, chủ yếu là nhậnbiết cấu tạo của câu ghép, các vế câu trong câu ghép mà không chú trọng đếnviệc sử dụng câu ghép đúng mục đích giao tiếp Điều này dẫn đến việc lựachọn nội dung, hình thức và phương pháp dạy học chưa phù hợp, hiệu quảdạy học chưa cao
Xuất phát từ những lý do vừa nêu, tôi chọn vấn đề “Dạy câu ghép cho
học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp” làm đề tài nghiên cứu.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết những khó khăn của giáoviên và học sinh trong quá trình dạy và học về câu ghép, góp phần nâng caochất lượng dạy học vấn đề về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theoquan điểm giao tiếp
3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học về câu ghép tiếng Việt cho học sinh lớp 5 trong phânmôn Luyện từ và câu theo quan điểm giao tiếp
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp dạy học và hệ thống bài tập dạy học về câu ghép tiếngViệt cho học sinh lớp 5 trong phân môn Luyện từ và câu theo quan điểm giaotiếp
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và thử nghiệm kết quả dạy học về câu ghéptiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp, qua phân môn Luyện
từ và câu, tại một số trường Tiểu học trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh AnGiang
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề tài đề xuất được cách thức vận dụng các phương pháp dạy họctích cực và xây dựng được hệ thống bài tập dạy học về câu ghép theo quanđiểm giao tiếp, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học về câu ghép cho họcsinh lớp 5
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
- Tìm hiểu thực trạng về dạy học câu ghép cho học sinh lớp 5 tại một sốtrường Tiểu học trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
- Đề xuất cách thức vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việcdạy học câu ghép theo quan điểm giao tiếp ở lớp 5
- Đề xuất cách thức xây dựng hệ thống bài tập dạy học về câu ghép chohọc sinh lớp 5 theo quan điểm giao tiếp
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóacác tài liệu có liên quan nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát, điều tra nhằm khảo sát thực trạng, xác lập cơ sởthực tiễn cho đề tài
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia nhằm tổng kết kinh nghiệm đưa racác phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học về câu ghép cho học sinh lớp 5theo quan điểm giao tiếp
Trang 12- Phương pháp thử nghiệm sư phạm nhằm chứng minh tính khả thi củacác phương pháp đã đề xuất.
6.3 Phương pháp thống kê toán học
Nhằm xử lý các số liệu thu thập được, từ đó có cơ sở rút ra những kếtluận phù hợp
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văngồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Tổ chức dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 theo quan điểm
giao tiếp
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Câu ghép và vấn đề dạy câu ghép ở Tiểu học
Câu đơn là câu do một cụm chủ ngữ - vị ngữ tạo nên Còn “câu ghép là
câu do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế câu thường có cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác” [19, tr.8].
Lịch sử ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến câu
Về định nghĩa câu, từ trước đến nay có trên 300 định nghĩa (theoA.Akhmanôva – Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học) Các nhà ngôn ngữ họctrên thế giới đã đưa ra khá nhiều định nghĩa về câu theo các khuynh hướng:ngữ pháp duy lý, ngữ pháp lôgic, ngữ pháp hình thức, ngữ pháp cấu trúc,…
Ở Việt Nam, trước Cách mạng, các giáo trình cũng như tài liệu về TiếngViệt phần lớn mô phỏng sách ngữ pháp tiếng Pháp nên việc định nghĩa về câucũng chưa có gì đổi mới Sau Cách mạng, vấn đề câu được chú trọng hơn, tuyvậy việc định nghĩa câu cũng có những điểm cần xem xét lại
Về mặt lý luận, một số công trình khoa học của các tác giả khi nghiên
cứu về câu ghép như: Ngữ pháp Tiếng Việt của Đỗ Thị Kim Liên, năm 1999,
ở chương V – Câu [8, tr.100], tác giả đề cập đến các khái niệm về câu đơn,câu ghép, việc phân loại câu ghép: câu ghép có quan hệ từ liên kết, câu ghép
không có quan hệ từ liên kết, Cơ sở ngữ pháp Tiếng Việt của tác giả Nguyễn
Kim Thản, năm 2008, ở chương II – Cách đặt câu ghép [17, tr.40], tác giả đềcập về câu ghép có phần rộng hơn ngoài định nghĩa câu ghép, tác giả còn nêucác quy tắc đặt câu ghép Tất cả các tài liệu trên cũng chỉ mới đề cập đến vấn
đề lý thuyết về câu ghép chưa nhắc đến việc dạy câu ghép như thế nào?
Về mặt dạy học, có Câu tiếng Việt và việc luyện câu cho học sinh tiểu
học của Nguyễn Quý Thành, năm 2009, trong chủ đề hai – Luyện câu cho học
Trang 14sinh tiểu học theo hướng giao tiếp [18, tr.159], tác giả nói đến các định nghĩagiao tiếp, chức năng của giao tiếp, các nhân tố giao tiếp,… tác giả cũng đãnêu lên các phương pháp luyện câu cho học sinh tiểu học theo hướng giaotiếp.
1.1.2 Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
Từ năm 1970, nhiều quốc gia trên thế giới đã xác định mục tiêu của việcdạy tiếng là dạy trẻ em sử dụng tiếng mẹ đẻ làm công cụ tư duy và giao tiếp:
“sự thành thạo ngôn ngữ”, “biết sử dụng ngôn ngữ”, “khả năng dùng ngôn
ngữ”, “làm chủ ngôn ngữ…”, “công cụ đầu tiên của tự do”, cùng nhiều cách
diễn đạt khác đã chỉ rõ mục tiêu của môn học này Từ đó, cho thấy, dạy tiếngtheo quan điểm giao tiếp là mục tiêu trọng tâm của việc dạy học Tiếng Việthiện nay
Chương trình dạy tiếng Ma-lai-xi-a cho rằng tiếng Ma-lai-xi-a có vai tròquan trọng trong việc lĩnh hội kiến thức, giao tiếp và thống nhất đất nước “Sựthành thạo ngôn ngữ làm cho học sinh học tập có hiệu quả, vì vậy, ngôn ngữđược coi trọng ở tiểu học Khi học xong tiểu học, học sinh biết sử dụng ngônngữ phù hợp với trình độ phát triển của mình”
Chương trình dạy tiếng Thái Lan quy định tiếng Thái Lan là quốc ngữ;việc dạy tiếng phải trau dồi cho học sinh kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và khảnăng dùng ngôn ngữ để thông báo ý định và bày tỏ tình cảm một cách có hiệuquả cao, có ấn tượng sâu sắc, đúng mức, sáng tạo và thích hợp
Chương trình dạy tiếng Pháp năm 1985 còn khẳng định dứt khoát: “Việcnắm vững tiếng Pháp quyết định thành quả học tập ở trường tiểu học Mộtmặt nó là sự khởi đầu của mọi môn học, mặt khác nó hình thành tư duy rõràng, có tổ chức và chủ động; nó tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống xã hộinghề nghiệp Chính vì vậy, nó là công cụ đầu tiên của tự do” Việc nắm vữngtiếng Pháp trở thành tiêu chuẩn quan trọng đánh giá kết quả đào tạo ở cấpTiểu học Chương trình dạy tiếng Pháp năm 1995 tiếp tục khẳng định “Làm
Trang 15chủ ngôn ngữ là điều kiện cho mọi thành công trong học tập và tạo cơ sở choviệc hòa nhập vào xã hội và tư duy một cách thoải mái”.
Chiếm lĩnh một công cụ sắc bén để tư duy và giao tiếp, đó là mục tiêuphấn đấu chung của chương trình dạy Tiếng mẹ đẻ ở nhiều nước
Ở trong nước, từ hơn mười năm nay, dạy tiếng Việt theo hướng giao tiếp
đã được đặt ra và được nhiều nhà phương pháp dạy học tiếng Việt quan tâmnghiên cứu cùng đông đảo GV ủng hộ Từ những năm 1994-1995, hàng loạtcác cuộc Hội thảo đánh giá chương trình Tiểu học đang được thực hiện lúc đónhư Chương trình cải cách giáo dục, Chương trình thực nghiệm của côngnghệ giáo dục,… cùng với sự xuất hiện của nhiều giáo trình phương pháp dạy
học Tiếng Việt như “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I, II”, “Dạy
ngữ pháp ở Tiểu học” của tác giả Lê Phương Nga hay “Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học I, II” của tác giả Nguyễn Quang Ninh,… Những
thàn tựu đó đã đặt cơ sở lý thuyết và tổng kết kinh nghiệm cho các hoạt độngnghiên cứu, biên soạn sách giáo khoa, đổi mới PPDH tiếng Việt
Năm 2002-2003, chương trình tiếng Việt năm 2000 được đưa vào giảngdạy ở bậc Tiểu học trên cả nước Chương trình đã khẳng định: dạy tiếng Việt
ở Tiểu học nhằm mục tiêu dạy kỹ năng tiếng Việt và rèn luyện năng lực sửdụng tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động của lứa
tuổi Song song đó, tác giả Nguyễn Trí với “Một số vấn đề dạy học tiếng Việt
theo quan điểm giao tiếp”, tác giả Lê Thị Thanh Bình và Chu Thị Hà Thanh
với “Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng Việt ở Tiểu học”, tác giả Nguyễn Thị Xuân Yến với nội dung “Bàn về hệ thống bài tập dạy học tiếng
Việt theo nguyên tắc giao tiếp”, tác giả Phan Thị Ngọc Quỳnh với “Dạy học
“Luyện câu” ở Tiểu học theo định hướng giao tiếp”… đã cụ thể hóa quan
điểm giao tiếp vào quá trình dạy học ở Tiểu học
Tóm lại, các tài liệu nêu trên đã đề cập khá nhiều đến vấn đề dạy tiếng
Việt cho học sinh theo quan điểm giao tiếp Nhưng vấn đề dạy “câu ghép
theo quan điểm giao tiếp” chưa được nghiên cứu thành đề tài chuyên sâu và
Trang 16có tính hệ thống Vì vậy, vấn đề luận văn đưa ra là một vấn đề mới, cần đượcnghiên cứu và thử nghiệm cải tiến việc tổ chức dạy và học câu ghép ở lớp 5theo quan điểm giao tiếp một cách thích hợp nhằm hình thành và rèn luyệnnăng lực giao tiếp cho học sinh ở Tiểu học.
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
1.2.1.1 Giao tiếp và hoạt động giao tiếp
a Giao tiếp
Giao tiếp là sự tiếp xúc, trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinhnghiệm,… giữa các thành viên trong cộng đồng (giữa cá nhân với cá nhân,giữa cá nhân với tập thể, giữa tập thể với tập thể)
Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản đểhình thành nhân cách trẻ Con người sử dụng nhiều phương tiện để giao tiếpnhưng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
b Hoạt động giao tiếp
Mỗi cuộc giao tiếp đều gồm hai hoạt động: hoạt động tạo lập (sản sinh)lời nói (lí thuyết thông tin gọi là hoạt động truyền tin), hoạt động tiếp nhận(lĩnh hội) lời nói (lí thuyết thông tin gọi là hoạt động nhận tin)
Mỗi hoạt động lại liên quan đến một số kỹ năng Hoạt động sản sinh lờinói sử dụng kỹ năng nói và viết, hoạt động tiếp nhận lời nói sử dụng kỹ năngnghe và đọc
1.2.1.2 Cơ sở của quan điểm
Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp quan trọng, vừa là công cụ để con
người nhận thức, tư duy Trong nhà trường, việc giáo dục ngôn ngữ là hết sứccần thiết, Tiếng Việt trở thành môn học có vị trí đặc biệt: nó không chỉ cungcấp những kiến thức và kĩ năng cơ bản về tiếng mẹ đẻ để phát triển kĩ nănggiao tiếp cho học sinh, mà còn trang bị cho các em một công cụ thiết yếu để
Trang 17học tốt các môn khoa học khác Tiếng Việt còn là phương tiện để lưu trữ vàbảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc.
Qua môn Tiếng Việt, các thế hệ thanh niên, học sinh sẽ hiểu văn hóa củangười Việt, thiên hướng tư duy của người Việt, lịch sử của Tiếng Việt trongmối quan hệ chiều sâu văn hóa… Những hiểu biết này sẽ góp phần quan trọngvào việc giáo dục nhân cách sống và những giá trị sống tốt đẹp cho học sinh
Do đó, việc dạy tiếng Việt ở nhà trường phải nhằm vào cả hai chức năng củangôn ngữ (công cụ tư duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kỹnăng (nghe, nói, đọc, viết); phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng tiếng Việttrong giao tiếp
1.2.1.3 Nội dung của quan điểm
Để thực hiện mục tiêu “hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng sửdụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết), để học tập và giao tiếp trong các môitrường hoạt động của lứa tuổi” Việc đưa ra nội dung để dạy tiếng Việt là mộtviệc hết sức quan trọng Nội dung cung cấp cho HS phải nhằm quán triệt quanđiểm giao tiếp Nhà trường không nhằm hướng đến dạy kiến thức hàn lâmkhoa học về ngôn ngữ mà có nhiệm vụ phát triển lời nói cho HS thông quacác trục chủ điểm gắn với đời sống thực tiễn sử dụng tiếng Việt để hình thành
kỹ năng cho HS Vì thế kiến thức về tiếng Việt cung cấp cho HS chỉ nên ởdạng sơ giản nhưng phải đảm bảo tính hiện đại Có như vậy, quá trình chuyểnhóa từ kiến thức đến kỹ năng sẽ dễ dàng cho HS hơn và một khi quá trìnhhình thành kỹ năng đi đôi với tiếp thu kiến thức thì năng lực giao tiếp sẽ đượchình thành
Quan điểm giao tiếp chi phối hoàn toàn phương pháp dạy học đó là dạytrong hoạt động giao tiếp Bởi ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp thì việc dạyngôn ngữ phải dạy như dạy sử dụng một công cụ Theo Nguyễn Trí, dạy tiếngViệt theo quan điểm giao tiếp thì phương pháp thực hành giao tiếp được xem
là một trong những phương pháp dạy học trọng tâm Mục đích của phươngpháp này là xây dựng nên các tình huống giao tiếp Muốn tạo được một tình
Trang 18huống giao tiếp cần có các thành tố: nhân tố giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp,hiện thực được nói đến, đích giao tiếp, ngôn ngữ giao tiếp Sau đó, dùng cáchđóng vai để thực hiện các tình huống giao tiếp Bên cạnh đó, phương phápthảo luận nhóm, phương pháp trò chơi học tập theo ông cũng là nhữngphương pháp thường được sử dụng trong dạy học tiếng Việt theo quan điểmgiao tiếp.
Để tổ chức các hoạt động giao tiếp trong dạy tiếng một cách thành công,việc lựa chọn các hình thức dạy học rất quan trọng Hình thức dạy học phảiđưa HS vào môi trường giao tiếp, HS phải sử dụng ngôn ngữ để tham gia vàohoạt động giao tiếp đó Bởi ngôn ngữ khi tách khỏi giao tiếp nó sẽ trở thành
“vật chết” Muốn thực hiện được điều này, GV cần tạo các tình huống giaotiếp khác nhau với yêu cầu phù hợp, kích thích các động cơ giao tiếp của HS.Việc dạy học tiếng Việt lúc này có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi trong lớphọc, ngoài không gian lớp học, trong sinh hoạt ở lớp hay ở nhà,… Đây lànhững hình thức dạy học theo quan điểm giao tiếp hiệu quả nhất
Do đó, để hình thành năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS, các nội dungcủa phân môn Tiếng Việt cần phải tuân theo định hướng này Đối với phânmôn Luyện từ và câu nói chung và nội dung dạy câu ghép nói riêng, GV cầnphải tạo được các tình huống giao tiếp thực sự để đưa các em vào hoạt động
từ đó hình thành kỹ năng giao tiếp Tình huống giao tiếp được tạo ra dựa trên
hệ thống bài tập Điều đó đòi hỏi cần có một hệ thống bài tập giao tiếp Hệthống bài tập này phải đa dạng, phong phú được xây dựng tư những tìnhhuống, lời nói, tranh ảnh sinh động, đáp ứng được yêu cầu kiến thức và kỹnăng của môn học Dựa vào hệ thống bài tập, GV tiến hành tổ chức hoạt độnggiao tiếp bằng hình thức tổ chức dạy học phù hợp Mục đích của việc làm này
là giúp HS ý thức hóa được quá trình giao tiếp của mình
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4-5
Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đếntuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ
Trang 19hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Đây là một bước ngoặt lớn trongđời sống của trẻ.
1.2.2.1 Đặc điểm nhận thức
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết vàmang tính không ổn định: ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hànhđộng trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻthích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác củatrẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng – tri giác có chủ định(trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập
từ dễ đến khó, )
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt độngmới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽkích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quanhành động
Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng,khái quát
Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biếtkhái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn
sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so vớitrẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dạn.Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
- Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bềnvững và dễ thay đổi
- Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từnhững hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sángtạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triểnkhả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em
Trang 20trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, nhữnghình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của cácem.
Qua đây, chúng ta phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các embằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc,đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào cáchoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trìnhnhận thức lý tính của mình một cách toàn diện
1.2.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo vàbắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữphát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh
và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảmtính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữnói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thểđánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Xuất phát từ đặc điểm nhận thức và đặc điểm ngôn ngữ của trẻ, chươngtrình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu lớp 5 nói riênglấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm định hướng cơ bản
1.2.3 Câu ghép trong tiếng Việt
1.2.3.1 Khái niệm về câu tiếng Việt
Trong lịch sử ngôn ngữ học, có khá nhiều định nghĩa về câu theo cáckhuynh hướng khác nhau: ngữ pháp duy lý, ngữ pháp lôgic, ngữ pháp tâm lý,ngữ pháp hình thức, ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp chức năng,…
Có thể dẫn ra đây một số định nghĩa về câu:
Trang 21- Từ thời cổ đại Hi Lạp, Aristote quan niệm: “Câu là một âm phức hợp
có ý nghĩa độc lập mà mỗi bộ phận riêng biệt trong đó cũng có ý nghĩa độclập” [Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, Sđd, tr.498]
- Học phái Alecxandri (thế kỉ III-II tr.CN) cho rằng: “Câu là sự tổ hợpcủa các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn” [Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứungữ pháp tiếng Việt, Sđd, tr.498]
Những định nghĩa vừa nêu có những cống hiến nhất định cho việcnghiên cứu về câu sau này:
Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám, đã có những quan niệm vềcâu tiếng Việt trên cơ sở ngữ pháp học tiếng Pháp như của Trần Trọng Kim,Bùi Kỷ,…
Từ sau Cách mạng đến nay, việc nghiên cứu về câu được chú trọng hơn
và đã có nhiều định nghĩa khác nhau về đơn vị ngữ pháp này
- Nguyễn Kim Thản chọn định nghĩa của V.V.Vinogradov: “Câu là đơn
vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các nguyêntắc của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểuthị và truyền đạt tư tưởng Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiệnthực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực” [Nghiên cứu ngữpháp tiếng Việt, Sđd, tr 500]
- Diệp Quang Ban: “Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bêntrong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đốitrọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện,truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời cũng là đơn vị thông báo nhỏnhất bằng ngôn ngữ” [Ngữ pháp tiếng Việt, tập II, Sđd, tr 107]
- Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúnghơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩahoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính độc lập” [Ngữ pháp tiếng Việt,Sđd, tr.167]
Trang 22- Cao Xuân Hạo: “Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của vănbản (Benveniste, 1961) Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao
tế Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất” [Tiếng Việt-Sơ thảongữ pháp chức năng, Sđd, tr 12]
1.2.3.2 Quan niệm và cách định nghĩa câu ghép tiếng Việt
Trong Việt ngữ học, có ít nhất là ba quan niệm khác nhau tương đối phổbiến về câu đơn, câu ghép (hoặc câu đơn, câu phức; câu đơn giản, câu phứchợp):
Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ - vị, câughép là câu chứa hai cụm chủ - vị trở lên VD:
a/ Bạn Lan đọc một đoạn văn (câu đơn)
b/ Bạn Lan tôi biết đọc một đoạn văn (câu ghép)
c/ Bạn Lan đọc một đoạn văn, các bạn khác lắng nghe (câu ghép)
d/ Hễ bạn Lan đọc một đoạn văn thì các bạn khác lắng nghe (câu ghép)Một số tác giả quan niệm câu đơn là câu cấu tạo bằng một cụm chủ - vị,câu ghép là câu được cấu tạo bằng hai hoặc nhiều cụm chủ - vị có quan hệđẳng lập với nhau (không bao chứa nhau) Theo quan niệm này thì chỉ có cáccâu c và d đã dẫn mới là câu ghép; câu b vẫn thuộc phạm trù câu đơn vì cụm
chủ - vị tôi biết chỉ là một thành tố phụ (định ngữ) trong cụm danh từ làm chủ
ghép? Nên hiểu nòng cốt câu thế nào cho đúng? Những câu như Trời ơi, đội
ta thắng rồi! hay Hoa, lá, cành là câu đơn hay câu ghép?
Định nghĩa câu ghép trong SGK Tiếng Việt 5 thể hiện quan niệm thứ 2 –một quan niệm được xây dựng trên cơ sở lý thuyết về cụm từ được trình bày
trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, năm 1983 của Viện Ngôn ngữ học và nhiều
Trang 23giáo trình đại học, nhiều sách nghiên cứu Để phù hợp với trình độ nhận thức
của HS tiểu học, sách định nghĩa: “Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại.
Mỗi vế của câu ghép thường có cấu tạo giống câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác” [19,
đề liên quan đến thực tiễn dạy học về câu ghép ở lớp 5 hiện nay Trên cơ sở
đó, chúng tôi đề xuất cách thức vận dụng một số PPDH tích cực vào dạy họccâu ghép và cách thức xây dựng hệ thống bài tập dạy học câu ghép cho HSlớp 5 theo quan điểm giao tiếp
1.3.1.2 Nội dung khảo sát
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi tiến hành các công việc sau:
- Thực trạng dạy câu ghép cho HS lớp 5 theo quan điểm giao tiếp củaGV
- Thực trạng kiến thức và kỹ năng sử dụng câu ghép trong giao tiếp củaHS
Trang 24Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng dạy và học câu ghép ở 24 trườngTiểu học trên địa bàn huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
1.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng
1.3.2.1 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên
Bảng 1.1: Thực trạng nhận thức và việc tổ chức dạy câu ghép của GV
ở lớp 5
TT Nhận thức và thực trạng dạy câu ghép
Tổng hợp Số
phiếu
Tỉ lệ (%)
1
Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là
a Tạo điều kiện cho mỗi HS phát triển tối đa theo
năng lực và sở trường của mình
b Hướng đến chức năng xã hội của ngôn ngữ, chức
năng làm công cụ giao tiếp để học tập và hoạt động
trong các môi trường của HS
c Tổ chức dạy học như tổ chức một hoạt động giao
tiếp bằng lời
d Tập trung rèn luyện và phát triển các kỹ năng:
nghe, nói, đọc, viết
e Ý kiến khác
11 52
9 8 0
18,33 86,67
15,0 13,33
0
2 Để dạy phần lý thuyết về câu ghép, thầy (cô) đã
chuẩn bị những công việc và nội dung nào sau đây:
a Sử dụng toàn bộ các bài tập, câu hỏi gợi ý trong
SGK và SGV
b Chỉ chọn một số bài tập, câu hỏi trong SGK, SGV
c Tự mình xây dựng các tình huống, bài tập khác
44
3 22
73,33 5,0 36,67
Trang 25nhau phù hợp với nội dung của bài dạy và đối tượng
HS
d Dự kiến trước các tình huống, câu trả lời của HS
e Làm phiếu học tập
g Yêu cầu HS chuẩn bị bài trước
i Nghiên cứu các tài liệu khác SGV khi soạn giáo án
k Nội dung khác
39 14 27 17 1
65,0 23,33 45,0 28,33 1,67
3
Những ngữ liệu dạy câu ghép trong SGK hiện nay:
a Phù hợp với kinh nghiệm sống, thực tiễn khi giao
tiếp của HS
b Gây được hứng thú với HS
c Chưa đa dạng
d Không gây được hứng thú với HS
e Một số ngữ liệu và lệnh bài tập còn khó hiểu, mơ
hồ, không phù hợp với trình độ của HS
19
7 16 13 30
31,67
11,67 26,67 21,67 50,0
4
Kỹ năng quan trọng cần đạt khi dạy học câu ghép:
a Kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép
b Kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc
nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích
hợp
c Kỹ năng tạo lập các kiểu câu ghép đúng mục đích
ngữ pháp
d Kỹ năng sử dụng các kiểu câu ghép đúng mục đích
giao tiếp ngoài thực tiễn
26 8
23 22
43,33 13,33
38,33 36,67
5
Phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép căn cứ
vào:
a Những dấu hiệu hình thức trong câu
b Nội dung (mục đích giao tiếp)
c Các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp tự hô ứng)
trong câu
29 13 41
48,33 21,67 68,33
Trang 26Khi dạy các bài về câu ghép, ngoài các bài tập trong
SGK, thầy (cô) có xây dựng các tình huống giao tiếp
0 51,67 43,33
7
Khi luyện tập về câu ghép, HS thường mắc phải
những lỗi nào?
a Chưa tạo lập được câu ghép đúng mục đích theo
yêu cầu bài tập
b Chưa xác định đúng các vế câu trong câu ghép
c Chưa xác định đúng quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp
từ hô ứng) trong câu
d Các lỗi khác
30
32 7 0
50,0
53,33 11,67 0
8
Những khó khăn khi dạy câu ghép?
a Kỹ năng giao tiếp của HS
b Nhận thức của HS còn hạn chế
c Các khó khăn khác
35 40 0
58,33 66,67 0
Qua phân tích, thống kế số liệu khảo sát về nhận thức và thực trạng dạycâu ghép của giáo viên lớp 5, chúng tôi nhận thấy:
Đa số GV (86,67%) được khảo sát đều nắm vững mục tiêu dạy họcTiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là hướng đến chức năng xã hội của ngônngữ, chức năng làm công cụ giao tiếp để học tập và hoạt động trong các môitrường của HS Bên cạnh đó, một tỉ lệ tương đối (18,33%) GV cho rằng: dạyhọc Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là tạo điều kiện cho mỗi HS pháttriển tối đa theo năng lực và sở trường của mình và 15,0% GV nghĩ rằng: dạyhọc Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là tổ chức dạy học như tổ chức mộthoạt động giao tiếp bằng lời Tuy nhiên, 13,33% GV cho rằng: tập trung rèn
Trang 27luyện và phát triển các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết là đã dạy học Tiếng Việttheo quan điểm giao tiếp.
Để dạy phần lý thuyết về câu ghép, 73,33% GV được khảo sát cho biết
đã sử dụng toàn bộ các bài tập, câu hỏi gợi ý trong SGK và SGV, và chỉ có36,67% GV tự mình xây dựng các tình huống, bài tập khác nhau phù hợp vớinội dung của bài dạy và đối tượng HS Phần đông GV (45,0%) yêu cầu HSchuẩn bị bài trước ở nhà
Phần lớn GV (65,0%) dự kiến trước các câu trả lời của HS, nhưng phần
dự kiến chủ yếu theo SGV, chưa sinh động như thực tế giao tiếp của HS nêngặp khó khăn khi các em trả lời hoặc trả lời không đúng dự kiến của mình.Qua trao đổi trực tiếp với GV cho thấy, chỉ có 28,33% GV nghiên cứucác tài liệu khác ngoài SGV khi chuẩn bị giáo án do phải dạy nhiều mônkhông đủ thời gian nghiên cứu sâu từng bài
Cũng do mất quá nhiều thời gian, tốn kinh phí nên chỉ có 23,33% GVlàm phiếu học tập khi chuẩn bị cho bài dạy lý thuyết về câu ghép Ngoài cácbài tập trong SGK, chỉ có 51,67% GV thình thoảng mới xây dựng các tìnhhuống giao tiếp cho HS thực hành và 43,33% GV thường xuyên xây dựng cáctình huống giao tiếp cho HS thực hành dẫn đến cách dạy của một số GV cònđơn điệu, lệ thuộc vào SGK, chưa lôi cuốn HS
Khi được hỏi về những ngữ liệu dạy câu ghép trong SGK hiện nay,31,67% GV cho rằng là phù hợp với kinh nghiệm sống, thực tiễn khi giao tiếpcủa HS và 21,67% GV nhận xét ngữ liệu dạy câu ghép không gây được hứngthú với HS Song đó, 50,0% GV nhận định một số ngữ liệu và lệnh bài tậpcòn mơ hồ, không phù hợp với trình độ của HS và chỉ có 11,67% GV chorằng bài tập ở SGK gây được hứng thú với HS
Về kỹ năng quan trọng cần đạt khi dạy học câu ghép, 43,33% GV nhậnđịnh là kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép và kỹ năng tạo lập các kiểu câughép đúng ngữ pháp là 38,33% Còn kỹ năng sử dụng các kiểu câu ghép đúngmục đích giao tiếp ngoài thực tiễn là 36,67% Trong khi đó, chỉ có 13,33%
Trang 28GV cho rằng: kỹ năng quan trọng cần đạt khi dạy học câu ghép là kỹ năng thểhiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngônngữ thích hợp Điều này cho thấy, đa số GV chưa nắm vững mục tiêu dạy học
về câu ghép của SGK
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, 48,33% GV cho biết HS phân biệt mụcđích diễn đạt của câu ghép căn cứ vào những dấu hiệu hình thức trong câu và68,33% GV cho rằng HS phân biệt dựa vào các quan hệ từ (cặp quan hệ từ,cặp từ hô ứng) trong câu, chỉ có 21,67% GV nhận định HS dựa vào nội dung(mục đích giao tiếp) để phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép
Về những lỗi HS thường mắc phải khi luyện tập câu ghép, một tỉ lệ khálớn (53,33%) GV cho rằng HS chưa xác định đúng các vế câu trong câu ghép
và 50,0% GV nhận xét HS chưa tạo lập được câu ghép đúng mục đích theoyêu cầu bài tập
Qua trao đổi về những khó khăn khi dạy câu ghép, 58,33% GV nhậnđịnh do kỹ năng giao tiếp của HS chưa tốt và 66,67% GV cho rằng do nhậnthức của HS còn hạn chế
1.3.2.2 Kết quả khảo sát giờ dạy của giáo viên
Sau khi thăm dò ý kiến GV về việc dạy học câu ghép, chúng tôi tiếnhành khảo sát một số giờ dạy của một vài GV lớp 5A, 5B, 5C của trường Tiểuhọc “A” Mỹ Đức, xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy, các GV hầu hết chỉ quan tâm đến việctruyền đạt hết các kiến thức trong sách Tiếng Việt 5 về câu ghép trong từngtiết dạy Hầu hết các ngữ liệu đều được sử dụng trong SGK, chưa có sự tìmhiểu ngoài SGK
Trong giờ dạy, nhìn chung GV sử dụng nhiều các phương pháp truyềnthống như thuyết trình, hỏi – đáp,… là chủ yếu, thỉnh thoảng xen vào phươngpháp thảo luận nhóm nhưng cách thảo luận của HS chưa sôi nổi, chủ yếu làthảo luận hình thức Các phương pháp dạy học tích cực như phương pháp
Trang 29đóng vai, nêu vấn đề,… ít được sử dụng Do vậy, tiết học còn khô khan, HShọc một cách thụ động, tính tích cực của HS chưa được phát huy.
Bên cạnh đó, do lượng kiến thức phải truyền đạt quá nhiều, GV dạy mộtcách gấp ráp, vội vã, chưa mạch lạc, bỏ qua sự thực hành của HS, HS học nhưchạy, không có thời gian suy nghĩ, phát biểu ý kiến
VD: Khi dạy bài Câu ghép, ở phần Luyện tập bài tập 3 “Thêm một vếcâu vào chỗ trống để tạo thành câu ghép” Ở bài tập dạng này, GV có thể cho
HS thực hành ở dạng nói hoặc viết đều được nhưng các GV chỉ hướng dẫn
HS sơ lược, chủ yếu sử dụng phương pháp hỏi – đáp, sau đó yêu cầu HS thựchành ở dạng viết và chỉ có một HS trình bày một câu gây sự nhàm chán cho
HS, không tạo nhiều cơ hội để các em thảo luận, trao đổi nâng cao kỹ nănggiao tiếp của mình
Hơn nữa, các bài dạy về câu ghép trong SGK có lượng kiến thức cầntruyền tải quá nhiều nên sau khi hình thành kiến thức phần Ghi nhớ cho HS,
GV chủ yếu xoay quanh và mất nhiều thời gian cho dạng bài tập nhận diện(thường là bài tập 1) nên khi đến bài tập xây dựng – tổng hợp (bài tập vậndụng) các GV thường dạy một cách mờ nhạt, chưa chú tâm rèn kỹ năng giaotiếp cho HS
1.3.2.3 Thực trạng kiến thức về câu ghép và kỹ năng sử dụng câu ghép trong giao tiếp của học sinh lớp 5
Sau khi tìm hiểu thực trạng dạy học câu ghép của GV, để đánh giá nhữngkiến thức lĩnh hội được sau khi học về câu ghép của HS lớp 5, chúng tôi cũngtiến hành khảo sát HS về việc vận dụng kiến thức câu ghép thông qua vở bàitập, các bài kiểm tra Tập làm văn
Bảng 1.2: Ý kiến học sinh về khái niệm và đặc điểm của câu ghép
Số phiếu Tỉ lệ (%)
1 Câu ghép là câu?
Trang 30b Do nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế câu thường có
cấu tạo giống một câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ)
và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của
những vế câu khác
2
Câu ghép biểu thị những quan hệ gì trong câu?
a Quan hệ nguyên nhân – kết quả
b Quan hệ điều kiện (giả thiết) – kết quả
c Quan hệ tương phản
d Quan hệ tăng tiến
e Tất cả các ý trên
40 0 0 0 760
5 0 0 0 95
3
Khi nối các vế câu trong câu ghép, em dùng cách
nào sau đây:
a Nối bằng những từ có tác dụng nối
b Nối trực tiếp (dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy
hoặc dấu hai chấm)
c Cả 2 ý trên
40 20 740
5 2,5 92,5
4
Để nhận ra một câu có phải là câu ghép không,
em căn cứ vào:
a Số cụm chủ ngữ, vị ngữ trong câu
b Nội dung của câu
c Các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng)
xuất hiện trong câu
200 120 480
25 15 60
Thời điểm chúng tôi tiến hành khảo sát là thời điểm các em vừa họcxong phần câu ghép trong sách Tiếng Việt 5, tập hai Kết quả khảo sát cho
thấy rằng, về mặt kiến thức, 97% HS nắm được ghi nhớ “Câu ghép là câu do
nhiều vế câu ghép lại Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạo giống một câu đơn (cỏ đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý của những vế câu khác.”
Trang 31Khi được hỏi, câu ghép biểu thị những quan hệ gì trong giao tiếp thì 95%
HS đều xác định câu ghép biểu thị tất cả các quan hệ nguyên nhân – kết quả,điều kiện (giả thiết) – kết quả, quan hệ tương phản và quan hệ tăng tiến Bêncạnh đó, cũng có một số ít HS (5%) chọn câu ghép chỉ biểu thị quan hệnguyên nhân – kết quả
Về việc nối các vế câu trong câu ghép, 92,5% HS đều chọn có hai cáchnối các vế câu trong câu ghép, đó là nối bằng những từ có tác dụng nối và nốitrực tiếp (dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm) Chỉ có 5% HSchọn cách nối bằng những từ có tác dụng nối và 2,5% HS chọn cách nối trựctiếp (dùng dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc hai chấm) để nối các vế câu trongcâu ghép
Tất cả các điều nêu trên cho thấy, HS nắm rất vững các vấn đề lý thuyết
về câu ghép trong sách Tiếng Việt 5, tập hai Tuy nhiên khi vận dụng vàoluyện tập thực hành để nhận ra một câu có phải là câu ghép thì đa số HS(60%) lại căn cứ vào các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng) trong câu
và một tỉ lệ không nhỏ 15% HS căn cứ vào nội dung của câu để xác định đó làcâu ghép Trong khi đó chỉ có 25% HS căn cứ vào số cụm chủ ngữ, vị ngữtrong câu để xác định câu ghép Kết quả này cho thấy HS còn khá lúng túng,chưa nắm vững bài học
Bên cạnh việc khảo sát kiến thức lý thuyết của học sinh về câu ghép,chúng tôi cũng yêu cầu các em làm một số bài tập thực hành về câu ghép Kếtquả khảo sát như sau:
Bảng 1.3: Kết quả bài tập thực hành về câu ghép của học sinh
Tổng hợp
Đạtyêu cầu
Chưa đạt yêu cầu
5 Gạch một gạch dưới các vế câu, khoanh tròn vào
các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng)
trong các câu ghép dưới đây:
Trang 32a Cò bảo mãi nhưng Vạc chẳng nghe.
b Cô Tấm không chỉ đẹp người mà cô còn tốt nết
45%
62,5%
70%
22,5% 37,5% 55% 37,5% 30%
b Mẹ chẳng những đẹp mà mẹ còn nấu ăn rất giỏi
c Nam học không giỏi nhưng bạn ấy rất hống
7
Em hãy đặt câu ghép trong các tình huống sau:
a Nói về một bạn học sinh nghèo, học giỏi
b Nói về việc em đến lớp trễ
c Nói về ước mơ của em
d Nói về những nét tốt của một người bạn của em
Bảng tổng hợp cho thấy, đối với các bài tập kiểu xác định các vế câughép, các quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng) trong câu ghép, HS tiếnhành thực hiện một cách nhẹ nhành, thành thạo Tuy nhiên đối với bài tập xácđịnh cặp từ hô ứng trong câu (câu 5c) chỉ có 45% HS thực hiện đạt yêu cầu.Điều này cho thấy HS nắm chưa vững kiến thức về các cặp từ hô ứng trongcâu ghép
Đối với bài tập xác định quan hệ biểu thị trong câu ghép, đa số HS xácđịnh đúng những câu biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả, quan hệ tăng
Trang 33tiến, quan hệ tương phản Tuy nhiên vẫn còn 55% HS thực hiện chưa đạt yêucầu đối với câu 6d biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả Điều này cho thấy HSchưa hiểu rõ nội dung trong câu nên xác định sai quan hệ mà câu biểu thị.Khi thực hiện bài tập đặt câu ghép theo các tình huống cho trước, HSgặp lúng túng khi không xác định được đúng quan hệ từ (cặp quan hệ từ, cặp
từ hô ứng) cần sử dụng hoặc chưa biết cách thể hiện mối quan hệ giữa những
sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp Khi viết câu
HS thường mắc những lỗi sau:
- Đặt câu ghép thiếu vị ngữ trong câu
VD: Có em đặt câu: Tuy bạn Lan nhưng bạn học rất giỏi.
- Đặt câu không đúng nghĩa, sử dụng sai cặp quan hệ từ
VD: Rất nhiều em đặt câu như thế này:
Chẳng những nhà bạn Thảo nghèo mà bạn Thảo còn học rất giỏi.
Tuy bạn Nhi rất tốt bụng nhưng bạn Nhi còn giúp đỡ bạn bè.
Không chỉ bạn Hưng nghèo mà còn học giỏi.
Tuy trời mưa nên em đến lớp trễ.
- Đặt câu không làm bộc lộ được ý định mà tình huống nêu ra
VD: Đặt câu ghép với tình huống: “Nói về một bạn học sinh nghèo, học
giỏi” Khi đặt câu ghép cho tình huống này phải sử dụng quan hệ từ (cặp
quan hệ từ) chỉ quan hệ tương phản để làm nổi bật sự cố gắng của một bạnhọc sinh thì một số HS lại sử dụng cặp quan hệ từ biểu thị quan hệ giả thuyết
– kết quả Chẳng hạn: Nếu nhà bạn Tuấn nghèo thì bạn Tuấn học rất giỏi Hoặc đối với tình huống: Đặt câu ghép “nói về những nét tốt của bạn
em” Khi đặt câu ghép cho tình huống này cần sử dụng cặp quan hệ từ chỉ
quan hệ tăng tiến thì một số em lại sử dụng cặp quan hệ từ chỉ quan hệ tương
phản Chẳng hạn: Tuy bạn Dung chăm chỉ nhưng bạn Dung còn tốt bụng.
- Đặt câu ghép không đúng quy tắc, sử dụng cả hai cách nối các vế câughép
Ví dụ: Tuy bạn Nhung nhà nghèo, nhưng bạn học rất giỏi.
Trang 341.3.3 Nguyên nhân của thực trạng dạy và học câu ghép
Nguyên nhân chính của những khó khăn và hạn chế của GV khi dạy câughép ở tiểu học là do GV chưa nắm vững mục tiêu dạy học câu ghép cho HStiểu học là: dạy kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vếcâu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp nên khi lên lớp các GV chủ yếulàm thế nào để truyền tải hết nội dung trong SGK Bên cạnh đó, các GV hiểumục tiêu dạy câu ghép là dạy kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép nên hầu hết
GV chỉ quan tâm dạy các bài tập nhận diện như: “Tìm câu ghép trong đoạn
văn Xác định các vế câu trong từng câu ghép” mà bỏ qua các bài tập xây
dựng – tổng hợp nên chưa hình thành cho HS kỹ năng giao tiếp tốt
Trong quá trình dạy học, GV chỉ chú trọng hình thành 2 kỹ năng đọc vàviết mà chưa tập trung nhiều đến 2 kỹ năng nghe và nói Do đó, nhiều em cònlúng túng khi thực hiện hoạt động nói năng Các em chưa biết sử dụng quan
hệ từ một cách đúng nghĩa Ví dụ: Tuy ba em đã cố gắng vẽ bức tranh nhưng
bức tranh rất đẹp.
Thực tế, nhiều HS khi hỏi đến lý thuyết thì trả lời rất trôi chảy, chính xácnhưng khi làm bài tập thực hành thì không đạt yêu cầu Điều đó thể hiện HSnắm kiến thức một cách máy móc, thụ động và tỏ ra lúng túng thiếu chắcchắn
Nhìn chung, qua kết quả khảo sát nêu trên, vấn đề tổ chức dạy và họccâu ghép thông qua hoạt động giao tiếp cho HS một cách hiệu quả hơn là hếtsức cần thiết
Trang 35giao tiếp trong dạy học tiếng Việt; đồng thời chúng tôi cũng đã nêu được đặcđiểm tâm lý của HS lớp 4-5.
Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã điều tra thực trạng dạy và học câu ghéphiện nay Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra cách thức vận dụng một số phươngpháp dạy học tích cực vào dạy học câu ghép và cách thức xây dựng hệ thốngbài tập câu ghép theo quan điểm giao tiếp phù hợp với đặc điểm tâm lý, kinhnghiệm sống của HS lớp 5 ở chương 2
Chương 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÂU GHÉP CHO HỌC SINH LỚP 5
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
2.1 CÁC NGUYÊN TẮC DẠY CÂU GHÉP THEO QUAN ĐIỂM GIAOTIẾP Ở LỚP 5
Trang 36Để dạy câu ghép theo quan điểm giao tiếp đúng mục đích, đúng địnhhướng đề ra, cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
2.1.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Việc lựa chọn lý thuyết, nội dung, PPDH phải căn cứ vào mục tiêu dạyhọc Vì vậy, xây dựng mục tiêu dạy câu ghép theo quan điểm giao tiếp trướchết phải dựa vào mục tiêu dạy học TV nói chung và phân môn Luyện từ vàcâu nói riêng Điều này nghĩa là dạy câu ghép là một bộ phận của nội dungdạy học TV nên mục tiêu dạy câu ghép thống nhất với mục tiêu dạy học củamôn TV hay nói cách khác là góp phần hiện thực hóa mục tiêu của môn TV.Như chúng ta đã biết, mục tiêu quan trọng nhất của dạy học TV là trang
bị cho HS cách thức sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp, hình thành
và phát triển các kĩ năng tiếng Việt cho HS, hướng đến chức năng xã hội củangôn ngữ, chức năng làm công cụ giao tiếp để học tập và hoạt động trong cácmôi trường của HS Từ đó, nó đòi hỏi việc xây dựng mục tiêu dạy câu ghéptheo quan điểm giao tiếp phải thiết thực nhằm rèn luyện và phát triển kỹ nănggiao tiếp cho HS tiểu học thông qua việc rèn luyện kỹ năng tạo lập câu ghép
và sử dụng câu ghép phù hợp với tình huống giao tiếp, văn hóa giao tiếp củangười Việt Cụ thể là:
- Kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép
- Kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câubằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp
- Kỹ năng tạo lập câu ghép đúng ngữ pháp
- Kỹ năng sử dụng câu ghép đúng mục đích giao tiếp ngoài thực tiễn
2.1.2 Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động giao tiếp của học sinh
Dạy học có mục đích là tạo ra sự phát triển toàn diện về trí tuệ, tâm hồn,nhân cách vá năng lực của HS Con đường đạt đến hiệu quả của sự tự pháttriển ấy là sự vận động tự thân của mỗi chủ thể Mọi phương pháp, biện pháp,
Trang 37hình thức tổ chức dạy – học của thầy và trò đều nhằm thúc đẩy hoạt động trítuệ tự thân đó.
Đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực của HS, GV cần chú ý đối vớimọi đối tượng HS phân ra nhiều mức độ (giỏi, khá, trung bình, yếu) để cóPPDH thích hợp Muốn phát huy được tính tích cực của HS, người GV phải
có hệ thống câu hỏi trong mỗi bài thật cụ thể phù hợp với mọi đối tượng HS.Song đó, đặc điểm của đổi mới PPDH là chuyển từ PP truyền thụ, chútrọng thuyết trình, giảng giải sang PP tích cực hóa hoạt động của người học.Theo PP này, GV đóng vai trò tổ chức hoạt động của HS; HS là chủ thể củaquá trình học tập Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua cấu tạo 3 phần của cácbài học lý thuyết về câu ghép gồm: phần Nhận xét (cung cấp ngữ liệu, nêucâu hỏi, bài tập), phần Ghi nhớ (chốt lại những điểm kiến thức chủ yếu đượcrút ra từ việc phân tích ngữ liệu), phần Luyện tập (bài tập củng cố, vận dụngkiến thức)
Một đặc điểm vốn có của con người là tính tích cực Con người khôngchỉ là khách thể mà còn là chủ thể của các quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tíchcực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác động bên ngoài để sáng tạo và xâydựng nhân cách riêng của mình Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu Conngười sinh ra cùng với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác nhau (VD: nhu cầu ăn,
ở, đi lại, trao đổi thông tin,…) Những nhu cầu này không bao giờ cạn và luôntrở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động Khi nhu cầu nhận thức xuấthiện thì nó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập
2.1.3 Dạy câu ghép phải đặt trong ngữ cảnh
Mục tiêu dạy học TV hiện nay là dạy tiếng thông qua giao tiếp Theođịnh hướng này, việc dạy ngôn ngữ nói chung và dạy câu ghép nói riêng sẽlấy giao tiếp làm môi trường và PP Điều đó có nghĩa là dạy tiếng phải thôngqua hoạt động giao tiếp, phải đặt HS trong từng tình huống, hoàn cảnh giaotiếp khác nhau Thông qua hoạt động giao tiếp mà hình thành và rèn luyện kỹ
Trang 38năng sử dụng câu ghép Tuy nhiên, việc rèn luyện kỹ năng phải lấy kiến thứclàm nền tảng.
Dạy câu ghép theo ngữ cảnh giúp HS dễ xác định, nhận biết câu ghép khinghe, khi đọc Khi nói, viết, ngữ cảnh giúp các em có thể đặt câu ghép rõ nộidung, thể hiện đúng mối quan hệ giữa những sự vật nêu ở các vế câu bằngphương tiện ngôn ngữ thích hợp Cụ thể, các ngữ liệu để dạy câu ghép nếuđược đặt trong ngữ cảnh cụ thể sẽ giúp HS dễ dàng xác định được mục đích,nội dung cụ thể mà ngữ cảnh nói đến
2.2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG DẠY HỌC VỀ CÂU GHÉP Ở LỚP 5 THEOQUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
2.2.1 Mục tiêu dạy học câu ghép theo quan điểm giao tiếp
Mục tiêu của việc dạy câu ghép cho học sinh lớp 5 là HS tạo lập được và
sử dụng được câu ghép trong hoạt động giao tiếp Mục tiêu này được thể hiệnrất rõ qua cách triển khai các bài học của SGK Tiếng Việt 5
Trong sách TV5 cũ, câu ghép được phân thành: câu ghép đẳng lập và câughép chính phụ, câu ghép chính phụ lại được chia thành câu ghép chính phụchỉ nguyên nhân – kết quả, điều kiện (giả thuyết) – hệ quả,…
Trong sách TV5 hiện nay không dạy phân loại câu ghép Sau bài hình
thành khái niệm câu ghép (tuần 19, trang 8), sách tập trung dạy học sinh Cách
nối các vế câu ghép Qua việc dạy cách nối các vế câu ghép (nối bằng từ ngữ
có tác dụng nối, nối trực tiếp – không dùng từ ngữ nối), HS có thể nhận ra các
mô hình câu ghép Tuy nhiên, nhận biết các kiểu câu ghép không phải là mụcđích của những bài này Cái mà HS cần đạt được là biết thể hiện mối quan hệgiữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp
Để đạt được mục đích này, cách trình bày bài học ở SGK là đi từ nội dungcần thể hiện đến hình thức thể hiện
Có thể lấy nội dung ghi nhớ của bài Nối các vế câu ghép bằng quan hệ
từ ở tuần 22, sách TV5, tập hai, trang 38 làm VD:
Trang 39Để thể hiện quan hệ điều kiện – kết quả, giả thuyết – kết quả giữa hai vếcâu ghép, ta có thể nối chúng bằng:
- Một quan hệ từ: nếu, hễ, giá, thì,…
- Hoặc một cặp quan hệ từ: nếu… thì ; nếu như… thì ; hễ… thì ; hễ
mà… thì…; giá… thì…
Cách trình bày như trên đảm bảo tính hành dụng, đáp ứng tốt hơn yêucầu rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt của HS
2.2.2 Nội dung dạy học cụ thể về câu ghép ở lớp 5 hiện nay
Bảng 2.1: Bảng nội dung các bài dạy câu ghép trong sách Tiếng Việt
- Câu ghép là câu do nhiều vế câu ghép lại
- Mỗi vế câu ghép thường có cấu tạo giốngmột câu đơn (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thểhiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý củanhững vế câu khác
Cách nốicác vế câughép
- Có hai cách nối các vế câu trong câu ghép + Nối bằng những từ ngữ có tác dụng nối + Nối trực tiếp (không dùng từ nối) Trongtrường hợp này, giữa các vế câu cần có dấuphẩy, dấu chấm phẩy hoặc dấu hai chấm
công dân
Nối các
vế câughép bằngquan hệtừ
- Các vế câu trong câu ghép có thể được nốivới nhau bằng một quan hệ từ hoặc một cặpquan hệ từ
- Những quan hệ từ thường được dùng là:
và, rồi, thì, nhưng, hay, hoặc,…
- Những cặp quan hệ từ thường được dùnglà:
+ Vì… nên…; do… nên…; nhờ… mà… + Nếu… thì…; giá… thì…; hễ… thì…
Trang 40+ Tuy… nhưng…; mặc dù… nhưng…
- Để thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quảgiữa hai vế câu ghép, ta có thể nối chúngbằng:
+ Một quan hệ từ: vì, bởi vì, nên, cho
nên…
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: vì… nên…;
bởi vì… cho nên…; tại vì… cho nên…; do… nên…; do… mà…; nhờ… mà….
- Để thể hiện quan hệ điều kiện – kết quả,giả thuyết – kết quả giữa hai vế câu ghép, ta
có thể nối chúng bằng:
+ Một quan hệ từ: nếu, hễ, giá, thì…
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: nếu… thì…;
nếu như… thì…; hễ… thì…; hễ mà… thì…; giá… thì…
Nối các
vế câughép bằngquan hệtừ
- Để thể hiện mối quan hệ tương phản giữahai vế câu ghép, ta có thể nối chúng bằng:
+ Một quan hệ từ: tuy, dù, mặc dù,
nhưng…
+ Hoặc một cặp quan hệ từ: tuy…
nhưng…; mặc dù… nhưng…; dù… nhưng…
- Để thể hiện quan hệ tăng tiến giữa các vếcâu ghép, ta có thể nối chúng bằng một
trong các cặp quan hệ từ: không những…
mà…; chẳng những… mà…; không chỉ… mà….