1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Danh lam thắng cảnh trong thơ nôm hồ xuân hương và trong ca dao người việt

61 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Danh lam thắng cảnh trong thơ nôm hồ xuân hương và trong ca dao người việt
Tác giả Nguyễn Thị Lành
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Minh Đạo
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 197,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với ca dao, trong cuốn: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, ông Vũ Ngọc Phan đã gắn tình yêu thiên nhiên trong các bài nói về danh lam thắng cảnhvới chủ đề nói về tình yêu đất nớc của co

Trang 1

Trêng §¹i häc Vinh Khoa Ng÷ V¨n

-

 -Kho¸ luËn tèt nghiÖp

§Ò tµi:

Danh lam th¾ng c¶nh trong th¬ n«m

hå xu©n h¬ng vµ trong ca dao ngêi viÖt

Gi¸o viªn híng dÉn: ThS.Hoµng Minh §¹o

Sinh viªn thùc hiÖn: NguyÔn ThÞ Lµnh

Líp: 43E 1 - Ng÷ v¨n

Vinh, th¸ng 5/2007

- -Lêi c¶m ¬n

Trang 2

Để hoàn thành khoá luận này ngoài sự cố gắng của bản thân, chúng tôicòn đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo và có phơng pháp của thầy giáo HoàngMinh Đạo, sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong tổ Văn học trung đại,

sự động viên của các bạn bè gần xa

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các bạn

Vinh, tháng 5 năm 2007

Ngời thực hiện

Nguyễn Thị Lành

Phần Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu

1.1 Danh lam thắng cảnh Việt Nam từ xa tới nay luôn là đề tài và nguồncảm hứng của thơ ca, kể cả văn học dân gian và văn học viết Đề tài và nguồncảm hứng đó đã tạo nên một mảng màu rất đậm trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

và trong ca dao ngời Việt Tuy bộc lộ cảm xúc tâm trạng đối với danh lam thắngcảnh của quê hơng xứ sở nhng “bà chúa thơ Nôm” (chữ dùng của Xuân Diệumệnh danh cho Hồ Xuân Hơng) và tác giả dân gian đã vẽ nên những bức tranhthơ vừa có những nét tơng đồng vừa có những chỗ khác biệt Sức gợi cảm cùngvới vẻ đẹp ẩn chứa tâm hồn dân tộc của bức tranh ấy đã cuốn hút sự chú ý củanhiều nhà nghiên cứu trong đó có chúng tôi khi đến với đề tài: “Danh lam thắngcảnh trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việt”

Vấn đề mà chúng tôi quan tâm cũng nh nhiều nhà nghiên cứu cũng đãtừng để ý không ngoài mong muốn nhằm góp phần sáng tỏ giá trị nội dung và

Trang 3

nghệ thuật của các bài thơ, một số bài ca dao đều thể hiện cảm hứng đối vớidanh lam thắng cảnh của nhân vật trữ tình Trên hai phơng diện nội dung vàhình thức, chúng ta sẽ có đợc cái nhìn khá toàn diện về cái chung và cái riênggiữa thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và ca dao ngời Việt trong những bài lấy danh lamthắng cảnh làm đối tợng nhận thức và thể hiện Tuy nhiên, việc so sánh các bàithuộc đề tài này trong thơ Hồ Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việt cha đợcquan tâm đúng mức (thực tế đó sẽ đợc trình bày ở lịch sử vấn đề).

1.2 Văn học dân gian và văn học viết tuy là hai bộ phận văn học có

ph-ơng thức sáng tác khác nhau, lực lợng sáng tác cũng không giống nhau nhnggiữa chúng luôn có mối quan hệ, ảnh hởng qua lại Trong mối quan hệ ấy, vănhọc dân gian bao giờ cũng là ngọn nguồn, nền tảng Vì vậy, tìm hiểu bức tranhdanh lam thắng cảnh trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việtthực chất là xem xét mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học trung đạiViệt Nam qua hai thể loại tiêu biểu của mỗi nền văn học Hay nói cách khác, ởcác bài thơ Nôm và các bài ca dao cùng hớng tới một đề tài, Hồ Xuân Hơng vàngời dân lao động đã gặp gỡ nhau nh thế nào? Vì sao thơ Nôm thời trung đại vớinhà thơ có cá tính Hồ Xuân Hơng và ca dao của ngời Việt đều dành phần đáng

kể để diễn tả cảm xúc đối với danh lam thắng cảnh trên đất nớc ta?

1.3 Trong chơng trình Ngữ Văn ở trờng trung học phổ thông, một số bàithơ Nôm và ca dao ngời Việt thể hiện nguồn cảm hứng đối với danh lam thắngcảnh đã đợc tuyển chọn để dạy và học Do đó, việc tìm hiểu vấn đề này hy vọng

sẽ góp phần tiếp cận các bài đã đợc tuyển chọn trong sách giáo khoa hai cấp, ởtrờng phổ thông đạt hiệu quả cao hơn và có tính thiết thực hơn

2 Phạm vi và phơng pháp nghiên cứu

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Đối với thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, chúng tôi tìm hiểu ở các bài tơng truyền

do bà sáng tác và thờng đợc gọi là thơ Nôm truyền tụng Các bài đó đã đợc công

bố trong cuốn sách Hồ Xuân Hơng thơ và đời, Lữ Huy Nguyên (chủ biên),

Nxb Văn học, 2003

Đối với ca dao, chúng tôi chỉ tìm hiểu ca dao do ngời Việt sáng tác Các

bài có liên quan với đề tài nghiên cứu đều ở trong cuốn Kho tàng ca dao ngời

Việt, Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật (chủ biên), Nxb Văn hoá thông tin,

2001; mục 1 “Đất nớc và lịch sử ”

2.2 Phơng pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích và đối tợng nghiên cứu nh đã trình bày ở phần trên,

để giải quyết vấn đề chúng tôi sử dụng các phơng pháp: Khảo sát, thống kê,

Trang 4

phân loại; phân tích tổng hợp và so sánh Phơng pháp so sánh đợc sử dụng triệt

để trong chơng iii của khoá luận Còn ở hai chơng đầu, chủ yếu dùng phơngpháp thống kê, phân loại và phân tích tổng hợp

3 Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu giá trị thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng, các nhà nghiên cứu ở nớc ta

từ trớc đến nay đều quan tâm đến các bài nói về danh lam thắng cảnh và cónhững nhận xét, đánh giá cha thống nhất

Nhà thơ Xuân Diệu với bài Hồ Xuân Hơng - bà chúa thơ Nôm cho

rằng:“Hồ Xuân Hơng đến với cảnh vật đất nớc ta rất đậm đà, thắm thiết Cáithắm thiết ấy có khi vợt quá xa cái mức thờng tình Xuân Hơng là một nghệ sỹlớn, biết phun tâm hồn mình vào cảnh vật làm cho chúng sống lên ngồn ngộn!”[1, tr 478] Nói về cách miêu tả cảnh vật, Xuân Diệu tiếp tục đa ra nhận xét khá

xác đáng: “Ngoài Xuân Hơng ra, hỏi tác giả nào sờ rậm rạp, đã mó lam nham,

đã có đợc mời đầu ngón tay tinh tế tiếp xúc với các mặt phẳng hay mặt gồ ghềcủa các vật ? và nói rộng thêm, hai bàn tay của Xuân Hơng sinh động biết chừngnào! hai bàn tay ấy phải khua, phải vỗ, phải đấm, phải móc, phải đâm, phải thụi”[1, tr 480]

Ông Trần Thanh Mại đứng trên quan niệm xã hội học, đôi khi chính trị

đơn thuần cho cách tả của Xuân Hơng là sự bôi nhọ danh lam thắng cảnh của

đất nớc bởi vì: “Dù muốn hay không muốn ít nhiều cũng đa ta đến chỗ nghi ngờnỗi rung cảm chân thành của nhà thơ trớc vẻ đẹp của non sông Và tôi nghĩ rằng:một cách nghĩ, một cách nhìn, mội cách diễn tả nh vậy không thể mở rộng tâm

t con ngời và cũng khó làm giàu trong văn học đợc” [6, tr 62]

Trái với sự nhìn nhận đánh giá của Trần Thanh Mại, ông Nguyễn Lộc lạicho rằng: “Hồ Xuân Hơng không phải đem cái lăng loàn bôi nhọ cảnh đẹp đất n-

ớc mà thực tế bà có dụng ý bôi nhọ những cảnh chùa chiền góp phần làm mêhoặc con ngời ” [13, tr 43]

Ông Đỗ Đức Hiểu trong bài Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, cùng một

quan niệm với Nguyễn Lộc đã nêu rõ: “ở đây không hề có “cái tục”, mà chỉ cócái tự nhiên, cái đẹp, sức sống của tồn tại con ngời Không phải vấn đề đạo lý

mà vấn đề triết lý, triết lý tự nhiên và triết lý cái đẹp” [2, tr 42]

Nhà phê bình văn học Tam Vị trong bài Tinh thần phục hng trong thơ

Hồ Xuân Hơng, đã đề cao cái tự nhiên trong thơ bà theo tinh thần phục hng

Châu Âu và đặt ra vấn đề quyền tự nhiên Ông viết: “Hồ Xuân Hơng coi thân thể

và các bộ phận sinh dục trên cơ thể con ngời nh là tự nhiên, thiên tạo, nó giống

nh tự nhiên, thiên nhiên vậy Đã thế quyền miêu tả nó trong văn chơng cũng là

Trang 5

một quyền năng tự nhiên Bà dịch các hình ảnh thiên nhiên (hang, động, núinon, đèo, kẽm…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ở đây ý nghĩa này đợc

áp dụng cho những ý đồ linh thiêng hoá hoặc thi vị hoá phong cảnh tức là “hạ bệ

- giải thiêng” cho một loại ý niệm trừu tợng về phong cảnh hơn là cho bản thânphong cảnh” [15, tr 23]

Trong bài: Tâm lý sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Hữu

Sơn đã đa ra nhận xét, đánh giá khá thoả đáng “Với Hồ Xuân Hơng hình ảnhthiên nhiên vẽ theo những quy thớc ớc lệ, chuẩn mực truyền thống và đơc nhậndiện ở thế cận cảnh, đợc đặc tả ở các chi tiết cụ thể Trớc hết nữ sĩ quan tâm tớinhững địa danh xác định nh là những đèo, kẽm, hang, động, hòn đá…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” nghĩa là

sự lựa chọn những danh thắng ngộ nghĩnh, bất bình thờng của tạo hoá…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Ngaycả đến thiên nhiên có tính duy linh vũ trụ thuộc phạm trù “cái cao cả” cũng đợckéo trở lại đời thờng phong tục …) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ” [11, tr 31, 32]

Rõ ràng mảng thơ Nôm viết về danh lam thắng cảnh Hồ Xuân Hơng đãtrở thành tiêu điểm của sự chú ý ở các nhà nghiên cứu văn học…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Phần lớn cácnhà nghiên cứu đều đánh giá cao về tính độc đáo trong nội dung và nghệ thuậtcủa các bài viết về đề tài này Tuy nhiên cũng có vài ngời phủ nhận hoặc hạ thấpgiá trị của các bài thơ đó

Đối với ca dao, trong cuốn: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, ông Vũ

Ngọc Phan đã gắn tình yêu thiên nhiên trong các bài nói về danh lam thắng cảnhvới chủ đề nói về tình yêu đất nớc của con ngời Việt Nam Theo ông: “có yêucảnh thiên nhiên đất nớc với lòng yêu thắm thiết, nhân dân Việt Nam mới thấymột con sông tuy không lớn mà nớc chảy tràn trề, dãy núi tuy không cao màrừng cây thật là rậm rạp” [9, tr 56] Cũng trong cuốn sách này, Vũ Ngọc Phan đãdành hẳn một phần với đề mục : “Đất nớc và con ngời qua tục ngữ, ca dao” đểphân tích lý giải các bài nói về danh lam thắng cảnh (từ tr 146 - 168).Từ việcphân tích, diễn đạt một số bài cụ thể, Vũ Ngọc Phan rút ra nhận xét: “Cũng dolòng yêu quê hơng, bao giờ núi của ta cũng coi là rất cao, vực của ta rất sâu NúiTản Viên, vũng Thuỷ Tiên ở cửa Tuần Vơng, nhân dân đều cho là cao sâu bậcnhất” [9, tr 148] Riêng về mối quan hệ giữa thơ Nôm Hồ Xuân Hơng với cadao, trong đó có những bài nói về danh lam thắng cảnh, Vũ Ngọc Phan nêu rõ:

“Hồ Xuân Hơng, một nhà thơ lớn nữa của ta cũng học tập truyền thống nghệthuật và ngôn ngữ ở tục ngữ, ca dao không kém Nguyễn Du” [9, tr 200]

ở mức độ thẩm bình, ông Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Bình giảng ca

dao, đã nêu bật cái hay, cái đẹp ở một số bài mà nội dung của chúng đều bắt

nguồn từ cảm hứng đối với danh thắng Trong đoạn bình giảng câu ca Trèo đèo

hai mái chân vân, Hoàng Tiến Tựu nêu lên một thực tế: “Cảnh đẹp đã sinh ra

Trang 6

thơ hay Câu ca này cùng với bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh

Quan đều thuộc vào loại thơ tuyệt tác xa nay hiếm” [12, tr 41]

Trong chuyên luận Thi pháp ca dao, ở mục Hai chủ đề phổ biến trong bộ

phận ca dao có địa dan, Nguyễn Xuân Kính đã đa ra những nhận xét hoàn toàn

có cơ sở: “Những địa phơng nào có nghề hay, thợ khéo, có đặc sản, có phong tụcthuần hậu, có nếp sống đẹp, có ngời hiếu học đều đợc nhân dân xa ca ngợi” [3,

tr 140 , 141] Trong cái nhìn đối sánh với ca dao, ở cuốn sách này, Nguyễn XuânKính nhận định: “Nhìn chung ở bộ phận thơ trữ tình của các tác giả thuộc dòngvăn học viết, chủ đề phản ánh tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng không phải làchủ đề phổ biến Điều này rất khác với ca dao có địa danh” [3, tr 144] Đặc biệt,

Nguyễn Xuân Kính còn đa ra kết luận: “ở những bài Chùa Quán Sứ, Động

Hơng Tích, Hang Thánh Hoá, Hang Cắc Cớ, Kẽm Trống, Đèo Ba Dội,

dới ngòi bút của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, ý nghĩa chính của tácphẩm không phải là ca ngợi danh lam thắng cảnh” [3, tr 146,147] Những ýkiến của Nguyễn Xuân Kính vừa đợc trình bày, theo chúng tôi đã đề cập tới nétriêng biệt giữa thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và ca dao ngời Việt khi cùng hớng tới

đề tài về danh lam thắng cảnh

Tất cả các ý kiến của các nhà nghiên cứu đã đợc điểm qua dù ít hay nhiều,

dù trực tiếp hay gián tiếp đều là những gợi ý rất thiết thực giúp chúng tôi cóthêm suy nghĩ về những bài thơ của Hồ Xuân Hơng và một số bài ca dao củanhân dân lao động đều bộc lộ cảm xúc đối với danh lam thắng cảnh Việt Nam

4 Bố cục của khoá luận

Ngoài mở đầu và kết luận khoá luận gồm ba chơng:

Chơng 1: Bức tranh chung về danh lam thắng cảnh trong thơ Nôm Hồ

Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việt

Chơng 2: Giá trị nội dung của các bài nói tới danh lam thắng cảnh Việt

Nam trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việt

Chơng 3: Giá trị nghệ thuật của các bài nói tới danh lam thắng cảnh trong

thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việt

Trang 7

Phần nội dung chính

Chơng 1bức tranh chung về danh lam thắng cảnh trong

thơ nôm hồ xuân hơng và trong ca dao ngời việt

1 Giới thuyết khái niệm danh lam thắng cảnh

Trong cuốn Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Văn

học, 2002, tác giả Nguyễn Lân giải thích khái niệm danh lam thắng cảnh nh sau:

“Danh lam là ngôi chùa có tiếngThắng cảnh là cảnh đẹp nổi tiếng”

Đồng Đăng có phố Kì Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em

Trang 8

Cả bốn câu đều nói đến quê hơng đất nớc Hai câu đầu giới thiệu về Đồng

Đăng, thị trấn địa đầu Tổ quốc với những tên núi, tên phố, tên chùa nổi tiếng x anay Qua những câu ca dao này ta có thể hiểu đợc chùa Tam Thanh, phố Kì Lừa

là những di tích lịch sử, là những tên phố, tên chùa nổi tiếng do con ngời tạonên Còn nàng Tô Thị gắn với di tích lịch sử là núi Vọng Phu do thiên nhiên tạonên Ba địa danh này hợp lại tạo thành thế chân vạc, một phong cảnh tuyệt đẹp ở

Đồng Đăng

Nh chúng ta đã biết, đất nớc ta có rất nhiều phong cảnh đẹp gắn với hàngnghìn năm lịch sử đã để lại không ít những di tích lịch sử nổi tiếng từ thời dựngnớc cho đến ngày nay Những di tích lịch sử có tiếng và những phong cảnh đẹp

đã thu hút rất nhiều khách du lịch đến kể cả trong và ngoài nớc

Danh lam thắng cảnh thờng gắn với những địa danh mà nơi đó đã và đangdiễn ra các lễ hội

Tóm lại ta có thể hiểu một cách đầy đủ danh lam thắng cảnh là những nơi

có di tích lịch sử và phong cảnh đẹp nổi tiếng Những danh lam thắng cảnh cóthể do thiên nhiên tự tạo hay do con ngời xây đắp nên Những danh lam thắngcảnh này thu hút khách du lịch trên mọi miền Tổ quốc và khách thập phơng tớitham quan và thởng ngoạn Những danh lam thắng cảnh còn là nguồn cảm hứngcủa thơ ca, đã đi vào thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng và ca dao ngờiViệt

2 Tìm hiểu đôi nét về Hồ Xuân Hơng và tập thơ Nôm truyền tụng

2.1 Tác giả Hồ Xuân Hơng

Hồ Xuân Hơng là ngời xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu, tỉnh Nghệ An

Họ Hồ ở Quỳnh Lu là một họ nổi tiếng, từng có nhiều ngời đỗ đạt cao và làmquan to - Hồ Sĩ Đống, anh Xuân Hơng, đỗ hoàng giáp, chức đô ngự sử Hồ XuânHơng sinh ra ở đâu, năm nào cha rõ Chỉ truyền ngôn là gia đình một thời sống ởThăng Long, lúc ở phờng Khán Xuân, lúc ở thôn Tiên Thị và tuổi trởng thành

Hồ Xuân Hơng lại dựng một ngôi nhà gần Hồ Tây đặt tên là Cổ Nguyệt Đờng bạn bè lui tới nhiều là ở ngôi nhà này

-Hồ Xuân Hơng theo nề nếp gia đình có đợc đi học nhng không nhiều Cứthơ ca thù ứng với bạn bè, cả Nôm lẫn Hán, không kể tài thơ, về kiến thức cũnglàm các bậc mày râu kính nể Hồ Xuân Hơng sinh sống nh thế nào không sáchnào chép Chỉ thấy ghi nhà nghèo và có mẹ già Có thời gian Xuân Hơng giaothiệp với nhiều bạn bè Đợc Xuân Hơng tặng thơ và cùng xớng họ đều là tríthức quan lại.Cha kể Chiêu Hổ (Chiêu Hổ không chắc hoặc không phải là Phạm

Đình Hổ) “Lu hơng kí” cho thấy thêm khá nhiều: Sơn Phủ, C Đình, Tốn Phong

Trang 9

Thị,Thạch Đình, Chí Hiên, hiệp trấn sơn Nam hạ, hiệp trấn Trần hầu (tức TrầnPhúc Hiển )…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” kể cả một “ngời cũ” là ông Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu, ngờiTiên Điền, Nghi Xuân là Nguyễn Du Khách khứa ngâm vịnh nh vậy, muốn taonhã, chủ nhân trong nhà không phong lu cũng đủ chi dụng,và cũng đủ nhàn nhã

để nghe thơ và xớng họ Cung cách ăn ở ấy cho phép nghĩ rằng Xuân Hơngthuộc tầng lớp trung lu hạng thấp và có lúc mấp mem dân nghèo thành thị, lănlộn với nhân dân lao động

Đờng chồng con của Xuân Hơng rất long đong lận đận: Lấy chồng muộn

mà khi lấy phải chịu làm phận lẽ Có thể nói phận chồng con của Xuân Hơngkhông ra gì

Một điều thờng đợc ghi nhận là Xuân Hơng đi đây đi đó nhiều nơi, lên tậnTuyên Quang, vào tới Thanh Hoá, ra đến An Quảng, sang cả Ninh Bình, cònVĩnh Yên, Sơn Tây, Hà Đông đều có vết chân của nữ sĩ Thời xa, với phụ nữ,chu du nh vậy rất khó Có ngời không dám tin nhng thơ Hồ Xuân Hơng lại làbằng chứng

Xuân Hơng lãng du nh thế vào thời gian nào ? Khó mà xác định nhng baonhiêu cảnh, bấy nhiêu tình là chỗ từng trải của Xuân Hơng

Xuân Hơng mất năm nào? Cha đâu đáng tin bằng lời thơ của Miên Thẩm:trớc năm 1842

Nh vậy Hồ Xuân Hơng thuộc vào thế hệ các nhà thơ cuối thế kỷ xviii

đầu thế kỷ xix và nhỏ tuổi hơn Nguyễn Du

Tuy cuộc đời của Xuân Hơng gặp rất nhiều khó khăn trắc trở song ta cũngthấy nó bộc lộ một điều Hồ Xuân Hơng là một ngời rất cá tính và có bản lĩnh

2.2 Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng

Về sáng tác của Hồ Xuân Hơng cứ hãy xem nh có hai mảng: mảng thơNôm truyền tụng và “Lu hơng ký” Trong phạm vi đề tài này ta chỉ đi tìm hiểu

và nghiên cứu ở mảng thơ Nôm

Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng là một thành tựu văn học đặc sắctrong kho tàng thơ ca Việt Nam thời trung đại Từ khi xuất hiện cho đến nay đãgần 200 năm, song gió bụi thời gian vẫn không làm lu mờ đợc những giá trịthẩm mỹ của hồn thơ nữ sĩ họ Hồ thể hiện trong thơ Nôm truyền tụng

Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng chẳng những là món ăn tinh thần

đầy hấp dẫn đối với đông đảo bạn đọc trong nớc và độc giả nớc ngoài, mà còn là

đề tài thu hút sự sáng tạo nghệ thuật của rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà viếtkịch, nhà hoạ sỹ

Trang 10

Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng cũng là đối tợng nghiên cứu củanhiều học giả Việt Nam và nớc ngoài gần một thế kỷ qua, kể từ ngày nó đợc sutầm và định hình bằng văn bản Thơ Nôm truyền tụng đợc ghi lại và xuất bản

lần đầu tiên với nhan đề “Xuân Hơng thi tập” năm 1913 Từ đó về sau, các sách

Nôm có, quốc ngữ có, in có, chép tay có, đều có chép thơ Xuân Hơng nhng rấtxô bồ, linh tinh Tính những bài đợc tất cả các sách ấy nhất trí cho là của XuânHơng hoặc nhiều ngời công nhận là của Xuân Hơng thì có khoảng 40 bài Cha

kể cùng một bài mà chép rất khác nhau, không phải khác nhau hàng đôi chữ màkhác nhau hàng mấy câu, cả khác nhau về tinh thần bài thơ Bốn mơi bài ấykhông hẳn bài nào cũng của Hồ Xuân Hơng mà bài của Xuân Hơng chắc gì còngiữ đợc nguyên văn của tác giả Hiện tợng dân gian hoá đã khá rõ Không phảingày xa mới có truyện này, gần đây cũng hãy còn nh vậy Nguyên nhân cónhiều, nhng chắc chắn tác phẩm đợc dân gian hoá phải là một tác phẩm mặt nàocũng đáp ứng nhu cầu thởng thức, cả nhu cầu sáng tạo của quần chúng Khôngchỉ thơ Xuân Hơng đi vào đời sống nhân dân rộng rãi và biến dịch nh văn họcdân gian Nhiều bài thơ của kẻ khác làm ra theo mạch thơ Xuân Hơng cũng đợcghép chung vào và truyền là của Xuân Hơng

Đứng về mặt nào đó mà nhìn, có tình hình dân gian hoá nh vậy là mộtvinh dự cho tác giả Nhng coi nh lợng thơ ấy là đối tợng phải nghiên cứu để tìmhiểu về tác giả là Hồ Xuân Hơng quả là rắc rối

Có nhiều kiến giải trớc nay: Bất chấp, coi nh tất thảy là của Xuân Hơng;phân loại ra nhằm gạt bỏ, không công nhận một số với nhiều lý lẽ, cũng phânchia ra nhiều loại nhng không gạt bỏ mà coi những loại nào đó là bộ phận pháisinh trong hiện tợng dân gian hoá bên cạnh bộ phận đích thực của Xuân Hơng;không phân loại, chỉ khảo sát theo tiêu chuẩn phong cách rồi thận trọng coi nhchỉ có khoảng 30 bài có nhiều khả năng là của Xuân Hơng, còn 10 bài kia nétnày nét nọ giông giống nhng không phải là thơ Xuân Hơng Cách làm sau thậntrọng, tất yếu nhng tuyệt đối không quan tâm gì đến khía cạnh dân gian hoá và

bộ phận đợc gán ghép kia với t cách là cứ liệu đối chứng thì về phơng pháp, sự

đánh giá tác giả có thể bị thiệt thòi Chính từ phía đó mà có ý kiến cho thơ XuânHơng là hiện tợng văn học dân gian xâm nhập vào văn học viết

Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng là cảm xúc, là tiếng nói tình cảmcủa nhà thơ trớc hiện thực khách quan và cuộc sống con ngời Cho nên bút pháptrữ tình là bút pháp nghệ thuật chủ yếu chi phối toàn bộ khoảng 40 bài thơ Nôm

đợc truyền tụng của Hồ Xuân Hơng sáng tác Dù viết về danh thắng tự nhiên(đèo, kẽm, hang, động…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ) hay viết về danh thắng nhân tạo (chùa, đền, quán…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ),

Trang 11

Hồ Xuân Hơng đã không dừng lại ở việc miêu tả “cái mình thấy”, không coiviệc tả cảnh là mục đích tự thân, tả cảnh là để ngụ tình, tả cảnh là để gửi gắm,

ký thác, bộc lộ cảm xúc nỗi niềm tâm sự của mình trớc đối tợng mà còn vơn tớitả cảnh nhằm làm cho ngời đọc tởng tợng, liên tởng phát hiện ra “cái mìnhcảm” Vì vậy qua các bài thơ viết về danh lam thắng cảnh, Hồ Xuân Hơng đãviết về những dòng thơ chan chứa tình đời, dào dạt lòng ham sống và cũng trĩunặng nổi đau đời, hận đời của một ngời phụ nữ, một thi sĩ tài hoa rất có bản lĩnhtrong cuộc sống và trong sáng tạo nghệ thuật

3 Tìm hiểu đôi nét về kho tàng ca dao ngời Việt

3.1 Ca dao

Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta đã tớc bỏ những tiếngláy, những câu láy của một bài dân ca thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳngkhác nào bài ca dao Do đó ngời ta có thể nói: giữa ca dao và dân ca ranh giớikhông rõ Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt

Thời trớc ngời ta còn gọi ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản

ánh phong tục của mỗi địa phơng, mỗi thời đại Ca dao là một loại thơ dân gian

có thể ngâm đợc nh các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca

Cũng nh tục ngữ, ca dao dân ca là những bài văn vần do nhân dân sángtác tập thể, đợc lu truyền bằng miệng và đợc phổ biến rộng rãi trong nhân dân.Nói sáng tác tập thể có nghĩa là có câu, có bài do một ngời xớng lên, sáng táclàn điệu hoặc sửa chữa, thêm bớt ngay tại chỗ, hoặc đợc truyền miệng ngay, rồinhững ngời khác sửa chữa, thêm bớt sau, có khi từ địa phơng này sang địa phơngkhác, từ thế hệ này sang thế hệ khác câu ca vẫn đợc sửa chữa cho đến khi hoànchỉnh về cả lời lẫn ý

Có thể nói muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xem dồidào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về những khíacạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao Việt Nam màhiểu biết đợc Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thớc cho lối thơtrữ tình của ta Tình yêu của ngời lao động Việt Nam biểu hiện trong ca daonhiều mặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồngruộng, yêu đất nớc, yêu lao động, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hoà bình.Không những thế ca dao còn biểu hiện t tởng đấu tranh của nhân dân Việt Namtrong cuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao cònbiểu hiện sự trởng thành của t tởng ấy qua các thời kỳ lịch sử

Nh vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của conngời, ca dao còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của nhân dân Việt Nam và

Trang 12

tình hình xã hội thời xa về các mặt kinh tế và chính trị Bởi thế ngời ta mới nói:nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình.

ở phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ tìm hiểu những bài ca dao ngời Việtnói về danh lam thắng cảnh Việt Nam Từ đó thể hiện: lòng yêu đất nớc của conngời Việt Nam Qua đề tài về danh lam thắng cảnh của Việt Nam, ta có thể sosánh lòng yêu đất nớc, yêu quê hơng của con ngời Việt Nam nói chung và củanữ sĩ Hồ Xuân Hơng nói riêng Lòng yêu đất nớc của nhân dân Việt Nam khôngthể hiện một cách bóng gió khắp toàn bài ca dao nh những thơ văn “thời thế”của những nho sĩ Lòng yêu đất nớc của nhân dân Việt Nam hoà với lòng yêu

đồng ruộng, cảnh chợ, con đò; trong tình yêu ấy nhân dân nói lên những cái đặcbiệt, những cái phong phú của từng miền, những cái lớn lao của sông núi, củathác, của rừng…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy”

3.2 Kho tàng ca dao ngời Việt

Ca dao của ngời Việt hết sức phong phú và có giá trị Nó bao gồm nhiềuchủ đề khác nhau Để phục vụ cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về ca dao ngời

Việt khi viết về danh lam thắng cảnh tôi dựa vào cuốn Kho tàng ca dao ngời

Việt, do Ngyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên.

Kho tàng ca dao ngời Việt, đợc tiến hành biên soạn từ năm 1974 đến cuối

năm 1994 Trong sách này khối lợng t liệu tơng đối với nhiều số liệu về dân ca,

ca dao của tất cả 40 cuốn sách (gồm 49 tập) Tất cả có 12487 lời ca dao Kho

tàng ca dao ngời Việt chủ yếu tập hợp những lời ra đời từ trớc Cách mạng tháng

4 Tình yêu đôi lứa

5 Sinh hoạt văn hoá văn nghệ

6 Những lời bông đùa giải trí

7 Những thói h tật xấu và các tệ nạn xã hội

8 Những nỗi khổ, những cảnh sống lầm than

9 Kinh nghiệm sống và hành động

Với chín mục trên, các soạn giả cuốn Kho tàng ca dao ngời Việt đã sắp

xếp các bài theo đề tài và chủ đề (thuộc về giá trị nội dung) Các bài ca dao nói

về danh lam thắng cảnh Việt Nam hầu hết đợc đa vào mục “Đất nớc và lịch sử”

Trang 13

Cách sắp xếp này tơng tự nh cách sắp xếp của Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục

ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, in lần thứ 8, có

sửa chữa và bổ sung, năm 1978

4 Khảo sát, thống kê, phân loại danh lam thắng cảnh Việt Nam

trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việt

4.1 Trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

Để khảo sát, thống kê, phân loại danh lam thắng cảnh Việt Nam trong thơ

Nôm Hồ Xuân Hơng, chúng tôi dựa vào cuốn Hồ Xuân Hơng thơ và đời, Lữ

Huy Nguyên (chủ biên), Nhà xuất bản Văn học, 2002

Ta thấy thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng là cảm xúc, là tiếng nói củanhà thơ trớc hiện thực khách quan và cuộc sống con ngời Qua các bài thơ viết

về danh lam thắng cảnh Hồ Xuân Hơng đã viết những dòng thơ chan chứa tình

đời, dào dạt lòng ham sống và cũng trĩu nặng nỗi đau đời, hận đời của một ngờiphụ nữ, một thi sĩ tài hoa rất có bản lĩnh trong cuộc sống và trong sáng tạo nghệthuật

Theo giới thuyết khái niệm về danh lam thắng cảnh mà ta đã nêu ở phầntrên khi xem vào thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng ta thấy trong tổng số

49 bài thì có 12 bài viết về danh lam thắng cảnh chiếm 24,5% Các bài đó là:

Bài Đá Ông Chồng Bà Chồng

Đá ông chồng bà chồng là hai tảng đá thật to chồng lên nhau ở TuyênQuang, dân gian gọi là Đá Ông Chồng Bà Chồng, một dạng của nhân vật thầnthoại ông Đùng bà Đà (ở Sầm Sơn có hòn Trống Mái)

Bài Đài Khán Xuân

Trong trại bách thảo có một ngôi điện gọi là điện Khán Xuân Khoảngnăm 1916, còn quả núi Khán Sơn hai chỏm Từ Khán Sơn đến Xuân Sơn hẳn làxóm Khán Xuân đầy thi vị của mạn Hồ Tây, Hà Nội

Bài Chùa Quán Sứ

Chùa Quán Sứ là một ngôi chùa lớn thời cuối Lê - Trịnh, thuộc huyện ThọXơng Bây giờ ở phố Quán Sứ, Hà Nội

Hà Nội lập bàn thờ

Trang 14

Bài Động Hơng Tích

Động Hơng Tích là động chính của chùa Hơng, trớc thuộc huyện Chơng

Mỹ tỉnh Hà Tây Cảnh Hơng Tích trùm cả một quả núi, có chùa Ngoài chùaTrong và một cái hang lớn chính là động Hơng Tích

Bài Chợ Trời Chùa Thầy

Chợ Trời Chùa Thầy hay còn gọi là chợ Trời Sài Sơn, cũng nh chợ Trời

H-ơng Tích đều do các phiến đá sắp đặt của thiên nhiên trên một chóp núi đợc hìnhdung nh một cái chợ của ngời Với con mắt nhà thơ thì cảnh quan thiên nhiêncủa chợ Trời chùa Thầy rất kỳ thú

Bài Hang Thánh Hoá

Hang Thánh Hoá là một cái hang trong chùa Thầy Truyền rằng Từ Đạo

Hạnh đã hoá ở đây nên gọi là Thánh Hoá.

Hà Nam

Nhng đa số các công trình nghiên cứu và các văn bản có chú thích đềuthống nhất ghi là ở tỉnh Thanh Hoá, song cha rõ huyện nào

Bài Đèo Ba Dội

Đèo Ba Dội tức là đèo có ba dốc cao còn có tên chữ là đèo Tam Điệp,nằm giữa Ninh Bình và Thanh Hoá

Bài Cảnh chùa ban đêm

Có sách còn gọi là “Một cảnh chùa” trong bài này đã đề cập đến rất

nhiều danh lam thắng cảnh nh chùa Hành Sơn, núi Linh Thứu hay Thứu Lĩnh

Qua số tài liệu đã thống kê trên ta có thể thấy đợc những danh lam thắngcảnh xuất hiện ở các bài đó một cách rất rõ rệt Tuy nhiên ta cũng thấy đ ợc

Trang 15

những bài mà nữ thi sĩ Hồ Xuân Hơng đã đề cập đến nhiều danh lam thắng cảnhtrong cùng một số bài Cụ thể trong 12 bài viết về danh lam thắng cảnh có:

Cảnh chùa có ở 7 bài chiếm 58% nh các bài: Chùa Quán Sứ, Động Hơng

Tích, chợ Trời chùa Thầy, Hang Thánh Hoá, Hang Cắc Cớ, Cảnh Chùa Ban

Đêm.

Cảnh hang động có ở 3 bài trong tổng số 12 bài nh: Động Hơng Tích,

Hang Thánh Hoá, Hang Cắc Cớ.

Cảnh núi có ở 3 bài nh: Chợ Trời Chùa Thầy, Kẽm Trống, Cảnh chùa

ban đêm.

Cảnh đèo kẽm có ở 2 bài nh: Kẽm Trống, Đèo Ba Dội.

Cảnh đền đài có ở 2 bài nh: Đài Khán Xuân, Đề đền Sầm Nghi Đống.

Ngoài ra còn có cảnh quán (Quán Khánh), cảnh chợ (Chợ Trời ChùaThầy), cảnh đá (Đá Ông Chồng Bà Chồng)…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy”

Qua số liệu thống kê và phân loại trên ta có thể thấy những danh lamthắng cảnh trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng có cảnh chùa xuất hiện

và đợc nói tới nhiều nhất Đồng thời qua những cảnh mà ta đã liệt kê ra thì ta cóthể thấy cõi phật (tu hành) gắn với những cảnh nh: chùa, núi, hang, động, đài…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy”

Cũng nh giới thuyết khái niệm về danh lam thắng cảnh ta có thể phân loại

ra một cách rõ ràng đâu là những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tự tạo và

đâu là những danh lam thắng cảnh do con ngời tạo nên

Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tự tạo nh: đá (Đá Ông Chồng

Bà Chồng), động (Động Hơng Tích), hang (Hang Thánh Hoá, Hang Cắc

Cớ ), kẽm (Kẽm Trống), đèo (Đèo Ba Dội).

Bên cạnh những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tự tạo còn có những

danh lam thắng cảnh do con ngời xây dựng nên nh: đền (Đề đền Sầm Nghi

Đống), đài (Đài Khán Xuân), quán (Quán Khánh), chợ (Chợ Trời Sài Sơn),

chùa (chùa Hơng, chùa Thầy, chùa Quán Sứ…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” )

Tuy nhiên hai loại đó có quan hệ gắn bó khó tách rời nh: Trong Động

H-ơng Tích (thiên nhiên tự tạo) có chùa HH-ơng Tích (con ngời xây dựng)…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Rõ ràngnhững danh lam thắng cảnh đợc Hồ Xuân Hơng quan tâm là những nơi có chùachiền đi liền với hang động, là những cảnh thu hút khách thập phơng và hầu hết

đều là những cảnh ở vùng Bắc và Bắc trung bộ - nơi bà đã từng chứng kiến vàchiêm nghiệm

4.2 Ca dao ngời Việt

Khảo sát trong cuốn Kho tàng ca dao ngời Việt của Nguyễn Xuân Kính

và Phan Đăng Nhật chủ biên, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, ta thấy số lợng

Trang 16

các bài ca dao nói về danh lam thắng cảnh Việt Nam rất nhiều Những tên địadanh mà nó xuất hiện trong ca dao của ngời Việt cũng phong phú hơn nhiều:núi, đèo, chùa, hang, động, đờng, phố…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” đặc biệt là tên xứ

Chính vì số lợng bài ca dao nhiều, thêm vào đó là nó có thể có nhiềucảnh, nhiều địa danh cùng xuất hiện trong một bài ca dao nên ta không dễ dànggì bóc tách nó ra nh trong thơ văn “thời thế ” của các nho sĩ nói chung và của

Hồ Xuân Hơng nói riêng

Nếu nh trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng viết về danh lam thắng cảnh ởphần khảo sát, thống kê, phân loại này ta có thể dễ dàng làm đợc vì số lợng bài ít(12 bài) và những danh lam thắng cảnh ít còn đến với ca dao thì số lợng khánhiều và kéo theo nó là những di tích lịch sử và những phong cảnh đẹp nổi tiếngcũng rất nhiều nên ở đây ta phải liệt kê ra những bài ca dao nói về danh lamthắng cảnh để từ đó ta mới có cơ sở để so sánh giữa ca dao ngời Việt và trongthơ Nôm Hồ Xuân Hơng

Khảo sát, thống kê trong cuốn Kho tàng ca dao ngời Việt, ở mục “Đất

n-ớc và lịch sử” (mục 1), có 60 bài nói về danh lam thắng cảnh của đất nn-ớc ViệtNam

Nói về danh lam thắng cảnh của đất nớc Việt Nam, ca dao ngời Việt cũngphân ra các loại là danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tự tạo và danh lam thắngcảnh do con ngời xây đắp nên: Danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tự tạo cónhững cảnh nh : sông, núi, hang, động, đèo…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Còn danh lam thắng cảnh do conngời tạo nên cũng xuất hiện rất nhiều trong ca dao nh các cảnh : cảnh chùa, cảnhchợ, cảnh phố, cảnh làng, cảnh xứ, cảnh đờng, cảnh đền, cảnh miếu…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy”

Trong số 60 bài có đề cập đến danh lam thắng cảnh của đất nớc Việt Nam

đợc rút ra từ Kho tàng ca dao ngời Việt có 10 bài nói về cảnh chùa (chùa Hơng,

chùa Ông, chùa Tam Thanh, chùa Quan Thợng, chùa Thiên Mụ, chùa Đọi, chùaNon Nớc…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ) tiêu biểu nh:

Hà Nội năm cửa chàng ơi Sông Lục Đầu sáu ngọn chảy xuôi thuận dòng

Sông Thơng bên đục bên trong Núi Tản thắt cổ bồng có đức thánh sinh

Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh

Đền Hùng Phú Thọ nớc biếc non xanh hữu tình

Hội Dóng xứ Bắc linh đình Chùa Đọi Phủ Lý rành rành còn bia.

Hoặc bài :

Quê ta có dải sông Hàn

Trang 17

Có chùa Non Nớc, có hang Sơn Trà.

Nói về cảnh hang, động có 2 bài tiêu biểu nh bài:

Động Bích Đào vừa cao vừa lạ Hang Bạch á nh má nàng Tiên Mặn nồng một vẻ thiên nhiên

Đất ta cảnh đẹp cành ngày càng say

Nói về cảnh núi có 11 bài tiêu biểu nh:

Bình Định có núi Vọng Phu

Có đầm Thị Nại, có cù lao xanh…

Hoặc bài:

Núi Ngự Bình mơ màng trăng gió Niềm tâm sự ai thấu cho mình

Đoái nhìn sông Hơng nớc chảy thanh thanh Sông bao nhiêu nớc dạ em sầu tình bấy nhiêu

Về cảnh đèo trong ca dao ngời Việt có 3 bài nh:

Hải Vân bát ngát nghìn trùng Hòn Hồng ở đấy là trong vịnh Hàn

Xa nay qua đấy còn truyền Lối đi Lô Giản thẳng miền ra khơi.

Đền này thờ tổ Nam Phơng Qui mô trớc đã sửa sang rõ ràng

Ai ơi nhận lại cho tờng Lối lên đền thợng sẵn đờng xi măng Lên cao chẳng khác đất bằng

Đua nhau lũ lợt lên lăng vua Hùng

Hoặc bài:

Đất Thừa Thiên trai hiền gái lịch Non xanh nớc biếc, điện ngọc, đền rồng Tháp bảy tầng, Thánh miếu, chùa Ông Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Toà Cầu Trờng Tiền mời hai nhịp bắc qua

Trang 18

Tả Thăng Long, hữu bạch hổ đợi khách âu ca thái bình

Về cảnh sông, hồ, suối, giếng, đầm có 31 bài tiêu biểu nh:

Đất nuôi trẻ nhỏ lừng danh trong ngoài.

Đầu chợ Bởi có điếm cầm canh Ngời đi kẻ lại nh tranh hoạ đồ

Hoặc bài:

Khen ai khéo mở chợ Đình Dới sông trên chợ rập rình vui thay

Về cảnh làng có 3 bài tiêu biểu nh:

Làng tôi có luỹ tre xanh

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng Bên bờ vải nhãn hai hàng Dơí sông cá lội từng đàn tung tăng

Về cảnh tháp có 5 bài tiêu biểu nh:

Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ

Xem cầu Thêi Húc, xem chùa Ngọc Sơn

Đài Nghiên, Tháp Bút cha mòn Hỏi ai xây dựng nên non nớc này

Trang 19

Đặc biệt trong Kho tàng ca dao ngời Việt có sự xuất hiện của khung cảnh

đờng và xứ Hai cảnh này thờng có sự kết hợp hài hoà trong một bài ca dao

Điểm này là điểm rất khác biệt so với thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hơng,

có 10 bài tiêu biểu nh:

Đờng lên xứ Lạng bao xa Cách một cái núi với ba quãng đồng

Ai ơi đứng lại mà trông Kìa núi Thành Lạng kìa sông Tam Cờ

Hoặc bài:

Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nớc biếc nh tranh họ đồ

Ai vô xứ Nghệ thì vô…

Ngoài những danh lam thắng cảnh mà ta đã nêu ở trên thì còn có nhiều

những danh thắng đã đợc giới thiệu trong Kho tàng ca dao ngời Việt mà chúng

tôi không thể dẫn ra đầy đủ

Qua khảo sát, thống kê, phân loại ở trên về danh lam thắng cảnh cả trong

thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong Kho tàng ca dao ngời Việt ta có thể đa ra một

số nhận xét chung nhất:

Trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong ca dao ngời Việt đều xuất hiệnnhững danh lam thắng cảnh nổi tiếng nh: núi, sông, hang, động, đền, chùa, chợ,quán, xứ…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Và qua đó ta cũng thấy cả trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và trong cadao ngời Việt đều có danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tự tạo (núi, sông,hang, động, đèo…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ) và những danh lam thắng cảnh do con ngời xây dựng nên(đền, chùa, lăng, miếu, đờng, chợ…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” )

Đó là điểm gặp gỡ chung giữa thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và ca dao ngờiViệt khi nói về danh lam thắng cảnh Việt Nam

Tuy nhiên qua cái chung ấy ta cần thấy đợc cái khác biệt giữa thơ Nôm

Hồ Xuân Hơng và ca dao ngời Việt: Trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng những danhlam thắng cảnh đợc nói đến là những danh lam thắng cảnh cụ thể nh: hang Cắc

Cớ, đèo Ba Dội, chùa Hơng Tích, Kẽm Trống…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Còn trong ca dao ngời Việt thìnhững danh lam thắng cảnh đó không đợc nói một cách cụ thể mà nói một cáchchung chung về: núi, sông, hang, động, đền, chùa,… Cái đặc biệt nhất mà cũng

là cái khác biệt nhất khi nói về danh lam thắng cảnh giữa thơ Nôm Hồ Xuân

H-ơng và ca dao ngời Việt là trong ca dao ngời Việt những tên phố, tên đờng, tên

xứ xuất hiện nhiều nh: xứ Lạng, xứ Nghệ, đờng vô, đờng lên…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” còn trong thơNôm Hồ Xuân Hơng không có hiện tợng này

Trang 20

Chơng 2Giá trị nội dung của các bài nói tới danh lam thắng cảnh việt nam trong thơ nôm hồ xuân hơng và trong ca dao ngời

đất nớc của mình

Qua những hình tợng thiên nhiên, tự nhiên nh: đèo, kẽm, hang, động…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy”

Hồ Xuân Hơng đã đặc tả vẻ đẹp và sự hấp dẫn của non sông đất nớc Việt Nam

Có thể nói ở đây Hồ Xuân Hơng đã đề cao vẻ đẹp của thiên nhiên đất nớc ViệtNam, những di tích lịch sử của dân tộc Việt Nam Qua đó Hồ Xuân Hơng đãbằng nhiều hình thức tỏ thái độ của mình và thể hiện tình yêu thiên nhiên đất n-

ớc của mình Để làm sáng tỏ vấn đề này ta phân tích một số bài thơ sau:

Qua bài thơ Kẽm Trống, tác giả vừa tả lại vừa cảm; tả cảnh thiên nhiên

bằng cả thị giác và thính giác Hình ảnh “Kẽm Trống” đợc tả từ ngoài vào trong

rồi lại từ trong ra ngoài với những âm thanh của “gió giật”,“nớc vỗ” Mở ra trớc

mắt cảnh tợng kỳ thú làm khách du ngoạn cũng phải ngỡ ngàng:

Có phải đây là Kẽm Trống không ?

Trang 21

Kẽm Trống với Hồ Xuân Hơng có lẽ còn là chiếc trống bằng da thật Nó

đợc tạc nên từ hình của núi, của sông Cảnh nớc non vùa nên thơ, cảnh nớc nonvừa hùng vĩ Cảnh nớc non thực tế là nguồn gốc tồn tại của loài ngời Phải chăng

đây ta thấy nó vừa có ý nghĩa tợng hình, vừa tợng thanh làm cho thiên nhiên trởnên sống động, có hồn Sự lắt léo và tính chính xác các từ ngữ dùng, tác giả đãdành trọn vẹn cho chủ đề t tởng của mình Chủ đề t tởng đó là qua việc miêu tảnhững danh lam thắng cảnh Hồ Xuân Hơng đã thể hiện lòng yêu thiên nhiên,yêu xứ sở và thể hiện lòng tự hào ngỡng mộ, sự trân trọng về quê hơng đất nớc

Tiếp đó, chúng ta hãy xem Hồ Xuân Hơng tả cảnh trong hang núi vàngoài hang núi nh thế nào ?

ở trong hang núi còn hơi hẹp,

Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.

ở đây tác giả đã miêu tả không gian khung cảnh nơi Kẽm Trống Khônggian ở đây có sự mở rộng đột ngột, tuy nhiên không gian ở đây có giới hạn trôngthấy Phong cảnh ở đây thật là nên thơ với không gian của núi làm cho ta phảibăn khoăn một điều là tác giả đã phân núi non theo chiều dài hay chiều đứng ?

Sau khi đã qua Kẽm Trống chúng ta thấy địa d này đã để lại rất nhiều ấntợng về phong cảnh ở đây:

Qua của mình ơi nên ngắm lại, Nào ai có biết nỗi bng bồng.

Hồ Xuân Hơng nhắn những ai đã qua hang, hãy “ngắm lại” phong cảnh

nơi mình đã qua Một phong cảnh thật nên thơ, hùng vĩ của Kẽm Trống

Đọc xong bài Kẽm Trống, ngời đọc có cảm nhận trớc tiên về bài thơ là

“tả” về cảnh thiên nhiên nơi địa d Kẽm Trống, với một lối tả “nghịch ngợm” Đi

xa hơn, ngời đọc có cảm giác là tác giả muốn lồng vào một ý khác Thông quahình ảnh thiên nhiên ngời đọc có thể thấy đợc tình yêu quê hơng đất nớc của HồXuân Hơng Đấy là ẩn ý sâu xa của tác giả

Bên cạnh bài thơ Kẽm Trống thì bài thơ Đèo Ba Dội cũng nhằm ca ngợi

những danh lam thắng cảnh Việt Nam của Hồ Xuân Hơng

Trang 22

Bài thơ Đèo Ba Dội hội tụ nhiều nét tinh hoa của phong cách Xuân Hơng

nh tình yêu thiên nhiên, dữ dội trong sự biểu hiện dục tính trong tài hoa miêu tả,

ỡm ờ mà khiêu khích ngời khác giới, kẻ bề trên, lập lờ hai mặt trong sự khátkhao tình dục, sự hoà điệu giữa họa và nhạc cho đến cái vần “eo” nó lại cứ đeolấy Xuân Hơng trên đèo Ba Dội

Nói nh vậy không có nghĩa là bài thơ Đèo Ba Dội là sự lắp ráp những

mảnh tài tình của Xuân Hơng mà nó là một cấu trúc hoàn chỉnh, dòng t tởng liềnmạch của Hồ Xuân Hơng khi miêu tả những danh lam thắng cảnh

Ta thấy Hồ Xuân Hơng tả đèo mà lại tấu nhạc lên thì thật là độc đáo:

Một đèo, một đèo, lại một đèo.

Thoát nhạc của câu thơ Đờng cổ điển, Xuân Hơng tạo ra một thứ thanhnhạc riêng, kết hợp với nhịp đặc biệt để thể hiện thái độ tinh nghịch của XuânHơng với ngời đời: đèo cao, trèo mệt mà vẫn cứ muốn trèo!

Và nhà thơ họ nói lên cái lý do ham muốn leo trèo Ba Dội của ngời đời,của kẻ hiền nhân quân tử:

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc, Hòn đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,

Đầm đìa lá liễu giọt sơng gieo.

Hồ Xuân Hơng a dùng máu nóng “cửa son đỏ loét” nh muốn đốt lòng

ng-ời ta, lại phết dày nh sơn dầu ám lấy tâm trí ngng-ời đọc một mảng tối “tùm hum” hoang dại Hài hoà với cái màu đỏ ma mãnh đó là mầu “xanh rì ” thiết tha của

sự sống trẻ trung cờng tráng đang nảy nở những nét non tơ “lún phún”.

Cảnh đèo càng tả càng lạ :

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,

Đầm đìa lá liễu giọt sơng gieo.

Từ màu cửa son và màu đá xanh rì hoà sắc, đến cành với lá cũng giao thoatrong những nét cứng mềm, gió với sơng cũng tung hứng êm đềm Nét cứng

(cành thông) là cây trên đèo chìa ra nơi “lắt lẻo” nên động không ngừng; cơn gió thốc “gieo”những giọt sơng ớt “đầm đìa lá liễu ”(nét mềm) Nét cứng động

khoẻ, nét mềm buông thả tạo nên sự giao hoà êm ái, nh gợi trong thi nhân mộtnỗi khát khao

Hồ Xuân Hơng đã tạo ra một hợp tấu khúc kỳ thú mà mỗi âm thanh, mỗimau sắc, mỗi đờng nét đều nh muốn rủ rê trèo đèo Ba Dội Tất cả nh muốn nóilời của nữ sĩ với những ngời chân thật, lời này chỉ có thể nghe trong gió thốc

Đèo Ba Dội đáng trèo Hai câu thơ kết thúc bài Đèo Ba Dội:

Hiền nhân quân tử ai là chẳng,

Trang 23

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

Điều này càng khẳng định cho chúng ta thấy đợc vẻ đẹp của thiên nhiêntrên đèo Ba Dội Hẳn là phong cảnh thiên nhiên trên đèo Ba Dội phải thật đẹp,phải thật hết sức hấp dẫn, hết sức lôi cuốn con ngời lên đó thậm chí đến những

kẻ “hiền nhân quân tử ” dù có:

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

Tuy nhiên, bên cạnh đó hai câu thơ này còn có ý chế giễu một bọn “hiền

nhân ”, “quân tử ”dâm ô mà giả dối.

Qua hai câu thơ này, Hồ Xuân Hơng cũng nói lên tấm lòng trìu mến củamình đối với cảnh non sông đất nớc Đó là một thứ tình cảm lành mạnh, chânthành, khác hẳn với thứ tình cảm đối với thiên nhiên giả tạo, khuôn sáo hoặc yếu

đuối đầy rẫy trong văn học phong kiến của ta và cả trong văn học lãng mạn saunày

Hồ Xuân Hơng đón nhận thiên nhiên bằng tất cả các con đờng mở rộngcủa giác quan Hồ Xuân Hơng truyền sức sống của mình vào trong cảnh vật HồXuân Hơng còn truyền cả cái đa tình vào trong đó nữa Thiên nhiên sẽ bừng tỉnhgiấc mộng vô tri triền miên của mình để cảm xúc và nhất là để yêu Những giọtnớc trong thơ Hồ Xuân Hơng không phải là những giọt nớc thông thờng: đó là

những giọt nớc “hữu tình ” trong bài Động Hơng Tích và Hang Cắc Cớ.

Đến với bài thơ Động Hơng Tích, ta thấy xuất hiện danh lam thắng cảnh

tự nhiên nh động Hơng Tích và danh lam thắng cảnh nhân tạo là chùa Hơng(chùa Hơng Tích)

Chùa Hơng là một vùng non nớc kỳ ảo của xứ Bắc Tài tử văn nhân thờinào cũng thờng lui tới Vậy thì thử hỏi làm sao chùa Hơng có thể vắng bóng HồXuân Hơng Ngời nữ sĩ “có tình riêng với nớc non” đã đến chùa Hơng và đã đểlại dấu ấn tâm hồn của nữ sĩ nh dấu chân của ngời khổng lồ in trên đá

Vào những ngày đầu xuân, hội Chùa Hơng thật là nhộn nhịp Ngời tứ

ph-ơng đi trẩy hội Ngời tu hành ít, kẻ trần tục nhiều, chen chân trong động hph-ơngkhói pha với sơng mù:

Ngời quen cõi Phật chen chân xọc,

Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.

Đối thật chỉnh trong hai câu thực, song Hồ Xuân Hơng vẫn mang lại chocâu thơ đờng một âm sắc mới Những động từ “xọc” “dòm” của Hồ Xuân Hơngsắc bén, châm biếm cảnh tục trong “cõi phật” Hai bên đờng quanh co lên động

có nhiều cảnh lạ “kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm” là vậy Trong động vú đá mơn

Trang 24

mởn vô tình nhỏ từng giọt sữa đá trong veo, với Hồ Xuân Hơng thành hữu tình,thành ngân nga:

Giọt nớc hữu tình rơi thánh thót, Con thuyền vô trạo cúi lom khom.

Đến Hồ Xuân Hơng phải lạ lùng cho “trời già” đã tạo ra cảnh giữa lâmtuyền quyến rũ con ngời đến thế :

Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại, Gió khéo trời già đến dở dom.

Vào chính ngày hội Chùa Hơng, thật đúng là “lâm tuyền quyến cả phồnhoa lại” Những du khách thập phơng, mà có lẽ đông nhất là ngời Hà Nội, nơi

“phồn hoa”, họ trút hết u phiền ở ngoài Bến Đục để bớc lên con thuyền hữu trạo,mặt mày rỡ ràng, thả hồn với mây nớc, mắt đa mày đón, bồng bềnh rơi vào “cõiphật” Cõi tâm linh này tô điểm thêm cho vẻ đẹp do thiên nhiên tự tạo (Động H-

ơng tích).Qua thơ Hồ Xuân Hơng, ta còn thấy con ngời có tình thành ra đá cũng

có tình Đá hoá ra Hòn Trống, Hòn Mái, đá trở thành Hòn Ông, Hòn Bà Haithớt đá chồng lên nhau là có Ông Chồng Bà Chồng Hình nh bài học tình yêu,thiên nhiên và con ngời hoà lẫn nhau Làm sao Hồ Xuân Hơng bỏ qua cái đề tàithú vị này đợc Hồ Xuân Hơng đã thổi vào cái đề tài dân gian ngộ nghĩnh đómột luồng tình cảm, thấm đẫm vào đá cái sinh khí của Hồ Xuân Hơng Khôngcòn đâu là đá nữa mà nó đã trở thành một danh lam thắng cảnh nổi tiếng và tr ớcmắt Hồ Xuân Hơng là một cảnh ân ái lạ lùng:

Khéo khéo bày trò tạo hoá công,

Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng.

Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc, Thớt dới sơng pha đợm má hồng

Đá trở nên mềm mại, uyển chuyển, có sắc màu, khăng khít, nồng nàn Mà

xem kỹ là một tình già Ông Chồng (tầng trên) “tuyết điểm phơ đầu bạc” phải

đến trăm tuổi chứ chẳng chơi! Bà Chồng (thớt dới) “sơng pha đợm má hồng”.

Hồ Xuân Hơng nói “má hồng” là để nhận diện phái đẹp chứ cũng đã “sơngpha”, qua lâu rồi cái thời xuân xanh Nhng có hề chi, cặp tình già vẵn còn hứahẹn trờng cửu với không gian, thời gian:

Gan nghĩa giãi ra cùng nhật nguyệt, Khối tình cọ mãi với non sông.

Với Hồ Xuân Hơng, cái vô tình đã trở thành cái hữu tình, cái vô sắc đãbiến thành cái hữu sắc, cái tĩnh tuyệt đối đã trở thành cái động tuyệt đối RấtXuân Hơng là cái cảnh này:

Trang 25

Khối tình cọ mãi với non sông.

Chỉ một từ “cọ” ta nhận ra Hồ Xuân Hơng, một Hồ Xuân Hơng xù xì màmãnh liệt, mà hơng, mà lửa Nữ sĩ nói khối tình đá mà ta nhận ra khối tình ngời,khối tình Xuân Hơng, một khối tình nặng nh đá

Trong nỗi xúc động lớn lao, Hồ Xuân Hơng thổ lộ một lời thật chân tình

Đá kia còn biết xuân già dặn

Chả trách ngời ta lúc trẻ trung.

Ngời đời nhớ thơng Hồ Xuân Hơng ở tiếng cời phá phách, nhng cũngkhông thể quên Hồ Xuân Hơng những lời thế thái nhân tình làm đụng đến nỗisâu thẳm cõi lòng ngời

Xuân Hơng yêu thiên nhiên và sau Xuân Hơng thiên nhiên trong cái độphát triển sung sức của nó Nhng không cứ gì thiên nhiên, tất cả những cái gì dồidào sức sống, biểu hiện đợc cuộc sống phơi phới là Xuân Hơng đều trìu mến

Đứng trớc thiên nhiên ngay trớc những vật tầm thờng nhỏ nhặt nhất, hình

nh bao giờ Xuân Hơng cũng có một sự ngạc nhiên thú vị, bao giờ cũng tìm thấymột vẻ hứng thú mới mẻ, một lý do để càng gắn bó với cuộc sống

Một khía cạnh khác trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng khi viết về danh lamthắng cảnh ta thấy Hồ Xuân Hơng đã mợn những danh lam thắng cảnh để bộc lộthái độ phản ứng lại một cách kịch liệt thói đạo đức giả, tích cực chống lại chủnghĩa tiết dục của Nho giáo, chủ nghĩa diệt dục của Phật giáo, chủ nghĩa quảdục của Đạo giáo nh:

Đang giữa bài thơ vịnh hang Thánh Hoá, Xuân Hơng cũng choảng cho s

và cả tiểu nữa, ăn no béo mập:

Một s đầu trọc ngồi khua mõ, Hai tiểu lng tròn đứng giữ am.

(Hang Thánh Hoá)

Giễu s, Xuân Hơng giễu cả chùa trong bài Chùa Quán Sứ :

Quán sứ sao mà cảnh vắng teo ?

Giễu cả những vật để thờ cúng:

Chày kình tiểu để suông không đấm, Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo…

Giễu cả sự tu hành:

Cha kiếp đờng tu sao lắt léo…

Trong cái xã hội phong kiến lúc suy tàn, thì những tên gọi “hiền nhân”,

“quân tử”, “anh hùng” chỉ còn những cái vỏ hết nhẵn cả ruột, chỉ còn là nhữngdanh hiệu mà bọn bất tài, bọn hèn nhát đang cầm quyền, lợi dụng đắp phủ lênmình chúng Xuân Hơng đã bóc cái lớp vỏ sơn kia của những nhân vật ấy, để lòicái cốt gỗ mục ở trong Xuân Hơng mát mẻ vờ kính nể họ, để chế giễu họ:

Trang 26

Hiền nhân quân tử ai là chẳng, Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.

(Đèo Ba Dội)Quân tử ơi là quân tử ! Trớc cái cảnh đẹp “Dẫu không Bồng Đảo cũngTiên đây ” nào nhạn điểm, mây trùm, nào vừng nguyệt chếch, nào lá thu bay, lẽnào đành bất lực:

Hỡi ngời quân tử đi đâu đó, Thấy cảnh sao mà đứng đựơm tay

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm, Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom…

… Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,

Rõ khéo trời già đến dở dom !

mà chỉ :

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo

(Đề đền Sầm Nghi Đống).

Đây là một cái nhìn khinh miệt đối với một tên giặc Nếu không sâu thẳm

từ ý thức một ngời phụ nữ coi thờng đạo lí phong kiến, một ngời phụ nữ luônluôn đơng đầu đấu tranh để tự khẳng định mình trớc nam giới thì khó có cáicung cách nhìn nh thế

Qua những bài thơ viết về danh lam thắng cảnh của Hồ Xuân Hơng, tathấy Hồ Xuân Hơng hay đi đây đi đó, từng trải nhiều danh lam thắng cảnh, ởBắc, ở Trung và tiếp xúc nhiều khách văn chơng

Trang 27

Mà nh ta đã biết ở chế độ cũ, giang sơn của ngời đàn bà thông thờng làgia đình…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Nhng Xuân Hơng không có đợc đời t chồng yên con đủ nên phải lấynúi sông làm bạn Xuân Hơng đi cho khuây khoả, đi để giải phóng, thiên nhiêngiúp mình vợt qua những nỗi đau buồn Trong chế độ cũ, Xuân Hơng cũng chỉtìm đợc lối thoát trong sự đặt mình ngoài vòng nhân sự, là một kẻ không bận

việc đời t “nghêu ngao vui thú yêu hà ”, nh câu thơ Nguyễn Du Nhng hơn sự

ngao du của nhiều văn nhân đàn ông, Xuân Hơng đặt chân mình đến nơi danhthắng nào là có thơ hay; bớc chân của Xuân Hơng in dấu thơ vào đất nớc nh cácbài ta đã nêu và phân tích ở trên

Tóm lại, khi sáng tác những bài thơ Nôm viết về danh lam thắng cảnh, HồXuân Hơng đã thể hiện đợc tình yêu thiên nhiên, yêu quê hơng xứ sở và thể hiện

đợc lòng trân trọng tự hào về danh lam thắng cảnh của nớc Việt Nam…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Đây làmột trong những cảm hứng chủ đạo của văn học Việt Nam trung đại nói chung

và của Hồ Xuân Hơng nói riêng Đó là cảm hứng yêu nớc Tuy nhiên, danh lamthắng cảnh đợc miêu tả trong thơ của “bà chúa thơ Nôm” nhiều khi chỉ là cái vỏ

bề ngoài, là cái cớ để thi nhân gửi gắm những ẩn ý bên trong đúng nh NguyễnXuân Kính đã nhận xét:

“Còn ở trong bài Chùa Quán Sứ, Động Hơng Tích, TR146,Hang Thánh

Hóa, Hang Cắc Cớ, Kẽm Trống, Quán Khánh, Đèo Ba Dội …) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” dới ngòi bút của

Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, ý nghĩa chính của tác phẩm không phải là cangợi danh lam thắng cảnh” [3, tr 146,147]

1.2 Trong ca dao ngời Việt

Có thể nói muốn hiểu biết tình cảm của nhân dân Việt Nam xem dồi dào,thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về những khía cạnhnào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao Việt Nam mà hiểubiết đợc Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ,là khuôn thớc cho lối thơ trữ tìnhcủa ta Tình yêu của ngời lao động Việt Nam biểu hiện trong ca dao về nhiềumặt: tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng,yêu đất nớc, yêu lao động, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Khôngnhững thế, ca dao còn biểu hiện t tởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trongcuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểuhiện sự trởng thành của t tởng ấy qua các thời kỳ lịch sử Vì vậy ngời ta mới nói:nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình

ở đề tài này ta chỉ đề cập đến nội dung của các bài ca dao nói về danhlam thắng cảnh Việt Nam

Trang 28

Do cảm xúc mà cấu tạo nên lời ca, nên tính t tởng của nhân dân Việt Nambiểu lộ của ca dao không những làm cho ngời ta thông cảm tình yêu thắm thiếtmặn nồng của họ mà còn làm cho ngời ta thấy phẩm chất của họ trong các cuộc

đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội

Khi nói về danh lam thắng cảnh Việt Nam, ta thấy nội dung trớc tiên của

ca dao là tình yêu quê hơng xứ sở,yêu thiên nhiên, lòng tự hào trân trọng về nonsông đất nớc thông qua việc ca ngợi những danh lam thắng cảnh, những di tíchlịch sử của nớc Việt Nam ta từ ngàn đời nay Lòng yêu đất nớc của nhân dânViệt Nam không thể hiện bóng gió khắp toàn bài ca dao nh những thơ văn “thờithế” của những ngời nho sĩ Lòng yêu đất nớc của nhân dân Việt Nam hoà vớilòng yêu những cảnh thiên nhiên của đất nớc, hoà với cả lòng yêu đồng ruộng,cảnh chợ, con đò Trong tình yêu ấy nhân dân nói lên những cái đặc biệt nhữngcái phong phú của từng miền, những cái lớn lao của sông núi, của thác, củarừng, những cái hiểm trở nó làm cho giặc ngoại xâm khiếp sợ…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” Để tìm hiểu cụthể vấn đề này ta đi phân tích một số câu ca dao sau:

Trèo đèo hai mái chân vân Lòng về Hà Tĩnh, dạ ái ân Quảng Bình.

Câu ca dao này đợc ghi theo Xuân Diệu Xuân Diệu cho rằng: “chân vân”

là tiếng mới do hoàn cảnh mà tự sáng tạo ra, nó tổng hợp chữ “chênh vênh” là

“đèo” với chữ “phân vân” là “dạ” mà nó lại chân ở bàn chân tụ tình cảm! Lòng

về quê hơng Hà Tĩnh nhng dạ ở lại với quê hơng ái ân Quảng Bình! Nếu bày ramột cảnh nh trên sân khấu, đứng cao trên đèo, hai chân hai mái, mặt trông haiphía mà hát câu ca dao này thành một điệu hát nam thì nổi bật biết bao nhiêu

Xuân Diệu bình giảng khá hay tuy có chỗ suy diễn hơi quá Thực ra câu

ca dao này có hai dị bản khác nhau ở hai chữ cuối của vế thứ nhất Một dị bảndùng từ “chênh vênh” mà giọng Quảng Bình nói nghe gần nh “chân vân” hoặc

“chên vên” để tả hai mái đèo ngang (nối giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh) Dị bảnthứ hai dùng từ “phân vân” để tả tâm trạng của chàng trai (hay cũng có thể là côgái) khi qua đèo Nếu ghi theo dị bản thứ hai thì trớc hai chữ “phân vân” phải

đánh dấu phẩy để cho sự diễn tả đợc rõ ràng, minh bạch ý và tứ của câu ca daonày thật là tuyệt diệu Cảnh đẹp đã sinh ra thơ hay Câu ca dao này cùng với bài

thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan đều thuộc về bài thơ tuyệt tác

xa nay đều hiếm

Bên cạnh đó có bài ca dao đáng đợc sếp vào hạng nhất trong những bài cadao hay của nớc ta cũng nói về danh lam thắng cảnh là:

Đồng Đăng có phố Kì Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Trang 29

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em…

Bài ca dao này có nhiều dị bản khác nhau Đây là bốn câu đầu (thuộc

mảng thứ nhất) trong cuốn tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan.

Hai câu đầu giới thiệu Đồng Đăng, thị trấn địa đầu Tổ quốc với những tênnúi, tên phố, tên chùa nổi tiếng xa nay nh: chùa Tam Thanh, phố Kì Lừa, núi TôThị Vọng Phu Hai câu sau là lời mời khách lên thăm xứ Lạng Mới nghe thì t-ởng nh đây chỉ là những câu ca dao về tình yêu quê hơng đất nớc Chính vì vậy

mà nó đã đợc đặt lên hàng đầu trong mục ca dao về đất nớc của cuốn sách Tục

ngữ ca dao Việt Nam đã nói Bên cạnh chủ đề về quê hơng đất nớc, đây còn là

một bài ca dao về tình yêu đôi lứa Hai nhân vật “anh” và “em” chính là chủ thể

và đối tợng tỏ tình của bài ca dao này ở đây tình yêu quê hơng đất nớc và tìnhyêu lứa đôi nam nữ gắn bó, hoà quyện và tác động thúc đẩy lẫn nhau

Sự xuất hiện liên tiếp ba lần từ “có” cùng với nhịp thơ dồn dập khẩn trơng

trong hai câu đầu phản ánh rất rõ sự hào hứng, nhiệt tình cao độ của chàng trai

sứ Lạng trong việc giới thiệu quê hong xứ sở Lời giới thiệu quê hơng đây sao

mà khấp khởi, vui và xốn xang làm vậy ? Phải chăng vì cảnh đẹp tuyệt vời của

đất nớc hay vì tình yêu quê hơng thắm thiết của chàng trai? Đúng là có hai cái

đó, nhng cả hai cái đó đều chỉ mới là cơ sở và điều kiện, còn nguyên nhân vàmục đích của sự hào hứng, say mê đặc biệt ấy lại thuộc về chỗ khác Và điềunày đã đợc tácgiả thể hiện một cách kín đáo, tế nhị nhng cũng hết sức rõ ràng và

đầy đủ ở trong hai câu cuối :

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em.

Từ “ai” đã đợc nhiều lần xuất hiện trong ca dao truyền thống và đây cũng

là một trong những lần nó đợc dùng hay nhất, độc đáo nhất “Ai” ở đây cũngchính là “em”, là cô gái mà chàng trai đang tha thiết mời lên sứ Lạng Gọi “em”

là ai, rồi lại xng với “ai” bằng “anh”, chàng trai ở đây thật là nhiều khi lắmchuyện ! Các tác giả của ca dao thờng hay bày đặt ra lắm chuyện “lôi thôi”,khác thờng nh thế đấy Khác thờng nhng dễ hiểu, dể thông cảm bởi vì mấy ai đãyêu mà lại không phải trải qua những sự khác thờng nh vậy Gọi “em” bằng “ai”làm cho đói tợng đang trực tiếp trở thành gián tiếp, đang xác định trở thànhkhông xác định Đó là cái “mẹo” giúp cho chang trai ở đây không tránh đợc sự

đờng đột, khó nói Đó cũng là biện pháp phổ biến của ngời yêu trong ca dao tìnhyêu truyền thống

Hai từ “bõ công” có nghĩa nh xứng công, đáng công, khỏi uổng công, mà

“công” ở đây là công “sinh thành” của cha mẹ Nếu ở câu trên ta có thể nói

Trang 30

chàng trai là “lắm chuyện” thì ở câu này có thể nói là chàng trai đã quá quantrọng hoá và làm cho “to chuyện” Bởi vì cứ theo cách nghĩ và cách nói của anhthì nếu nh cô gái không “lên xứ Lạng” thì uổng công “sinh thành của cha mẹ”.Nghĩ nh vậy và nói nh vậy có đúng không hay quá ngoa, quá đáng ? Đất nớc ta

đã có biết bao danh lam thắng cảnh nếu không “lên xứ Lạng” mà “uổng côngsinh thành” thì không đi các xứ khác (xứ Bắc, xứ Đông, xứ Nghệ, xứ Huế…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” ) thìsao ? Chàng trai trong bài ca dao đã nói nhỏ với chúng ta rằng: xin bạn chú ý

đến chữ “cùng”! thì ra chủ định của chàng trai và chủ đề của lời hát đợc tậptrung và ẩn kín trong bài này

Nớc Việt Nam ta, non sông một dải, từ Lạng Sơn đến Cà Mau núi rừngtrùng điệp, ruộng vờn bát ngát, sông biển chan hoà; miền Nam thì nông lâm,thuỷ sản đặc biệt giàu có, miền bắc thì khoáng sản đặc biệt phong phú Đất nớc

ta trù phú nh vậy, lại có một nền văn hoá lâu đời và là một bao lớn trên TháiBìng Dơng, có tầm mắt nhìn ra toàn cõi Đông Nam á, nên cũng là một đất nớctrong số những đất nớc phải trải qua sóng gió ngoại xâm nhiều nhất

Nói đến những nơi hiểm yếu và đẹp thì Lạng Sơn, Chi Lăng cũng là nơihiểm yếu Chi Lăng gần xa Tuần Muội là một nơi lọt vào giữa hai dãy núi, cóchỗ phình ra nh bầu rợu, lại có đoạn thắt lại nh cổ bầu Chính nơi hiểm yếu này,Trần Hng Đạo và Lê Lợi đã hai lần tiêu diệt giặc ngoại xâm Lạng Sơn còn cónhững phong cảnh rất đẹp:

Đờng lên xứ Lạng bao xa ? Cách một trái núi với ba quãng đồng.

Ai ơi, đứng lại mà trông:

Kìa núi Thành Lạng, kìa sông Tam Cờ…

ở núi Thành Lạng có Nhị Thanh, Tam Thanh, nổi tiếng và có đá VọngPhu gọi là “Nàng Tô Thị ”, ngời phụ nữ bế con đứng trông chồng rồi hoá đá, đãthành truyện dân gian phổ biến ở nớc ta

Sự hiểm yếu và đẹp ở đây còn đợc thể hiện qua rất nhiều câu ca dao nh:

Đờng lên Mờng Lễ bao xa ? Trăm bảy mơi thớc, trăm ba mơi ghềnh !

Câu ca dao này đã ca ngợi cảnh núi rừng hùng vĩ của Điện Biên

Rừng rồi lại rừng, suối rồi lại suối, vách đá dựng đứng, cỏ cây từ vách đámọc ngang trên đầu khách bộ hành

Trên đờng di c, dân tộc Việt, tổ tiên chúng ta đã không quản gian nguy,vựơt biển, băng rừng, trèo đèo, lội suối…) ra các hình ảnh “cái ấy”, “chuyện ấy” nh:

Đi bộ thì khiếp Hải Vân

Ngày đăng: 25/12/2013, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Xuân Diệu: Ba thi hào dân tộc, Nxb Thanh Niên, tái bản, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba thi hào dân tộc
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
2. Đỗ Đức Hiểu: Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, Tạp chí Văn học, 1990, sè 5, tr 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới thơ Nôm Hồ Xuân Hơng
3. Nguyễn Xuân Kính: Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã hội, tái bản lần thứ 2 (có bổ sung sửa chữa), 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
4. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên): Kho tàng ca dao ngời Việt, Nxb Văn hóa thông tin, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao ngời Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
5. Nguyễn Lân: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn học, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
6. Trần Thanh Mại: Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hơng, Tạp chí Văn học, 1964, sè 2, tr 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hơng
7. Nguyễn Đăng Na: Thơ Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian, Tạp chí Văn học, 1991, số 2, tr 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian
8. Lữ Huy Nghiên (chủ biên): Hồ Xuân Hơng thơ và đời, Nxb Văn học, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng thơ và đời
Nhà XB: Nxb Văn học
9. Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Văn học, tái bản lần thứ 8 (có bổ sung sửa chữa), 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
10. Lê Trờng Phát : Thi pháp văn học dân gian (bài ca dao), Nxb Giáo dôc, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học dân gian
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
11. Nguyễn Hữu Sơn: Tâm lý sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, Tạp chí Văn học, 1991, số 2, tr 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng
12. Hoàng Tiến Tựu: Bình giảng ca dao, Nxb giáo dục, tái bản lần thứ 9, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng ca dao
Nhà XB: Nxb giáo dục
13. Đỗ Lai Thuý: Hồ Xuân Hơng hoài niện phồn thực, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng hoài niện phồn thực
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
14. Trơng Xuân Tiếu: Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng, Nxb văn học 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng
Nhà XB: Nxb văn học 2004
15. Tam Vị: Tinh thần phục hng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, Tạp chí Văn học, 1991, số 3, tr 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần phục hng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hơng
16. Lê Trí Viễn (chủ biên): Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hơng, Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ 5, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hơng
Nhà XB: Nxb Giáo dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w