làm việc ở nớc ngoài, vừa nâng cao trình độ tay nghề vừa đem lại một nguồnngoại tệ lớn cho đất nớc.Nghệ An là tỉnh có lực lợng lao động rất dồi dào, bình quân hàng năm sốlao động đến tuổ
Trang 1Trờng Đại học vinhKhoa giáo dục chính trị
đại học và trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề có vai trò đặc biệt trong pháttriển nguồn nhân lực, là bộ phận quan trọng đáp ứng nhu cầu lao động chuyênmôn - kỹ thuật cho thị trờng lao động
Đào tạo nghề góp phần cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ cho sựphát triển nền kinh tế đất nớc, tăng thu nhập và cải thiện đời sống Ngời lao động
có kỹ năng nghề nghiệp không nhất thiết phải làm việc trong nớc mà có thể đi
Trang 2làm việc ở nớc ngoài, vừa nâng cao trình độ tay nghề vừa đem lại một nguồnngoại tệ lớn cho đất nớc.
Nghệ An là tỉnh có lực lợng lao động rất dồi dào, bình quân hàng năm sốlao động đến tuổi bổ sung vào lực lợng lao động của tỉnh xấp xỉ 3 vạn ngời, nhnglợi ích kinh tế từ lực lợng này mang lại cha tơng xứng với tiềm năng; nên bêncạnh việc chú trọng công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho ngời lao độngthì tỉnh nhà còn đặc biệt quan tâm đến vấn đề xuất khẩu lao động
Trong những năm qua, lao động Nghệ An đi xuất khẩu lao động ngàycàng nhiều, tuy nhiên có phần chạy theo số lợng, chủ yếu là lao động phổ thông,với trình độ tay nghề thấp, khả năng sử dụng ngoại ngữ kém, làm các công việcgiản đơn dẫn đến thu nhập thấp, nhiều chế độ cha đợc đảm bảo, việc học tập vàtiếp xúc môi trờng lao động tiên tiến còn hạn chế, "hậu xuất khẩu lao động" đặt
ra nhiều thách thức
Những hạn chế nêu trên là do công tác đào tạo nghề cha đợc gắn kết chặtchẽ với hoạt động xuất khẩu lao động, một mặt do nhận thức của ngời lao động
đi làm việc ở nớc ngoài về ý nghĩa của đào tạo nghề còn hạn chế với t tởng
"thích làm thầy hơn làm thợ", sợ mất thời gian và chi phí học nghề Mặt khácdoanh nghiệp xuất khẩu lao động cha quan tâm đúng mức đến ngời lao động,hoạt động đào tạo nghề mang tính hình thức và đối phó; việc bắt tay giữa doanhnghiệp xuất khẩu lao động và cơ sở đào tạo nghề còn theo kiểu "mạnh ai nấy làm
" Thực tế đó đòi hỏi nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao
động cả về phơng diện lý luận lẫn thực tiễn
Trong tơng lai không xa, xuất khẩu lao động phổ thông không còn lợi thế,nhiều thị trờng lao động sẽ đòi hỏi và sát hạch cao hơn nguồn lao động đến từNghệ An nói riêng và Việt Nam nói chung Do đó, việc nghiên cứu có hệ thốngvấn đề vai trò của đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao động và đóng góp một
số giải pháp để nâng cao công tác đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao độngtrên địa bàn tỉnh Nghệ An là rất cấp thiết Với những suy luận nh vậy, vấn đề
"Đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao động ở Nghệ An những năm đầu thế kỷ XXI" đợc chọn làm đề tài khoá luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nâng cao chất ợng công tác đào tạo nghề nói chung cũng nh đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩulao động nói riêng, đợc công bố dới dạng sách, kỷ yếu, luận án tiến sỹ, luận văn
Trang 3l-Có thể kể đến:
- T.S Trần Khắc Hoàn (2008), "Nghiên cứu đề xuất giải pháp và xây dựng mô hình kết hợp đào tạo giữa nhà trờng với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất l- ợng đào tạo nghề ở Nghệ An", Báo cáo khoa học.
- Phan Chính Thức (2003), "Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc", Luận án Tiến sỹ Giáo dục học.
- Ninh Văn Anh (2005), "Một số vấn đề lí luận về quản lí đào tạo và quản
lí chất lợng đào tạo nghề trong các cơ sở đào tạo nghề", Luận văn Thạc sỹ quản
Tuy nhiên, cho đến nay cha có công trình nào nghiên cứu về đào tạo nghề
ở Nghệ An, đặc biệt về vấn đề đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao động,trong khi Nghệ An là tỉnh có số lao động đi làm việc ở nớc ngoài hàng năm tơng
đối lớn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận chung về đào tạo
nghề và xuất khẩu lao động, phân tích những kết quả đạt đợc cũng nh những tồntại, hạn chế trong hoạt động đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao động ở Nghệ
An trong thời gian qua; mục đích của đề tài là đề xuất các nhóm giải pháp cơbản, có tính khả thi nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo nghề cho ngời đixuất khẩu lao động của tỉnh nhà thời gian tới
Nhiệm vụ: Để đạt mục đích trên, đề tài phải thực hiện đợc những nhiệm vụ
Trang 4+ Đề xuất các nhóm giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm đẩy mạnh hơnnữa công tác đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao động ở tỉnh Nghệ An.
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Vấn đề nghiên cứu: Đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao động
- Đối tợng khảo sát: Tỉnh Nghệ An.
- Thời gian: Vào những năm đầu thế kỷ XXI
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam,những chủ trơng, chính sách của Nhà nớc về đào tạo nghề và xuất khẩu lao động.Bên cạnh đó, đề tài có tham khảo kết quả nghiên cứu của một số công trình khoahọc liên quan đến đề tài
Phơng pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phơng pháp sau: Phân tích
-tổng hợp, khảo sát - thống kê, phân loại tài liệu và thu thập thêm các thông tin
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài còn gồm
2 chơng
Chơng 1: Lý luận chung về đào tạo nghề và xuất khẩu lao động
Chơng 2: Đào tạo nghề cho ngời đi xuất khẩu lao động ở Nghệ An - thựctrạng và giải pháp
Chơng 1
Lý luận chung về đào tạo nghề
và xuất khẩu lao động
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về đào tạo nghề
Trang 51.1.1 Khái niệm về nghề và phân loại nghề
1.1.1.1 Khái niệm về nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm của mỗi quốc gia đều có sự khác nhaunhất định Cho đến nay, thuật ngữ "nghề" đợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cáchkhác nhau
Khái niệm nghề ở Nga đợc định nghĩa: Nghề là một loại hoạt động lao
động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thờng là nguồn gốc của sự sinh tồn
ở Pháp: Nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo củamột ngời để từ đó tìm đợc phơng tiện sống
ở Anh: Nghề là công việc chuyên môn đòi hỏi sự đào tạo trong khoa họcnghệ thuật
ở Đức: Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao độngnhất định đòi hỏi phải đợc đào tạo ở trình độ nào đó [16, 5]
Nh vậy, nghề là một hiện tợng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặtvới sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại.Bởi vậy đợc nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khácnhau
Còn ở Việt Nam, cũng có rất nhiều định nghĩa "nghề" đợc đa ra song cha
đợc thống nhất Chẳng hạn có định nghĩa nêu rằng: Nghề là một tập hợp lao
động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi đợc.Nghề mang tính tơng đối, nó phát sinh hay mất đi do trình độ của nền sản xuất
và nhu cầu của xã hội
Trong đời sống của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạocông nhân; chúng ta thờng nói đến một khái niệm, đó là nghề Những chuyênmôn có những đặc điểm chung, gần giống nhau đợc xếp thành một nhóm chuyênmôn và đợc gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loạigần giống nhau
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trờng Đại học Kinh tế Quốc dân thìkhái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân cônglao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một ngời lao động cần
có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất
định
Mặc dù khái niệm nghề đợc hiểu dới nhiều góc độ khác nhau song chúng
ta có thể nhận thấy một số nét đặc trng nhất định sau:
- Là hoạt động, là công việc về lao động của con ngời đợc lặp đi lặp lại;
Trang 6- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội;
- Là phơng tiện để sinh sống;
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội
đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định
Hiện nay, xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác độngkhoa học công nghệ và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lợc phát triểnkinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói riêng
Chúng ta có thể hiểu khái niệm nghề nh sau: "Nghề là một lĩnh vực hoạt
động lao động mà trong đó, nhờ đợc đào tạo, con ngời có đợc những tri thức,những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp
ứng đợc những nhu cầu của xã hội" [16, 5]
ở nớc ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trờng (dạy nghề, trung học chuyên nghiệp vàCao đẳng - Đại học) đào tạo trên dới 300 nghề bao gồm hàng trăm chuyên mônkhác nhau
1.1.1.2 Phân loại nghề
Theo Đề án 103 của Trung ơng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minhnghề đợc phân thành hai khối: kinh tế - dịch vụ và kỹ thuật, bao gồm 40 nghềnh: tiếp viên hàng không, quay phim, chụp ảnh, thợ điện lạnh, thợ điện nớc, thợxây
Còn theo sách "Giáo dục hớng nghiệp" do Phạm Tất Dong chủ biên, Nhàxuất bản Giáo Dục, năm 2005; nghề đợc phân loại theo 2 cách:
Thứ nhất là, phân loại nghề theo đào tạo
Với cách phân loại này, các nghề đợc chia thành 2 loại là nghề đợc đàotạo và nghề không đợc đào tạo
Khi trình độ sản xuất và khoa học, công nghệ đợc nâng cao, dân c đợcphân bố đồng đều trong cả nớc thì số nghề cần có sự đào tạo qua các trờng lớp sẽtăng lên Ngợc lại, quốc gia nào có trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất, khoahọc và công nghệ chậm phát triển, dân c phân tán thì tỷ lệ nghề không qua đàotạo rất cao
Nớc ta đã có danh mục các nghề đợc đào tạo, còn các nghề không đợc đàotạo rất khó thống kê Bên cạnh đó còn rất nhiều nghề đợc truyền lại trong cácdòng họ hoặc gia đình, những nghề này rất đa dạng và trong nhiều trờng hợp đợcgiữ bí mật và đợc gọi là nghề gia truyền Do vậy, những nghề này đợc đào tạotrong gia đình và cũng thờng chỉ liên quan đến ngời đợc chọn để nối tiếp nghềcủa cha ông
Trang 7Thứ hai là, phân loại nghề theo yêu cầu của nghề đối với ngời lao động
* Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính
Công việc trong nghề hành chính mang tính chất sắp đặt, bố trí, trình bày,phân loại, lu trữ các loại hồ sơ, giấy tờ Cán bộ, nhân viên làm việc trongnhững nghề này thờng phải hệ thống hoá, phân loại, xử lý các tài liệu, công văn,
sổ sách Những chuyên môn thờng gặp là nhân viên văn phòng, th ký, kế toán,thống kê, kiểm tra
Nghề hành chính đòi hỏi con ngời đức tính bình tĩnh, thận trọng, chínhchắn, chu đáo Mọi thói quen, tác phong xấu nh tính cẩu thả, bừa bãi, thiếu ngănnắp, qua loa, đại khái đều không phù hợp với công việc hành chính
Ngời làm nghề hành chính phải có tinh thần kỷ luật trong việc chấp hànhnhững công việc mang tính sự vụ, biết giữ trật tự, nghiêm túc khi làm việc.Ngoài ra họ lại phải am hiểu cách phân loại tài liệu, có năng lực nhận xét, phêphán cách chấp hành thủ tục giấy tờ, cách soạn thảo văn bản thiếu cơ sở khoahọc Và bản thân họ cũng cần thành thạo công việc soạn văn bản
* Những nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con ngời
ở đây, ta có thể kể đến những nhân viên bán hàng, những thầy thuốc, thầygiáo, những ngời phục vụ khách sạn và những cán bộ tổ chức Những ngời nàyluôn phải có thái độ ứng xử hoà nhã, chân thành, tế nhị, tinh ý, mềm mỏng, âncần, cởi mở
* Những nghề thợ
Tính chất nội dung lao động của nghề thợ rất đa dạng Có những ngời thợlàm việc trong các ngành công nghiệp (thợ dệt, thợ tiện, thợ phay ), trong cácngành tiểu thủ công nghiệp (thợ thêu, thợ làm mây tre đan, thợ sơn ), trong lĩnhvực dịch vụ (cắt tóc, sữa chữa xe cộ, sữa chữa đồ dùng gia đình ), và rất nhiềuloại thợ khác nữa Nghề thợ đại diện cho nền sản xuất công nghiệp Tác phongcông nghiệp, t duy kỹ thuật, trí nhớ là những yếu tố tâm lý cơ bản không thểthiếu đợc ở ngời thợ
Nghề thợ đang có sự chuyển biến về cấu trúc: những nghề lao động chântay sẽ ngày càng giảm và nghề lao động trí óc sẽ tăng lên ở những nớc côngnghiệp hiện nay nh Mỹ, Pháp, Anh số công nhân "cổ trắng" (công nhân tríthức) đã đông hơn công nhân "cổ xanh" (công nhân làm những công việc taychân nặng nhọc)
* Những nghề trong lĩnh vực kỹ thuật
Trang 8Nghề kỹ thuật rất gần với nghề thợ Đó là nghề của các kỹ s thuộc nhiềulĩnh vực sản xuất khác nhau Nghề kỹ thuật đòi hỏi ngời lao động có lòng say mêvới công việc thiết kế và vận hành kỹ thuật, nắm chắc những tri thức khoa họchiện đại, có khả năng tiếp cận với công nghệ mới Ngời làm nghề kỹ thuật
phải hết sức nhiệt tình và óc sáng tạo trong công việc Họ còn đóng vai trò tổchức sản xuất, do đó năng lực tổ chức có vị trí cơ bản
ảnh
Yêu cầu chung của nghề nghiệp đối với họ là phải có cảm hứng sáng tác,
sự tinh tế và nhạy bén trong cảm thụ cuộc sống, lối sống có cá tính và có vănhoá, gắn bó với cuộc sống lao động của quần chúng Ngoài ra, ngời làm công tácvăn học, nghệ thuật phải có năng lực diễn đạt t tởng và tình cảm, năng lực tác
động đến ngời khác bằng ngôn ngữ, năng lực thâm nhập vào quần chúng
* Những nghề thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Đó là những nghề tìm tòi, phát hiện những quy luật trong đời sống xã hội,trong thế giới tự nhiên cũng nh trong t duy con ngời Ngời làm công tác nghiêncứu khoa học phải say mê tìm kiếm chân lý, luôn luôn học hỏi, tôn trọng sự thậtkhách quan và đồng thời phải thờng xuyên rèn luyện t duy lôgíc, tích luỹ trithức, độc lập sáng tạo Ngoài ra, họ còn phải là con ngời thực sự khiêm tốn,trung thực, bảo vệ chân lý đến cùng
* Những nghề tiếp xúc với thiên nhiên
Đó là những nghề chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuần dỡng súc vật, nghềtrồng trọt, khai thác gỗ, trồng rừng, trồng hoa và cây cảnh Muốn làm nhữngnghề này, con ngời phải yêu thích thiên nhiên, say mê với thế giới thực vật và
động vật Mặt khác, họ phải cần cù, chịu đựng khó khăn, thích nghi với hoạt
động ngoài trời, thận trọng và tỉ mỉ
1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề và các hình thức đào tạo nghề
1.1.2.1 Khái niệm đào tạo nghề
Trang 9Theo Các - Mác, công tác đào tạo nghề phải bao gồm các thành phần cầnthiết sau:
"Một là: Giáo dục trí tuệ;
Hai là: Giáo dục thể chất;
Ba là: Dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm vững đợc những nguyên lýcơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ sảnxuất đơn giản nhất'' [14, 198]
Có thể hiểu khái niệm đào tạo nghề nh sau: Đào tạo nghề là hoạt độngnhằm trang bị cho ngời lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao độngcần thiết để ngời lao động sau khi hoàn thành khóa học, hành đợc một nghề
trong xã hội
Khái niệm này yêu cầu công tác đào tạo nghề không chỉ dừng lại ở trang
bị những kiến thức và kỹ năng lao động cơ bản mà còn yêu cầu hình thành ở
ng-ời đợc đào tạo thái độ lao động của bản thân Điều này thể hiện tính nhân văn,tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao ngời lao động ngay trong quan niệm về lao
động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn "Vốn nhân lực" Ngời đợc đàotạo nghề không phải là cái máy tạo ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của xã hội,
mà thông qua quá trình đào tạo, bản thân họ sẽ ''Yêu lao động, yêu chủ nghĩa xãhội''
* Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau là: dạynghề và học nghề
Dạy nghề là quá trình ngời giáo viên truyền thụ những kiến thức và kỹ
năng để ngời học có đợc trình độ, kỹ năng, sự khéo léo và thành thục một loạinghề nhất định
Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành
của ngời học để đạt đến trình độ nghề nghiệp nhất định
Đào tạo nghề cho ngời học thực chất là giáo dục kỹ thuật lao động cho họ
để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn; bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạonghề bổ sung, đào tạo lại nghề
- Đào tạo nghề mới: Là đào tạo cho những ngời cha có nghề, gồm những
ngời đến tuổi lao động cha đợc học nghề và những ngời trong độ tuổi lao động
mà trớc đó họ cha đợc học nghề Việc đào tạo này góp phần bổ sung nguồn lao
động có tay nghề cho xã hội
- Đào tạo nghề bổ sung: Khi ngời lao động đã có trình độ chuyên môn kỹ
thuật của một nghề nghiệp nhất định nhng yêu cầu của công việc mới đòi hỏi họ
Trang 10phải đào tạo một nghề mới thì đó có thể hiểu là đào tạo nghề bổ sung Việc làmnày có thể dẫn đến lãng phí một nguồn kinh phí nhất định cho quá trình đào tạo.Tuy nhiên, xu thế ở các nớc phát triển vấn đề này ngày càng phổ biến, sự thay
đổi công việc trong cuộc đời của một ngời lao động không dừng lại ở con số hai;
mà nó tạo sự năng động cho ngời lao động
- Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những ngời đã có nghề, có trình độ
chuyên môn nhng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuậtdẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số ngời lao
động đợc đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ chuyên mônmới Đây là cơ hội cho ngời lao động học tập để nâng cao trình độ Vấn đề đàotạo lại nghề cũng có thể hiểu là bồi dỡng tay nghề: tức là cập nhật những kiếnthức còn thiếu, đào tạo thêm và cũng cố thêm một số kỹ năng và kiến thức nào
đó và kết quả là ngời lao động đợc cấp chứng chỉ hoặc nâng bậc lơng
1.1.2.2 Các hình thức đào tạo nghề
Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân.Theo quy định của Luật Giáo dục năm 2005, hệ thống giáo dục Việt Nam baogồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục học nghề, giáo dục đạihọc và sau đại học
Hệ thống đào tạo nghề cũng đợc xác định theo các cấp khác nhau, ở cáclứa tuổi khác nhau và có sự phân luồng để đào tạo nghề phù hợp với trình độ vănhóa, khả năng và độ tuổi của con ngời Việc làm này tạo điều kiện cho ngời đợc
đào tạo có thể học liên thông giữa các cấp học và có điều kiện tích lũy cần thiết
để học cấp cao hơn Đây là căn cứ để tìm hiểu các hình thức đào tạo nghề ở n ớcta
Hình thức đào tạo là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch đào tạo vàtính toán hiệu quả kinh tế của việc đào tạo Tuỳ theo yêu cầu và điều kiện thực tế
có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo khác Nghiên cứutrên lý thuyết cũng nh trong thực tiễn sản xuất ở nớc ta hiện nay thì hình thức
đào tạo nghề chủ yếu bao gồm:
Trang 11Ngời kềm cặp thờng đợc xem nh thợ cả, thoát ly sản xuất và có trình độ sphạm nhất định Công việc kềm cặp đợc tiến hành qua những bớc cơ bản: Phâncông thợ cả hớng dẫn tỉ mỉ và chu đáo cho ngời học; giao cho ngời học làm thử
và ngời học làm việc dới sự kiểm tra uốn nắn của thợ cả; cuối cùng giao việchoàn toàn cho ngời học nghề khi ngời học nghề có thể tiến hành công việc độclập và ngời hớng dẫn vẫn thờng xuyên theo dõi, giúp đỡ
Hai là, các lớp doanh nghiệp
Là các lớp do doanh nghiệp tổ chức nhằm đào tạo riêng cho mình hoặccho các doanh nghiệp cùng ngành, cùng lĩnh vực, cùng bộ phận với nhau Hìnhthức này chủ yếu đào tạo nghề cho công nhân mới đợc tuyển dụng Ví dụ nh cácdoanh nghiệp may mặc mở lớp để đào tạo cho công nhân mới đợc tuyển dụng làlao động phổ thông cha có tay nghề về may mặc Hình thức này đợc tiến hànhtheo hai bớc: dạy lý thuyết theo đơn vị lớp và tiến hành thực hành ngay tại phânxởng với sự hớng dẫn của các kỹ s hoặc công nhân lành nghề
Ba là, các trờng chính quy
Trớc yêu cầu về số lợng và chất lợng đội ngũ ngời lao động, giải quyếttình trạng ''thừa thầy, thiếu thợ'', Nhà nớc ta đã xây dựng rất nhiều trờng dạynghề tập trung, quy mô lớn, đào tạo công nhân có trình độ cao Thời gian đào tạo
từ hai đến bốn năm tuỳ theo nghề đào tạo, ra trờng đợc cấp bằng nghề Hiện nay,các trờng này thu hút lớn ngời học và việc đào tạo đã gắn với nhu cầu của xã hội,hiệu quả kinh tế rất cao Nhiều học viên ra trờng có việc làm ngay với nguồn thunhập đáng kể Trong tơng lai các trờng cần bắt tay nhiều hơn với các doanhnghiệp và nâng cao hơn nữa chất lợng công tác đào tạo
Bốn là, các trung tâm dạy nghề
Đây có thể xem là loại hình đào tạo ngắn hạn, thời gian thờng tiến hànhdới một năm và đợc cấp chứng chỉ nghề; chủ yếu đào tạo phổ cập nghề chothanh niên và ngời lao động Trung tâm dạy nghề hiện nay mọc lên rất nhiều, kểcả ở các huyện - thị, góp phần giúp ngời học tự tạo việc làm và có thu nhập chobản thân Kinh phí đào tạo ít, quá trình đào tạo đơn giản là những lợi thế củacác trung tâm dạy nghề
1.1.3 Vai trò của đào tạo nghề đối với sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nớc
Đào tạo nghề cung cấp một đội ngũ lao động có trình độ cho sự phát triểnnền kinh tế đất nớc Sức mạnh kinh tế của bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng
đều đợc bắt đầu từ việc ứng dụng các thành tựu khoa học - kĩ thuật vào quá trìnhlao động sản xuất Bản thân ngời lao động giữ vai trò quyết định cho việc ứng
Trang 12dụng đó và ngời lao động phải có trình độ tay nghề, có kiến thức và kỹ năng.Chính đào tạo nghề đã, đang và sẽ cung cấp một đội ngũ lao động có trình độcho sự phát triển đất nớc của bất cứ nền kinh tế nào Họ là những ngời đa lýthuyết vào thực hành, đa khoa học - công nghệ đến các vùng kém phát triển CácMác đã đề cập rằng: ''Những ngời công nhân tiên tiến hoàn toàn nhận thức đợcrằng tơng lai của giai cấp mình mà cũng chính là tơng lai của loài ngời tùy thuộc
vào công tác giáo dục thế hệ công nhân trẻ'' [14, 198].
Tiến hành công tác đào tạo nghề cho mọi ngời để họ đi vào lao động sảnxuất luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động, vìthế mà công tác đó là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền sản xuất xã hội
Đào tạo nghề góp phần quan trọng vào mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực:''Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo con ngời lao động có kiến thức, kỹ năng nghềnghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷluật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho ngời lao độngtìm việc làm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an
Bên cạnh đó, một số trờng dạy nghề nằm trong chơng trình mục tiêu quốcgia, chơng trình dự án nớc ngoài đợc đầu t trang thiết bị, máy móc, phơng tiệnkhá khang trang, hiện đại, thúc đẩy phát triển sự nghiệp đào tạo nghề ở nớc ta.Cơ cấu nghề đào tạo từng bớc điều chỉnh theo yêu cầu, cơ cấu của sản xuất -kinh doanh - dịch vụ, yêu cầu đa dạng của xã hội Nội dung chơng trình đào tạo
Trang 13nghề từng bớc đợc nâng cao về chất lợng phù hợp với kỹ thuật, công nghệ, đápứng đòi hỏi của thị trờng lao động Có khoảng 70% học viên tốt nghiệp ra trờng
có việc làm ngay, và theo đánh giá của ngời sử dụng lao động về kỹ năng nghềcủa lao động qua đào tạo nghề thì có khoảng 30% đạt loại khá và giỏi; 58%trung bình; về ý thức kỷ luật và tác phong chuyên nghiệp thì có 51% đạt loại tốt
và khá
Cùng với sự phát triển của hệ thống các cơ sở dạy nghề, đội ngũ giáo viêndạy nghề không chỉ tăng về số lợng, mà chất lợng cũng ngày càng đợc nâng cao.Tính đến tháng 12 năm 2007, số lợng giáo viên dạy nghề là 35.962 ngời, trong
đó số giáo viên có trình độ sau đại học (tiến sỹ, thạc sỹ): 3.782 ngời, đại học:16.474 ngời; cao đẳng: 5.927 ngời; nghệ nhân, ngời có tay nghề cao: 5.344 ngời
và trình độ khác: 4.435 ngời [15, 64].
Cơ cấu xã hội hoá nguồn lực cho hoạt động dạy nghề có những chuyểnbiến nhất định, chỉ tính riêng năm 2008, trong tổng số vốn đầu t cho dạy nghề,ngân sách nhà nớc chiếm 63%, đầu t nớc ngoài chiếm 3%, doanh nghiệp chiếm10%, ngời học chiếm 21%, các cơ sở đào tạo chiếm 3%
Bên cạnh đó, mức đầu t từ ngân sách nhà nớc tăng dần: năm 2001 tổngchi ngân sách nhà nớc cho giáo dục - đào tạo chiếm 15,5%, trong đó chi cho dạynghề chiếm 4,9% (so với tổng chi ngân sách nhà nớc cho giáo dục - đào tạo), sốliệu tơng ứng của năm 2005 là 17,9% và 6,5%; năm 2007 là 20% và 7,0% [15,65]
Những thành tựu to lớn mà công tác đào tạo nghề đem lại đã cho thấy vaitrò đặc biệt của nó đối với sự phát triển nguồn nhân lực và phát triển nền kinh tếtrong thời kỳ mới - thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới
Đảng ta xác định mục tiêu nhất quán của nền giáo dục Việt Nam là:
''Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dỡng nhân tài'' để đáp ứng sự phát
triển kinh tế, xã hội Công tác đào tạo nghề góp phần hoàn thành mục tiêu đó
Đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì dạy nghề bao hàm luônviệc ''Dạy chữ, dạy ngời, dạy nghề'', dạy cho ngời học nghề đạo lý nghề nghiệp,
kỷ luật và tác phong công nghiệp Dạy nghề sẽ giúp ngời học có việc làm vàcũng có thể tự tạo việc làm, góp phần phân công lao động và giải quyết vấn đềthất nghiệp ở một chừng mực nào đó Công tác đào tạo nghề nếu đợc tiến hành
có chất lợng và hiệu quả sẽ tạo ra bớc đột phá trong sự phát triển của nền kinh tếvới đội ngũ ngời lao động có chất xám ứng dụng nhanh chóng các tiến bộ củakhoa học, kỹ thuật vào sản xuất Nh vậy, công tác đào tạo nghề có vai trò hết sức
Trang 14quan trọng, góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lợng nguồn nhân lực của đấtnớc
1.2 Một số vấn đề lý luận chung về xuất khẩu lao động
1.2.1 Khái niệm về xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động không phải là vấn đề mới Về cả mặt lý luận và thựctiễn, vấn đề này đã đợc các nhà khoa học trong và ngoài nớc đề cập, nghiên cứunhiều
Có không ít các quan điểm, định nghĩa khác nhau về xuất khẩu lao động:
"Xuất khẩu lao động là sự hợp tác giữa các quốc gia và góp phần thúc đẩyquá trình toàn cầu hóa trên lĩnh vực lao động
Xuất khẩu lao động là quá trình phân công lại lao động có tính chất quốctế; góp phần giải quyết nạn thất nghiệp ở nớc xuất khẩu lao động và nạn thiếu
lao động ở nớc nhập khẩu lao động, tạo dựng an sinh xã hội" [9].
Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm về xuất khẩu lao động theo quan điểm
của PGS.TS Nguyễn Phúc Khanh nêu lên trong cuốn sách "Xuất khẩu lao động với giải quyết việc làm ở Việt Nam" nh sau: "Xuất khẩu lao động là hoạt động
kinh tế đối ngoại đặc thù của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động chomột quốc gia khác trên cơ sở hợp đồng có thời hạn, có tính chất pháp quy đợc
thống nhất giữa các quốc gia đa và nhận lao động" [12, 5].
Nh vậy, xuất khẩu lao động, xét về mặt kinh tế là một loại hình xuất khẩu
dịch vụ cung cấp một loại hàng hoá đặc biệt (sức lao động) Nó chứa đựng đầy
đủ tính chất, yêu cầu của loại hàng hoá đặc biệt đó: hoạt động của con ngời, tổngquan về các mối quan hệ xã hội Giá cả của sức lao động này phụ thuộc vào chấtlợng của lao động, trớc hết là các yếu tố về trình độ chuyên môn (bao gồm: taynghề đợc đào tạo, mức độ giao tiếp về ngoại ngữ, văn hoá, phẩm chất cá nhân
nh tính cần cù, kỹ năng, tinh xảo, khéo léo và khả năng hội nhập, giao lu vớicác nền văn hoá, tôn giáo khác) Giá cả của sức lao động cũng phụ thuộc rất lớnvào nhu cầu của nớc nhập khẩu lao động
Về khía cạnh chính trị, xuất khẩu lao động là tiến hành hợp tác góp phần
hỗ trợ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của nớc nhập khẩu lao động Khácvới các loại hình hàng hoá khác, đối với ngời đi xuất khẩu lao động ngoài yếu tốcơ bản về phẩm chất cá nhân, trình độ chuyên môn thì trình độ văn hoá, ngoạingữ, khả năng hoà đồng hết sức quan trọng để đảm bảo phát huy các thế mạnh
đó, thực sự tôn trọng luật pháp, hoà hợp tốt với cộng đồng dân c nớc sở tại Điều
đó sẽ đảm bảo cho vị trí cá nhân đợc khẳng định, đợc quý mến, góp phần nâng
Trang 15cao uy tín, vị thế quốc gia, góp phần củng cố, tăng cờng tình hữu nghị, đoàn kếtthân thiện cộng đồng quốc tế giữa hai nớc
1.2.2 Các hình thức xuất khẩu lao động
Hình thức xuất khẩu lao động đợc nhiều văn bản pháp luật đề cập:
* Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Lao động, xuất khẩu lao động ra
n-ớc ngoài đợc thực hiện thông qua bốn hình thức:
Một là, thông qua cung ứng lao động theo các hợp đồng kí kết với bên
Bốn là, các hình thức khác theo quy định của pháp luật [3, 61].
* Còn Điều 6 Luật ngời lao động Việt Nam đi làm việc ở nớc ngoài theohợp đồng quy định:
Ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài theo một trong các hình thức sau:
1 Hợp đồng đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài với doanh nghiệphoạt động dịch vụ đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài, tổ chức sự nghiệp đ-
ợc phép hoạt động đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài;
2 Hợp đồng đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài với doanh nghiệptrúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu t ra nớc ngoài có đa ngời lao
động đi làm việc ở nớc ngoài;
3 Hợp đồng đa ngời lao động đi làm việc ở nớc ngoài theo hình thức thựctập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đa ngời lao động đi làm việc dới hìnhthức thực tập nâng cao tay nghề;
4 Hợp đồng cá nhân [13, 9]
1.2.3 Vai trò của xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là xu thế khách quan trong quá trình toàn cầu hóa,hội nhập kinh tế quốc tế và không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trực tiếp xuất khẩu lao động Bàn vềvai trò của xuất khẩu lao động có thể thấy những cái lợi hữu hình nh sau:
Thứ nhất là, xuất khẩu lao động góp phần giải quyết việc làm cho ngời lao động
So với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đợc đánh giá là nớc có lợithế về sở hữu nguồn ''dân số vàng" với đội ngũ lao động rất dồi dào và sung sức
Trang 1646,7 triệu lao động Hàng năm nguồn nhân lực này đợc bổ sung hơn 1 triệu ngờibớc vào độ tuổi lao động Tạo việc làm chân chính, hợp pháp và sử dụng mộtcách có hiệu quả số lao động này luôn là mối quan tâm lớn của toàn xã hội Vàmột trong những bài toán giải quyết việc làm cho số lao động này là xuất khẩulao động (đi làm việc ở nớc ngoài).
Dù trong bối cảnh có sự cạnh tranh gay gắt nhng những năm vừa qua,Việt Nam vẫn xây dựng đợc thị trờng lao động đa dạng, phong phú; lĩnh vựcxuất khẩu lao động của Việt Nam đạt đợc những thành quả to lớn Chỉ tính trong
3 năm (2006 - 2008) trung bình mỗi năm đa đợc hơn 83.000 lao động đi làmviệc ở các nớc, chiếm khoảng 5% tổng số lao động đợc giải quyết việc làm trongcả nớc Cụ thể, năm 2003, có 74.694 lao động đi làm việc ở nớc ngoài và cả nớc
có 1,5 triệu lao động đợc giải quyết việc làm, chiếm tỷ lệ 5%; năm 2004, con sốnày là 67.000 trên tổng số 1,58 triệu chiếm tỷ lệ 4,4%; năm 2006, Việt Nam đã
đa đợc 78.855 lao động đi làm việc ở nớc ngoài, đạt 105% kế hoạch cả năm.Riêng 9 tháng đầu năm 2007, cả nớc đã đa 62.760 lao động đi làm việc ở nớcngoài có thời hạn, đạt 78,5% kế hoạch cả năm Trong đó, đông nhất là Malaysia,với 21.313 ngời, thứ hai là thị trờng Đài Loan: 16.554 ngời; tiếp đó là Hàn Quốc:8.536 ngời; Qatar: 4.350 ngời; Nhật Bản: 3.047 ngời; Makau: 1.631 ngời; và cácthị trờng khác là 7.032 lao động Năm 2008, cả nớc giải quyết việc làm cho 1,35triệu lao động, trong đó thông qua các chơng trình kinh tế xã hội là 1,1 triệu,xuất khẩu lao động là 85.000 ngời Nếu năm 1995, nớc ta mới có 29 vạn lao
động làm việc tại 15 nớc thì đến nay đạt gần 60 vạn làm việc trên 40 nớc và vùnglãnh thổ [9]
Xuất khẩu lao động đã tạo công ăn việc làm cho một số lao động ở vùngchuyển đổi mục đích sử dụng đất, bộ đội xuất ngũ, vùng d thừa lao động; đồngthời tạo điều kiện cho nguồn nhân lực đợc đào tạo, rèn luyện
Các thị trờng xuất khẩu lao động truyền thống nh Hàn Quốc, Nhật Bản,
Đài Loan không những duy trì đợc số lao động đã có mà hàng năm còn tăngthêm, nh thị trờng Hàn Quốc, trong năm 2008 đã nhận 12.000 lao động ViệtNam mới sang và tái tuyển dụng 6.000 lao động cũ; thị trờng Nhật Bản, ngoàichơng trình hợp tác, nớc ta đã mở thêm nhiều chơng trình phi lợi nhuận, ngời lao
động đi làm việc ở Nhật không phải nộp lệ phí trớc khi đi, nên tổng số tu nghiệpsinh Việt Nam sang Nhật năm 2008 lên đến 6.000 lao động
Đặc biệt, triển khai Quyết định 71/2009/QĐ - TTg của Thủ tớng Chínhphủ về việc phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao
Trang 17động góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2009 - 2020, đến naycác tỉnh có huyện nghèo và doanh nghiệp đã triển khai rất tích cực.
Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Lao động ở nớc ngoài, trong tháng8/2009, cả nớc đã đa đợc 5.937 ngời đi làm việc ở nớc ngoài (trong đó có 1.748nữ); nâng tổng số lao động đi xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm 2009 là 45.634ngời, đạt 50% so với kế hoạch cả năm Thị trờng tiếp nhận lao động Việt Namnhiều nhất là Đài Loan với 13.202 ngời (lao động nữ là 4.782 ngời), tiếp đó làHàn Quốc với 5.549 ngời (lao động nữ là 785 ngời), Nhật Bản với 3.793 ngời(lao động nữ là 999 ngời), còn lại là một số thị trờng khác
Cùng với việc giải quyết việc làm cho lao động với thu nhập cao là việckích cầu sản xuất và tiêu dùng trong nớc (vì trớc khi đi ra nớc ngoài lao động thìngời lao động cần phải sắm các t trang và vật dụng cần thiết) Ngoài ra, chínhngời lao động đi xuất khẩu là khách hàng cho các dịch vụ vận chuyển Hết hạn
số lao động này trở về nớc với số vốn tích lũy đợc, có ít nhiều kinh nghiệm trongsản xuất và quản lý, họ sẽ mở các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏtạo ra rất nhiều việc làm cho ngời lao động
Nh vậy, bằng chiến lợc xuất khẩu lao động của Đảng và Nhà nớc ta đãgóp phần giải quyết việc làm cho một bộ phận không nhỏ ngời lao động trong n-
ớc, giảm sức ép thất nghiệp ở cả nông thôn và thành thị
Thứ hai là, xuất khẩu lao động góp phần xóa đói, giảm nghèo
Mục tiêu của Đảng ta đối với công tác xóa đói nghèo là: ''Đến năm 2010
phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 10 - 15%'' [6, 189] Bởi lẽ, vấn đề xoá
đói giảm nghèo đang là một vấn đề cấp thiết của Việt Nam hiện nay Theo thống
kê của Uỷ ban quốc gia về việc làm và xoá đói giảm nghèo thì trong thời gianvừa qua, mặc dù đã đạt đợc những thành tích đáng kể nhng tỷ lệ hộ đói nghèovẫn còn cao Đến đầu năm 2007 còn có khoảng 1,9 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ14,2% tổng số hộ trong cả nớc
Để góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng đề ra thì một trong những giảipháp hữu hiệu cần phải tính đến là đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động Theotính toán, một lao động làm việc ở nớc ngoài với mức thu nhập khoảng 500 USD/tháng (sau khi trừ các chi phí) thì đây là một mức cao so với con số GDP/ng-ời/năm là 1.000USD của nớc ta Với mức thu nhập đó thì những gia đình chỉ cầnmột lao động đi xuất khẩu lao động sẽ có cơ hội thoát nghèo mà không cần sự hỗtrợ từ phía nhà nớc Đời sống của ngời đi xuất khẩu đợc cải thiện và xuất khẩulao động là giải pháp nhanh nhất để xoá đói, giảm nghèo
Trang 18Thứ ba là, xuất khẩu lao động góp phần tăng thu nhập cho ngời lao động
và ngoại tệ cho đất nớc
Tính đến nay, lao động Việt Nam đang làm việc chủ yếu ở các thị trờng:Malaysia trên 100.000 ngời, thu nhập bình quân 3 - 4 triệu đồng/tháng, một sốnghề thu nhập 6 - 7 triệu đồng/tháng; Đài Loan: trên 90.000 ngời, thu nhập 300 -500USD/ tháng Thị trờng Hàn Quốc: trên 30.000 ngời, thu nhập bình quânkhoảng 900 - 1000USD/tháng và thị trờng Nhật Bản: khoảng 19.000 tu nghiệpsinh, thu nhập bình quân trên 1000USD/tháng Ngoài ra, tại Các Tiểu Vơng quốc
ả Rập thống nhất có khoảng 3.000 lao động và tại Quatar là trên 7.000 ngời.Chúng ta cũng đang bắt đầu triển khai kế hoạch đa lao động sang nhiều thị trờngmới nh Cộng hoà Séc, úc, Bruney
Nhìn chung, ngời lao động đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài thờng cóthu nhập cao, gấp 6 - 10 lần so với thu nhập từ việc làm trong nớc Bình quân thunhập cầm tay của lao động xuất khẩu khoảng 400 USD/tháng Mức lơng tối thiểu
đó cha bao gồm tiền làm thêm giờ, tiền thởng và cha khấu trừ các chi phí ăn ở,thuế, phí dịch vụ xuất khẩu lao động, phí quản lý, phí t vấn, bảo hiểm tại nớcngoài
Việc xuất khẩu lao động đã góp phần to lớn trong việc giải quyết việc làmvới thu nhập cao cho ngời lao động, nhất là lao động làm việc ở một số nớc pháttriển nh Nhật Bản, Hàn Quốc
Bên cạnh đó, xuất khẩu lao động góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho
đất nớc Điều đáng kể là, hàng năm số lao động làm việc ở nớc ngoài đã gửi vềnớc số ngoại tệ lớn, khoảng 1,6 tỷ USD, xấp xỉ với số tiền thu đợc bằng xuấtkhẩu gạo cả năm Nếu chỉ tính riêng con số của năm 2008, thì lấy mức thu nhậpbình quân của một lao động đi làm việc ở nớc ngoài là 500USD/tháng nhân vớitổng số 85.000 lao động thì một năm, chúng ta có hơn 500 triệu USD Lao độngViệt Nam đợc giới chủ các nớc đánh giá cao với các u điểm nh thông minh,nhanh nhẹn, cần cù, chịu khó và khả năng tiếp thu nhanh chóng khoa học kỹthuật và công nghệ tiên tiến Đó cũng chính là lợi thế của lao động Việt Namtrong cạnh tranh với lao động nớc ngoài
Thứ t là, xuất khẩu lao động góp phần nâng cao tay nghề cho ngời lao
động và phát triển nguồn nhân lực
Những nớc mà lao động Việt Nam đến làm việc đa phần là các nớc có nềnkinh tế phát triển, chủ yếu ở khu vực Đông Bắc á: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài
Trang 19đi làm việc có thời hạn ở nớc ngoài thì có tới 33,33% cha qua bất kỳ trờng lớp
đào tạo nghề nào Đồng thời, cũng theo kết quả điều tra tỷ lệ khá cao (71%) ngờilao động đợc đào tạo nghề ở nớc ngoài và cảm thấy hài lòng với nghề nghiệp đó
khi về nớc Điều này cho thấy công tác xuất khẩu lao động có vai trò to lớn đối
với việc nâng cao trình độ của lực lợng lao động Việt Nam đi làm việc ở nớcngoài khi hết hạn trở về nớc
Có thể khẳng định: mục đích của chiến lợc xuất khẩu lao động không chỉdừng lại ở vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động xuất khẩu
và mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nớc mà còn là biện pháp để tiếp thu,chuyển giao công nghệ tiên tiến từ nớc ngoài, giúp đào tạo đội ngũ lao động cóchất lợng và tăng cờng các quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam Ngời lao độngsau thời kỳ làm việc ở nớc ngoài hết hạn trở về nớc đợc trang bị các kiến thứckhoa học công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, nâng caotay nghề và rèn luyện tác phong công nghiệp Đặc biệt, sau khi trở về, cùng với
kỹ năng và vốn tích luỹ đợc, lao động xuất khẩu có thể đầu t vào những hìnhthức sản xuất kinh doanh phù hợp, nâng cao đời sống cho cho cả bản thân lẫn gia
đình Và trong điều kiện nớc ta hiện nay, ngời lao động cần phải chú trọng vàomột số ngành nghề tay nghề cao nh: xây dựng và xây dựng dân dụng, cơ khí,giao thông vận tải, năng lợng, điện tử, dầu khí, y tế giáo dục ; làm việc tại cácnớc phát triển nh Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản để tiếp thu có hiệu quả trình
độ khoa học công nghệ tiên tiến, thay thế những công nghệ đã lạc hậu của nớcmình Đó là kết quả quan trọng mà hoạt động xuất khẩu lao động đem lại, Nhànớc ta cần có những chủ trơng, giải pháp tích cực hơn nữa để đạt đợc những mụctiêu đề ra
Thứ năm là, xuất khẩu lao động góp phần thực hiện đờng lối đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta
Ngoài những giá trị thiết thực mang lại cho ngời lao động, xuất khẩu lao
động còn góp phần tích cực, quan trọng trong việc củng cố mối quan hệ với cácquốc gia mà lao động nớc ta đến sinh sống và làm việc
Thông qua hoạt động của lao động Việt Nam ở nớc ngoài sẽ góp phầnquảng bá hình ảnh về đất nớc và con ngời Việt Nam Từ đó làm cho các mốiquan hệ ngày càng trở nên gắn bó mật thiết Ngoài các mối quan hệ của ngời lao
động thì các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa nhà nớc vớinhà nớc cũng không ngừng đợc cải thiện Nh thế, việc ký kết các hợp đồng cungcấp lao động trở thành yếu tố thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam vớicác nớc trên thế giới, góp phần thực hiện thành công đờng lối đối ngoại của
Trang 20Đảng ta: ''Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nớc trong cộng
đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực'' [6, 112]
Tóm lại, những lợi ích mà hoạt động xuất khẩu lao động đem lại đã làm
cho xuất khẩu lao động đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình đẩynhanh tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế, góp phần tích cực tạo công ăn việclàm, xoá đói giảm nghèo, ổn định mọi mặt của đời sống xã hội, tạo đà cho sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đa đất nớc bớc vào một kỷ nguyên mớivới sự phát triển bền vững, lâu dài
1.3 Sự cần thiết nâng cao chất lợng đào tạo nghề cho ngời
đi xuất khẩu lao động
Việt Nam là nớc có lực lợng lao động lớn Theo thống kê của Bộ Lao
động - Thơng binh và Xã hội là 46,7 triệu ngời (năm 2007), số ngời trong độtuổi lao động là 44,16 triệu ngời (chiếm 94,54%), mỗi năm lực lợng lao động đ-
ợc bổ sung trên 1 triệu ngời, lao động trẻ chiếm tỷ trong lớn trong lực lợng lao
động (45,54%) [2, 5] Ngời lao động Việt Nam nhìn chung có tính hiếu học, cần
cù, chịu khó, khả năng sáng tạo cao, đó là những yếu tố quan trọng để tiếp thucác tri thức tiến bộ của nhân loại, tiếp cận các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới vàthích ứng nhanh với sự thay đổi của môi trờng làm việc Mặt khác, tiền công củalao động Việt Nam thấp hơn so với lao động của nhiều nớc trong khu vực và trênthế giới Tất cả những điều đó tạo nên lợi thế của lao động Việt Nam nói chung
và của ngời lao động Việt Nam đi làm việc ở nớc ngoài
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế, nguồn lao động nớc ta cũng có nhiềuhạn chế Chất lợng nguồn lao động thấp, cha đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị tr-ờng Mỗi năm, lực lợng lao động nớc ta bổ sung khoảng hơn một triệu ngời, nh-
ng tỷ lệ qua đào tạo không cao, năm 2006 đạt mức 31,9%, năm 2007 là 34,7%.Lao động giản đơn dồi dào, lao động có kỹ năng còn hạn chế; cơ cấu đào tạo mấtcân đối, lao động là công nhân kỹ thuật lành nghề thiếu nhiều so với nhu cầu xãhội, đặc biệt là công nhân kỹ thuật thuộc các ngành nh điện tử, cơ khí chế tạo,
điện năng, dầu khí [2, 18] Điều này đã dẫn đến sự thiếu hụt nguồn cung lao
động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nhất là các lao động lành nghề
Nếu đi làm việc ở nớc ngoài, số lao động đã qua đào tạo này cũng cha đápứng đợc nhu cầu của thị trờng do thiếu kỹ năng thực hành và trình độ ngoại ngữ
Và để khắc phục tình trạng này thì nâng cao chất lợng đào tạo nghề cho lao động
đi làm việc ở nớc ngoài là vấn đề cấp thiết, đóng vai trò đặc biệt quan trọng:
Trang 21Thứ nhất, đào tạo nghề sẽ giúp cho lao động đi xuất khẩu có đợc công việc ổn định, mức thu nhập cao
Thực tiễn hoạt động xuất khẩu lao động cho thấy: lao động Việt Nam chủyếu làm việc trong các lĩnh vực giản đơn nh giúp việc gia đình, chăm sóc bệnhnhân, khai thác thủy sản, sản xuất chế tạo Những lĩnh vực này đem lại nguồnthu nhập thấp, còn những lĩnh vực khác có thu nhập cao thì lao động Việt Namkhông đáp ứng đợc do không đợc đào tạo cơ bản và nâng cao Nh vậy, công tác
đào tạo nghề có vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ tay nghề và cảithiện nguồn thu nhập cho lao động xuất khẩu Cũng cần nhấn mạnh rằng, đâychỉ là số liệu chính thức ''hợp pháp''; ngoài ra còn một số lợng lớn lao động ViệtNam sinh sống ''bất hợp pháp'' ở nớc ngoài bằng việc ''vợt biên'', ''đi chui'' hay đi
du lịch rồi không trở về và ở lại các nớc sở tại để lao động Đối tợng này chỉ cóthể làm các công việc giản đơn với chế độ lao động hà khắc, thu nhập thấp, đờisống bấp bênh lại thờng xuyên phải trốn tránh cảnh sát Họ đa phần là lao độngphổ thông, không đáp ứng về sức khỏe, tuổi tác, tài chính, trình độ tay nghề theoyêu cầu nhà tuyển dụng
Bảng 1.1 Tổng hợp lao động Việt Nam đi làm việc ở nớc ngoài
theo ngành nghề (2000 - 2007)
Đơn vị tính: Ngời
Ngành
nghề 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Tổngsố Tỷ lệ(%)Sản
may 2329 1099 2127 2212 1494 886 1020 1572 12739 2,60Giúp
Trang 22Thứ hai, công tác đào tạo nghề sẽ phát huy vai trò của đội ngũ lao động
đi làm việc ở nớc ngoài khi hết hạn trở về nớc Nếu đợc đào tạo nghề thì lao
động Việt Nam sẽ có cơ hội làm việc ở những ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, sửdụng công nghệ hiện đại, đem lại nguồn thu nhập lớn và góp phần nâng cao trình
độ tay nghề Kết quả là lao động nớc ta sẽ tiếp thu các kỹ thuật và công nghệ đó
để khi hết thời hạn làm việc ở nớc ngoài, trở về nớc sẽ ứng dụng vào điều kiệnthực tế của địa phơng
Thứ ba, đào tạo nghề sẽ góp phần tránh đợc hiện tợng lao động Việt Nam không thực hiện đúng hợp đồng lao động đã ký kết Đem so sánh có thể thấy
rằng: Nếu nh lao động phổ thông là đối tợng thờng trốn ra ngoài làm việc và viphạm hợp đồng, thì số lao động đã đợc đào tạo nghề hiện tợng này xảy ra ít hơn.Vì quá trình đào tạo nghề đã bao hàm cả việc đào tạo ngời, giúp cho ngời lao
động có ý thức hơn trong việc chấp hành kỷ luật lao động; bên cạnh đó, mọi chế
độ lao động của họ đợc đảm bảo nên họ rất yên tâm với nghề nghiệp của mình
Quá trình đào tạo nghề không chỉ dừng lại ở mục đích nâng cao tay nghề
mà còn đào tạo cả về ngoại ngữ, truyền thống văn hoá và pháp luật nớc sở tại cholao động xuất khẩu Nắm vững pháp luật là một yêu cầu rất quan trọng, cần thiếtcho mỗi ngời dân Đặc biệt, đối với những ngời lao động Việt Nam đi xuất khẩulao động thì việc nắm vững pháp luật sẽ giúp họ hiểu đợc và chấp hành đúngpháp luật Việt Nam cũng nh pháp luật nớc sở tại Qua đó hạn chế và đi đến chấmdứt tình trạng lao động bỏ trốn, vi phạm hợp đồng lao động Nhờ vậy, công tác
đào tạo nghề sẽ xây dựng đợc uy tín và hình ảnh tơng đối tốt của lao động ViệtNam với các nhà tuyển dụng nớc ngoài
Thứ t, đào tạo nghề sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trờng thế giới Nhận thức đợc vai trò to lớn của xuất khẩu lao
động đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội của đất nớc nên Đảng và Nhà nớc
ta đã xác định những mục tiêu và phơng hớng để phát triển công tác này là: ''Từnăm 2010, hàng năm Việt Nam sẽ đa đợc trên 100.000 lao động đi làm việc ở n-
ớc ngoài, trong đó 70 - 80% là lao động đã qua đào tạo và từ 5 - 10% lao động ởcác huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao Đến năm 2010, nâng tỷ lệ lao động xuất khẩu
có nghề lên tối thiểu 75%, trong đó lao động có trình độ trung cấp nghề trở lênchiếm tỷ lệ tối thiểu 40% Từ năm 2015, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu lao động
có nghề, lao động có trình độ chuyên môn cao và chuyên gia; 100% lao độngxuất khẩu đợc đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hớng về pháp luật, phong tục tậpquán của nớc tiếp nhận lao động, ý thức kỷ luật, tôn trọng và bảo vệ lợi ích quốc
gia, gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc'' [11, 88]
Trang 23Để thực hiện đợc những mục tiêu đó, nhất là trong bối cảnh nền kinh tếthế giới và các nớc tiếp nhận lao động xuất khẩu đang có những thay đổi lớn vềnhu cầu tuyển dụng lao động, việc cải thiện nguồn lao động đi làm việc ở nớcngoài cả về chất lợng và số lợng để nâng cao sức cạnh tranh của lao động ViệtNam là vấn đề hết sức cần thiết, đòi hỏi phát huy hơn nữa vai trò to lớn của côngtác đào tạo nghề trong nớc.
Trên thực tế, lao động Việt Nam đi làm việc ở nớc ngoài với số lợng lớnnhng vẫn chủ yếu là lao động chất lợng thấp, làm việc trong các lĩnh vực giản
đơn, đa phần cha đợc đào tạo nghề hoặc có tay nghề thấp, trình độ ngoại ngữyếu, thiếu hiểu biết về phong tục tập quán và văn hóa của nớc sở tại Điều đó trởthành yếu tố bất lợi đối với lao động Việt Nam, giảm sức cạnh tranh của lao
động nớc ta với một số nớc trong khu vực và trên thế giới Do vậy, muốn nângcao sức cạnh tranh cần nâng cao chất lợng công tác đào tạo nghề (trình độchuyên môn, ngoại ngữ, hiểu biết xã hội) cho lao động đi xuất khẩu
Chỉ cần so sánh với Philippin thì có thể thấy rõ điều đó Lực lợng lao
động xuất khẩu của Philippin có lợi thế về vốn tiếng Anh (do những ngờiPhilippin đã đợc học và sử dụng tiếng Anh ngay từ khi học tiểu học) và trongtổng số lao động xuất khẩu thì lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn kỹthuật chiếm tỷ lệ cao
Do thực tế ngày càng có nhiều ngời thất nghiệp, thậm chí nhiều lao độngkhông có việc làm dẫn đến bất ổn chính trị, nên Chính phủ Philippin đã rất chú ý
đến công tác xuất khẩu lao động chất lợng cao và đa dạng hoá ngành nghề xuấtkhẩu bằng việc nâng cao chất lợng đào tạo nghề cho lao động Nếu năm 1992,Philippin mới xuất khẩu hơn 260.000 lao động đi làm việc ở nớc ngoài thì con sốnày nhanh chóng tăng lên gần 282.000 lao động năm 2004 và hơn 308.000 lao
động năm 2006 Đặc biệt, trong mấy năm qua, ngời Philippin ở nớc ngoài đãtham gia vào đa dạng ngành nghề, từ những ngời trông coi gia súc, làm lâmnghiệp tới công việc hành chính, công nhân kỹ thuật cao và những ngời làmcông tác quản lý Trong số các ngành nghề thì các công việc liên quan đến hoạt
động sản xuất trong các nhà máy, công nhân kỹ thuật cao và các lĩnh vực liênquan tới hoạt động dịch vụ chiếm nhiều u thế hơn cả
Bảng 1.2 Lao động ngời Philippin làm việc ở nớc ngoài
phân theo ngành nghề
Đơn vị tính: ngời
Trang 24Tổng 277859 275404 268699
Hành chính và quản lý 565 490 817Trông coi gia súc, lâm nghiệp, đánh cá 682 350 807Văn phòng và các việc liên quan 5323 5538 7912Công nhân nhà máy, điều hành thiết bị 63719 74802 103584
Nguồn: Tổng hợp số liệu trang web:http://www.poea.gov.ph/html/statistics.html
Tóm lại, lực lợng lao động xuất khẩu Việt Nam trớc khi ra nớc ngoài cần
phải trải qua quá trình đào tạo nghề để khi tham gia thị trờng xuất khẩu lao độngkhông phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt, nặng nhọc, nguy hiểm và ônhiễm mà ngời lao động bản xứ không muốn làm
Vì vậy, cần có sự phân tích, đánh giá đúng tình hình đào tạo nghề cho
ng-ời đi xuất khẩu lao động, để từ đó đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đẩymạnh hơn nữa hoạt động quan trọng này
Trang 252.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Nghệ An là miền đất rộng của vùng Bắc Trung Bộ nớc Cộng hoà xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam, nằm trong toạ độ địa lý từ 180 33' 10'' đến 190 24' 43'' vĩ độBắc và từ 1030 50' 25'' đến 1050 40' 50'' kinh độ Đông
Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá với đờng biên dài 196,13 km;
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh với đờng biên dài 92,6 km;
Phía Đông giáp với biển Đông với bờ biển dài 82 km;
Phía Tây giáp các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, PôlyKhămxây, thuộc
n-ớc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, với đờng biên dài 419 km
Diện tích tự nhiên của Nghệ An có khoảng 16.488,45 km2, chiếm 5,1%diện tích tự nhiên cả nớc (năm 2008) Về mặt hành chính, có 1 thành phố trựcthuộc, 2 thị xã và 17 huyện
Nghệ An có nguồn khoáng sản đợc đánh giá là đa dạng, có các loại từkhoáng sản quý hiếm nh vàng, đá quý đến các loại khác nh thiếc, bôxit, đá vôi,
đá ốp lát, đá bazan, sắt, thiếc, than đá, than bùn Đây là một lợi thế lớn của tỉnhtrong việc phát triển các ngành công nghiệp nh khai khoáng, sản xuất xi măng,vật liệu xây dựng