Nhiệm vụ nghiên cứu- Thống kê, phân loại các danh từ riêng trong thơ Tố Hữu qua ba tập thơ: Cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu của tác giả Trần Đình Sử tái bản năm 2001, Nxb VH-TT đã cung cấp một
Trang 1Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn
====*****====
Danh từ riêng trong thơ tố hữu
(Khảo sát qua ba tập thơ việt bắc, gió lộng và ra trận)
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: ngôn ngữ
Giáo viên hớng dẫn: ts Trịnh thị mai Sinh viên thực hiện: hoàng thị hằng Lớp: 47B3 - Văn
Vinh – 2010 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Thơ là cảm xúc, là tiếng nói chân thành của trái tim Mỗi từ, mỗihình ảnh trong thơ đều là cảm xúc của người viết trước cái đẹp của nhiênthiên và cuộc sống Ở mỗi nhà thơ đều có cách dùng từ riêng hay nói cáchkhác việc xuất hiện một lớp từ nào đó rất tiêu biểu trong thơ đều nằm trong ý
đồ của người viết Từ ngữ chính là một trong những yếu tố hàng đầu của thơca
1.2 Trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam, Tố Hữu được coi là conchim đầu đàn Thơ Tố Hữu là sự hoà quyện giữa cảm xúc về cái đẹp và cảmxúc chính trị hay nói cách khác, đó là sự hoà quyện giữa một nhà thơ với mộtnhà cách mạng Người Việt Nam yêu thơ Tố Hữu, bởi thơ ông đã kết hợpđược một cách nhuần nhuyễn giữa men say lý tưởng và tinh thần độc lập dântộc đậm đà trong cả nội dung lẫn hình thức Từ ngữ trong thơ ông giản dị dễhiểu nhưng mỗi từ đều có giá trị nghệ thuật, trong đó phải kể đến danh từ
riêng Nhóm từ này xuất hiện dày đặc, nhất là trong ba tập thơ Việt Bắc, Gió
lộng và Ra trận.
1.3 Thơ Tố Hữu không chỉ là đối tượng nghiên cứu của giới nghiên cứuphê bình văn học mà còn là đối tượng giảng dạy ở trường phổ thông và đại
học Đề tài nghiên cứu Danh từ riêng trong thơ Tố Hữu của chúng tôi sẽ là
nguồn tư liệu không chỉ góp phần vào việc khẳng định tài năng phẩm chất củamột nhà thơ lớn mà còn giúp cho giáo viên, học sinh, sinh viên hiểu hơn vềthơ Tố Hữu để dạy học có hiệu quả nhất
2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các danh từ riêng trong ba tập
thơ Việt Bắc, Gió lộng và Ra trận của Tố Hữu Danh từ riêng được nghiên
cứu ở các đặc điểm và vai trò
Trang 32.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê, phân loại các danh từ riêng trong thơ Tố Hữu qua ba tập thơ:
Cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu của tác giả Trần Đình Sử (tái bản năm 2001,
Nxb VH-TT) đã cung cấp một mô hình thế giới nghệ thuật làm nền tảng chonghiên cứu thi pháp Bắt đầu từ con người, mở ra thế giới với không gian,thời gian, thể tài, chất thơ và phương thức thể hiện Tác giả cũng đã nghiêncứu đặc điểm tổ chức lời thơ của Tố Hữu như đặc điểm cú pháp, cách sử dụng
từ ngữ, hình ảnh, cách ngắt nhịp, ngắt dòng
Khi nhận xét về việc sử dụng hình ảnh ngôn từ trong thơ Tố Hữu, ông viết:
Trang 4“Hình ảnh ngôn từ trong thơ ông thể hiện một thế giới đang bừng sáng, bốc cháy, nóng bỏng Ông thích được nói đến mặt trời chân lý, mặt trời lên,
đỏ như sao hoả, sáng sao kim, chói lọi khối sáng sao băng, cả địa cầu thành một ngôi sao…”.[13, 255] hoặc: "Cảnh vật trong thơ Tố Hữu thường được miêu tả trong độ nảy nở, xinh đẹp tột cùng: căng đầy sức dậy dáng non tơ, đường nở ngực những hàng dương liễu nhỏ, rực lúa chiêm trăng bướm bướm vàng…lụa Nam Định đẹp tươi mát rượi, những đàn trâu Việt Bắc béo tròn, mía lên mật thân tím màu áo cưới, sum suê chợ Bưởi, tíu tít Đồng Xuân” [13,
257] Hay nhận xét chung của ông về cách ngắt nhịp trong thơ Tố Hữu: Đọc
thơ ông, người ta không thể tuân theo cái nhịp đều đặn, cố hữu của thể thơ,
mà phải tuân theo nhịp của lời nói được diễn đạt Đó là cái duyên của thơ Ở đây, sự tôn trọng các dấu chấm, dấu cảm, dấu hỏi, dấu phẩy…có ý nghĩa đặc biệt quan trọng” [13, 243]
Cuốn Tố Hữu - về tác gia và tác phẩm của tác giả Phong Lan (Nxb Giáo
dục, 2003) tập hợp khá nhiều bài viết tiêu biểu về thơ Tố Hữu Các bài viếttập trung phân tích một số nét đặc sắc trong một số bài thơ, tập thơ của TốHữu về các mặt như giá trị nội dung và nghệ thuật Đặc biệt, về đặc điểmphong cách nghệ thuật đã có nhiều nhận xét tiêu, chẳng hạn như một số nhậnxét sau đây:
Tác giả Vũ Đức Phúc viết: “Đặc sắc nhất của thơ Tố Hữu trước hết lại
là ở nội dung của nó; nghĩa là ở tính đa dạng của tình cảm hồn nhiên, chân thực Trong một số bài thơ thường thường có đủ các khía cạnh, và cung bậc, tình cảm, mà những tình cảm ấy ăn khớp với nhau một cách tự nhiên, phù hợp với sự vật được nhà thơ cảm thụ Sự đa dạng trong tình cảm hồn nhiên là cái cốt của phong cách thơ Tố Hữu” [12, 261] Hay nhận xét của tác giả Lê
Đình Kị: “Cái nổi lên ở Tố Hữu là hồn thơ dân tộc - hiện đại, và hồn thơ này
được kết tinh vào nhạc điệu Sáng tác là sự thống nhất giữa khách quan và chủ quan, giữa hiện thực cách mạng Việt Nam và tâm hồn của nhà thơ Nhạc
Trang 5điệu là kết tinh của mối thống nhất này Sáng tác hình thành là khi bắt đầu có
sự thống nhất giữa nội dung và hình thức Nội dung thơ Tố Hữu là nội dung cách mạng với đầy đủ ý nghĩa và chiều sâu của nó Hình thức thơ Tố Hữu là hình thức dân tộc Nhạc điệu thiết tha lôi cuốn của thơ Tố Hữu cũng chính là biểu hiện tổng hợp của mối thống nhất này” [12, 812]
Cuốn Tố Hữu, thơ và cách mạng của nhóm tác giả Mai Hương, Vân
Trang, Nguyễn Cừ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 1996) cũng tập trungnhững bài tiêu biểu về thơ Tố Hữu Trong đó có nhận xét khái quát về ngôn
ngữ thơ Tố Hữu như nhận xét của tác giả Hoài Thanh: “Thơ anh không chỉ
nói bằng câu, bằng chữ mà còn bằng nhịp điệu, âm thanh và quan hệ giữa các nhịp điệu âm thanh” [4, 462]
Riêng thơ Tố Hữu, nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ, thời gian gần đây đã
có một số đề tài khoá luận, luận văn, luận án đi sâu tìm hiểu những đóng góp
về ngôn ngữ thơ Tố Hữu như:
- Động từ chỉ hành động trong thơ Tố Hữu của tác giả Nguyễn Thị Hải Lý.
- Khảo sát vốn từ ngữ chỉ không gian, thời gian trong thơ Tố Hữu của
tác giả Trần Thị Bích Thuỷ
- Khảo sát cách sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu của tác giả
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
- Từ chỉ màu sắc trong thơ Tố Hữu, của tác giả Nguyễn Thị Yến.
- Đại từ trong thơ Tố Hữu của tác giả Nguyễn Thị Hà.
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu nói chung và ba
tập thơ Việt Bắc, Gió lộng và Ra trận nói riêng, chúng tôi thấy hầu hết các
công trình nghiên cứu, các bài viết về thơ Tố Hữu dù ở phương diện hình thứchay nội dung cũng có ít nhiều đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ của thơ Tố Hữu,
có thể về mặt thể thơ, về vần điệu, về hình ảnh, về từ ngữ….Nhưng chưa cócông trình nào đi sâu nghiên cứu danh từ riêng trong thơ ông Vì vậy, trên cơ
sở các công trình, các bài viết này, chúng tôi đã mạnh dạn tìm hiểu Danh từ
Trang 6riêng trong thơ Tố Hữu để góp phần làm rõ thêm một nét phong cách ngôn
ngữ của thơ ông
4 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi đã
sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích miêu tả và tổng hợp
- Phương pháp so sánh đối chiếu
5 Đóng góp của đề tài
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu rất nhiều nhưng
đề tài của chúng tôi là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu Danh từ riêng
trong thơ Tố Hữu Khoá luận không chỉ giúp người đọc thấy được các loại
dang từ riêng được sử dụng trong thơ ông Hữu cũng như ý nghĩa của chúng,
mà còn tìm thấy một nét rất riêng trong phong cách thơ ông Qua đó, ngườiđọc sẽ thấy rõ những chuyển biến trong nội dung cũng như trong nghệ thuậtthơ ông qua các thời kỳ
6 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, khoá luận gồm 3 chương sau:
- Chương 1: Một số vấn đề chung liên quan đến đề tài.
- Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của danh từ riêng trong thơ Tố Hữu.
- Chương 3: Vai trò của của danh từ riêng trong thơ Tố Hữu.
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Tố Hữu và thơ Tố Hữu
1.1.1 Về tác giả Tố Hữu
Tố Hữu tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4-9-1920 tại làngPhù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế,trong gia đình một nhà nho nghèo Năm ông mười hai tuổi mẹ mất, cha đi làm
xa Năm mười ba tuổi, Tố Hữu vào học trường Quốc học Huế Lớn lên giữalúc phong trào cách mạng do Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo đangphát triển mạnh mẽ trong thời kì Cách mạng Dân chủ, Tố Hữu đã sớm giácngộ cách mạng Năm 1936, ông gia nhập Đoàn thanh niên Cộng sản Năm
1938, Tố Hữu được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương và từ đó hoàn toànhiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng Ông liên tục giữ những cương
vị trọng yếu trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Ông mất ngày 12-2002 tại Hà Nội, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho công chúng yêu thơ
9-và những người đồng chí
Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ thống nhất chặtchẽ, sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, trở thành một bộ phậncủa sự nghiệp cách mạng
1.1.2 Thơ Tố Hữu
1.1.2.1 Các tác phẩm của Tố Hữu
Tố Hữu đến với cách mạng, với thơ trong tuổi trẻ của cuộc đời Đất
nước nô lệ, nên người thanh niên ấy đã sớm đi vào con đường đấu tranh Từ
ấy là tiếng nói thơ ca được khơi dậy từ tấm lòng yêu thương và gắn bó với đất
nước Trên sáu thập kỉ qua, con đường thơ của Tố Hữu là tiếng nói đồng hành
với con đường cách mạng và nói như Pierre Emmauel là “sự diễn đạt về số
phận dân tộc mình”.
Trang 8Ông đã để lại cho thi đàn Việt Nam 7 tập thơ:
Tập Từ ấy (1937 - 1936) là chặng đường đầu mười năm thơ Tố Hữu,
cũng là mười năm hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đếntrưởng thành của người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôiđộng đã diễn ra nhiều biến cố to lớn làm rung chuyển và đổi thay sâu sắc xã
hội Việt Nam Tập thơ Từ ấy gồm ba phần Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng
tương ứng với ba chặng đường trong mười năm hoạt động cách mạng của
người thanh niên cách mạng Từ ấy là tiếng reo ca hân hoan, nồng nhiệt của
một tâm hồn trẻ khao khát lẽ sống đã bắt gặp được lý tưởng và quyết tâmcống hiến cuộc đời mình cho lý tưởng ấy
Tập thơ Việt Bắc (1946 - 1954) là bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến
chống thự dân Pháp, phản ánh những chặng đường gian lao anh dũng và sựtrưởng thành của cuộc kháng chiến cho đến ngày thắng lợi Chủ đề chung củatập thơ là toàn dân đoàn kết, yêu thương nhau, vượt mọi gian khổ kháng chiếnđến thành công Nổi bật nhất là hình ảnh Bác Hồ, các bà mẹ, các chị, các em
bé, các anh bộ đội, tất cả xoắn xít lấy nhau trong một mối tình cá nước giữaquân và dân, ở tiền tuyến và hậu phương… Tập thơ có những bài nổi tiếng
Trang 9như “Phá đường” (1948), “Lượm” (1949), “Sáng tháng năm” (1951), “Ta đitới” (8 - 1954), “Việt Bắc” (1954)…
Tiếp theo Việt Bắc, Gió lộng (1955 - 1961) khai thác những nguồn cảm
hứng lớn, cũng là những tình cảm bao trùm trong đời sống tinh thần của conngười đương thời: niềm vui và niềm tự hào, tin tưởng ở công cuộc xây dựngcuộc sống mới xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, tình cảm với miền Nam và ýchí thống nhất tổ quốc, tình cảm quốc tế vô sản rộng mở với các nước anh em.Niềm vui chiến thắng được nhân lên cùng niềm tự hào của con người làm chủđất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc mình, vững tin vào tương lai đã đem đến
cho tập thơ Gió lộng cảm hứng lãng mạn phơi phới cùng với khuynh hướng
sử thi đậm nét
Hai tập Ra trận (1962 - 1971), Máu và hoa (1972 - 1977) là chặng
đường thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Mỹ quyết liệt và hàohùng của cả dân tộc cho tới ngày toàn thắng Thơ Tố Hữu lúc này là khúc ca
ra trận, là mệnh lệnh tiến công và lời kêu gọi, cổ vũ hào hùng của cả dân tộctrong cuộc chiến đấu ở hai miền Nam, Bắc Khẳng định ý nghĩa lớn lao, cao
cả của cuộc kháng chiến chống Mỹ đối với lịch sử dân tộc và thời đại, thơ TốHữu cũng thể hiện những suy nghĩ, phát hiện của nhà thơ về dân tộc và conngười Việt Nam mà tác giả luôn ngợi ca với niềm tự hào và cảm phục
Tập thơ Một tiếng đờn thể hiện những chiêm nghiệm nghĩ suy của một
đời người trên nửa thế kỉ đấu tranh, qua bao buồn vui, được mất, hồn thơ đanglắng lại với thời gian và tuổi tác và gợi mở nhiều tâm sự của tác giả
Ta với ta tập hợp những bài thơ sáng tác từ năm 1993 - 2002 Tập thơ
cuối cùng này của Tố Hữu như một cuộc hành hương về quá khứ (về quê, vềchiến khu xưa…) Trở về để thấy lòng mình ngân lên giai điệu của một thờioanh liệt, hào hùng, để khẳng định một nhân cách, một bản lĩnh Tập thơ bộc
lộ nhiều chiêm nghiệm đáng quý về đạo làm người, nhận thức rõ trách nhiệmvới cộng đồng ở mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm Đồng thời, tập thơ cũng đằm
Trang 10sâu nỗi buồn của người đã bước qua tuổi “thập cổ lai hy”, biết rõ quy luậtnghiệt ngã của đời sống mà vẫn nặng tình gắn bó với đời.
1.1.2.2 Đặc điểm nội dung nghệ thuật thơ Tố Hữu
a) Đặc điểm nội dung
Nhìn xuyên suốt từ đầu đến cuối đời thơ của Tố Hữu, ta thấy không cónội dung nào hơn ngoài những nội dung về đất nước, về dân tộc, về nhữngcuộc chiến đấu và công cuộc xây dựng đất nước Thơ ông phản ánh mọi mặtcủa đời sống chính trị và xã hội của dân tộc Ngay từ buổi đầu, thơ Tố Hữu đãthể hiện khát vọng tìm chân lý và “mặt trời chân lý” trong tuổi trẻ và tâm hồnchan chứa chất thơ Trong thơ, Tố Hữu đã tìm thấy nhân dân của mình Nhândân tiềm ẩn sức mạnh và là điểm tựa vững chắc cho đời và cho thơ Tố Hữu
đã viết những câu thơ xúc động và cao đẹp về cuộc chiến đấu của dân tộc.Dòng thơ, dòng đời, đường chiến trận Từ những ngày chiến đấu gian khổ vàniềm vui lớn trong thắng lợi vĩ đại của chiến thắng lịch sử Điện.Biên Phủ Đấtnước đã sang trang trong những ngày trời đất về ta Cảm hứng về tổ quốctrong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội là cảm hứng “gió lộng đườngkhơi rộng đất trời” Tố Hữu phát hiện và suy tôn cái đẹp của đất nước và conngười trong quan hệ xã hội mới “Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu ngườisống để yêu nhau” Đến với cuộc kháng chiến cứu nước lần thứ hai, những
ngày ra trận chống Mĩ cứu nước Tố Hữu đã miêu tả tổ quốc lên tầm cao của
thời đại Tầm cao trong chiều dài của lịch sử, tầm cao trong quan hệ với thờiđại
Có thể khẳng định, Tố Hữu đã nói lên sâu sắc nhất hành trình đầy thửthách của tổ quốc trong cuộc đấu tranh rất gian khổ và vinh quang của đấtnước Tố Hữu đã dựng được những đài thơ để ghi lại và tô điểm thêm cho kìđài lịch sử Ông là nhà thơ thời sự nhất nhưng lại sáng tạo được nhiều giá trịbền vững với thời gian; nhà thơ luôn hoà nhập với cuộc đời chung, lại khẳngđịnh được bản sắc riêng độc đáo Ngay từ tiếng nói thơ ca đầu, Tố Hữu đã thể
Trang 11hiện rõ một con đường đi, một hướng sáng tạo nhưng vẫn suốt đời tìm tòi để
tự khác mình, và cũng chính là để khẳng định mình Đó là dấu hiệu, là phẩmchất của một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc
b) Đặc điểm nghệ thuật thơ Tố Hữu
Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu tiêu biểu chokhuynh hướng thơ trữ tình chính trị Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sốngcách mạng, lý tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái timnhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành cảm hứng nghệ thuật thực sự TốHữu là nhà thơ của lẽ sống lớn, của những tình cảm lớn, niềm vui lớn củacách mạng và con người cách mạng
Nội dung thơ trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu thường tìm đến và gắnliền với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn Nhân vật trữ tình trong thơ
Tố Hữu là con người thể hiện tập trung những phẩm chất của giai cấp, dântộc, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ được nâng lên thành những hình tượnganh hùng mang tầm vóc thời đại và lịch sử Cảm hứng chủ đạo trong thơ TốHữu là cảm hứng lãng mạn Thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềmvui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca tìnhnghĩa cách mạng và con người cách mạng
Thơ Tố Hữu có giọng điệu riêng rất dễ nhận ra Đó là giọng tâm tình,ngọt ngào tha thiết, giọng của tình thương mến Nhà thơ đặc biệt dễ rungđộng với nghĩa tình cách mạng, luôn hướng đến đồng bào, đồng chí mà giãibày tâm sự, trò chuyện, kêu gọi, nhắn nhủ Thơ Tố Hữu phần nhiều có cáchdiễn đạt tự nhiên, hơi thơ liền mạch
Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểuhiện Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ dân tộc và có những sáng tạolàm phong phú thêm cho các hình thức thơ ca này Trong thơ Tố Hữu có thểbắt gặp một cách phổ biến những lối so sánh, các phép chuyển nghĩa và cáchdiễn đạt trong thơ ca dân dã đã trở nên quen thuộc với tâm hồn người Việt
Trang 12Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu là ở nhạc điệu, đặc biệt phongphú về vần và những phối âm trầm bổng nhịp nhàng nên dễ ngâm, dễ thuộc Thơ Tố Hữu là một thành công xuất sắc của thơ ca cách mạng, và kế tụcmột truyền thống tốt đẹp của thơ ca Việt Nam qua nhiều thời đại: gắn bó vớivận mệnh của đất nước, phục vụ cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do củadân tộc Thơ ông là một minh chứng cho sức cảm hoá của lí tưởng cộng sản
và những tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong đời sống tinh thần của dân tộc ta.Con đường thơ của Tố Hữu là con đường tìm sự kết hợp hài hoà hai yếu tố,hai cội nguồn là cách mạng và dân tộc trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca Sứcthu hút của thơ Tố Hữu với những thế hệ người đọc mấy chục năm qua chủyếu là ở niềm say mê lý tưởng và tính dân tộc đậm đà trong cả nội dung lẫnhình thức
1.2 Về từ loại danh từ và danh từ riêng trong tiếng Việt
1.2.1 Về từ loại danh từ trong tiếng Việt
a Đặc điểm của danh từ
- Về ý nghĩa khái quát: Danh từ là những từ chỉ sự vật
- Về khả năng kết hợp trong cụm từ:
+ Danh từ có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ
+ Danh từ kết hợp với các từ chỉ lượng, chỉ xuất ở trước và kết hợp vớiđại từ chỉ định phía sau
+ Danh từ có khả năng đứng sau những từ chỉ vị trí: Trên, dưới, trong,
Trang 13+ Danh từ không trực tiếp làm vị ngữ Muốn làm vị ngữ phải có quan hệ
từ “là” đứng trước nó
Ví dụ:
Huyền Trân là một vị công chúa
b Phân loại danh từ
Phân loại danh từ là một vấn đề tương đối phức tạp Từ trước tới nay đã
có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Dựa vào các tiêu chí khác nhau
mà các tác giả có cách phân loại danh từ khác nhau
Tác giả Nguyễn Anh Quế (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội, 1996)
chia danh từ ra làm 9 tiểu nhóm sau:
8 Nhóm danh từ khuyết nghĩa
9 Nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu tượng
Tác giả Lê Biên (Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb GD, 1999) căn cứ vào
tác dụng và phạm vị sử dụng đã chia danh từ tiếng Việt ra làm 2 tiểu nhóm:Danh từ riêng và danh từ chung Trong danh từ chung có danh từ chỉ đơn vị,danh từ chỉ sự vật và khái niệm trừu tượng, danh từ chỉ người, danh từ chỉđộng vật thực vật, danh từ tổng hợp, danh từ chỉ chất liệu
Tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (Ngữ pháp tiếng Việt,
tập 1, Nxb Giáo dục, 2000) chia danh từ ra làm 2 tiểu nhóm theo một số diệnđối lập trong nội bộ danh từ:
- Đối lập danh từ riêng / danh từ chung
Trang 14- Đối lập trong danh từ chung:
+ Danh từ tổng hợp / danh từ không tổng hợp
+ Danh từ đếm được / danh từ không đếm được
Ý kiến của tác giả Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo
dục, 1999) đã chia danh từ ra làm 2 tiểu nhóm theo sơ đồ sau:
Riêng: Nam Thảo, Lan, Hương…
Danh từ
tổng hợp: cha con, làng xóm…
Không tổng hợp
Không chỉ loại
Lít, mẫu thịt, muối giáo viên lợn, bò cây lá bàn ghế tình cảm,
tư duy
Như vậy, các tác giả đều chia ra 2 loại danh từ lớn Đó là danh từ riêng
và danh từ chung nhưng các nhóm trong danh từ chung các tác giả có sự phânloại khác nhau
1.2.2 Danh từ riêng trong tiếng Việt
a Đặc điểm của danh từ riêng
- Về ý nghĩa khái quát: Định danh các sự việc riêng, dùng để gọi người,
sự vật
- Về khả năng kết hợp:
* Có khả năng kết hợp với từ chỉ xuất cái
Cái cô Thu Lan này.
* Có khả năng kết hợp với danh từ chung đứng trước
Trang 15Huyện Đức Thọ; Thi Hào Nguyễn Du
* Có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định ở phía sau: này, kia, ấy…
* Không kết hợp với số từ (1,2,3…) và đại từ chỉ tổng thể (tất cả, cả)
b Phân loại danh từ riêng
Tác giả Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (Ngữ pháp tiếng Việt, tập
1, Nxb Giáo dục, 2000) đã chia danh từ riêng ra làm các nhóm sau:
- Danh từ riêng chỉ người
- Danh từ riêng chỉ tên gọi đồ vật cụ thể
- Danh từ riêng chỉ tên gọi một con vật cụ thể, xác định
- Danh chỉ riêng chỉ một tổ chức xã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá, giáodục
- Danh từ riêng chỉ địa danh
Dựa vào cách phân loại về tiểu loại danh từ riêng của tác giả DiệpQuang Ban, Hoàng Văn Thung, chúng tôi đã lựa chọn để làm cơ sở cho việcphân loại danh từ riêng trong thơ Tố Hữu ở chương 2
Trang 16Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA CỦA DANH TỪ RIÊNG TRONG THƠ TỐ HỮU
2.1 Kết quả khảo sát thống kê
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 69 bài thơ trong ba tập Việt Bắc, Gió
lộng và Ra trận của Tố Hữu Cụ thể ở mỗi bài như sau:
Kết quả thống kê như sau:
Bảng 1: Số liệu về danh từ riêng trong
ba tập thơ Việt Bắc, Gió Lộng và Ra trận của Tố Hữu
Trang 17Bảng 2: Số liệu các nhóm danh từ riêng trong
ba tập thơ Việt Bắc, Gió Lộng và Ra trận của Tố Hữu
Tổ chức xãhội, chínhtrị, sự kiệnlịch sử
Danh từriêng đặcbiệt
Nhận xét về kết quả thông kê:
Chúng tôi đã thống kê được 448 danh từ riêng trong tổng số 69 bài vàchia chúng thành 4 nhóm như đã trình bày ở trên Chúng tôi có một số nhậnxét như sau:
Danh từ riêng xuất hiện trong thơ Tố Hữu rất nhiều Về số lượng, danh
từ riêng trong ba tập thơ Việt Bắc, Gió lộng và Ra trận có đủ các loại khác
nhau Trong đó, chiếm số lượng nhiều nhất là danh từ riêng chỉ địa danh (256từ), đứng thứ hai là danh từ riêng chỉ người (64 từ), danh từ riêng tổ chức xãhội, chính trị, sự kiện lịch sử chiếm số lượng ít nhất (25 từ) Ngoài các danh
từ đã kể trên, trong thơ Tố Hữu còn có một nhóm danh từ riêng đặc biệt.Chúng chiếm một số lượng rất lớn Về bản chất những danh từ đó là danh từchung chỉ sự kiện, tổ quốc hoặc các khái niệm nhưng khi đi vào văn bản của
Tố Hữu chúng có ý nghĩa như danh từ riêng và được viết hoa Vì vậy, chúngtôi đã xếp những danh từ đó vào một nhóm riêng và gọi tên là danh từ riêngđặc biệt, bao gồm các từ như: Đảng, Tổ quốc, Thủ đô, Nước, Độc lập, Tự do,
Di chúc, Tuyên ngôn, Trung ương, Đại hội, mùng Hai tháng Chín, mùa thu
Trang 18Cách mạng, Xuân 41, Xuân 68, Kách mệnh, tháng Năm, tháng Giêng, thángMười, Chính phủ, Cộng hoà, Tết, Tháp, Tháng Tám, Cha, Bác, Anh, Người,Bách hoá, Phật, Thiên chúa…
2.2 Các loại danh từ riêng trong thơ Tố Hữu
2.2.1 Danh từ riêng chỉ địa danh
Đây là nhóm có số lượng từ nhiều nhất (256 từ) chiếm 57,14% Nhóm từnày tác giả sử dụng phong phú và linh hoạt Các danh từ riêng này dùng đểchỉ tên sông, suối, hồ, núi, đèo, dốc (sông Hương, sông Hồng, suối Lê, núiHồng, dốc Pha Đin, đèo Lũng Lô, Hồ Gươm, Hồ Tây…); tên huyện, làng, xã(Việt Bắc, Hồng Cúm, Him Lam, Hương Thuỷ, Hương Trà, Nga Sơn, Ba Vì,Côn Đảo, Hồng Quảng, Gò Nổi, An Khê, Vĩnh Yên, Sơn Cốt…); tên các tỉnh,thành phố (Thái Nguyên, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Hà Nội, Sài Gòn,Huế, Tiền Giang, Phan Thiết, Hậu Giang, Đồng Tháp, Quảng Nam, QuảngNgãi, Tây Nguyên, Khánh Hoà, Cà Mau, Miền Nam, Miền Bắc ); tên cácnước (Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô, Cu Ba, Ba Lan, Triều Tiên, Pa-ri, Bắc
Mĩ, Châu Úc, Châu Âu, Châu Á, Mỹ, Nga, Phương Đông, …) Các từ được
sử dụng nhiều nhất là: Miền Nam (46 từ), Việt Nam (29 từ), Liên Xô (19 từ),
Hà Nội (16 từ), Miền Bắc (14 từ), Huế (14 từ), Điện Biên (13 từ), Việt Bắc(10 từ), Trường Sơn (7 từ), Trung Quốc (5 từ), Triều Tiên (5 từ), PhươngĐông (5 từ)
2.2.2 Danh từ riêng chỉ người
Nhóm này có 64 từ được thống kê (chiếm 14,28%) Đó là các từ: Bác
Hồ, Hồ Chí Minh, Cụ Hồ, Lê Nin, Lượm, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn ÁiQuốc, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Hoà, Võ Nguyên Giáp, Phạm VănĐồng, Trần Phú, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám,Nguyễn Trung Trực, Mao Trạch Đông, mẹ Tơm, anh Lưu, anh Diểu, chị Lý,
cu Theo, Nhiều, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Tố Như, Kiều, Ưng Khuyển, SởKhanh, Quang Trung, Ê-my-ly, Kô-li-a, A-liêu-sa, Giôn-xơn, Sê-khốp, I-lich,
Trang 19Hỉ Nhi, Kim Nhật Thành, Phan Hành Sơn, Mạnh Khương, Lỗ Tấn, TônVăn…
Trong danh từ riêng chỉ người thì các từ Bác Hồ, Hồ Chí Minh, Cụ Hồ,
Lê Nin có hệ số sử dụng lớn nhất trong ba tập thơ Việt Bắc, Gió lộng và Ra
trận của Tố hữu Từ Bác Hồ (21 lần), từ Hồ Chí Minh (16 lần), từ Cụ Hồ (8
lần), Lê Nin (23 lần)
2.2.3 Danh từ riêng chỉ một tổ chức xã hội, chính trị, sự kiện lịch sử
Nhóm danh từ này chiếm ít nhất nhưng chúng vẫn mang một giá trị nhấtđịnh Tất cả có 26 từ chiếm 5,80% tổng số danh từ riêng xuất hiện trong tập
thơ Việt Bắc, Gió Lộng và Ra trận của Tố Hữu Đó là các danh từ như: Nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà (6 từ), Hồng Quân (4 từ), Cách mạng ThángMười (4 từ), Xô-viết (3 từ), Xô viết Nghệ An (1 từ), Đảng cộng sản Liên Xô(1 từ), Đội Tuyên truyền giải phóng (1 từ), Hồng vệ binh (1 từ), Cách mạngTháng Muời Nga (1 từ), Giải phóng quân (1 từ), Hồng vệ binh (1 từ)
2.2.4.Danh từ riêng đặc biệt
Ngoài các danh từ đã kể trên, trong thơ Tố Hữu còn có một nhóm danh
từ riêng đặc biệt Chúng chiếm một số lượng rất lớn.Về bản chất những danh
từ đó là danh từ chung chỉ sự kiện, tổ quốc hoặc các khái niệm nhưng khi đivào văn bản của Tố Hữu chúng có ý nghĩa như danh từ riêng và được viếthoa Vì vậy, chúng tôi đã xếp những danh từ đó vào một nhóm riêng và gọitên là danh từ riêng đặc biệt, bao gồm các từ: Đảng, Tổ quốc, Thủ đô, Nước,Độc lập, Tự do, Di chúc, Tuyên ngôn, Trung ương, Đại hội, mùng Hai thángChín, mùa thu Cách mạng, Xuân 41, Xuân 68, Kách mệnh, tháng Năm, thángGiêng, tháng Mười, Chính phủ, Cộng hoà, Tết, Tháp, Tháng Tám, Cha, Bác,Anh, Người, Bách hoá, Phật, Thiên chúa…
2.3 Đặc điểm ngữ pháp của danh từ riêng trong thơ Tố Hữu
Trang 202.3.1 Về khả năng kết hợp
2.3.1.1.Danh từ riêng có khả năng kết hợp với danh từ chung đứng trước
Ở bên đó chắc đêm nay không ngủ
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)
Ở câu trên, danh từ riêng là Phạm Văn Đồng kết hợp với danh từ chung đứng trước là từ đồng chí để chỉ quan hệ xã hội
Con lớn lên, con tìm cách mạng
Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi
(Quê mẹ)
Danh từ riêng là Lưu, Diểu kết hợp với danh từ chung đứng trước là từ
anh để chỉ quan hệ gia đình.
Có khi Tố Hữu giới thiệu tên các con sông, tên địa phương, tên đất trongnhững kết hợp với các từ khác
Ví dụ: Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy
Hỏi đâu thác nhảy, cho điện quay chiều
(Bài ca xuân 1961)
Trong ví dụ trên, một loạt tên riêng là từ Đà, Lô, Hồng ,Chảy kết hợp
từ sông làm danh từ chung đứng trước.
Hay câu thơ:
Muối Thái Bình ngược Hà Giang Cày bừa Đông Xuất, mía đường tỉnh Thanh
Ai về mua vại Hương Canh
Ai lên mình gửi cho anh với nàng
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.
(Việt Bắc)Chỉ với một đoạn thơ mà tập trung khá nhiều sự kết hợp danh từ riêngvới danh từ chung Qua đó, người đọc có thể hình dung được những lâm thổ
Trang 21sản và tiểu thủ công đậm đà thi vị của đất nước và tình nghĩa của nhân dân.Gợi lên sâu sắc mối tình yêu quê hương,đất nước đằm thắm, nồng nàn.
Danh từ riêng trong thơ Tố Hữu cũng kết hợp với danh từ chung đứngtrước như các danh từ riêng trong tiếng Việt, nhưng điểm riêng của sự kết hợpnày trong thơ Tố Hữu là nếu đó là các danh từ riêng chỉ người thì thường kếthợp với các từ “đồng chí”, “anh” nhằm thể hiện sự kính yêu, trân trọng vàtình cảm gần gũi của tác giả Đó chính là lý tưởng của những người chiến sỹcách mạng Còn nếu là địa danh thì thường kết hợp với từ “sông” hoặc những
từ chỉ tên đặc sản của một vùng địa phương Từ đó hiện lên vẻ đẹp của thiênnhiên đất nước luôn gắn với núi sông hùng vĩ và gắn với tình cảm của tác giả
2.3.1.2 Danh từ riêng có khả năng kết hợp với đại từ chỉ định phía sau: này, kia, ấy, đó,
Ví dụ:
Miền Nam đó, ngọn đèn mặt biển
Giữa đêm đông, đỏ lửa đưa đường
(Có thể nào yên)
Mỗi hòn núi ở Miền Nam đó
Như thịt da ta rỏ máu hồng!
(Theo chân Bác)
Chí ta như núi Thiên Thai ấy
Lòng ta như nước Hương Giang ấy
Xanh biếc lòng sông những bóng thông
Trang 22Màu quê hương bền bỉ đậm đà
…
Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút
Trán mênh mông, thanh thản một vùng trời
(Sáng tháng Năm)
Sự kết hợp giữa danh từ riêng với đại từ chỉ định chiếm số lượng nhiều
Tố Hữu không chỉ nhằm chỉ không gian xác định, chủ thể xác định mà nhàthơ muốn nhấn mạnh đến những con người, địa danh đã làm rạng rỡ non sôngViệt Nam Chẳng hạn câu thơ “Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị…Bác Hồ đó,ung dung châm lửa hút”, Tố Hữu muốn nhấn mạnh con người Bác ở đức tínhgiản dị và ở phong thái ung dung Qua đó, nhà thơ thể hiện lòng kính yêu,trân trọng đối với lãnh tụ hay tình cảm sâu nặng đối với miền Nam anh dũngkiên cường Rõ ràng, sự kết hợp này không phải là sự kết hợp của từ loại bìnhthường nữa, mà nó như một phép tu từ có giá trị nghệ thuật trong việc thểhiện cảm hứng về quê hương đất nước và tình yêu đối với lãnh tụ của TốHữu
2.3.1.3 Danh từ riêng có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng.
Ví dụ:
Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên trang sử vàng
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Ta tin ở sức loài người thử thách thời đại Những sông Thương bên đục bên trong Chảy về xuôi càng đẹp xanh dòng
Lịch sử vẫn một sông Hồng vĩ đại
(Tuổi 25)
Sự kết hợp này trong tập thơ Tố Hữu là rất ít Ở đây từ chỉ số lượngkhông đơn thuần dùng để chỉ con số, mà nó đã có sự chuyển đổi ý nghĩa - ý
Trang 23nghĩa ẩn dụ Làm cho sự vật có sức khái quát hơn Chẳng hạn từ Điện Biên ở
trên Nó không còn có ý nghĩa là địa điểm, địa danh: Điện Biên, thị trấn ĐiệnBiên, huyện Điện Biên mà mang ý nghĩa tính chất “một Điện Biên Phủ” - đó
là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc, đưa tổ quốc lên đỉnh vinh quang chóilọi và cũng là thắng lợi chung của các dân tộc bị áp bức, chứng tỏ một dân tộcnhỏ, có một đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, biết đoàn kết lại dưới sựlãnh đạo của Đảng, nắm vững vũ khí đấu tranh của nhân dân, có thể đánh bạibất cứ một đế quốc xâm lược nào Như vậy, đây không phải là sự kết hợpbình thường của danh từ riêng nữa, mà nó như một phương tiện nghệ thuậtnhằm thể hiện lòng tự hào, kiêu hãnh trước chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta Qua việc khảo sát sự kết hợp danh từ riêng trong thơ Tố Hữu, ta thấydanh từ riêng trong thơ Tố Hữu cũng như danh từ riêng trong tiếng Việt đềukết hợp với danh từ chung trước nó, kết hợp với đại từ sau nó nhưng sự kếthợp đó không chỉ dừng lại ở đặc điểm ngữ pháp thông thường của từ loại, mà
sự kết hợp ấy trong thơ Tố Hữu trở thành một phương tiện nghệ thuật có giátrị để thể hiện tình cảm, thái độ của nhà thơ
2.3.2 Về chức vụ ngữ pháp
Danh từ có các vài trò ngữ pháp: Thường làm chủ ngữ và một số thànhphần khác trong câu như: Bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ Ngoài ra, danh từ cókhả năng làm vị ngữ trong câu Danh từ riêng trong thơ Tố Hữu cũng khôngnằm ngoài đặc điểm đó Cụ thể, danh từ riêng có các chức vụ ngữ pháp sau:
2.3.2.1 Danh từ riêng làm chủ ngữ
Chủ ngữ là thành phần chính của câu hai thành phần; chủ ngữ thườngnêu lên nhân vật, sự vật, sự việc, hiện tượng, chủng loại có quan hệ với vị ngữ
theo quan hệ tường thuật (Ngữ pháp tiếng Việt - Đỗ Thị Kim Liên) Danh từ
riêng làm chủ ngữ tức là chủ thể cần được xem xét, đánh giá là tên riêng của
người, sự vật Danh từ riêng trong ba tập thơ Việt Bắc, Gió lộng và Ra trận
của Tố Hữu làm chủ ngữ tuơng đối nhiều
Trang 24Việt Nam anh dũng sáng ngời
Ánh dươm độc lập giữa trời sáng chung
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Chủ ngữ là Việt Nam làm chủ thể cho từ chỉ phẩm chất anh dũng sáng
ngời.
Câu thơ với chủ thể Việt Nam đứng đầu gợi lên hình ảnh đất nước và
con người Việt Nam rất anh hùng
Chúng tôi thấy, trong số các danh từ riêng thì loại danh từ chỉ địa danh
và tên người thường làm chủ ngữ Đó là các từ như Bác Hồ, Cụ Hồ, Lê-nin Điều đó thể hiện lòng kính yêu, tin tưởng đối với các vị lãnh tụ Còn từ Việt
Nam nhằm nhấn mạnh lòng tự hào của nhà thơ về tổ quốc.
2.3.2.2 Danh từ riêng có khả năng năng làm vị ngữ
Danh từ riêng làm vị ngữ ít gặp, chỉ có vài lần trong câu
Trang 25“em tên là” Chỉ qua cách giới thiệu như thế chúng ta đã hình dung đượcgương mặt giản dị của những con người bình thường Đó là anh Vệ quốcquân, là người con gái Bắc Giang, là em thiếu nhi dũng cảm Qua đó, Tố Hữumuốn nhấn mạnh đến những con người bình thường nhưng hết lòng vì khángchiến Nhà thơ thể hiện tấm lòng mến yêu đối với họ
2.3.2.3 Danh từ riêng có khả năng năng làm định ngữ, bổ ngữ cho thành phần chính
Danh từ riêng làm định ngữ, bổ ngữ cho thành phần chính chiếm một tỉ
lệ khá lớn trong thơ Tố Hữu
Ví dụ:
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca
(Ta đi tới)
Trong câu trên, danh từ riêng là từ sông Lô đảm nhận chức vụ làm bổ ngữ cho động từ chói đứng trước nó Còn từ Bình Ca làm định ngữ cho danh
từ bến nước đứng trước
Trang 26Bác nhớ Miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha
(Bác ơi)
Ở câu này, danh từ riêng Miền Nam làm bổ ngữ cho từ nhớ đứng trước.
Em đi, đường đất mưa rơi
Bùn non son quánh chân đồi Phù Ninh
(Mưa rơi)
Danh từ riêng Phù Ninh làm định ngữ cho từ chân đồi đứng trước.
Trong các danh từ riêng làm bổ ngữ, định ngữ thì loại danh từ riêng tênđịa danh chiếm nhiều nhất Chúng thường đứng sau các động từ, tính từ Ở ví
dụ trên, các địa danh sông Lô, Bình Ca đứng sau các tính từ chói và động từ
dào dạt để thể hiện niềm vui khi đất nước được giải phóng một nửa Tất cả
những âm thanh và áng sáng của thiên nhiên cũng như cùng vui với conngười Nhà thơ đã thể hiện niềm tự hào đối với đất nước Hay câu thơ “Bác
nhớ Miền Nam nỗi nhớ nhà” thì từ Miền Nam làm bổ ngữ cho động từ nhớ
đứng trước Qua đó thể hiện tấm lòng sâu nặng của Người với một nửa đấtnước thân yêu
2.3.2.4 Danh từ riêng có khả năng năng làm thành phần khác trong
câu như: Trạng ngữ, tình thái ngữ
a) Danh từ riêng đi với quan hệ từ “ở” để làm trạng ngữ
Ví dụ:
Ai tính được giá một ngày chống Mỹ
Ở Miền Nam ? Hỡi em nhỏ của anh
(Trên đường thiên lý)
Có ai hỏi vì sao không nhỉ
Ở Miền Nam, còn lửa chiến tranh?
(Miền Nam)
Trang 27Ở Việt Nam, các anh nên nhớ
Tre đã thành chông, sông là sông lửa
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)Nhìn chung danh từ riêng làm trạng từ trong thơ Tố Hữu không nhiều,
chỉ có một vài câu và chủ yếu là danh từ riêng chỉ địa danh như Miền Nam,
Việt Nam Hai địa danh luôn khiến cho người đọc chú ý Điều này đã thể hiện
tình cảm của Tố Hữu đối với tổ quốc, đặc biệt là với miền Nam thân yêu TốHữu không một lúc nào không nhớ đến miền Nam, không đau xót vì một nửa
cơ thể của tổ quốc chúng ta đang chảy máu Miền Nam luôn in sâu trong timnhà thơ
b) Danh từ riêng đi kèm từ hô gọi làm tình thái ngữ
Danh từ riêng đi kèm với từ hô gọi làm tình thái ngữ trong thơ Tố Hữu
rất nhiều Đó là các từ: ôi, ơi, hỡi…
Ví dụ:
Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa tuổi chín mười
(Quê mẹ) Hay:
Miền Nam ơi, tiền tuyến ước mơ gì
Mà đất nước xôn xao lời Bác gọi!
(Xuân 69)
Miền Nam ơi, Miền Nam quê hương
Xuân này Bác không làm thơ nữa
(Bài ca xuân 71)
Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng
Đến em thơ cũng hoá những anh hùng
(Ê-mi-ly, con…)
Trang 28Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều
Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu
(Bác ơi)
Lê-nin ơi, Người Thầy, Người Cha
Niềm tin trong sáng mãi lòng ta
(Theo chân Bác)
Bỗng loè chớp đỏ
Thôi rồi, Lượm ơi!
(Lượm)Như vậy, có thể thấy danh từ riêng kết hợp với từ hô gọi để làm tình tháingữ trong thơ Tố Hữu rất nhiều Danh từ riêng làm tình thái ngữ trong thơ TốHữu cũng mang đặc điểm của tình thái ngữ trong tiếng Việt Tuy nhiên nókhông chỉ là tên gọi của đối tượng trữ tình nữa mà trở thành một biện phápnghệ thuật để thể hiện tình cảm của nhà thơ Tố Hữu đã chuyển từ tiếng hôgọi hàng ngày thành tiếng xưng hô tâm tình trò chuyện Nhà thơ đã gửi gắm
tất cả tình cảm của mình vào các lời hô gọi Huế ơi, Miền Nam ơi, Bác Hồ ơi,
Lê-nin ơi, Lượm ơi là những tên gọi tha thiết trong thơ Tố Hữu Khi nhắc đến
những con người, địa danh này, Tố Hữu luôn dành một tình cảm sâu nặngnhất, yêu mến nhất
Rõ ràng, danh từ riêng trong thơ Tố Hữu có những đặc điểm ngữ phápnhư danh từ riêng trong tiếng Việt Tuy nhiên, không phải dừng lại ở đặcđiểm ngữ pháp thông thường về khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp mà nótrở thành phương tiện nghệ thuật để thể hiện thái độ, tình cảm của nhà thơ Đó
là lòng kính yêu đối với lãnh tụ, thái độ trân trọng với những người chiến sỹcách mạng và sự biết ơn sâu nặng với những con người kháng chiến Đồngthời thể hiện tình yêu tha thiết quê hương đât nước của ông
2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của danh từ riêng trong thơ Tố Hữu
Trang 29Danh từ riêng trong thơ Tố Hữu cũng mang những đặc điểm ngữ nghĩanhư danh từ riêng trong tiếng Việt Nhưng chúng không chỉ đơn thuần là têngọi riêng của người hay sự vật, mà nó còn mang những giá trị ngữ nghĩakhác Sau đây chúng tôi đi vào phân tích giá trị ngữ nghĩa của danh từ riêngtrong thơ Tố Hữu theo từng nhóm cụ thể:
2.4.1 Danh từ riêng chỉ địa danh
So với các nhà thơ cách mạng cùng thời như Quang Dũng, Chế LanViên thì địa danh trong thơ Tố Hữu xuất hiện rất nhiều Trong thơ Chế LanViên, địa danh chỉ xuất hiện rải rác ở một số bài thơ như “Tiếng hát con tàu”
với các địa danh là Tây Bắc và Hà Nội Trong thơ Nguyễn Đình Thi, địa danh
cũng rất ít
Địa danh trong thơ Tố Hữu rất đa dạng, gồm tên địa danh trong nước vàngoài nước Hầu hết các địa danh được ông sử dụng với phạm vi cụ thể và nóđược giới thiệu trong một không gian là: tên nước, tên các thành phố, tỉnh,huyện, tên các con sông, suối, núi, đèo, dốc, hồ…Tất cả được đưa vào thơ TốHữu một cách sinh động và đầy ý nghĩa Trước hết là địa danh của tổ quốcViệt Nam Xuất hiện dày đặc trong thơ Tố Hữu là những từ chỉ địa danh như:Việt Nam, Miền Nam, Miền Bắc, Huế, Hà Nội Nhà thơ gọi tên các địa danh
ấy một cách trân trọng với lời thơ đầy tự hào Lời thơ khẳng định sự quyếttâm khí thế của con người Việt Nam:
Ta đứng dậy, hai tay giải phóng Giành lại trời đất rộng bao la Trước mắt Thái Bình Dương vỗ sóng
Đây, Việt Nam dân chủ cộng hoà!
(Quang vinh tổ quốc chúng ta)Hay lời thơ khẳng định một chân lý lớn lao về dân tộc Việt Nam:
Việt Nam, dân tộc anh hùng
Tay không mà đã thành công nên người!
Trang 30(Bài ca mùa xuân năm 1961)Dân tộc ta chính là dân tộc “anh hùng áo vải” Cái vĩ đại, cái đặc sắccủa người Việt Nam không chỉ là ở tinh thần anh dũng tuyệt vời, mà còn ởđây nữa Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam rất anh hùng.
Và cũng thiết tha, sâu lắng biết bao khi nhà thơ nói đến tổ quốc đangvượt qua những hi sinh, những chịu đựng:
Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu!
Trong đau khổ, Người đẹp hơn nhiều Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng Nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng.
(Chào xuân 67)
Hai tiếng Việt Nam vang lên rất đỗi tự hào sâu sắc Tố Hữu muốn nói
đến ý chí lớn lao, trách nhiệm nặng nề và những hi sinh tổn thất không nhỏcủa dân tộc ta phải chịu đựng để đảm nhiệm những nhiệm vụ lịch sử của dântộc và của thời đại Hơn nữa, với một tình cảm da diết và yêu mến tác giảmuốn cảm nhận về dân tộc Việt Nam Một dân tộc nghèo, đất không rộng,người không đông, nhưng rất thông minh và kiên cường, bất khuất Vì vậy,nhà thơ viết về tổ quốc đầy lòng tự hào, kiêu hãnh:
Việt Nam anh dũng sáng ngời
Ánh gươm độc lập giữa trời soi chung
(Ba mươi năm đời ta có Đảng)Hay câu thơ:
Việt Nam anh dũng quang vinh
Năm châu bè bạn quanh mình hát ca
(Quang vinh Tổ quốc chúng ta)Như vậy, Tổ quốc chính là tiếng gọi thiêng liêng trong lòng nhà thơ
Trong số các danh từ riêng chỉ địa danh thì từ Miền Nam chiếm số
luợng nhiều nhất Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi trong tình cảm đối với đất
Trang 31nước, Tố Hữu dành phần tha thiết nhất cho Miền Nam anh hùng Miền Nam Hai tiếng gọi yêu thương ấy là niềm kiêu hãnh, tự hào Miền Nam thúc giụcnhà thơ viết những “dòng thơ lửa cháy”, nhà thơ đã giành những lời đẹp nhất,xứng đáng nhất để ca ngợi Miền Nam anh hùng và câu thơ về Miền Namcũng là câu thơ nghẹn ngào mang nhiều xót xa nhức nhối:
-Máu đọng chưa khô máu lại đầy
Hỡi Miền Nam trăm đắng nghìn cay
Hăm lăm năm chẳng rời tay súng
Đi trước về sau đã dạn dày
(Ra trận)Miền Nam trong thơ ông rung động thiết tha qua tiếng bầu tiếng trúc:
Ôi Miền Nam, vì sao mỗi lúc
Mây chiều xa bay giục cánh chim Đêm khuya một tiếng bầu, tiếng trúc Một câu hò…cũng động trong tim
(Miền Nam)Miền Nam trong tình cảm nén sâu và cứ chói loà rực rỡ:
Miền Nam! Miền Nam! Sáng ngời, chói lọi
Trong lòng ta, như mặt trời, không nói.
(Xuân 69)Miền Nam luôn trong trái tim Tố Hữu, Miền Nam không chỉ là tên gọinữa mà trở thành nỗi niềm của tác giả, Miền Nam là niềm tự hào, Miền Nam
là nỗi yêu thương, Miền Nam là nỗi nhức nhối trong ông
Trong sự gắn bó với một nửa đất nước thương yêu, Tố Hữu có một sựgắn bó riêng với xứ Huế, quê ông Đi theo kháng chiến suốt trong thời kìkháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Tố Hữu xa quê hương vàgửi nỗi nhớ vào những vần thơ Nhớ Huế cũng là nỗi nhớ mẹ Hai hình ảnh
Trang 32thân yêu gắn bó với nhau Những câu thơ gợi cảm gợi lại kỉ niệm thân thiết
mà xa xôi như một giấc chiêm bao đẹp không bao giờ còn trở lại:
Huế ơi, quê mẹ của ta ơi!
Nhớ tự ngày xưa tuổi chín mười Mây núi hiu hiu chiều lẳng lặng Mưa nguồn, gió biển nhớ xa khơi.
(Quê mẹ)Chính trên quê hương Huế mà Tố Hữu có thể sảng khoái cao giọng cấtlên tiếng hát của những ngày tháng Tám:
Tháng Tám vùng lên Huế của ta
Quảng Phong ơi,Hương Thuỷ, Hương Trà
Phú Vang, Phú Lộc đò lên Huế
Đỏ ngập dòng sông rộn tiếng ca.
(Quê mẹ)Huế luôn in sâu trong con tim và khối óc nhà thơ Huế là tuổi thơ ấu, làtuổi thanh niên, là những bước đường đấu tranh cách mạng, rèn luyện chí khí,
là bao nhiêu kỉ niệm sâu sắc trong tâm hồn ông
Bên cạnh các địa danh chỉ tên nước, tên tỉnh, tên thành phố, trong thơ
Tố Hữu còn xuất hiện dày đặc các địa danh chỉ tên sông, suối, núi, đèo, dốc,hồ; tên làng, xã, huyện trên đất nước Việt Nam Địa danh đi vào thơ ôngkhông còn là những tên gọi bình thường nữa mà luôn gắn với cảm xúc, tìnhcảm của tác giả Mỗi dòng sông, ngọn núi đều trở nên hết sức thân thiết trongthơ Tố Hữu:
Tiếng hát đâu mà nghe nhớ thương
Mái nhì man mác nước sông Hương
Hay:
Sông Đà, sôngLô, sông Hồng, sông Chảy