Sự phát triển của Việt Nam những năm vừa qua rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, đại dịch Covid 19 đã để lại những ảnh hưởng dài hạn về tất cả các mặt của đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gặp nhiều khó khăn vì phải thực hiện mục tiêu kép của Chính phủ: “Vừa chống dịch, vừa đảm bảo phát triển kinh tế”. Mặc dù vậy, CSTT đã có những tác động nhất định đến thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng. Trong nền kinh tế hiện nay, hầu hết mọi cá nhân đều có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến TTCK. TTCK dần trở thành một kênh huy động vốn và kênh đầu tư thu hút được sự quan tâm của các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đặc biệt khi dịch Covid 19 bùng phát, TTCK lại càng trở nên nóng hơn bao giờ hết. Vấn đề đặt ra cần được giải quyết vì đáp ứng nhu cầu cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, cụ thể : CSTT của NHTW Việt Nam đóng vai trò quyết định trong sự vận hành của nền kinh tế, đặc biệt là TTCK khi đại dịch xảy ra. Nhận thức được tầm quan trọng ấy, nhóm đã lựa chọn đề tài này, nhằm bắt kịp với xu hướng phát triển mới của thời đại.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VIỆT NAM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG NƯỚC THỜI KÌ
Trang 21.1.2 Các công cụ để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ 5
Chương II THỰC TẾ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TỚI THỊ TRƯỜNG
Chương III ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
Trang 3Hà NộiP/E Price to Earnings ratio Hệ số giá trên thu nhập
Chương I.
Trang 4DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1 Đồ thị chỉ số VN-Index trong 5 năm từ tháng 3/2016 đến tháng 3/2021 16Hình 2 Số tài khoản mở mới trong từng tháng giai đoạn 2018 - 2020 17Hình 3 Phản ứng của CSGCK VN (VN-Index) trước sự tăng cung tiền M2 19Hình 4 Số lượng tài khoản mở mới trong nước tính đến quý II năm 2021 19Hình 5 Tổng doanh số 10 năm qua trên hai sàn HOSE và HNX 20Hình 6 Tổng quan tăng trưởng lợi nhuận toàn thị trường Q2/2021 21
Hình 7 Tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ròng thao quý toàn thị trường 21Hình 8 Thanh khoản bình quân trên mỗi phiên sàn HOSE (tỷ đồng) 22
Chương II.
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của Việt Nam những năm vừa qua rất đáng ghi nhận Tuy nhiên, đại dịchCovid 19 đã để lại những ảnh hưởng dài hạn về tất cả các mặt của đời sống xã hội Trong bốicảnh đó, điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam gặp nhiều khó khăn vì phảithực hiện mục tiêu kép của Chính phủ: “Vừa chống dịch, vừa đảm bảo phát triển kinh tế”.Mặc dù vậy, CSTT đã có những tác động nhất định đến thị trường tài chính nói chung vàTTCK nói riêng
Trong nền kinh tế hiện nay, hầu hết mọi cá nhân đều có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếpđến TTCK TTCK dần trở thành một kênh huy động vốn và kênh đầu tư thu hút được sự quantâm của các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đặc biệt khi dịch Covid 19bùng phát, TTCK lại càng trở nên nóng hơn bao giờ hết
Vấn đề đặt ra cần được giải quyết vì đáp ứng nhu cầu cho hoạt động nhận thức và thựctiễn, cụ thể : CSTT của NHTW Việt Nam đóng vai trò quyết định trong sự vận hành của nềnkinh tế, đặc biệt là TTCK khi đại dịch xảy ra Nhận thức được tầm quan trọng ấy, nhóm đãlựa chọn đề tài này, nhằm bắt kịp với xu hướng phát triển mới của thời đại
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định mức độ và chiều hướng tác động của CSTT đến TTCK Việt Nam trong giaiđoạn Covid 19 Từ đó đưa ra một số khuyến nghị đối với Chính phủ, các nhà hoạch địnhchính sách về giải pháp hỗ trợ cho sự phát triển của TTCK; đồng thời giúp nhà đầu tư hiểu rõhơn về cơ chế tác động của điều hành CSTT đến TTCK và điều chỉnh hành vi giao dịch phùhợp
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của chính sách tiền tệ đến TTCK ViệtNam trong thời kỳ Covid-19 trên hai khía cạnh là giá cổ phiếu và thanh khoản của thị trường.Trong đó chỉ số giá chứng khoán Việt Nam (VNI) được sử dụng là đại diện của giá cổ phiếutrên TTCK Thanh khoản TTCK được xem xét trên 4 khía cạnh gồm tính tức thời, độ rộng, độsâu và độ đàn hồi Chính sách tiền tệ được điều hành bởi NHNN Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: TTCK được nghiên cứu là thị trường giao dịch cổ phiếu niêm yết, vớiđại diện là SGDCK TP.HCM (HSX) Sở dĩ HSX được lựa chọn làm đại diện choTTCK Việt Nam là vì: mặc dù trên thị trường có hai SGDCK là HSX và HNX nhưngHSX được thành lập đầu tiên, lượng giá trị giao dịch hàng ngày lớn hơn nhiều lần Vìvậy, nghiên cứu trên HSX mang tính đại diện cho toàn thị trường
- Về thời gian: Tiểu luận nghiên cứu tác động của các yếu tố CSTT đến TTCK ViệtNam trong khoảng thời gian thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang chịu ảnhhưởng bởi đại dịch Covid 19
5 Cấu trúc của bài tiểu luận
Phần mở đầu
Phần nội dung bao gồm 3 chương như sau:
Chương I: Tổng quan về chính sách tiền tệ và thị trường chứng khoán
Trang 6Chương II: Thực tế tác động của chính sách tiền tệ tới thị trường chứng khoán Việt Nam thời kỳ Covid-19
Chương III: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thị trường chứng khoán thời kỳ Covid-19
Trang 7Chương I TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN111 1
1.1 Chính sách tiền tệ
1.1.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ trong tiếng Anh còn được gọi là monetary policy.
Chính sách tiền tệ là chính sách sử dụng các công cụ của hoạt động tín dụng và ngoại hối để
ổn định tiền tệ, từ đó ổn định nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “Chính sách tiền tệ quốc gia làcác quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyếtđịnh mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụngcác công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”
1.1.2 Các công cụ để Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ gồm 6 công cụ chính sau:
a Công cụ tái cấp vốn
Là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng thươngmại, Khi cấp khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tănglượng tiền cung ứng đồng thời tạo ra cơ sở của Ngân hàng thương mại tạo bút tệ và khaithông khả năng thanh toán của họ
b Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động,nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng thương mại
c Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trườngtiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của cácNgân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàngthương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ
d Công cụ lãi suất tín dụng
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổilãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làmkích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là 1 công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất đượchiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ươngnhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
Trang 8f Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Nó vừa phảnánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giá hối đoái làcông cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong nước
Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩuhàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữcủa đất nước Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá khônglàm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước cónền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ
1.1.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
a Ổn định giá cả
Ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn củachính sách tiền tệ Các ngân hàng Trung Ương (NHTW) thường lượng hoá mục tiêu này bằngtốc độ tăng của chỉ số giá cả tiêu dùng xã hội Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kếtcủa NHTW nhằm ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn Điều này có nghĩa là NHTW sẽ khôngtập trung điều chỉnh sự biến động giá cả về mặt ngắn hạn Do những biện pháp về chính sáchtiền tệ tác động đến nền kinh tế có tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó có thể dự đoánchính xác kết quả sẽ xảy ra vào thời điểm nào trong tương lai, vì vậy sẽ là không khả thi đốivới NHTW trong việc theo đuổi để kiểm soát giá cả trong ngắn hạn
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia
vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô Mức lạmphát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo
sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đốivới sự thịnh vượng kinh tế của quốc gia Lạm phát cao hay thiểu phát liên tục là rất tốn kémcho xã hội, thậm chí ngay cả trong trường hợp nền kinh tế phát triển khả quan nhất Sự biếnđộng liên tục của các tỷ lệ lạm phát dự tính làm méo mó, sai lệch thông tin và do đó làm chocác quyết định kinh tế trở nên không đáng tin cậy và không có hiệu quả Nguy hiểm hơn, sựbất ổn định giá cả dẫn đến sự phân phối lại không dân chủ các nguồn lực kinh tế trong xã hộigiữa các nhóm dân cư
Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phátbằng không Những nghiên cứu về lạm phát cho thấy trong khi cố gắng duy trì lạm phát ở gầnmức 0, chính sách tiền tệ dễ đưa nền kinh tế đi quá đà và rơi vào tình trạng thiểu phát gây hậuquả còn trầm trọng hơn, đó là làm nền kinh tế suy thoái Hơn nữa một mức lạm phát dươngđược chứng minh là có tác dụng bôi trơn và hâm nóng nền kinh tế nên sẽ có những ảnh hưởngtích cực tới tăng trưởng kinh tế Theo các chuyên gia về chính sách tiền tệ ở châu Âu, mứclạm phát từ 1.5% đến dưới 4% là phù hợp với các nền kinh tế phát triển
Trang 9b Ổn định tỷ giá hối đoái
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hoá và tiền vốn vào ra một quốc giagắn liền với việc chuyển đổi qua lại giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Việc ngăn ngừa nhữngbiến động mạnh, bất thường trong tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho các hoạt động kinh tế đối ngoạiđược hiệu quả hơn nhờ dự đoán được chính xác về mặt khối lượng giá trị Thêm vào đó, tỷgiá hối đoái còn ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước với nước ngoài
về mặt giá cả
c Ổn định lãi suất
Lãi suất là một biến số kinh tế vĩ mô hết sức quan trọng trong nền kinh tế do nó ảnhhưởng tới quyết định chi tiêu của các doanh nghiệp và hộ gia đình Những biến động bấtthường trong lãi suất sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp và cá nhân trong việc dự tính chitiêu hay lập kế hoạch kinh doanh Do đó ổn định lãi suất cũng là một mục tiêu quan trọng màcác NHTW hướng tới nhằm góp phần ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
d Ổn định thị trường tài chính
Thị trường tài chính được xem là nơi tạo ra nguồn vốn cho phát triển kinh tế Nó gópphần quan trọng trong việc điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, giúp nâng cao hiệuquả sử dụng vốn trong nền kinh tế Với vai trò như vậy, sự ổn định của thị trường tài chính có
ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế các quốc gia NHTW với khả năng tác động tới khốilượng tín dụng và lãi suất có nhiệm vụ đem lại sự ổn định cho thị trường tài chính
e Tăng trưởng kinh tế
Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu của xã hội nên có thể sửdụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế phải được hiểu cả vềkhối lượng và chất lượng Chính sách tiền tệ phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế, tức là
tỷ lệ tăng trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ Chất lượng tăng trưởngđược biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hoátrong nước tăng lên
Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là nền tảng cho mọi
sự ổn định, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh toánquốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế
f Giảm tỷ lệ thất nghiệp
Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô trong
đó có chính sách tiền tệ Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệpbằng 0 mà ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệthất nghiệp tạm thời (những người đang tìm kiếm công việc thích hợp) và tỷ lệ thất nghiệp cơcấu (thất nghiệp bởi sự không phù hợp giữa nhu cầu về lao động và cung của lao động) Mỗiquốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một cách chính xác để đạt được mụctiêu này Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng được coi là mục tiêu củachính sách tiền tệ
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ không phải lúc nào cũng nhất trí và hỗ trợ cho nhau
Trang 10Trong một số trường hợp, vẫn có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau khiến cho việctheo đuổi mục tiêu này đòi hỏi phải có những hy sinh nhất định về mục tiêu kia Mối quan hệgiữa mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp với mục tiêu ổn định giá cả là một minh chứng rõ rệt.Thứ nhất, để giảm tỷ lệ lạm phát, cần phải thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt Dưới tácđộng của chính sách này, lãi suất thị trường tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu
và do đó làm giảm tổng cầu của nền kinh tế Thất nghiệp vì thế có xu hướng tăng lên Ngượclại, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thường kéo theo một chính sách tiền tệ mở rộng
và sự tăng giá Thứ hai, mục tiêu tạo công ăn việc làm (hay giảm tỷ lệ thất nghiệp) mâu thuẫnvới mục tiêu ổn định giá cả còn thể hiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú sốccung nhằm đảm bảo mức cầu tiền thực tế, cung ứng tiền tăng đưa đến kết quả là giá cả tănglên Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh tỷ giá Bằngviệc hạ giá đồng nội tệ (ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào và cung ứng thêm nội tệ rathị trường), các ngành kinh doanh hướng về xuất khẩu có khả năng mở rộng Tỷ lệ thất nghiệp
vì thế giảm thấp nhưng lại kèm theo sự tăng lên của mức giá chung
Phần lớn NHTW các nước coi ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của chínhsách tiền tệ, nhưng trong ngắn hạn đôi khi họ phải tạm thời từ bỏ mục tiêu chủ yếu này đểkhắc phục tình trạng thất nghiệp cao đột ngột hoặc các ảnh hưởng của các cú sốc cung đối vớisản lượng Ngân hàng trung ương được xem là có nhiều khả năng để làm việc này vì nó nắmtrong tay các công cụ điều chỉnh lượng tiền cung ứng Có thể nói ngân hàng trung ương theođuổi một mục tiêu về dài hạn và đa mục tiêu trong ngắn hạn
1.2 Thị trường chứng khoán
1.2.1 Khái niệm
a Khái niệm Chứng khoán
Tại Điều 4 Luật Chứng khoán định nghĩa chứng khoán là các loại tài sản; cụ thể đượcquy định như sau:
- Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối vớimột phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành
- Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối vớimột phần nợ của tổ chức phát hành
- Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phầnvốn góp của quỹ đầu tư chứng khoán
- Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc phát hành trái phiếu hoặc cổphiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng quyền được quyền mua một số cổ phiếu phổthông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong khoảng thời gian xác định
- Chứng quyền có bảo đảm là loại chứng khoán có tài sản bảo đảm do công ty chứng khoánphát hành, cho phép người sở hữu được quyền mua (chứng quyền mua) hoặc được quyền bán(chứng quyền bán) chứng khoán cơ sở với tổ chức phát hành chứng quyền có bảo đảm đótheo mức giá đã được xác định trước, tại một thời điểm hoặc trước một thời điểm đã được ấnđịnh hoặc nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thờiđiểm thực hiện
- Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành nhằm mang lại cho
cổ đông hiện hữu quyền được mua cổ phần mới theo điều kiện đã được xác định
Trang 11- Chứng chỉ lưu ký là loại chứng khoán được phát hành trên cơ sở chứng khoán của tổ chứcđược thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
b Khái niệm Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận của thị trường tài chính
- Về mặt hình thức, TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyểnnhượng các loại chứng khoán trung và dài hạn, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứngkhoán Việc giao dịch chứng khoán có thể được thực hiện thông qua các Sở giao dịchchứng khoán hoặc giao dịch qua quầy
- Xét về bản chất, TTCK là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm để phânphối lại cho những ai muốn sử dụng các nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụngsẵn sàng trả và theo phán đoán của thị trường về khả năng sinh lời từ các dự án củangười sử dụng
Vì vậy, TTCK thực chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ Các chứng khoán muabán trên TTCK có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định vàđược lưu thông trên TTCK theo giá cả thị trường Đây là nơi mua bán các quyền sở hữu về tưbản và là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá
1.2.2 Phân loại
Thị trường chứng khoán có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy vàocách thức phân loại Thông thường có ba cách thức cơ bản là phân loại theo hàng hoá, phânloại theo hình thức tổ chức của thị trường và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
a Phân loại theo hàng hoá của thị trường chứng khoán
Dựa vào các loại hàng hoá được trao đổi trên thị trường, người ta có thể phân thành thịtrường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ phái sinh
- Thị trường trái phiếu: là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại
đó là các trái phiếu Đây là thị trường giao dịch các công cụ nợ trung và dài hạn, chophép chuyển nhượng vốn từ người cho vay sang người đi vay
- Thị trường cổ phiếu là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi, mua bán tại đó
là các cổ phiếu
- Thị trường các công cụ phái sinh là thị trường mà hàng hoá được giao dịch trao đổi,mua bán tại đó là chứng khoán phái sinh Ví dụ: hợp đồng giao sau, hợp đồng quyềnchọn, hợp đồng hoán đổi với mục đích chính là chuyển nhượng rủi ro
b Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Theo cách thức này, thị trường được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
- Thị trường sơ cấp:
+ Thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán được phát hành và bán cho những người mua đầutiên (vì vậy còn được gọi là thị trường phát hành) Giá của các chứng khoán được bán trên thịtrường sơ cấp gọi là giá phát hành, các chứng khoán được gọi là chứng khoán mới phát hành
Trang 12+ Thị trường sơ cấp là thị trường cung cấp vốn cho nhà phát hành bằng cách phát hành chứngkhoán Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông quaviệc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành Hoạt động phát hành chứng khoán đượcđảm nhiệm bởi các tổ chức bảo lãnh phát hành như công ty chứng khoán, ngân hàng thươngmại, công ty đầu tư,
+ Phần lớn những người mua trên thị trường sơ cấp là các tổ chức lớn hay quỹ đầu tư
- Thị trường thứ cấp
+ Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơcấp Đây là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán Các chứng khoán sau khiđược phát hành ra trên thị trường sơ cấp sẽ tiếp tục được mua đi bán lại trên thị trường thứcấp
+ Thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đã phát hành Việc này làmtăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư Việc tăng tínhlỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc thay đổi thời hạn của vốn, từ vốn ngắn hạnsang trung và dài hạn, đồng thời tạo điều kiện cho việc phân phối vốn một cách hiệu quả.+ Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công ty
+ Thông qua việc xác định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi phí vốn tươngứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho cácnhà phát hành cũng như các nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp Vốn sẽ được chuyển tới nhữngcông ty nào làm ăn có hiệu quả cao nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội
● Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp: ở thị trường sơcấp, nguồn vốn tiết kiệm được thu hút vào công cuộc đầu tư phát triển kinh tế Còn ởthị trường thứ cấp, việc giao dịch không làm tăng quy mô đầu tư vốn, không thu hútthêm được các nguồn tài chính mới mà chỉ có tác dụng phân phối lại quyền sở hữuchứng khoán từ chủ thể này sang chủ thể khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứngkhoán
● Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ lẫn nhau Nếukhông có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứcấp Ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì thị trường sơ cấp khó hoạt độngtrôi chảy Chính sự có mặt của thị trường thứ cấp đã giúp cho các chứng khoán có tínhthanh khoản, làm tăng tính hấp dẫn của chứng khoán; từ đó làm tăng tiềm năng huyđộng vốn của các chủ thể phát hành chứng khoán Mục đích cuối cùng của các nhàquản lý là phải tăng cường hoạt động huy động vốn trên thị trường sơ cấp, vì chỉ có tạithị trường này, vốn mới thực sự vận động từ người tiết kiệm sang người đầu tư, còn sựvận động của vốn trên thị trường thứ cấp chỉ là tư bản giả, không tác động trực tiếp tớiviệc tích tụ và tập trung vốn
c Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường
Theo cách phân loại này, thị trường chứng khoán được tổ chức thành các Sở giao dịch,thị trường chứng khoán phi tập trung và thị trường tự do
- Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)
+ SGDCK là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung
Trang 13+ Các chứng khoán được niêm yết giao dịch tại SGDCK thông thường là chứng khoán củacác công ty lớn, có danh tiếng, đã trải qua nhiều thử thách trên thị trường và đáp ứng được cácyêu cầu, tiêu chuẩn niêm yết do SGDCK đặt ra.
+ SGDCK được tổ chức và quản lý một cách chặt chẽ bởi UBCKNN, các giao dịch chịu sựđiều tiết của luật chứng khoán và thị trường chứng khoán
- Thị trường chứng khoán phi tập trung
+ Thị trường chứng khoán phi tập trung là thị trường không có trung tâm giao dịch tập trung,
đó là một mạng lưới các nhà môi giới và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với cácnhà đầu tư, các hoạt động giao dịch của thị trường chứng khoán phi tập trung được diễn ra tạicác quầy (sàn giao dịch) của các ngân hàng và công ty chứng khoán thông qua điện thoại haymáy vi tính diện rộng
+ Khối lượng giao dịch của thị trường này thường lớn hơn rất nhiều lần so với SGDCK.+ Thị trường chứng khoán phi tập trung chịu sự quản lý của Sở giao dịch và Hiệp hội các nhàkinh doanh chứng khoán
- Thị trường tự do
Thị trường tự do là thị trường giao dịch tất cả các loại cổ phiếu được phát hành thông qua việcthương lượng và thoả thuận trực tiếp giữa bên mua và bên bán tại bất cứ nơi đâu, vào bất kỳlúc nào
1.2.3 Chức năng
a Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họđược đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng và tăng quy mô sảnxuất cho xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK đã có những tácđộng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Thông qua TTCK, chính phủ
và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng
và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
b Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựachọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và
độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mụctiêu và sở thích của mình Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệmquốc gia
c Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiềnmặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khả năng thanh khoản là một trong nhữngđặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt,
an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năngnâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường
Trang 14d Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và kích thích các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn
Giá chứng khoán giúp đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp một cách tổng hợp vàchính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanhchóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng caohiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
Khi tham gia niêm yết trên TTCK tập trung, các doanh nghiệp niêm yết cần phải đáp ứngđược một số điều kiện cụ thể, nhất định theo quy định như: vốn điều lệ, tình hình tài chính vàphải công khai kết quả hoạt động SXKD theo chế độ báo cáo định kỳ Với sức ép thườngxuyên của thị trường, với quyền tự do lựa chọn mua chứng khoán của nhà đầu tư đòi hỏi cácnhà quản lý doanh nghiệp phải biết tính toán, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Từ đó,tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích
áp dụng công nghệ mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, tối đa hóa lợi nhuận
e Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chínhxác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; vàngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế
Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúpchính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, chính phủ có thể mua vàbán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCKnhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
1.2.4 Nguyên tắc hoạt động
a Nguyên tắc trung gian
Mọi hoạt động giao dịch trên thị trường chứng khoán đều được thực hiện thông quacác trung gian hay còn được gọi là các nhà môi giới (brokers, cá nhân hoặc công ty chứngkhoán) Các giao dịch cần thực hiện có giấy tờ, có tổ chức thông qua các nhà môi giới Nhữngbên trung gian này thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng và hưởng hoa hồng, ngoài racòn có thể cung cấp các dịch vụ khác như cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng trongviệc đầu tư
Ngoài ra, họ còn giúp cho thị trường chứng khoán trở nên an toàn, công bằng hơn chocác nhà đầu tư vì họ thường là những chuyên gia, am hiểu và tuân theo luật chơi của thịtrường
Theo nguyên tắc trung gian, các nhà đầu tư không thể trực tiếp thoả thuận với nhau đểmua bán chứng khoán:
Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua
từ các nhà bảo lãnh phát hành
Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty
chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng vớinhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình
Trang 15b Nguyên tắc đấu giá
Giá chứng khoán được xác định thông qua việc đấu giá giữa các lệnh mua và các lệnhbán Tất cả các thành viên tham gia thị trường đều không thể can thiệp vào việc xác định giánày
Có 3 hình thức đấu giá cơ bản sau:
+ Đấu giá trực tiếp : Là hình thức đấu giá theo phương thức các nhà môi giới gặp nhau thôngqua một người trung gian tại quầy giao dịch trong sàn giao dịch
+ Đấu giá gián tiếp : là các nhà môi giới không trực tiếp gặp nhau trong giao dịch này Cáccông ty chứng khoán thường xuyên công bố giá cao nhất sẵn sàng mua và giá thấp nhất sẵnsàng bán cho mỗi loại chứng khoán mà công ty đang xây dựng
+ Đấu giá tự động : đánh giá qua hệ thống máy tính nối mạng giữa máy chủ của sở giao dịchchứng khoán với hệ thống của các công ty chứng khoán thành viên
c Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là hàng hóa trừu tượng nên thị trường chứng khoán phải được xây dựngdựa trên hệ thống công bố thông tin tốt, minh bạch, kịp thời và dễ tiếp cận
Sở giao dịch chứng khoán công bố các thông tin về giao dịch chứng khoán trên thị trường.Các tổ chức phát hành, niêm yết có nghĩa vụ phải công bố công khai các thông tin thườngxuyên và đột xuất (thông tin tài chính định kỳ hàng năm của công ty, các sự kiện bất thườngxảy ra đối với công ty, nắm giữ cổ phiếu của giám đốc, người quản lý, cổ đông đa số)
d Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan hệ cung cầu vềchứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty
Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình
cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêucủa mình
Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi
nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá
e Nguyên tắc tập trung
Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sựkiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản
Trang 16Chương II THỰC TẾ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TỚI THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM THỜI KỲ COVID-19 Chương 2 Chương 2
1.3 Chính sách tiền tệ Việt Nam thời kì Covid-19
1.3.1 Trước Covid
Xét trong giai đoạn 2008-2018, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua những biến độngkinh tế do những ảnh hưởng cả trong và ngoài nước Năm 2009, trong khi các nước đưa ra cácgói kích cầu khổng lồ nhưng vẫn giữ được mức độ lạm phát âm hoặc xấp xỉ bằng không thìtại Việt Nam, tỷ lệ lạm phát xuất hiện với mức cao hơn nhiều so với mặt bằng chung Vì thế,NHTW đã lập tức thắt chặt chính sách tiền tệ thông qua cắt giảm gói kích cầu và tăng lãi suất
cơ bản để kiềm chế lạm phát Bước sang năm 2010, khi lạm phát được ghi nhận ở mức 2 con
số, NHTW đã kịp thời điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ nhằm kích thích nguồn cung ngoại tệ vàcải thiện dự trữ ngoại hối Trong năm 2018, chiến tranh thương mại Mĩ – Trung và bất ổnchính trị ở Trung Đông khiến giá các mặt hàng tại Việt Nam liên tiếp giảm, cùng với đó là áplực lạm phát đè nặng lên nền kinh tế Tuy vậy, NHTW đã kiểm soát tốt tỷ lệ lạm phát nhờ cácbiện pháp điều tiết cung tiền hợp lí, kiểm soát nợ xấu và nâng cao hiệu quả sử dụng dòng vốn
1.3.2 Trong Covid
Đại dịch Covid-19 xuất hiện cuối năm 2019, đầu năm 2020 là cú sốc cung nghiêmtrọng nhất trên toàn cầu kể từ Thế chiến thứ 2 đến nay Dịch bệnh làm trì hoãn các hoạt độngsản xuất và cung ứng hàng hóa, trực tiếp ảnh hưởng đến GDP của các quốc gia trên thế giới.Nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng
và suy thoái toàn cầu như GDP giảm xuống mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây; đầu tư,tiêu dùng nội địa giảm; các doanh nghiệp lao đao, nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng sảnxuất, Đứng trước không ít những khó khăn và bất lợi đó, NHTW đã kịp thời đưa ra cácchính sách nhằm duy trì năng lực và đảm bảo khả năng phục hồi nền kinh tế trong và sau đạidịch
a Chính sách truyền thống
NHTW triệt để tiết giảm chi phí hoạt động, tập trung mọi nguồn lực để giảm lãi suấthuy động và lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượtqua khó khăn Tính từ khi đại dịch bùng phát đến nay, Việt Nam đã thực hiện 4 lượt cắt giảmlãi suất Quyết định hạ lãi suất giúp các doanh nghiệp giảm bớt gánh nặng tài chính đồng thờilàm tăng tính thanh khoản trên thị trường và ổn định mặt bằng lãi suất Ngoài giảm lãi suất,Chính phủ cũng triển khai các gói hỗ trợ về tiền tệ (khoảng 300.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ về tàikhóa (khoảng 180.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ an sinh xã hội (trên 62.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ giáđiện (khoảng 12.000 tỷ đồng), gói hỗ trợ giá viễn thông (khoảng 15.000 tỷ đồng) và miễngiảm khoảng 20.000 tỷ đồng các loại thuế, phí, lệ phí cho doanh nghiệp, người dân Ngoài ra,Chính phủ cũng đã công bố gói tín dụng trị giá 285 nghìn tỷ đồng (khoảng 3,8% GDP) cungứng cho doanh nghiệp và hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi đại dịch Đầu tháng 3/2020, Chính phủcũng đưa ra gói hỗ trợ chưa từng có với trị giá lên tới trên 300 ngàn tỷ đồng, trong đó 285ngàn hỗ trợ tín dụng ngân hàng và 30 ngàn hỗ trợ thuế
Ngoài công cụ lãi suất, NHTW còn điều hành tỷ giá cho phù hợp với diễn biến thịtrường, mức độ lạm phát, kịp thời can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm đối phó đối với các
cú sốc cung - cầu, đặc biệt là sốc cung ngoại hối do làn sóng rút vốn ngoại tệ từ các nhà đầu