1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức dạy học môn khoa học lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác

80 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 877,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nếu trong quá trình dạy học môn Khoa học lớp 5 giáo viên biết tổ chức các hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác phù hợp với đặc điểm nhận thức của học

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

1

LờI CảM ƠN

Để hoàn thành đề tài này, bản thân nhận đ-ợc sự giúp đỡ của của rất nhiều ng-ời Đó là các thầy giáo, cô giáo, các anh chị học viên, các bạn bè đồng nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, khoa Giáo dục Tiểu học - Tr-ờng Đại học Vinh và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học 17 - Giáo dục Tiểu học, đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị H-ờng là ng-ời trực tiếp h-ớng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn Phòng Giáo dục và đào tạo Quỳnh L-u, Ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên các tr-ờng tiểu học ở Quỳnh L-u, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng, nh-ng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận đ-ợc những ý kiến đóng góp

Xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tỏc giả

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC MÔN KH LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM SPTT 4

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4

1.2 Một số vấn đề về dạy học theo quan điểm SPTT 6

1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy học 6

1.2.2 Khái niệm sư phạm tương tác 8

1.2.3 Bản chất, đặc điểm của quan điểm sư phạm tương tác 12

1.2.4 Ưu điểm của dạy học theo QĐSPTT 13

1.2.5 Hạn chế của dạy học theo QĐSPTT 15

1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lý của HSTH và việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác 15

1.3.1 Về mặt giải phẫu sinh lý 15

1.3.2 Về mặt nhận thức 16

1.3.3 Tình cảm 17

1.4 Khái quát về môn Khoa học lớp 5 18

1.4.1 Mục tiêu, đặc điểm của môn Khoa học lớp 5 18

1.4.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5 19

1.4.3 Bản chất của việc DH môn Khoa học lớp 5 theo QĐSPTT 20

1.5 Thực trạng DH môn Khoa học ở tiểu học theo QĐSPTT 21

1.5.1 Thực trạng sử dụng các PP dạy học môn Khoa học hiện nay 22

1.5.2 Sự hiểu biết về QĐSPTT của cán bộ, GV ở một số trường TH 24

1.5.3 Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học môn KH của GVTH 24

1.5.4 Các hình thức tổ chức tổ chức dạy học mà giáo viên thường sử dụng khi dạy học môn Khoa học 25

1.5.5 Chất lượng học tập môn Khoa học của học sinh tiểu học 26

1.5.6 Đánh giá chung về thực trạng 27

Kết luận chương 1 28

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 THEO QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC 29

2.1 Yêu cầu đối với việc DH môn KH theo QĐSPTT 29

Trang 4

2.1.1 Đảm bảo tính khoa học 29

2.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 30

2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 31

2.2 Cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học theo QĐSPTT 31

2.3 Điều kiện để tổ chức dạy học theo quan điểm SPTT có hiệu quả 45

Kết luận chương 2 47

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48

3.1 Mục đích thực nghiệm 48

3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 48

3.3 Nội dung thực nghiệm 48

3.4 Phương pháp thực nghiệm 48

3.5 Tổ chức thực nghiệm 48

3.5.1 Xác định thời gian thực nghiệm 48

3.5.2 Chọn cơ sở và đối tượng thực nghiệm 48

3.5.3 Chọn bài thực nghiệm 49

3.5.4 Soạn giáo án thực nghiệm : 49

3.5.5 Bồi dưỡng giáo viên dạy thực nghiệm : 49

3.5.6 Tiến hành thực nghiệm : 50

3.5.7 Kiểm tra, đáng giá kết quả thực nghiệm : 50

3.5.8 Xử lý kết quả thực nghiệm 51

3.6 Kết quả thực nghiệm 53

3.6.1 Kết quả lĩnh hội tri thức của học sinh 53

3.6.2.Mức độ hoạt động và sự tương tác của học sinh trong giờ học 62

3.6.3 Hứng thú của học sinh trong giờ học 63

3.6.4 Rèn luyện kĩ năng tổ chức hoạt động nhóm 64

3.7 Ý kiến của cán bộ chỉ đạo chuyên môn và GV dạy thực nghiệm 65

3.8 Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm 66

Kết luận chương 3 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 72

Trang 5

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

QĐSPTT Quan điểm sư phạm tương tác

Trang 6

sư phạm thực hiện ở Châu Phi, đặc biệt là Ruanda Vấn đề vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy học ở nước ta vẫn còn ít được quan tâm nên khá còn mới mẻ đối với đa số giáo viên, đặc biệt là cơ sở lý luận của nó vẫn còn ít tài liệu đề cập đến

Môn Khoa học là một môn có vị trí quan trọng ở tiểu học Mục tiêu cơ bản của môn học là cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản ban đầu và thiết thực về sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người Cách phòng tránh một số bệnh thông thường, bệnh truyền nhiễm Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật và thực vật Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất Trên cơ sở hệ thống tri thức đó hình thành và phát triển ở học sinh

Trang 7

2

những kỹ năng như: Ứng xử thích hợp với các tình huống có liên quan đến vấn

đề sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống, sản xuất …Qua đó hình thành và phát triển những thái độ và thói quen như: Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp có ý thức hành động và bảo vệ môi trường xung quanh

Trong dạy học môn Khoa học hiện nay, có rất nhiều bài, khi dạy giáo viên gặp phải khó khăn, do chưa xác định được phương pháp dạy học phù hợp Việc tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác sẽ khắc phục được những khó khăn đó và đáp ứng được mục tiêu dạy học

Trên cở sở lý luận và thực tiễn đã nêu, chúng tôi chọn đề tài là:

“Dạy học môn Khoa học lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác” làm đề tài nghiên cứu

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

Nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Khoa học lớp 5

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

a KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Phương pháp dạy học môn Khoa học ở tiểu học

b ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tổ chức dạy học môn Khoa học lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu trong quá trình dạy học môn Khoa học lớp 5 giáo viên biết tổ chức các hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh và đặc điểm môn học thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

a Tìm cở sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học môn Khoa học theo quan điểm sư phạm tương tác

b Đề xuất và thực nghiệm cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học ở lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác

Trang 8

3

c Thực nghiệm sư phạm chứng minh hiệu quả của việc áp dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học lớp 5

6 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu về tâm lý giáo dục, tâm lý trẻ em, những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, nhằm xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài

- Nhằm phân tích cơ sở lý luận về QĐSPTT

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát:

- Quan sát quá trình dạy học thực nghiệm của giáo viên và học sinh về thái độ, hành vi, hứng thú…

6.2.2 Phương pháp điều tra:

- Nhằm thu thập thông tin về thực trạng của vấn đề nghiên cứu

6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

- Nhằm đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học lớp 5

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Nhằm xử lí các số liệu thu được từ điều tra và thực nghiệm sư phạm

8 BỐ CỤC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học môn Khoa học ơ lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác

Chương 2: Tổ chức dạy học môn Khoa học ở lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 9

Trong cuốn “Giáo dục của cải nội sinh” của Uỷ ban giáo dục vào thế kỷ

21 của Unesco do ông Giác Đơ Lô làm tổng chủ biên cũng đưa ra nhận định:

Đi vào thế kỷ mới quan hệ thầy trò (phương pháp tương tác thầy - trò) giữ vai trò trung tâm trong nhà trường

Hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy trong tác phẩm

“Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác ” [Pour une pédagogie interactive] đã đề cập tới một trường phái sư phạm tương tác cùng với nền tảng lý luận của nó

Trong nghiên cứu của mình, những nhà lý luận dạy học đã khẳng định yếu

tố môi trường trong cấu trúc quá trình dạy học, theo đó, hệ thống dạy học tối thiểu là sự tương tác của: thầy giáo - học trò - môi trường đối với tri thức Như vậy, trong quá trình dạy học giáo viên không tác động trực tiếp đến HS mà thông qua một yếu tố trung gian đó là tri thức Trong quá trình dạy học, HS là chủ thể hoạt động, còn kiến thức là đối tượng Yếu tố môi trường, theo nhóm tác giả này không phải là một yếu tố tĩnh, bất động mà là một thành tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học; môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người học

mà quan trọng hơn là người học phải thích nghi được với môi trường Phương pháp này đưa ra được các phương tiện, công cụ để kích thích hứng thú - tình huống dạy học được lựa chọn kỹ lưỡng, đặc biệt là cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa dạy và học trong môi trường dạy học để người học thành công Do vậy, cấu trúc hoạt động dạy học gồm bốn thành tố theo sơ đồ sau :

Trang 10

5

Môi trường

Hình 1 Các thành tố cơ bản của quá trình dạy học

Những phân tích này cho thấy các tác giả đã xác nhận các yếu tố cơ bản (hạt nhân) của QĐSPTT là người dạy – người học - môi trường, chức năng của từng yếu tố và làm rõ các yếu tố trong quá trình dạy học Hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy đã thành công trong việc mô tả ba yếu tố: người học, người dạy và môi trường Bộ ba này tập hợp các nhân tố chính tham gia vào quá trình học tập

Còn ở Việt Nam, cũng đã có một số bài báo đề cập đến vấn đề này Như:

TS Nguyễn Thị Thanh Bình - Viện KHGD đã đề cập đến vấn đề “Tiến tới tổ chức hoạt động giáo dục theo phương thức hợp tác” với những đặc tính:

+ Tương tác giữa các cá nhân khác nhau về khả năng

+ Mang tính chất phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực

+ Tạo ra sự phối hợp hành động trực tiếp

+ Kích thích tính tích cực, nguyện vọng tự thể hiện trách nhiệm cá nhân, tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh

+ Bình đẳng tôn trọng sáng tạo

+ Giúp đỡ chia sẽ, hỗ trợ bổ sung cho nhau, thừa nhận và học hỏi lẫn nhau + Hướng đến sự thực hiện nhiệm vụ và bảo đảm sự phối hợp hành động có hiệu quả

+ Luân phiên quản lý phối hợp thống nhất hành động và trách nhiệm của từng cá nhân trong nhóm

Giáo viên

Tri thức Học sinh

Trang 11

6

TS Vũ Lệ Hoa với bài viết “Sử dụng phương phỏp sư phạm tương tỏc một biện phỏp nõng cao tớnh tớch cực học tập của học sinh” Bà cho rằng phỏt huy tớnh tớch cực nhận thức của học sinh trong học tập là mục tiờu của nhà trường hiện đại Từ mục tiờu này cỏc nhà khoa học, cỏc nhà giỏo dục tõm huyết đó khụng ngừng tỡm kiếm cỏc phương phỏp dạy học mới “Phương phỏp

sư phạm tương tỏc” là một trong những phương phỏp cú triển vọng đỏp ứng yờu cầu trờn – Tạp chớ giao dục số 24

TS.Nguyễn Thị Bớch Hạnh, đại học sư phạm thành phố Hồ Chớ Minh [13], đó phõn tớch, đỏnh giỏ làm rừ nhõn tố mụi trường trong phương phỏp sư phạm tương tỏc

Tuy nhiờn việc nghiờn cứu của cỏc tỏc giả ngoài nước cũng như trong nước mới chỉ dừng lại ở việc nghiờn cứu lý luận hoặc thử nghiệm ở phương phỏp dạy học núi chung, chứ chưa đưa ra cỏc cỏch thức cụ thể cho việc dạy học mụn Khoa học lớp 5

1.2 Một số vấn đề về dạy học theo quan điểm SPTT

1.2.1 Khỏi niệm phương phỏp dạy học

Theo định nghĩa chung nhất, phương phỏp là con đường, là cỏch thức mà chủ thể sử dụng để tỏc động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục đớch

đó định Phương phỏp là một phạm trự của lớ thuyết hoạt động cú liờn quan mật thiết với cỏc phạm trự chủ thể, đối tượng, mục đớch, nội dung hoạt động

Theo quan điểm triết học, chỳng ta cú thể nờu lờn một số khỏi niệm về phương phỏp như sau:

- Phương phỏp là cỏch thức, con đường, phương tiện là tổ hợp cỏc bước

mà trớ tuệ phải đi theo để tỡm ra và chứng minh chõn lớ Chẳng hạn phương phỏp biện chứng, phương phỏp phõn tớch hệ thống[4]

- Ph-ơng pháp đồng nghĩa với biện pháp kĩ thuật, biện pháp khoa học

- Ph-ơng pháp còn là tổ hợp những quy tắc, nguyên tắc qui phạm dùng để chỉ đạo hành động Tuy nhiờn chỉ cú định nghĩa do Hờ ghen đưa ra là chứa đựng một nội hàm sõu sắc và bản chất được V.I Lờ Nin nờu lờn trong tỏc

Trang 12

7

phẩm “Bút kí triết học” của mình: Phương pháp là “ý thức về hình thức của

sự tự vận động bên trong của nội dung” [4]

Ph-¬ng ph¸p d¹y học là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận dạy học Đồng thời là vấn đề tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, có thể nêu nhiều định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy học Sau đây chúng tôi xin nêu một vài định nghĩa về phương pháp dạy học:

- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật lô gic, các hoạt động độc lập của học sinh và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo[14]

- Phương pháp dạy học là một hệ thống hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội nội dung học vấn[17]

- Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học[15]

Theo Phạm Viết Vượng phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh, trong đó phương pháp dạy chỉ đạo phương pháp học, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức Khoa học và hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo thực hành sáng tạo [10] Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy học song các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trưng sau:

- Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đặt ra

- Phản ánh sự vận động của nội dung đã được nhà trường qui định

- Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò

- Phản ánh cách thức giao tiếp giữa thầy và trò

- Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động

Trang 13

1.2.2 Khái niệm sư phạm tương tác

Theo hai tác giả Jean-Marc Denommé và Madelenie Roy thì từ “sư phạm” (pédagogie) có nguồn gốc xuất phát từ một danh từ và một động từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là hướng dẫn một đứa trẻ (guider un enfant) Nguồn gốc của từ này chỉ ra rằng có sự tham gia của hai nhân vật: người hướng dẫn và người được hướng dẫn Ngày nay, người ta đồng hoá chúng một cách hoàn toàn ngẫu nhiên vào người dạy và người học, đó chính là giáo viên và học sinh Quan điểm sư phạm tương tác là quá trình dựa hoạt động dựa trên sự tác động tương hỗ tối đa giữa ba nhân tố: giáo viên, học sinh vầ môi trường Ba tác nhân này luôn luôn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt động

và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia

Quan điểm sư phạm tương tác xem giáo viên là người giữ vai trò tổ chức hướng dẫn và điều khiển học sinh Giáo viên là người xác định mục tiêu, sắp xếp nội dụng, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi

mở, tạo ra hứng thú cho học sinh Giáo viên là chuyên gia về lĩnh vực chuyên môn đồng thời là chuyên gia của việc học, biết can thiệp đúng lúc trên bước đường nhân thức của học sinh

Học sinh là chủ thể của hoạt động học, người chịu trách nhiệm chính của việc học Nếu được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thần trách nhiệm cao và điều kiện thuận lợi thì sẽ lĩnh hội tri thức hình thành kỹ năng một cách hứng thú và hiệu quả Trong quá trình dạy học bằng quan điểm

sư phạm tương tác, học sinh dựa trên tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm và bằng phương pháp học tập của mình là chính

Yếu tố môi trường được coi là tác nhân có ảnh hưởng lớn, tác động tương hỗ tới hoạt động dạy và hoạt động học Bầu không khí tâm lý của lớp

Trang 14

 Giáo viên - người hướng dẫn

Giáo viên là người hướng dẫn của học sinh Sau khi đã cân nhắc giao cho học sinh vai trò là một người thợ chính trong phương pháp học, quan điểm sư phạm tương tác quan tâm đến việc làm rõ chức năng của giáo viên

Nó coi giáo viên trước hết là người hướng dẫn của học sinh Và giống như bất

cứ người hướng dẫn giỏi nào, giáo viên đi cùng học sinh trong phương pháp học của học sinh và chỉ cho học sinh con đường phải theo suốt cả quá trình Giáo viên với vai trò là người đi cùng này, phối hợp với học sinh: họ làm bạn đồng hành với nhau người nọ giúp đỡ người kia trong phương pháp học của học sinh Việc dạy vì vậy không phải là một bài độc tấu mà là một vở kịch có học sinh cùng tham gia trên con đường hài hoà đi đến tri thức mới Trong viễn cảnh này giáo viên hợp tác với học sinh, làm việc với các em giáo viên tham gia góp phần vào một công trình chung Học sinh và giáo viên trở thành những người cộng tác thực sự trong một công việc, cả hai cùng đi trên con đường học theo phương pháp riêng của mỗi người

Giáo viên hoàn toàn là người đi cùng, mặt khác đảm nhiệm thêm vai trò hướng dẫn, vai trò của người tạo thuận lợi Vì vậy giáo viên trở thành người giúp đỡ học sinh tham gia tích cực, kiên định hướng đi và kiên trì đến cùng Giáo viên gần giống như người thuyền trưởng đã trao tay lái của con tàu cho một thành viên của đội lái Ta hình dung một cách dễ dàng tất cả sự chú ý mà người thuyền trưởng dành cho người học Anh ta lo lắng theo dõi người học của mình, khuyên khi cần thiết, và giúp đỡ người học bằng những lời động

Trang 15

10

viên và định hướng khi cần Cách ứng xử của giáo viên cũng phải như vậy, giáo viên trước hết phải cố gắng giúp đỡ học sinh, tạo điều kiện dễ dàng cho phương pháp học của các em

Giáo viên gia tăng cơ hội bày tỏ rự chú ý của mình với học sinh Giáo viên thậm chí phải ra sức tìm mọi cách để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu cần được giúp đỡ khi học sinh cảm thấy khó khăn Hơn thế nữa cần có một trực giác sáng suốt để giảm đi những e sợ, những khó khăn luôn rình rập học sinh trong quá trình thực hiện phương pháp học Một sự thiện cảm như vậy thường trở thành nguồn hứng thú ở học sinh và học sinh cảm thấy tìm được ở giáo viên sự giúp đỡ

 Học sinh - người thợ

Học sinh là người thợ chính của quá trình đào tạo, chính học sinh là tác nhân đầu tiên thực hiện phương pháp học từ đầu cho đến khi kết thúc quá trình học, phương pháp học phải dựa trên chính tiềm năng của học sinh Phương pháp học cũng góp phần vào sáng kiến của học sinh Nhờ vào sự hứng thú, học sinh tham gia tích cực và biết tiếp tục qúa trình học bằng cách tạo cho nó một hình thức độc đáo liên quan đến tính cách của mình Các em

có thể tỏ ra tự chủ và theo con đường ngày càng phù hợp với khả năng, xu hướng, nhịp độ của mình

Ngoài tiềm năng và sáng kiến của học sinh, phương pháp học phải dựa trên ý thức trách nhiệm của học sinh Thật vậy các em phải đảm nhiệm trách nhiệm đầy đủ trách nhiệm người thợ chính của mình bằng cách tham gia tích cực và thoải mái vào quá trình học “của mình” Thậm chí các em phải có ý thức và những trách nhiệm tham gia, nó khơi dậy ở học sinh tính năng động

và những cố gắng cần thiết để đi tới kết thúc công việc, và học sinh có rất nhiều khả năng làm được điều nay

Bằng cách gắn cho học sinh vai trò tác nhân chính, quan điểm sư phạm tương tác giả thiết rằng đối với việc học, giáo viên chọn một phương pháp coi trọng tính ưu tiên dành cho học sinh và khả năng của các em Theo cách nhìn nhận này, việc dạy rõ ràng đã trở nên tập trung vào học sinh Làm như vậy,

Trang 16

11

giáo viên tạo nên một hỗ trợ có giá trị đối với học sinh cũng như giúp các em trở thành người thợ chính trong quá trình đào tạo

 Môi trường xung quanh và ảnh hưởng của nó

Môi trường ảnh hưởng đến phương pháp học và quan điểm sư phạm và giữa chúng có sự tác động tương hỗ Quan điểm sư phạm tương tác coi môi trường có một vị trí trong những nguyên lý cơ bản, rõ ràng là có ý nghĩa định nhấn mạnh tầm quan trọng của tác nhân này trên phương diện sư phạm Thông thường, người ta có xu hướng giảm mối quan hệ giáo viên và học sinh thành các quan hệ thuần tuý hoặc đơn giản là bó hẹp ở nhiệm vụ của người này hoặc người kia, có nghĩa là học sinh thì học còn giáo viên thì dạy Đồng thời người ta dễ bày tỏ qua việc học sinh và giáo viên cũng như là những cá nhân được chú ý bởi những người xung quanh, bởi những sự kiện trong cuộc sống của họ, bởi các phong tục tập quán của đất nước họ Mỗi học sinh, mỗi giáo viên có tính cách riêng đặc trưng bởi khí chất, bởi di truyền và bởi giáo dục Sẽ là thỏa đáng hơn khi hội nhập họ vào trong một môi trường rộng hơn, môi trường này tác động vào tất cả các hoạt động của họ Đặc biệt trong hoạt động sư phạm của họ, học sinh và giáo viên đương nhiên bị ảnh hưởng bởi một tập hợp các yếu tố môi trường Làm sao mà lại không nghi ngờ, thí dụ: ở một học sinh bi mệt không chú ý học khi em này bị đau hoặc đêm qua ít ngủ, rằng có thể em này chứng kiến một cuộc cãi lộn giữa bố mẹ hoặc em tin rằng môn được dạy là vô ích? Làm sao lại không gắn sự căng thẳng lo lắng của giáo viên với những sự kiện không đúng lúc, ví dụ như lúc con họ bị bệnh chẳng hạn, hoặc có những lời trách mắng của ông hiệu trưởng về tính thiếu kỷ luật, hoặc là cản trở sự thăng tiến? Có những tình huống ảnh hưởng đến hiệu suất của học sinh và tập tính của giáo viên, nhiều một cách ngạc nhiên Chúng có nguồn gốc hoặc từ bên trong học sinh và giáo viên giống như cảm xúc, giá trị, vốn sống của mỗi người, hoặc từ bên ngoài như gia đình, nhà trường và xã hội

Nếu như môi trường có thể ảnh hưởng tới hoạt động sư phạm thì giáo viên và học sinh cũng có thể thay đổi môi trường Chính vì vậy mà học sinh

Trang 17

vì sự ủng hộ của bố mẹ, qua đó cải thiện được quan hệ với học sinh

Các ví dụ nêu trên minh hoạ tính tương hỗ có thể nằm trong các tác động giữa một bên là học sinh - giáo viên và một bên là môi trường Đó là đặc trưng ảnh hưởng của môi trường được làm sáng tỏ bởi quan điểm sư phạm tương tác

1.2.3 Bản chất, đặc điểm của quan điểm sư phạm tương tác

- Quan điểm sư phạm tương tác xem giáo viên là người giữ vai trò tổ chức hướng dẫn và điều khiển học sinh Giáo viên là người xác định mục tiêu, sắp xếp nội dụng, lựa chọn phương pháp dạy học và xây dựng môi trường cởi

mở, tạo ra hứng thú cho học sinh Giáo viên là chuyên gia về lĩnh vực chuyên môn, biết can thiệp đúng lúc trên bước đường nhận thức của học sinh

- Học sinh là chủ thể của hoạt động học, người chịu trách nhiệm chính của việc học Nếu được chuẩn bị tốt về động cơ, thái độ học tập, tinh thần trách nhiệm cao và điều kiện thuận lợi thì sẽ lĩnh hội tri thức hình thành kỹ năng một cách hứng thú và hiệu quả Trong quá trình dạy học bằng quan điểm

sư phạm tương tác, học sinh dựa trên tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm và bằng phương pháp học tập của mình là chính

- Yếu tố môi trường được coi là tác nhân có ảnh hưởng lớn, tác động tương hỗ tới hoạt động dạy và hoạt động học Bầu không khí của lớp học vui

vẻ, sự cởi mở thân thiện của giáo viên, học sinh, chế độ làm việc hợp lý, trang thiết bị giáo dục đầy đủ, phù hợp đảm bảo khoa học sẽ cuốn hút hứng thú tập trung vào nội dung học

- Phương pháp sư phạm tương tác là quá trình dựa hoạt động dựa trên sự tác động tương hỗ tối đa giữa ba nhân tố: giáo viên, học sinh và môi trường

Ba tác nhân này luôn luồn quan hệ với nhau sao cho mỗi một tác nhân hoạt động và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tác nhân kia Mối quan hệ của ba

Trang 18

vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ

1.2.4 Ưu điểm của dạy học theo QĐSPTT

Quan điểm sư phạm tương tác là một phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp nếu thực hiện lâu dài và có hệ thống Cụ thể :

- Nâng cao tính tương tác giữa các thành viên trong nhóm: Đây là yếu

tố cơ bản của hoạt động nhóm, thường ở dạng “face to face” (mặt đối mặt)

Nó có những tác động tích cực đối với người học như:

+ Tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh những hứng thú mới + Kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, nguồn lực và cách giải quyết vấn đề

+ Tăng cường các kĩ năng biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức biểu đạt như lời nói, ánh mắt cử chỉ…

+ Khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau

+ Điểm đặc trưng này của dạy học theo nhóm đòi hỏi giáo viên phải thiết kế nhiệm vụ cho nhóm, nhằm tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên trong nhóm

- Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên Các thành viên của nhóm

cần nhận thức rằng họ cùng trong một nhóm và họ có sự phụ thuộc lẫn nhau

Cả nhóm phải cùng hoàn thành một nhiệm vụ chung, chính vì vậy, mỗi thành viên cần phải cố gắng hết sức mình, không phải chỉ vì thành tích cá nhân, mà còn vì thành công của cả nhóm, cái được tạo nên từ sự cố gắng của từng học

Trang 19

14

sinh và trở thành niềm vui chung của cả nhóm Họ gắn kết với nhau theo phương thức mỗi người cũng như toàn nhóm không thể thành công nếu mỗi thành viên không cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình Làm thế nào để các thành viên trong nhóm phải phụ thuộc tích cực vào nhau là vấn đề mà giáo viên cần phải chuẩn bị trước khi thiết kế nhiệm vụ giao cho nhóm

- Tính trách nhiệm cao: Điều này đòi hỏi mỗi học sinh trong nhóm phải

được phân công thực hiện một vai trò nhất định, một công việc và trách nhiệm

cụ thể Các thành viên cần hiểu rằng họ không thể trốn tránh trách nhiệm hay dựa vào công việc của những người khác Trách nhiệm cá nhân là then chốt đảm bảo cho cho tất cả các thành viên trong nhóm thực sự mạnh lên trong học tập theo nhóm Nói cách khác, tổ chức dạy học theo nhóm không phải là để thay thế học tập cá nhân mà là để giúp cá nhân thực hiện nhiệm vụ học tập của mình qua tương tác với các bạn cùng học Do đó, phân công nhiệm vụ như thế nào, thực hiện ra sao, kiếm tra đánh giá dưới hình thức nào để từng thành viên trong nhóm thấy rõ trách nhiệm cá nhân của mình là những vấn đề đặt ra cho giáo viên khi tiến hành dạy học theo nhóm

- Sử dụng hợp lí những kỹ năng giao tiếp Đó là các kĩ năng giao tiếp

như: biết chờ đợi đến lượt; tóm tắt và xử lí thông tin; biết xây dựng niềm tin như bày tỏ sự ủng hộ qua ánh mắt nụ cười, yêu cầu giải thích, giúp đỡ và sẵn sàng giúp đỡ; khả năng giải quyết bất đồng như kiềm chế bực tức, không làm xúc phạm người khác khi bất đồng ý kiến… Đây là những kĩ năng không thể thiếu được và giúp học sinh thành công khi làm việc theo nhóm Nếu không

sẽ dễ xảy ra tình trạng người học chỉ đơn giản là ngồi cạnh nhau, làm việc cá nhân chứ không cùng nhau học và làm việc hợp tác Do đó, để nhóm thực sự

là môi trường làm việc hợp tác giữa người học với nhau đòi hỏi phải có sự chuẩn bị cẩn thận và trải qua một quá trình rèn luyện

Như vậy, qua phân tích trên, chúng ta thấy quan điểm sư phạm tương tác là một phương pháp dạy học có nhiều ưu điểm, là một trong những con đường nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc theo

Trang 20

15

nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết Đơn giản là vì không ai hoàn hảo, làm việc theo nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu

1.2.5 Hạn chế của dạy học theo QĐSPTT

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, quan điểm sư phạm tương tác cũng có hạn chế nhất định:

- Mới bước đầu thực hiện sẽ kéo dài thời gian của tiết học vì học sinh chưa quen với việc học tập theo phương pháp này

- Bàn ghế học sinh ở đa số các trường tiểu học của Việt Nam không phải là bàn nghế cá nhân, dễ xoay để lập thành các nhóm một cách nhanh chóng trong các hoạt động của nhóm lớn hay nhóm nhỏ Nên mất nhiều thời gian cho việc tạo nhóm, và các nhóm khi được xây dựng nên rồi nhưng sẽ không tạo ra môi trường tích cực trong học tập

- Đồ dùng học tập phục vụ cho môn học nói chung còn mang tính chất

“cho có”, chứ sử dụng không hiệu quả nên không tạo ra được môi trường tích cực trong dạy học

- Nơi để đồ dủng hàng ngày để dạy học chưa hợp lí, nên mỗi khi dạy tìm đồ dùng rất mất thời gian vì vậy mà giáo viên ngại sử dụng đồ dùng trong quá trình lên lớp

1.3 Một số đặc điểm tâm sinh lý của HSTH và việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác

Học sinh tiểu học là một giai đoạn phát triển của đời người Đó là lứa tuổi từ 6 đến 12 tuổi (một bộ phận nhỏ 13 -14 tuổi), có hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, tiềm tàng khả năng phát triển, là nhân cách đang hình thành Sau đây chúng tôi phân tích một số đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học theo những khía cạnh mà quan điểm sư phạm tương tác quan tâm

1.3.1 Về mặt giải phẫu sinh lý

Thể lực của trẻ ở lứa tuổi này phát triển tương đối đồng đều, trọng lượng não của trẻ gần bằng trọng lượng não của người trưởng thành (gần 90%

Trang 21

16

trọng lượng não người lớn) Chức năng của não dần dần hoàn thiện, chức năng phân tích tổng hợp của vỏ não đang được phát triển, các mối quan hệ giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế được thay đổi dần, quá trình ức chế sẽ trở nên mạnh hơn

1.3.2 Về mặt nhận thức

Đối với học sinh tiểu hoc nhận thức cảm tính chiếm ưu thế Điều này thể hiện rất rõ trong quá trình nhận thức của học sinh như tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng

+ Tri giác của học sinh tiểu học có đặc điểm là tươi sáng, sắc bén, tò mò ham hiểu biết và có tính trực quan Ở những năm đầu của bậc tiểu học tri giác thường gắn với hoạt động thực tiễn như cầm nắm, sờ mó, tri giác của trẻ còn chung chung, mang tính chất đại thể Đến lớp 4, 5 các em mới biết đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng, biết phân tích suy luận mỗi khi tri giác, biết trình bày kết quả một cách gọn gàng, rõ ràng và có khả năng tổng hợp các chi tiết sau khi tri giác

Những đặc điểm tri giác trên cho thấy trong quá trình dạy học KH, cần phải tổ chức tốt cho các em được trao đổi, thảo luận qua đó các em có thể tiếp nhận kiến thức của bài học một cách chủ động, sáng tạo

+ Ở lứa tuổi tiểu học chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế Trẻ dễ di chuyển chú ý từ đối tượng không hấp dẫn sang đối tượng có sức hấp dẫn hơn Sức tập trung và độ bền vững về chú ý của các em cũng phụ thuộc vào đối tượng quan sát, mức độ hoạt động với sự vật Nhiều công trình nghiên cứu về

độ chú ý đã khẳng định: sự tập trung chú ý của học sinh tiểu học chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định Đối với học sinh ở đầu cấp các em chỉ tập trung chú ý tốt khoảng 20 - 25 phút, còn học sinh lớp 4, 5 khoảng 30 -35 phút Vì vậy trong các tiết học môn Khoa học giáo viên cần tránh giảng giải quá nhiều, cần phải đa dạng hoá các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, nhằm duy trì sự chú ý và hứng thú học tập cho các em

+ Ở lứa tuổi này trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển, các em nhớ chính xác các hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, hay

Trang 22

17

lời giải thích dài dòng Ở những lớp đầu của bậc tiểu học, việc ghi nhớ không chủ định vẫn còn chiếm ưu thế, các em chỉ ghi nhớ nhanh những gì mình thích, những gì gây được ấn tượng Trí nhớ chủ định dần dần được phát triển

ở các lớp trên, năng lực ghi nhớ cũng dần được tăng lên Vì vậy trong dạy học môn Khoa học cần tăng cường tổ chức cho học sinh hoạt động để các em nắm kiến thức một cách chủ động, vững chắc, vì khi nghe thì dễ quên, khi nhìn thì

dễ nhớ và khi làm thì dễ hiểu

+ Tư duy của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan cụ thể Hoạt động phân tích - tổng hợp ở lứa tuổi này còn rất sơ đẳng Trong hoạt động khái quát hoá, học sinh ở đầu cấp thường quan tâm đến những dấu hiệu có tác động mạnh đến các giác quan như các màu sắc, hình dáng, kích thước, nghĩa là trẻ chỉ mới biết dựa vào những dấu hiệu ở bên ngoài để phân loại và khái quát Đối với học sinh ở lớp 4, 5 tư duy trừu tượng đã phát triển hơn, trẻ có thể phân loại và khái quát đối tượng mà không cần đến những dấu hiệu bên ngoài của chúng Từ những đặc điểm trên ta thấy đối với học sinh tiểu học việc dạy học môn Khoa học cần dựa trên các yếu tố trực quan, tăng cường tổ chức cho học sinh quan sát, thảo luận nhóm, đặc biệt là việc sử dụng quan điểm sư phạm tương tác để các em có thể chiếm lĩnh tri thức bằng chính hoạt động của mình

1.3.3 Tình cảm

Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có một vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của các em Đối tượng gây xúc cảm thường là những sự vật hiện tượng cụ thể sinh động Do đó những bài giảng khô khan, khó hiểu, nặng về lý luận không gây cho học sinh những cảm xúc tích cực, thậm chí còn làm cho các em mệt mỏi, chán chường Nói chung, hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm, các em suy nghĩ bằng

“hình thức”, “xúc cảm”, “âm thanh”, các quá trình nhận thức hoạt động của các em dần chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc, đều đượm màu cảm xúc Tình cảm của các em chưa bền vững, chưa sâu sắc, các em đang ưa thích đối

Trang 23

18

tượng này nhưng có đối tượng khác thích hơn, đặc biệt hơn thì dễ dàng bị lôi cuốn vào đó mà quên mất đối tượng cũ Vì vậy trong quá trình dạy học môn môn Khoa học có thể khơi dậy ở trẻ xúc cảm học tập qua việc tổ chức các hoạt động học tập, qua việc sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, đặc biệt là quan điểm sư phạm tương tác và đồ dùng dạy học để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học

Từ việc phân tích những đặc diểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học chúng tôi rút ra kết luận rằng: Việc tổ chức cho học sinh học tập theo quan điểm sư phạm tương tác trong môn Khoa học là hợp lý, phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học hiện nay Đó là hướng vào sự tích cực hoá hoạt động của học sinh, nhằm chuyển biến vị trí của các em từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức

1.4 Khái quát về môn Khoa học lớp 5

1.4.1 Mục tiêu, đặc điểm của môn Khoa học lớp 5

Sau khi học xong môn Khoa học lớp 5, học sinh cần đạt được:

- Kiến thức: Có kiến thức cơ bản ban đầu về:

+ Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự sinh sản, sự lớn lên của cơ thể người Cách phòng tránh một số bệnh thông thường, bệnh truyền nhiễm + Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật, động vật

+ Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và nguồn năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất

Trang 24

1.4.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5

Môn Khoa học lớp 5 gồm có 70 bài tương ứng với 70 tiết của 35 tuần học Trong đó có 61 bài học mới, 9 bài ôn tập và kiểm tra Nội dung môn Khoa học lớp 5 gồm 4 chủ đề:

+ Con người và sức khoẻ;

+ Vật chất và năng lượng;

+ Thực vật và động vật;

+ Môi trường và tài nguyên thiên nhiên

- Chủ đề: Con người và sức khoẻ

+ Sự sinh sản, sự lớn lên và phát triển của cơ thể người, vệ sinh ở tuổi dậy thì

+ An toàn, phòng chống bệnh tật và tai nạn; không sử dụng các chất gây nghiện; Sử dụng thuốc an toàn; Phòng chống một số bệnh (sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, viêm gan A, HIV/AIDS); Phòng tránh bị xâm hại, phòng tránh tai nạn giao thông

- Chủ đề: Vật chất và năng lượng

+ Đặc điểm và công dụng của một số vật liệu thường dùng: tre, kim loại

(sắt, đồng, nhôm) và hợp kim (gang, thép), đá vôi, gốm (gạch, ngói), xi măng, thuỷ tinh, cao su, chất dẻo, tơ sợi

+ Sự biến đổi của chất

Trang 25

- Chủ đề: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên

+ Một số ví dụ về tài nguyên thiên nhiên, vai trò của môi trường đối với con người

+ Tác động của con người đối với môi trường tự nhiên Một số biện pháp bảo vệ môi trường

1.4.3 Bản chất của việc DH môn Khoa học lớp 5 theo QĐSPTT

Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác là cách thức giáo viên tổ chức hướng dẫn các hoạt động học tập cho học sinh thông qua việc chuyển nội dung kiến thức của bài học thành các nhiệm vụ học tập Học sinh với vai trò

là người thợ chính, tham gia tích cực và thoải mái vào quá trình học của mình (vào hoạt động: nhóm, cả lớp, trò chơi, ) để rút ra kiến thức của bài học

Dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác, không chỉ dừng lại ở việc xác định đúng các yếu tố tham gia hoạt động dạy học, chức năng riêng biệt của từng yếu tố và quan hệ giữa chúng, mà chủ yếu là làm rõ sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố tạo thành một tập hợp liên kết chặt chẽ

Từ cách tiếp cận như trên, theo chúng tôi dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học có thể được hiểu là hệ thống những tác động qua lại lẫn nhau giữa nhiều yếu tố giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với đồ dùng trang thiết bị học tập trong lớp học nhằm mục đích hình thành tri thức, kĩ năng, kỹ xảo Từ cách hiểu này, chúng ta nhận thấy dạy học là một hệ thống gồm nhiều yếu tố có quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau Theo quan điểm sư phạm tương tác, các

yếu tố tạo thành cấu trúc hoạt động dạy học gồm: Giáo viên, học sinh và môi

trường Mỗi yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học đảm nhận chức năng

Trang 26

21

riêng biệt Các yếu tố không tồn tại rời rạc bên cạnh nhau mà chúng có quan

hệ chặt chẽ với nhau và luôn tác động qua lại lẫn nhau

Dạy và học là hai yếu tố chính của hệ dạy học Sự thay đổi của hai yếu tố này sẽ kéo theo sự thay đổi các yếu tố khác, đặc biệt thay đổi sự tác động qua lại giữa hai yếu tố dạy và học sẽ tạo nên chất lượng mới cho

cả hệ dạy học

Môi trường trong phương pháp sư phạm tương tác là các tình huống dạy học do giáo viên tạo ra cho học sinh, cho các nhóm học sinh hoạt động,

và những điều kiện về vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ cho công tác

dạy và học, nhằm đạt được các mục tiêu dạy học

1.5 Thực trạng DH môn Khoa học ở tiểu học theo QĐSPTT

Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở một số

trường tiểu học tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An

- Đối tượng khảo sát: cán bộ Phòng giáo dục phụ trách tiểu học (10 người), học sinh lớp 5 của một số trường tiểu học (120 em), giáo viên tiểu học (97 người)

- Nội dung khảo sát :

+ Sự hiểu biết của cán bộ chuyên môn, giáo viên tiểu học về QĐSPTT + Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên tiểu học trong dạy học môn Khoa học

+ Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trong môn Khoa học của giáo viên tiểu học

+ Chất lượng học tập môn Khoa học của học sinh tiểu học

Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành điều tra, khảo sát về điều kiện cơ sở vật chất, năng lực của giáo viên để xem có đủ điều kiện để vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào thực tiễn dạy học môn Khoa học hay không

- Các phương pháp điều tra khảo sát :

Trang 27

22

+ Phỏng vấn một số đồng chí làm công tác chuyên môn bậc tiểu học của Phòng giáo dục huyện, Ban giám hiệu một số trường tiểu học về vấn đề cần khảo sát

+ Điều tra bằng Anket nhằm thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh

về các vấn đề cần khảo sát

+ Dự giờ môn Khoa học của giáo viên tiểu học

+ Chọn mẫu khảo sát: Chúng tôi tiến hành chọn mẫu khảo sát theo cách ngẫu nhiên đại diện cho cả hai khu vực thị trấn và nông thôn

+ Địa bàn và thời gian khảo sát: Tiến hành điều tra, khảo sát ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An vào các năm học

2010 – 2011, 2011 – 2012

Kết quả khảo sát chúng tôi phân tích ở các mặt sau:

1.5.1 Thực trạng sử dụng các PP dạy học môn Khoa học hiện nay

Chúng ta biết rằng, môn Khoa học đưa vào dạy học ở các lớp 4,5 với một dung lượng kiến thức lớn Đội ngũ giáo viên có nhiều cố gắng trong việc

tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng dạy học Về phía học sinh, các em biết làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi, thảo luận để khám phá những kiến thức về khoa học

Bên cạnh những ưu điểm nói trên, việc dạy học môn Khoa học còn có những hạn chế nhất định làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy học môn học này Khó khăn lớn nhất của giáo viên trong dạy học môn Khoa học

đó là việc vận dụng các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với từng nội dung bài học trong môn học để đạt được mục tiêu bài dạy Có những bài, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc sử dụng các phương pháp dạy học, các hoạt động dạy học Qua điều tra khảo sát giáo viên chúng tôi có kết quả sau:

Trang 28

23

Bảng 1: Các PP mà GVTH thường sử dụng trong dạy học môn Khoa học

Nhìn vào bảng 1 ta thấy, phần lớn giáo viên lên lớp sử dụng chủ yếu là phương pháp giảng giải (96,9%), hỏi đáp (100%) Thực chất của những phương pháp này là dựa vào các hình ảnh trong sách giáo khoa giáo viên nêu câu hỏi, học sinh trả lời, giáo viên giảng giải - học sinh thụ động tiếp thu Một số giáo viên tiểu học tâm sự rằng : “Chúng tôi ngại sử dụng vì phải chuẩn

bị nhiều thứ và mất nhiều thời gian Có khi chúng tôi còn cố gắng dạy nhanh

để dành thời gian cho việc ôn luyện môn Toán và Tiếng Việt” và cũng có người cho rằng “những chân lý, kiến thức khoa học ấy đã được các nhà khoa học dày công nghiên cứu và đưa ra nên chúng ta không cần phải tổ chức cho học sinh khám phá tìm tòi, làm như vậy mất nhiều thời gian” Một số giáo viên có tâm huyết với môn học đã vận dụng những phương pháp dạy học mới

để tổ chức cho các em hoạt động (quan sát, thảo luận nhóm) nhưng những giờ học vẫn còn lộn xộn, nói chuyện riêng chưa lôi cuốn học sinh vào bài học

Như vậy, qua sự phân tích trên chúng ta thấy: Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học đang là một vấn đề chúng ta cần phải xem lại ở nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt cần phải xúc tiến sử dụng các phương pháp dạy học mới vào giảng dạy trong môn Khoa học, tránh những ảnh hưởng tiêu cực

và thiệt thòi đối với bản thân học sinh

Trang 29

24

1.5.2 Sự hiểu biết về QĐSPTT của cán bộ, GV ở một số trường TH

Qua điều tra chúng tôi có bảng sau :

Bảng 2: Sự hiểu biết về QĐSPTT của cán bộ, giáo viên ở một số trường TH

Như vậy kết quả trên cho thấy quan điểm sư phạm tương tác là một phương pháp dạy học hoàn toàn mới mẻ

1.5.3 Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học môn KH của GVTH

Bảng 3: Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học môn Khoa học

Trang 30

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát về điều kiện cơ sở vật chất ở một số trường tiểu học để xem việc vận dụng quan điểm sư phạm học tương tác có phù hợp với vấn đề này hay không Nhìn chung, ở các trường tiểu học có đủ điều kiện để đưa phương pháp này vào dạy học Hơn nữa quan điểm sư phạm học tương tác không đòi hỏi phải sử dụng những thiết

bị dạy học hiện đại, đắt tiền mà thường sử dụng những vật liệu dễ kiếm, dễ tìm nên giáo viên và học sinh có thể tự sưu tầm được

1.5.4 Các hình thức tổ chức tổ chức dạy học mà giáo viên thường sử dụng khi dạy học môn Khoa học

Bảng 4 : Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học

TT Các hình thức tổ chức dạy học

Mức độ

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không sử dụng

Trang 31

26

Nhìn vào bảng 4 ta thấy: ở mức độ thường xuyên, hình thức dạy học cả lớp được tất cả giáo viên sử dụng Các hình thức dạy học gây nhiều hứng thú học tập, phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh như dạy học theo nhóm, tổ chưc cho học sinh học ngoài thực địa, quan sát thiên nhiên, trò chơi học tập chưa được ít giáo viên khai thác sử dụng vì sợ mất thời gian Chính vì vậy nên không tạo được hứng thú học tập cho học sinh, lớp học thiếu sự sinh động, học sinh không có thói quen đặt câu hỏi thắc mắc trước các sự vật hiện tượng tự nhiên nên không lôi cuốn được các em vào quá trình tự học, tự nghiên cứu

Từ sự phân tích trên chúng ta có thể kết luận: Ở trường tiểu học hiện nay vẫn chưa nhiều giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học mới Bởi ở các phương pháp dạy học mới có quan hệ gắn bó mật thiết với việc sử dụng

đồ dùng dạy học và các hình thức tổ chức dạy học trong mỗi tiết dạy

1.5.5 Chất lượng học tập môn Khoa học của học sinh tiểu học

Qua điều tra, khảo sát cùng với sự thăm lớp dự giờ chúng tôi thấy : Học sinh bước đầu biết làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi, đề xuất, trình bày ý kiến

cá nhân, biết hợp tác với mọi người xung quanh để tìm kiếm tri thức Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm nhất định thì chất lượng dạy học môn Khoa học cũng bộc lộ những hạn chế Phần lớn các em không nắm vững được kiến thức sau mỗi bài dạy Chúng tôi có bảng sau :

Bảng 5: Kiến thức học sinh nắm được sau khi học xong một số bài học

Kết quả kiểm tra

Giỏi (%)

Khá (%)

T.bình (%)

Yếu (%)

2 Sự chuyển thể của chất 5,55 22,22 55,55 16,66

3 Cơ quan sinh sản của thực vật có hoa 5,55 25 55,55 13,88

4 Cây con mọc lên từ hạt 8,33 30,55 50 8,33

Trang 32

27

Nhìn vào bảng 5 chúng ta thấy : Kết quả học tập của học sinh chưa cao

Tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi rất ít, chủ yếu là khá và trung bình Trong đó, học sinh đạt điểm trung bình, học sinh yếu chiếm tỷ lệ lớn

Qua dự giờ chúng tôi thấy: Giờ học thiếu sự sinh động, không khí giờ học còn nặng nề Các em không được tự chủ trong việc tìm kiếm tri thức nên không gây được hứng thú trong học tập, thờ ơ với bài học, không thật sự chú tâm Trẻ ít tò mò, ít đặt ra những câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ về biểu tượng của những sự vật, hiện tượng mà các em được tìm hiểu Lập luận còn yếu, các kỹ năng, kỹ xảo thực hành còn vụng về, lúng túng, sự vận dụng những kiến thức mà các em thu thập được vào thực tiễn là một khoảng cách khá xa, bởi vì các em thiếu hẳn kỹ năng thực hành Trẻ chưa có thói quen ghi lại những gì mà các em quan sát được Việc xác lập mục đích quan sát và mục đích của thí nghiệm còn kém…

1.5.6 Đánh giá chung về thực trạng

Từ việc phân tích thực trạng trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau :

- Các phương pháp dạy học mới giáo viên đã từng bước đưa vào sử dụng trong thực tiễn dạy học môn Khoa học Phần lớn giáo viên ý thức được vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, có khả năng sử dụng các phương pháp dạy học mới vào thực tiễn dạy học môn Khoa học Nhưng nhìn chung họ vẫn lúng túng trong việc tổ chức các hoạt động, sử dụng những phương pháp dạy học mới, nên vẫn sa vào lối giảng giải, thuyết trình

- Mỗi phương pháp dạy học thì nó có những ưu điểm riêng và cũng có những hạn chế nhất định, không một phương pháp nào là “vạn năng” Mỗi bài học trong môn Khoa học nó có thể chỉ phù hợp với phương pháp dạy học này

mà kém hiệu quả đối với phương pháp kia Vì vậy quan điểm sư phạm tương tác được sử dụng để dạy một số bài trong môn Khoa học 5 nhằm hạn chế tối

đa những phương pháp không thể phù hợp với một số hoạt động, một số bài học trong môn học này Qua đó phát huy tốt mức độ hứng thú học tập của học sinh để đạt mục tiêu dạy học

Trang 33

28

-Từ việc sử dụng một số phương phương pháp dạy học không phù hợp với một số bài học nên đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng học tập của học sinh

Vì vậy việc vận dụng những phương pháp dạy học mới mà trong đó học sinh được độc lập tự chủ, mạnh dạn nói lên những hiểu biết của mình và được tập thể tôn trọng, đồng thời được bảo vệ quan điểm của mình trước tập thể mà không còn cảm thấy e ngại, rụt rè Qua đó để phát triển những kỹ năng cần thiết và khơi nguồn sáng tạo trong học tập của học sinh Khoa học chứa đựng nhiều điều thú vị kèm theo sự say mê chinh phục, những thắc mắc những câu hỏi được đặt ra rồi lại đi tìm câu trả lời, làm cho hoạt động khám phá diễn ra không ngừng nơi đứa trẻ, dần dần hình thành ở các em phương pháp học, phương pháp tiếp cận với tri thức khoa học để đáp ứng được xu thế thời đại Có như vậy mới phù hợp với bậc học tiểu học là “bậc học phương pháp”, mặt khác phù hợp với xu thế dạy học ngày nay

- Muốn việc vận dụng QĐSPTT đạt hiêu quả cao, trong quá trình dạy học phải tạo ra các tương tác phù hợp giữa người dạy, người học, môi trường

và nội dung kiến thức để các tương tác không chỉ diễn ra giữa người dạy và người học, người học và người học, người dạy và môi trường mà ngược lại còn diễn ra giữa người học và người dạy, người học và môi trường, người dạy tác động đến môi trường môi trường tác động đến người học - người học tác động đến người dạy và ngược lại

Trang 34

29

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 THEO

QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC

Từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học, từ đặc điểm chương trình và sách giáo khoa môn Khoa học và những điều kiện cụ thể của nhà trường tiểu học Việt Nam, chúng tôi tiến hành xây dựng cách thức tổ chức cho học sinh học tập theo quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học

2.1 Yêu cầu đối với việc DH môn KH theo QĐSPTT

Việc tổ chức dạy học môn Khoa học lớp 5 theo quan điểm sư phạm tương tác cần quán triệt các yêu cầu cơ bản sau:

2.1.1 Đảm bảo tính khoa học

Vận dụng nguyên lý về tính Khoa học của triết học duy vật biện chứng Mác – Lênin, chúng tôi xem xét hoạt động học tập của học sinh theo quan điểm sư phạm tương tác với tư cách là một bộ phận trong hệ thống hoạt động của con người, là một bộ phận của hoạt động dạy học nhưng đồng thời nó tồn tại và vận động với tư cách là một hệ thống độc lập Nó chứa đựng một tập hợp các yếu tố cấu thành nó trong mối quan hệ biện chứng gắn bó lẫn nhau

Với quan điểm khoa học, việc tổ chức cho học sinh học tập theo quan điểm sư phạm tương tác cần được xem xét trên hai phương diện: Về phương diện tâm lý học, nó được xem xét như là một hệ thống cấu trúc hoạt động Về phương diện lý luận dạy học, trên cơ sở thừa nhận hệ thống cấu trúc hoạt động, nó được xem xét như là một hệ thống cấu trúc quá trình Vì vậy việc tổ chức cho học sinh học tập theo quan điểm sư phạm tương tác có thể phân chia thành các yếu tố và xác lập nên cách thức Tổ chức dạy học môn Khoa học theo quan điểm sư phạm tương tác phải trở thành một chỉnh thể gồm các bước, các hoạt động khác nhau và chúng được liên kết, gắn bó, thống nhất với nhau và phải được sắp xếp theo một trật tự nhất định

Trang 35

30

Bên cạnh đảm bảo tính khoa học, cách thức này cần phải đảm bảo tính

cụ thể Thể hiện ở các yếu tố của cách thức (các bước, các hoạt động) phải được phân chia sao cho :

- Phù hợp với sự vận động nội tại của kiến thức truyền thụ và của nhận thức học sinh

- Số lượng các bước, các thao tác vừa đủ để thực hiện hoạt động có hiệu quả

- Nội dung các bước không quá phức tạp và cũng không quá đơn giản

để đảm bảo cho giáo viên và học sinh tiểu học thực hiện trong dạy học môn khoa học

- Các bước phải được sắp xếp theo một cấu trúc lôgíc sao cho chúng kế tục nhau, không chồng chéo, không lặp lại

- Các thành tố trong cách thức cần được phân chia và sắp xếp sao cho chúng có thể kiểm soát một cách dễ dàng, từng bước, từng thao tác cho đến sản phẩm cuối cùng

Đảm bảo tính khoa học và tính cụ thể được coi là nguyên tắc quan trọng trong việc xác lập cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học theo quan điểm sư phạm tương tác

2.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn

Cách thức đề xuất phù hợp với thực tiễn dạy học môn Khoa học và có thể áp dụng để vào dạy học môn học này ở nhiều nhà trường tiểu học để nâng cao hiệu quả dạy học

Để đạt được mục đích đó, cách thức sử dụng quan điểm sư phạm tương tác mà chúng tôi xây dựng cần phải :

- Phù hợp với đặc điểm nội dung, chương trình môn Khoa học

- Phù hợp với đặc điểm, trình độ nhận thức của học sinh tiểu học, đảm bảo tính vừa sức đối với các em

- Phù hợp với trình độ năng lực chuyên môn với đông đảo giáo viên tiểu học, có khả năng triển khai, ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học môn Khoa học ở trường tiểu học

Trang 36

31

- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

- Có nhiều khả năng tạo ra hiệu quả dạy học cao

Tóm lại, việc tổ chức cho học sinh học tập theo quan điểm sư phạm tương tác phải phù hợp với thực tiễn dạy học môn Khoa học và có khả năng ứng dụng rộng rãi trong dạy học môn học này

2.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả

Cách thức sử dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học phải đảm bảo tính hiệu quả Nó không chỉ có thể ứng dụng rộng rãi

mà còn góp phần tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh bằng các hoạt động nhóm, bằng các trò chơi nhằm nâng cao chất lượng dạy học Bên cạnh giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách hiệu quả, cách thức góp phần còn hình thành cho các em

kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng thực hành, kỹ năng nói viết và lập luận Khoa học để tranh luận, phát triển năng lực quan sát, trí tưởng tượng, tư duy đặc biệt có được phương pháp học tập đúng đắn, mang lại hiệu quả cao

Tóm lại, sử dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Khoa học tạo ra được hiệu quả một cách toàn diện Vừa giúp học sinh nắm vững tri thức, các khái niệm khoa học, vừa rèn luyện kỹ năng hoạt động trong các nhóm, năng lực trình bày ý kiến của mình trước mọi người để thuyết phục đối phương bằng những lí luận khoa học

2.2 Cách thức tổ chức dạy học môn Khoa học theo QĐSPTT

Trên cơ sở lý luận của quan điểm sư phạm tương tác đã phân tích, kế thừa những phương pháp dạy học thông dụng, trong đề tài này, chúng tôi đề xuất cách thức tổ chức thực hiện kế hoạch bài học theo quan điểm sư phạm tương tác nhằm vận dụng vào dạy học môn Khoa học lớp 5 như sau :

Bước1 Chuẩn bị

Mục đích của bước này là định hướng cho giờ lên lớp theo quan điểm

sư phạm tương tác Do đó, giáo viên phải tiến hành các hoạt động từ việc xác định mục tiêu, nội dung bài học đến việc chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết cho

Trang 37

32

bài dạy và lựa chọn các hoạt động, dự kiến những vấn đề nảy sinh và những khó khăn trong tiết dạy để có những phương án xử lý khịp thời

Bước này có ý nghĩa định hướng vì vậy, việc tổ chức cho học sinh học

theo quan điểm sư phạm tương tác phụ thuộc nhiều vào giai đoạn này

+ Về phía giáo viên

- Tìm hiểu những kiến thức của học sinh về vấn đề sắp học

- Lựa chọn nội dung để dạy cho phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh cũng như điều kiện cơ sở vật chất của địa phương, của nhà trường mà vẫn đảm bảo được mục tiêu bài dạy

- Xác định được mục tiêu bài dạy Những kiến thức, kỹ năng, thái độ

mà học sinh cần phải đạt được sau bài học Việc xác định đúng trọng tâm bài học thì việc tổ chức cho học sinh học tập theo phương pháp này mới tiến hành đúng hướng và đạt kết quả tốt

-Từ mục tiêu bài học, giáo viên lựa chọn các vật liệu, đồ dùng dạy học như: đoạn dây thép, sợi dây đồng, tấm gang, quả bóng các tài liệu hợp với trình độ nhận thức của học sinh, điều kiện của nhà trường và của địa phương Đây là điều kiện thuận lợi để học sinh trực tiếp thực hành trên đối tượng thật, tạo điều kiện cho các em phát huy tối đa các giác quan khác nhau tiếp xúc với đối tượng như: tay cầm, mắt quan sát, tai nghe Từ đó các em tranh luận thống nhất ý kiến mà hình thành biểu tượng đầy đủ về sự vật, hiện tượng trong tự nhiên Đồ dùng dạy học được lựa chọn phải đảm bảo tính Khoa học

và tính sư phạm

+ Về phía học sinh

- Tìm hiểu về nội dung của bài học

- Chuẩn bị về đồ dùng học tập như một số loại cây như: khúc mía, đoạn dây khoai, ươm hạt đậu vào các cốc nhựa hay một số đồ vật như: hòn đá vôi, viên đá cuội, bình dấm chua, quả bóng chun, dây cao su, viên ngói, tấm kính, sợi dây điện, mảnh chum sành, cái bát gốm tất cả đây là những đồ dùng tốt mà dễ dàng tìm kiếm

Trang 38

33

Bước2 Lập kế hoạch dạy học

- Kế hoạch cần đƣợc thể hiện một cách chi tiết qua việc soạn giáo án Trong giáo án cần chỉ rõ tiến trình của bài học bằng những hoạt động của giáo viên và học sinh, phân bố thời lƣợng hợp lý cho từng hoạt động, mỗi hoạt động thì cần chuẩn bị những thiết bị đồ dùng loại nào cho phù hợp Trong mỗi hoạt động cũng phải xác định mục đích đạt đƣợc, và cũng cần lựa chọn tình huống khởi động

- Cấu trúc của giáo án có thể nhƣ sau:

1 Chuẩn bị của giáo viên

2 Chuẩn bị của học sinh

III HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC:

KHỞI ĐỘNG

* Kiểm tra bài cũ

* Bài mới

Hoạt động 1 : (Mục tiêu và cách thức tiến hành, lƣợng thời gian)

- Công việc của giáo viên - Công việc của học sinh

Hoạt động 2: (Mục tiêu và cách thức tiến hành, lƣợng thời gian)

- Công việc của giáo viên - Công việc của học sinh

Hoạt động 3: (Mục tiêu và cách thức tiến hành, lƣợng thời gian)

- Công việc của giáo viên - Công việc của học sinh

KẾT THÚC

* Củng cố, luyện tập

* Đánh giá

Trang 39

34

Bước 3 Tổ chức các hoạt động DH trên lớp theo QĐSPTT

Đây là giai đoạn quan trọng nhất Giáo viên phải nghiên cứu bài dạy để lựa chọn các hoạt động dạy học cho phù hợp với từng nội dung bài học nhằm phát huy tối đa được hiệu quả của phương pháp dạy học mới này Cũng giống như những phương pháp dạy học khác, trong quan điểm sư phạm tương tác nó

có rất nhiều các hoạt động dạy học Nhưng có thể nêu ra một số hoạt động đặc trưng như sau:

Dạy học tương tác theo nhóm đôi:

 Ưu điểm:

Đây là hoạt động quan trọng của phương pháp sư phạm tương tác là bước đầu để học sinh làm quen với công việc chung, từ đó mà tổ chức các hoạt động nhóm lớn hơn Hoạt động này nó bắt buộc bắt buộc học sinh phải suy nghĩ, phải làm việc từ đó tạo ra sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân để các em học hỏi những kiến thức của nhau và bổ sung những hạn chế, những điểm yếu của nhau Qua kết quả báo cáo của các nhóm nó sẽ tạo ra sự tranh luận tích cực giữa nhóm này với nhóm kia để hoàn thành mục tiêu bài học

Đó cũng là môi trường tương tác tốt để học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập

 Cách tiến hành:

Giáo viên: Hai học sinh trong một bàn thành một cặp, và mỗi cặp phải

đảm bảo đủ dồ dùng học tập như phiếu học tập, bảng nhóm, bút, phấn Yêu cầu các cặp về vị trí thảo luận Hướng dẫn các cặp thảo luận, quy định thời gian thảo luận, cuối cùng là phát lệnh để các nhóm tiến hành làm việc Trong thời gian học sinh thảo luận giáo viên quan sát các nhóm làm việc, giúp đỡ khi cần thiết

Học sinh:

+ Các cặp quay mặt vào nhau sẵn sàng nhận nhiệm vụ học tập

+ Suy nghĩ, đưa ra ý kiến của mình về vấn đề mà giáo viên nêu

+ Tranh luận để thống nhất ý kiến hoàn thành nhiệm vụ của nhóm

+ Báo cáo kết của của nhóm

+ Các nhóm nhận xét bổ sung để hoàn thành nhiệm vụ mà giáo viên nêu

Trang 40

35

 Một số điểm lưu ý:

- Giáo viên phải chọn những bài, những hoạt động, những câu hỏi trong bài học có độ khó vừa phải, có hướng mở, để đa số học sinh suy nghĩ đưa ra ý kiến của mình để tranh luận với bạn hoàn thành nhiệm vụ học tập

- Chia nhóm thảo luận theo nhóm bàn học

- Sau mỗi tháng, giáo viên cần thay đổi chỗ ngồi cho học sinh để các

em được thường xuyên thay đổi cặp làm việc của mình để tạo ra sự tương tác mới nhằm kích thích hưng phấn hoạt động tối đa của học sinh để đạt hiệu quả dạy học cao nhất

Ví dụ 1: Bài 13 Phòng bệnh sốt xuất huyết

Để giúp học sinh nhận biết được tác nhân gây bệnh và con đường lây truyền bệnh sốt xuất huyết ta tổ chức hoạt động nhóm cặp như sau:

(Trích giáo án)

- Mời học sinh đọc các thông tin(lời

mẹ cháu bé, lời bác sĩ, thông tin về

bệnh)

- Yêu cầu 2HS ngồi cùng bàn thảo

luận để chọn câu trả lời đúng cho

phiếu bài tập

- Mời HS báo cáo kết quả thực hành

- GV nhận xét kết quả làm việc của

Ngày đăng: 03/10/2021, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Nguyễn Hữu Châu, Chương trình dựa trên triết lý “Giáo dục vì sự phát triển toàn diện của mỗi con người”, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 28, tháng 01 2008, tr.1 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục vì sự phát triển toàn diện của mỗi con người
6. Nguyễn Kim Cúc (1994) “Phát huy tính tích cực của học sinh tiểu học”, nghiên cứu giáo dục học 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh tiểu học
7. Lê Hoàng Thanh Dân (1972) “Tư tưởng sư phạm”, NXB trẻ Sài Gòn (Bản dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng sư phạm
Nhà XB: NXB trẻ Sài Gòn (Bản dịch)
8. Lê Thu Dinh, Bùi Phương Nga, Trịnh Quốc Thái (2000) “Đổi mới việc dạy học môn TN _XH ở tiểu học”, NXB giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới việc dạy học môn TN _XH ở tiểu học
Nhà XB: NXB giáo dục Hà Nội
9. Bộ GD và ĐT (1995): Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, kỹ yếu hội thảo khoa học. Chương trình Khoa học công nghệ cấp bộ, “phương pháp dạy học” Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp dạy học
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Năm: 1995
10. Phạm Văn Đồng (11-1994) “Phương pháp giáo dục tích cực , một phương pháp cực kỳ quý báu”, Báo Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực , một phương pháp cực kỳ quý báu
12. Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng (1999) “Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ở tiểu học”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy ở tiểu học
15. Bùi Văn Huệ (1997) “Tâm lý tiểu học”, NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý tiểu học
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
16. Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành (1996) “Lý luận dạy học tiểu học.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học tiểu học
18. Nguyễn Thị Hường (2001): “Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh bằng quan sát kết hợp thảo luận nhóm trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở bậc tiểu học”, luận án tiến sĩ giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh bằng quan sát kết hợp thảo luận nhóm trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở bậc tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hường
Năm: 2001
22. Hoàng Phê (Chủ biên) (1997), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Chủ biên)" (1997), "Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học
Năm: 1997
23. Nguyễn Ngọc Quang (1986) “Lý luận dạy học đại cương” (tập 2), Trường cán bộ quản lý giáo dục TƯ1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương
25. Jean Mare Denomme và Madeleine Roy “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác”, NXB Thanh niên, năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác
Nhà XB: NXB Thanh niên
1. Trần Thị Tú Anh, Tiếp cận hoạt động dạy - học từ góc độ Tâm lý học nhận thức, Tạp chí Giáo dục số 18 (12/2001), tr.12 - 14 Khác
2. Ban nghiên cứu chiến lƣợc - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bối cảnh quốc tế, trong nước và các quan điểm phát triên giáo dục giai đoạn 2008- 2020, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 32, tháng 5 - 2008, tr. 1 - 4 Khác
3. Nguyễn Thanh Bình (Chủ biên), Nguyễn Thị Kim Dung, Ngô Thu Dung, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thu Lạc, Nguyễn Thị Hằng, Lí luận Giáo dục học Việt Nam, NXB Đại học Sƣ phạm Khác
4. C.Mác và Ph.Ăng – ghen toàn tập, NXB chính trị quốc gia 1994 Khác
11. Phạm Thu Hà, NXB Hà Nội, Thiết kế bài giảng Khoa học lớp 5 Khác
13. Nguyễn Thị Bích Hạnh, ĐHTP Hồ Chí Minh, Môi trường theo sư phạm tương tác Khác
14. Phó Đức Hoà (1994) GDTH , Đại học Sƣ phạm Hà Nội I, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w