Đặc biệt, với sự ra đời của Internet, sự kết nối thông tin giữa các cơ quan quản lý giáo dục với các trường học, giữa tất cả các trường học đã trở thành hiện thực, việc áp dụng CNTT tron
Trang 1Đặc biệt, với sự ra đời của Internet, sự kết nối thông tin giữa các cơ quan quản lý giáo dục với các trường học, giữa tất cả các trường học đã trở thành hiện thực, việc áp dụng CNTT trong công tác quản lý giáo dục càng trở nên thuận lợi Việc truy cập Internet cũng tạo cho cán bộ quản lý niềm say mê, hứng thú trong công việc, thực hành khả năng làm việc và nghiên cứu độc lập Các cán bộ quản lý có thể chủ động, liên kết nhiều nguồn kiến thức, kỹ năng trong việc quản lý giáo dục
Thật khó có thể hình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụng của CNTT bởi CNTT đã thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực, tất cả các đối tượng với những hiệu quả mà CNTT đã mang lại, đặc biệt là trong giáo dục Cụ thể là tất cả các đối tượng có thể giao tiếp trao đổi với nhau ở bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu Việc thường xuyên sử dụng CNTT
sẽ trang bị cho người sử dụng kỹ năng tiếp cận, xử lý thông tin, giải quyết vấn
đề một cách sáng tạo
Ngoài ra, CNTT cũng giúp chúng ta có thể thực hiện nhiều công việc cùng lúc, có khả năng chuyển sự chú ý một cách nhanh chóng, thời gian đáp
Trang 2ứng nhanh, luôn thực hiện kết nối, thúc đẩy quá trình làm việc nhóm, nghe nhìn và tư duy Hơn nữa, công nghệ liên kết các nguồn tri thức lại với nhau, kết nối công dân toàn cầu Điều này làm cho không gian địa lý bị xoá nhoà và công nghệ trở thành một phần trong cuộc sống
Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục
Từ năm học 2008- 2009, Bộ GD&ĐT đã phát động ứng dụng CNTT trong trường học Qua gần ba năm thực hiện, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, không ít cán bộ quản lý còn cảm thấy bỡ ngỡ, lúng túng khi đưa CNTT vào quản lý giáo dục
Phòng GD&ĐT Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, đã có tư duy đổi mới,
đi trước một bước về vấn đề này Từ hơn 10 năm trước đây, Phòng GD&ĐT
đã tham mưu với UBND Quận 1 tiến hành đầu tư về cơ sở vật chất như phòng học, hệ thống máy tính, máy chiếu, kết nối Internet cho tất cả các nhà trường Đồng thời, chỉ đạo nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục thông qua việc tổ chức các chuyên đề
Phong trào ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục ở Quận 1, thành phố
Hồ Chí Minh, nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, của ngành giáo dục, sự ủng hộ của giáo viên và đã có sự phát triển mạnh mẽ, rộng lớn và đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ
Đến nay, tất cả các trường đã có hòm thư liên kết với Phòng GD&ĐT theo địa chỉ: giaoduc@quan01.hcm.edu.vn để chuyển nhận thông tin báo cáo với Phòng GD&ĐT đảm bảo nhanh chóng, thuận tiện, kịp thời Đa số các thầy
cô giáo đều có email để trao đổi thông tin… Tất cả đem đến một sự thay đổi căn bản, làm cơ sở cho việc ứng dụng CNTT vào công việc quản lý giáo dục
Trang 3Thời gian gần đây, việc ứng dụng CNTT vào công việc quản lý giáo dục
đã được nhiều Hiệu trưởng hưởng ứng tích cực Đây được coi là một trong những biện pháp góp phần chất lượng quản lý và dạy học trong các nhà trường Tuy nhiên, để Hiệu trưởng làm chủ được CNTT trong quản lý giáo dục còn cần có sự tổng kết, rút kinh nghiệm một cách nghiêm túc… Trong các năm học tới phong trào ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa và đó cũng là yêu cầu cấp thiết của đổi mới trong ngành giáo dục, trong công tác quản lý ở trường phổ thông
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu : “Một
số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục Tiểu học trên địa bàn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành quản lí giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu :
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài nhằm mục đích : Nghiên cứu cơ sở khoa học của vấn đề ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản
lý giáo dục ở các trường Tiểu học trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu :
3.1 Khách thể :
Hoạt động quản lý giáo dục của Hiệu trưởng ở một số trường của quận
1, thành phố Hồ Chí Minh, với sự hỗ trợ của CNTT
3.2 Đối tượng nghiên cứu :
Trang 4Những giải pháp của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục ở các trường Tiểu học trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết khoa học :
Nếu các giải pháp được đề xuất phù hợp với thực tiễn, thiết thực, có tính khả thi và nếu được thực hiện có thể nâng cao chất lượng quản lý giáo dục Tiểu học trên địa bàn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu :
5.2 Phạm vi nghiên cứu :
Nhiệm vụ nghiên cứu đòi hỏi phải nghiên cứu nhiều mặt, song, vì khả năng và thời gian không cho phép, chúng tôi chỉ nghiên cứu các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Thực trạng công tác quản lý giáo dục ở các trường tiểu học với sự hỗ trợ của CNTT
- Phân tích thực trạng trên
Trang 5- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục Tiểu học trên địa bàn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu :
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận :
Nghiên cứu các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ GD&ĐT
và các tài liệu liên quan dến vấn đề nghiên cứu nhằm thu thập tư liệu làm cơ
sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
- Phương pháp quan sát : Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động quản lý giáo dục của Hiệu trưởng
- Phương pháp trò chuyện - phỏng vấn : Thu thập thông tin qua việc trao đổi trực tiếp với Hiệu trưởng để làm rõ thực trạng những biện pháp quản
lý giáo dục của Hiệu Trưởng với sự hỗ trợ của CNTT
- Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi : Thu thập thông tin qua phiếu hỏi ý kiến Hiệu trưởng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học : Dùng phương pháp thống kê
mô tả và thống kê kiểm định để xử lý các phiếu thăm dò ý kiến nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục tiểu học
7 Cấu trúc của luận văn :
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Luận văn gồm 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận của đề tài
Trang 6Chương 2 : Thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục ở các
trường Tiểu học thuộc Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong
quản lý giáo dục Tiểu học trên địa bàn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7Cuối những năm 70, Tin học và kỹ thuật tính chuyển sang một giai đoạn mới có sự biến đổi về chất Máy tính bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và đời sống Do những đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội và sự cho phép về điều kiện kinh tế - kỹ thuật nên CNTT đã chính thức được đưa vào trường học Vào những năm 80, với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT, đặc biệt là ở các nước phát triển, nhiều quốc gia đã lần lượt xây dựng chiến lược ứng dụng CNTT mà một bộ phận quan trọng của chiến lược này là xác định cách thức đưa CNTT vào trong trường phổ thông
Theo các tư liệu tổng hợp, đặc biệt là của UNESCO, có thể rút ra một
số nhận xét về việc giảng dạy Tin học, ứng dụng CNTT của một số nước như sau:
- Về mục tiêu : dựa trên điều kiện cụ thể mà các nước lựa chọn một trong hai mục tiêu:
+ Trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng CNTT cần thiết để ứng dụng trong cuộc sống và hỗ trợ việc học tập các môn học khác
Trang 8+ Trang bị cho học sinh những kiến thức về thông tin, máy tính
và quá trình xử lý thông tin, kiến thức và kỹ năng sử dụng CNTT
- Về hình thức dạy học Tin học:
+ Tin học là một môn học riêng biệt và là môn học bắt buộc, giống như những môn học khác đối với mọi học sinh (ở nhiều bang của Hoa Kỳ, ở Ôxtrâylia )
+ Tin học cũng là môn học riêng biệt nhưng theo hình thức tự chọn (ở Pháp, Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc )
+ Tin học được tích hợp vào trong các môn học khác:
Tin học là một phần riêng biệt, tương đối độc lập trong một môn học khác (ở Nhật, Canađa, Philippin, một số bang của Hoa Kỳ )
Tin học được tích hợp nhuần nhuyễn trong một số môn học khác như Toán, Vật lý (ở Pháp và nhiều bang của Hoa Kỳ )
+ Tin học là hoạt động ngoại khóa
Tuy nhiên nhiều nước đã lựa chọn phương án dạy Tin học như là một môn học độc lập và theo hình thức tự chọn
- Về chương trình, chuẩn kiến thức: chương trình môn Tin học thường được xây dựng theo 3 mức:
+ Giáo dục phổ thông mức cơ sở + Giáo dục phổ thông mức nâng cao + Giáo dục nghề ở mức nâng cao Chương trình thường được chia thành các môđun, có môđun bắt buộc,
Trang 9Ngày nay vấn đề dạy học Tin học, ứng dụng CNTT đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm và đã trở nên một vấn đề toàn cầu Hội nghị
Bộ trưởng giáo dục các nước thành viên của tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế các nước Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 2 ngày 07 tháng 4 năm
2000 về “Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI” xác nhận tầm quan trọng của CNTT trong xã hội học tập Tại diễn đàn này các Bộ trưởng đã khẳng định tiềm năng rộng lớn của CNTT trong việc chuẩn bị tương lai cho học sinh, sinh viên cũng như cung cấp cơ hội học tiếp cho người lớn tuổi CNTT mang đến sự đổi mới về cách học cho mọi cấp học CNTT tạo điều kiện cho việc hợp tác nghiên cứu khoa học và học từ xa CNTT cũng mang đến sự đổi mới về công tác quản lý Các Bộ trưởng nhấn mạnh phương châm
“Giáo dục không biên giới” giữa các thành viên APEC CNTT trong giáo dục
sẽ là giải pháp chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế dựa trên tri thức
Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu và luận văn thạc sĩ nghiên cứu việc ứng dụng CNTT vào quản lý GD như :
- “Một số giải pháp ứng dụng CNTT trong quản lý đào tạo ở trường Đại học Vinh” do PGS.TS Nguyễn Đình Huân làm chủ nhiệm,
- “Một số biện pháp chỉ đạo việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác quản lý dạy học tại các trường THPT” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006,
- “Các giải pháp đào tạo CNTT cho cán bộ quản lý GD tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Hồ Quang Thành, trường Đại học Vinh,
2004
- “Một số biện pháp nhằm phát triển ứng dụng CNTT trong quản lý GD
ở huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Văn Khiêm, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006,
Trang 10- “Nghiên cứu tổ chức và quản lý việc ứng dụng CNTT trong quản lý trường THCS” do TS Trương Đình Mậu làm chủ nhiệm,
Những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sĩ trên đã khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT trong quản lý GD Tuy nhiên, nội dung của những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sĩ trên mới chỉ dừng lại ở một trường, ở một phạm vi rộng nào đó Chưa có công trình nghiên cứu
và luận văn thạc sĩ nào đề cập đến việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản
lý giáo dục tiểu học Vì thế tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề này với mong muốn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong quản
lý giáo dục tiểu học ở địa bàn quận Một, thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng quản lý giáo dục tiểu học của quận
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Công nghệ thông tin
1.2.1.1 Công nghệ thông tin
- Thông tin (Information)
Khái niệm thông tin hay tin tức là một khái niệm trừu tượng, phi vật chất và rất khó được định nghĩa một cách chính xác Ở đây chúng ta có hai định nghĩa không chính thức về khái niệm thông tin
+ Thông tin là sự cảm hiểu của con người về thế giới xung quanh (thông qua sự tiếp xúc với nó) Như vậy thông tin là hiểu biết của con người và càng tiếp xúc với môi trường xung quanh con người càng hiểu biết và làm tăng lượng thông tin thu nhận được
+ Thông tin là một hệ thống những tin báo và mệnh lệnh giúp loại trừ sự không chắc chắn (uncertainty) trong trạng thái của nơi nhận tin Nói ngắn gọn, thông tin là cái mà loại trừ sự không chắc chắn Sự không chắc chắn là trạng thái của nơi nhận tin khi đang chờ đợi một sự kiện xảy ra trong một tập các sự kiện (số lượng có thể không biết trước
Trang 11hay không xác định được) có thể và chưa biết sự kiện nào có khả năng xảy ra
Trong hai định nghĩa trên, định nghĩa đầu chỉ cho chúng ta hiểu thông tin là cái gì chứ chưa nói lên được bản chất của thông tin, còn định nghĩa thứ hai cho chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của thông tin và đây cũng là định nghĩa được dựa vào để định lượng về thông tin trong kỹ thuật
Thông tin là một hiện tượng vật lý, nó thường tồn tại và được truyền đi dưới một dạng vật chất nào đó Chẳng hạn như âm thanh, dòng điện, sóng điện từ, sóng ánh sáng v.v… Những dạng vật chất hay những đại lượng vật lý dùng để mang thông tin người ta gọi là tín hiệu Vì vậy có thể nói ngược lại tín hiệu là sự biểu hiện (hay là dạng) vật lý của tin tức mà nó mang từ nơi này đến nơi khác hay cụ thể hơn tín hiệu chính là vật mang thông tin
- Công nghệ
Công nghệ (hay công nghệ học hoặc kỹ thuật học) có nhiều hơn một
định nghĩa Nhìn chung có thể hiểu công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Việc tiêu chuẩn hóa như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ Khái niệm về kỹ thuật được hiểu là bao gồm toàn bộ những phương tiện lao động và nhưng phương pháp tạo ra cơ sở vật chất
Công nghệ (có nguồn gốc từ technologia, hay τεχνολογια, trong tiếng
Hy Lạp; techne có nghĩa là thủ công và logia có nghĩa là "châm ngôn") là một
Trang 12thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người Tuỳ vào từng ngữ cảnh mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu:
Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề;
Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề;
Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau;
Sản phẩm có chất lượng cao và giá thành hạ
Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình
và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ
- Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin viết tắt CNTT, (tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông
tin
CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin Người làm việc trong ngành này thường được gọi là dân CNTT (IT specialist) hoặc cố vấn quy trình doanh nghiệp (Business Process Consultant)
Ở Việt Nam: Khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
Trang 13Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác
Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực Hiện nay hầu hết các ngành học đều áp dụng CNTT trong chuyên ngành của mình nhằm nâng cao hiệu quả,
1.2.1.2 Phần mềm
Phần mềm máy tính là một sự kết hợp của các chương trình máy tính, thủ tục và tài liệu tương ứng có tác dụng thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ trên máy tính Khái niệm phần mềm khá rộng Tuy nhiên từ góc nhìn của người sử dụng cuối, phần mềm có các dạng cơ bản sau:
- Phần mềm ứng dụng: loại phần mềm phục vụ công việc, nhu cầu
hàng ngày của đa số người dùng
Phần mềm ứng dụng là bất cứ công cụ nào có tính năng và mục đích trực tiếp nâng cao hiệu quả làm việc, nghiệp vụ của người dùng
Một số loại phần mềm ứng dụng tiêu biểu :
+ Phần mềm văn phòng là phần mềm cần thiết nhất vì tính phổ
biến, thỏa mãn nhu cầu của mọi đối tượng người dùng Ví dụ : Gói phần mềm văn phòng Microsoft Office (Word, Excel, PowerPoint…) gồm các chương trình soạn thảo văn bản, bảng tính, trình chiếu… được tích hợp với nhau Microsoft Office chỉ hoạt động trên hệ điều hành Windows
+ Quản trị cơ sở dữ liệu: phục vụ công tác lưu trữ thông tin, dữ
liệu trong các qui trình nghiệp vụ hàng ngày của người dùng Ví dụ : Access (Microsoft Office)
+ Soạn thảo đồ hình: Visio (Microsoft Office)
Trang 14+ Xây dựng, soạn thảo các công thức toán học: Equation
Editor (Microsoft Office)
+ Phần mềm giải trí như nghe nhạc, xem phim, đa phương tiện
cũng là một thể loại ứng dụng phổ biến Đó là: Windows Media Player, Winamp, RealPlayer…
- Phần mềm tiện ích (Utility software): loại phần mềm này không hỗ
trợ hay thực hiện các công việc, nghiệp vụ hàng ngày của người dùng Thay vào đó, các phần mềm tiện ích hỗ trợ người dùng trong việc quản lý tài liệu của họ trên máy tính, tăng cường khả năng làm việc và độ an toàn của máy tính Ví dụ: phần mềm quản lý tệp tin, chống virus, kiểm tra tính nhất quán, toàn vẹn của tổ chức logic và vật lý của các tệp tin trên ổ cứng… Phần mềm tiện ích được thiết kế để giúp quản lý, căn chỉnh phần cứng, hệ điều hành và phần mềm ứng dụng thông qua việc thực hiện vài nhiệm vụ mang tính hệ thống Vì tính chất này, nhiều phần mềm tiện ích thậm chí được tích hợp hẳn vào với hệ điều hành Các phần mềm tiện ích điển hình bao gồm :
+ Phần mềm tiện ích hệ thống: điển hình là phần mềm quản lý
ổ cứng có tác dụng kiểm tra và dọn dẹp ổ cứng để tăng tốc độ truy cập tệp tin và giải phóng dung lượng của ổ cứng khỏi những tệp tin không cần thiết Các phần mềm tiêu biểu là Windows Explorer (quản lý tệp tin trong hệ điều hành Windows), Disk Defragmentation and Checker (kiểm tra chất lượng ổ đĩa và tối ưu hóa vị trí tệp tin trên ổ đĩa để tăng hiệu suất truy cập), Backup (sao lưu dữ liệu trên ổ đĩa)…
+ Phần mềm chống virus, spyware, adware: chống lại những
chương trình, đoạn mã độc hại nằm ẩn trong máy tính mà người dùng hoàn toàn không nhận thức được sự tồn tại của chúng Có nhiều loại chương trình và mã độc hại tiềm năng trên máy tính, ví dụ như :
Trang 15Virus là những đoạn mã làm sai lệch hoạt động của hệ thống một cách có chủ ý, sinh dữ liệu sai và giảm rõ rệt khả năng vận hành của máy tính
Spyware nằm thường trú trong máy tính, không ảnh hưởng nhiều tới hiệu suất của máy, nhưng spyware âm thầm lấy các thông tin cá nhân của người dùng mà không được sự cho phép của họ, bí mật gửi những thông tin này về nơi phát tán spyware thông qua Internet Những
vụ rò gỉ thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng, mật khẩu người dùng… trên thế giới là hậu quả của spyware
Adware là đoạn mã nằm thường trú trong máy tính tự động thực hiện, hiển thị những quảng cáo mà không có sự đồng ý của người dùng Việc này thường chỉ gây khó chịu cho người sử dụng
Những phần mềm chống virus tiêu biểu có thể kể đến AVG, Norton, McAfee, Kaspersky Anti-virus (nước ngoài) và BKAV (Việt Nam),
- Ứng dụng trên Internet
Internet là mạng kết nối toàn cầu các máy tính, cho phép người dùng
chia sẻ thông tin trên nhiều kênh thông tin Một máy tính sau khi được kết nối Internet có thể truy cập thông tin từ một số lượng khổng lồ các máy chủ và các máy tính khác và đưa những thông tin đó về bộ nhớ của nó Ngược lại, mỗi máy tính cũng có thể cung cấp thông tin của nó tới các máy chủ và những thông tin đó được đưa ra công khai và thậm chí thay đổi bởi những máy tính được kết nối Internet khác Phần lớn thông tin hiện nay trên Internet được cung cấp dưới dạng tài liệu siêu văn bản (hypertext) và tài nguyên của World Wide Web Người dùng quản lý thông tin gửi và nhận trên World Wide Web thông qua các trình duyệt Web
Trang 16Để xác định được máy tính lưu trữ loại tài nguyên, thông tin nào đó trên Internet, mỗi máy tính được cấp phát một địa chỉ trên Internet là một chuỗi chữ số Vì chuỗi chữ số này khó nhớ, chúng được tham chiếu tới bộ đôi gồm tên máy tính đó trong tên miền của tổ chức sở hữu máy đó Ví dụ: www.moet.edu.vn là địa chỉ trang Web của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Việt Nam Địa chỉ IP của máy chủ Web là 220 231 119 45 chỉ thích hợp cho các máy tính trao đổi với nhau trong khi người dùng khó nhớ được giá trị chính xác của chuỗi số này Do vậy, địa chỉ của máy chủ được tham chiếu tới www.moet.edu.vn, trong đó www là tên máy chủ và moet edu vn là tên miền của tổ chức sở hữu máy chủ đó Đây chính là tên miền của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ministry of Education and Training – MoET) thuộc ngành giáo dục (edu) của Việt Nam (vn) Việc tham chiếu qua lại giữa địa chỉ IP 220 231
119 45 với www.moet.edu.vn được lưu trữ, duy trì trong DNS – hệ thống phân giải tên miền và địa chỉ IP
Ngày nay, với sự phổ dụng của World Wide Web, các tổ chức công bố thông tin bản thân thông qua những trang Web của mình – gọi là Website Nội dung của mỗi Website được lưu trữ trên máy chủ Web của tổ chức (gọi là Web server) Một người dùng muốn truy cập tới thông tin, tài nguyên của một
tổ chức, Ví dụ: Bộ Giáo dục-Đào tạo ở trên, cần phải biết tên miền của tổ chức và dùng trình duyệt Web để truy cập tới đó Về bản chất, trình duyệt Web phổ biến như Internet Explorer, Mozilla, firefox… là những chương trình khách tương tác với hệ thống Web server
Bên cạnh trình duyệt Web, một số phần mềm khác cho phép người dùng tương tác với mạng máy tính bao gồm thư điện tử, chat trực tuyến, truyền tải và chia sẻ tệp tin…
Thư điện tử (email) là chương trình ứng dụng cho phép biên soạn nội
dung, gửi và lưu trữ những giao tiếp liên lạc giữa con người dựa trên văn bản
Trang 17thông qua hệ thống máy tính Những chương trình email phổ biến là Yahoo, Gmail, Microsoft Outlook, Mozilla Thunderbird …
Diễn đàn (forum hay message board) là nơi thảo luận trực tuyến
Người tham gia thảo luận trên diễn đàn có thể xây dựng mối liên hệ với nhau
và trong những nhóm người có cùng mối quan tâm xung quanh những chủ đề thảo luận
Mạng xã hội: một mạng xã hội tập trung xây dựng những cộng đồng
trực tuyến có những mối quan tâm và hoạt động giống nhau Thành viên của mạng xã hội có sở thích tìm hiểu về thói quen, mối quan tâm và hoạt động của những thành viên khác Hầu hết mạng xã hội đều dựa trên nền tảng Web, cung cấp nhiều phương thức để những thành viên liên lạc với nhau như email, tin nhắn… Những mạng xã hội lớn trên thế giới là Facebook, MySpace
Blog được viết tắt từ thuật ngữ weblog Đây là một dạng Website cá
nhân được tổ chức, duy trì thông qua những mục ghi, đánh giá và sự kiện Không giống như Website truyền thống, blog cho phép người đọc lưu lại ý kiến đánh giá của mình về nội dung trong đó Khả năng tương tác giữa chủ sở hữu blog và người đọc là điểm nổi trội của blog
Hội nghị, hội thảo từ xa qua mạng với 3 hình thức chủ yếu hiện nay là: qua truyền hình, qua web và qua đàm thoại, đây là những hình thức trao đổi
và khớp nối thông tin trực tiếp giữa nhiều người từ nhiều địa điểm cách nhau thông qua hệ thống viễn thông nhằm để tiết kiệm thời gian, kinh phí, công sức
đi lại Dữ liệu được truyền đạt trên kênh thông tin có thể gồm cả âm thanh, hình ảnh
Hiện nay, sự phổ cập và qui mô ảnh hưởng của Internet lên đời sống kinh tế xã hội ngày càng sâu rộng Tận dụng Internet như là một môi trường kinh doanh ảo trở thành một xu hướng kinh doanh trong thời đại thông tin Các dịch vụ kinh doanh trên môi trường Internet bao gồm:
Trang 18Tìm kiếm trên Google là một kỹ năng cần thiết trong thời đại bùng nổ
thông tin hiện nay Với từ khóa của lĩnh vực cần tìm hiểu thông tin, người dùng truy cập vào trang Web tìm kiếm của Google tại www.google.com và nhập từ khóa này vào ô tìm kiếm Máy tìm kiếm của Google sẽ trả lại danh sách các Website có thông tin về lĩnh vực mà người dùng quan tâm Với Google, thời gian tìm kiếm thông tin sẽ giảm đáng kể Qua đó, khả năng giải quyết vấn đề, tự học được cải thiện rõ rệt
VoIP (Voice over Internet Protocol) là một dạng thoại không thông qua
kênh viễn thông truyền thống mà bằng Internet Âm thanh thoại từ người nói
sẽ được chuyển hóa thành các gói dữ liệu trước khi truyền tới máy tính người nghe thông qua giao thức IP trên môi trường Internet Tại đích đến, các gói dữ liệu này được giải mã và kết nối thành âm thanh gốc để người nghe thu nhận
So với kênh thoại truyền thống, VoIP cung cấp hình thức thoại hết sức tiết kiệm nhưng chất lượng cuộc điện thoại phụ thuộc nhiều vào dung lượng và tình trạng đường truyền Internet Với sự phát triển của các kênh truyền dẫn dữ liệu trong Việt Nam và đi quốc tế, chất lượng các cuộc thoại trên VoIP đã cải tiến đáng kể, gần như chất lượng cuộc gọi qua điện thoại bình thường
- Học liệu, giáo trình điện tử
Việc ứng dụng CNTT trong việc dạy học đang phát triển ngày càng nhiều về số lượng ở Việt Nam Hình thức áp dụng CNTT rất đa dạng
Giáo trình điện tử, bài giảng điện tử (courseware) là thuật ngữ được
kết hợp từ ‘course’ và ‘software’ Giáo trình điện tử là tập hợp những tài nguyên số dưới hình thức các đối tượng học tập, xâu chuỗi với nhau theo một cấu trúc nội dung, định hướng theo chiến lược giáo dục của nhà thiết kế
Thư viện điện tử (e-Library) là dạng thư viện mà tài liệu đã được số
hóa thay vì ở dạng cứng như in ấn, sao chụp… Nội dung số của tài liệu có thể truy cập, lưu trữ trên máy tính
Trang 19E-learning là một hình thức dạy học được hỗ trợ bởi công nghệ Môi
trường của việc dạy học được thể hiện qua máy tính, công nghệ số E-learning giảm thiểu nhu cầu tương tác trực diện
Bảng điện tử (electronic board) là một dịch vụ trực tuyến dưới dạng
Website trong nhà trường Đây là công cụ cho phép cán bộ nhà trường (hiệu trưởng, giáo viên) cung cấp thông tin tới học sinh, gia đình và các nhân viên khác trong trường
- Phần mềm mã nguồn mở : Theo Văn phòng Nghị viện Anh về Khoa
học và Công nghệ (2004), phần mềm mã nguồn mở bắt đầu xuất hiện từ những năm 1970 Cũng theo báo cáo của tổ chức này, phần mềm mã nguồn
mở có thể hiểu là các phần mềm được phân phối với mã nguồn của phần mềm kèm theo bản nhị phân của nó Giấy phép sử dụng phần mềm cho phép người
sử dụng và những người phát triển được phép sử dụng, thay đổi và tái phân phối phần mềm
Theo OSI (Open Source Initiative) tồn tại nhiều dạng giấy phép đối với phần mềm mã nguồn mở Một số giấy phép, như giấy phép BSD (Berkeley Software Distribution), cho phép đóng một phiên bản và bán như phần mềm thương mại Với một số khác, như giấy phép GNU GPL (GNU General Public Licence) không cho phép đóng các phiên bản, và phải được tái phân phối dưới cùng giấy phép, mặc dù có thể yêu cầu phí dịch vụ hay công phát triển
Phần mềm sở hữu riêng (còn có thể gọi là phần mềm mã nguồn đóng)
là những phần mềm thuộc sở hữu riêng của một công ty hay một cá nhân, ít khi được phân phối kèm với mã nguồn Sử dụng các phần mềm mã nguồn đóng này, người sử dụng cần mua giấy phép sử dụng Các giấy phép sử dụng loại này thường có các điều khoản ràng buộc quyền sử dụng của người sử
Trang 20dụng, đồng thời cam kết về bảo hành và đảm bảo chất lượng, cũng như hỗ trợ
kĩ thuật từ phía nhà cung cấp
Theo tuyên bố trong các giấy phép sử dụng, khác với các phần mềm có bản quyền, phần mềm mã nguồn mở được phân phối “như là” Người sử dụng không nhận được sự cam kết nào của người cung cấp về chất lượng của sản phẩm Trách nhiệm duy trì, và chịu rủi ro thuộc về người sử dụng
Tuy vậy, do sự đóng góp của cộng đồng trong phát triển, phần mềm mã nguồn mở được rộng rãi kiểm tra lỗi, chỉnh sửa và phát triển, nên độ tin cậy
có thể đạt mức chấp nhận được cho các hệ thống không đòi hỏi an toàn tuyệt đối (như trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, an ninh, quân sự) Theo Tan Wooi Tong (2004), độ tin cậy, hiệu suất, và an toàn cao hơn so với phần mềm thương mại
Hai yếu tố được chú ý trong xây dựng, phát triển và ứng dụng phần mềm mã nguồn mở trong giáo dục và đào tạo đó là khả năng tiết kiệm và khả năng học hỏi từ mã nguồn, sáng tạo Một số yếu tố khác cũng có thể chú ý như độ tin cậy, hiệu suất, tránh sao chép bất hợp pháp, khả năng bản địa hoá (Tan Wooi Tong, 2004)
Đối với đào tạo nhân lực công nghệ thông tin, các đối tượng tham gia (bao gồm cả người học, người dạy và đội ngũ hỗ trợ) cần được liên tục nâng cao kiến thức và kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin Tham gia sử dụng, điều chỉnh, phát triển các phần mềm mã nguồn mở, vì vậy, có thể trở thành một công việc có ích cho đào tạo nhân lực công nghệ thông tin
1.2.2 Quản lý giáo dục tiểu học
Trang 21mô và loại hình tổ chức người; từ một gia đình cho đến cấp quốc gia, quốc tế,
từ các tổ chức kinh tế; văn hóa, giáo dục, khoa học v.v… đến bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào của con người, nếu không được quản lý sẽ dẫn tới tình trạng tự phát, hỗn loạn, kém hiệu quả
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì “quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động Nói chung là khách thể quản lý nhằm đạt được những mục tiêu dự kiện”
Với các tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ thì “quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức”
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
Tác giả Đặng Quốc Bảo có một định nghĩa khác về quản lý khi cho rằng “Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung”
Trong khi đó, tác giả Trần Kiểm lại định nghĩa rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu bằng cách vận hành các hoạt động chức năng như : kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo hoặc lãnh đạo và kiểm tra”
GS Hà Thế Ngữ và GS Đặng Vũ Hoạt nói: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”[]
Trang 22GS Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm đã đưa ra định nghĩa: “Quản
lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động”
Qua các định nghĩa trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý có những đặc trưng sau :
- Quản lý bao gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của tổ chức
- Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các họat động của cấp dưới, của những người dưới quyền
- Quản lý là thực hiện mục tiêu của tổ chức thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (con người, tài chính, vật chất) v.v…
- Quản lý phải bao gồm hai yếu tố cơ bản là chủ thể và khách thể quản
lý
- Quản lý bao giờ cũng là những tác động hướng đích Đó là những tác động được thực hiện một cách có ý thức nhằm tổ chức, điều khiển, hướng dẫn đối với đối tượng nhận tác động Dưới những tác động này các đối tượng sẽ biến đổi theo các mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định
- Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống Quản lý là một hệ thống Điều đó có nghĩa là quản lý phải có một cấu trúc và vận động trong một môi trường xác định
Từ những phân tích ở trên chúng ta có thể hiểu : Quản lý là một quá trình tác động có thể có, dựa trên các thông tin về các tình trạng của đối tượng
và môi trường, nhằm giữ vững cho sự vận hành của đối tượng được ổn định
và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định
1.2.2.2 Các chức năng của hoạt động quản lý
Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ cơ bản không thể thiếu được của chủ thể quản lý Theo các tác giả Trần Hữu Cát và Đoàn Minh Duệ
Trang 23thì “Chức năng quản lý là loại hình đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hóa quá trình quản lý”
Hoạt động quản lý luôn gắn với một tổ chức, một hệ thống và gắn chặt với quá trình lao động tập thể và kết quả của sự phân công lao động xã hội Trong quá trình hoạt động điều hành các hoạt động kinh tế - xã hội, các chức năng quản lý đóng vai trò then chốt Việc phân định các chức năng quản lý là nhu cầu khách quan xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của quá trình sản xuất,
từ sự phân công chuyên môn lao động
Chức năng quản lý về cơ bản bao gồm 4 chức năng sau đây:
- Lập kế hoạch : là một chức năng quan trọng của quá trình quản lý Lập kế hoạch có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đạt được trong tương lai của tổ chức và chỉ rõ các con đường, biện pháp, cách thức để đưa tổ chức đạt được các mục tiêu đã đề ra Có ba nội dung chủ yếu của chức năng lập kế hoạch :
+ Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức
+ Xác định và bảo đảm về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó
- Tổ chức : là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức
Như vậy, tổ chức ở đây được hiểu là sự bố trí, sắp xếp, điều phối một cách khoa học các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) có trong tổ chức nhằm đưa các nội dung có trong kế hoạch trở thành hiện thực Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn
Trang 24lực Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có kết quả và đạt hiệu quả cao Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của các bộ phận đó Vì thế, chức năng tổ chức được coi là chức năng quan trọng nhất
- Lãnh đạo (chỉ đạo) : là quá trình định hướng dài hạn cho chuỗi các tác động của chủ thể quản lý; lãnh đạo là quản lý những mục tiêu rộng lớn, xa hơn, khái quát hơn Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì cần phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Lãnh đạo (chỉ đạo) là chức năng điều hành, liên kết, huy động các nguồn lực để biến kế hoạch thành hiện thực, biến mục tiêu đã định thành kết quả cụ thể Trên thực tế lãnh đạo, chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên
hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia
- Kiểm tra : là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm, hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành các hoạt động sữa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn Kiểm tra là một chức năng quản lý quan trọng, không kiểm tra có thể coi như không quản lý Kiểm tra định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện thấy những vấn đề tồn tại, chưa phù hợp của các khâu kế hoạch, tổ chức lãnh đạo - chỉ đạo để kịp thời có những bổ sung, chỉnh
lý cho phù hợp Đó cũng chính là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tình chu
kỳ như sau :
Trang 25+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra
+ Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch
+ Người quản lý hiệu chỉnh lại, sửa lại chuẩn mực nếu cần
Việc thực hiện các chức năng quản lý là việc làm thường xuyên của người quản lý, giúp người quản lý hoàn thành tốt nhiệm vụ, đưa lại hiệu quả cao, phát huy được nội lực Đây là các chức năng mà mỗi người quản lý ở mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa - giáo dục v.v…đều phải tuân thủ thực hiện Ngoài các chức năng trên, chức năng thông tin có mặt trong tất cả giai đoạn của quá trình quản lý và là điều kiện cho hoạt động quản lý ở mỗi giai đoạn đó
Tóm lại quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người
và với con người Đặc biệt trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, hoạt động quản lý có vai trò rất quan trọng Nếu hoạt động quản lý tốt sẽ thúc đẩy sản xuất, nâng cao lợi nhuận đồng thời cũng góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người, tạo điều kiện cho tư duy sáng tạo phát triển
về mọi phương diện Nếu hoạt động quản lý tồi sẽ hạn chế, ngăn cản sự phát triển kinh tế, xã hội dẫn đến tình trạng làm nghèo đi và làm chậm lại sự phát triển của đất nước, lãng phí sức người và của cải vật chất của tồn xã hội
1.2.2.3 Quản lý giáo dục
Theo P.V.Khuđôminxki thì quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ giáo dục đến nhà trường), nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ Khi nói đến giáo dục
Trang 26phải nhận thức hệ thống giáo dục là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống xã hội Hệ thống giáo dục chính là hệ thống giáo dục quốc dân, quản lý giáo dục chính là quản lý bộ phận này của xã hội
Khi nghiên cứu về quản lý giáo dục, GS Nguyễn Ngọc Quang đã phát biểu: “Quản lý giáo dục và quản lý hệ thống giáo dục là những khái niệm thống nhất Nếu hệ thống giáo dục bao gồm toàn ngành giáo dục cả nước thì
ta có quản lý ngành giáo dục với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, nếu hệ thống giáo dục gồm các tổ chức giáo dục ở một địa bàn lãnh thổ thì ta sẽ có: Quản lý giáo dục cấp tỉnh và Quản lý giáo dục cấp huyện”
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước và xã hội, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào (từ cơ sở đến trung ương) Nói cách khác, trường vừa là thành
tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý nói trên, lại là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa mang tính chất nhà trường, vừa mang tính chất xã hội Về thực chất, quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp đều phải nhằm mục đích tạo điều kiện tối ưu cho sự vận hành thuận lợi của trường học Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục, đó là : Thể chế Nhà nước – Cơ chế kinh tế – Trình độ phát triển kinh tế xã hội và Tryền thống Văn hóa xã hội
GS Nguyễn Ngọc Quang đã nhận xét: “Quản lý giáo dục nói chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đạt tới dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Trang 27Tóm lại quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội Đã có nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục, song chúng ta có thể khái quát như sau :
- Quản lý giáo dục là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển hoạt động của khách thể quản lý, thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra
- Quản lý giáo dục từ cấp vi mô đến tầng vĩ mô đều hướng tới việc sử dụng có hiệu quả những nguồn lực (đầu vào) dành cho giáo dục để đạt được những kết quả (đầu ra) có chất lượng cao
- Quản lý giáo dục có thể được hiểu là hoạt động quản lý những tác động giáo dục và đào tạo, theo những mục tiêu xác định
Về QL nhà trường, GS Phạm Minh Hạc đã đưa ra định nghĩa: “QL nhà trường là thực hiện đường lối GD của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí GD, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành GD, với thế hệ trẻ và từng HS”
Trên cơ sở quan niệm QL trường học ta thấy : QL trường phổ thông là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể QL đến tập thể giáo viên, học sinh
và các bộ phận khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư cũng như do các lực lượng XH đóng góp, hoặc vốn tự có của nhà trường, hướng vào việc đẩy mạnh hoạt động của nhà trường mà tiêu điểm hội tụ là
Trang 28quá trình đào tạo, GD thế hệ trẻ Tất cả nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới
Cốt lõi của QL nhà trường là quá trình dạy học và GD Bản chất quá trình dạy học quyết định tính đặc thù của QL nhà trường Dạy học và GD trong sự thống nhất là trung tâm của nhà trường Mỗi hoạt động đa dạng và phức tạp của nhà trường đều hướng vào đó
Như vậy, QL nhà trường thực chất là quản lí quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập và tự GD của trò diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học Tuy nhiên, do tính chất QL nhà trường vừa mang tính Nhà nước, vừa mang tính XH nên trong QL nhà trường còn bao hàm QL đội ngũ, CSVC, tài chính, hành chính, quản trị…và QL các hoạt động kết hợp với các lực lượng XH để thực hiện mục tiêu GD
1.2.2.5 Quản lý nhà trường tiểu học
“Trường TH là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống GD quốc dân, có
tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”
Trường TH vừa là một thiết chế XH trong QL quá trình đào tạo trung tâm, vừa là một bộ phận của cộng đồng trong guồng máy GD quốc dân Hoạt động QL của trường TH thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động QL, mang tính XH, tính khoa học, tính kỹ thuật và nghệ thuật của hoạt động QL
QL trường học nói chung và QL trường TH nói riêng là tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình dạy học của thầy và hoạt động học của trò, đồng thời QL những điều kiện CSVC và công việc phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích của GD-ĐT
QL nhà trường nói chung và QL trường TH nói riêng thường chịu tác động ảnh hưởng bởi hai loại tác động:
- Tác động của chủ thể QL bên trên và bên ngoài nhà trường:
Trang 29QL nhà trường TH là những tác động QL của cơ quan GD cấp trên nhằm hướng dẫn, tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, GD của nhà trường
QL nhà trường TH cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng GD nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó
Mỗi trường TH chịu sự quản lý trực tiếp về chuyên môn, hành chính của Phòng GD&ĐT và cơ quan QLNN ở địa phương nơi trường đóng
- Tác động của những chủ thể bên trong nhà trường :
QL ở trường TH do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động cơ bản như :
+ Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên;
+ Quản lý học sinh;
+ Quản lý quá trình dạy học- giáo dục;
+ Quản lý CSVC, trang TBDH;
+ Quản lý công tác hành chính;
+ Quản lý công tác tài chính;
+ Quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với cộng đồng
- Nhiệm vụ và quyền hạn của trường TH được ghi rõ trong Điều lệ trường TH được ban hành kèm theo Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày
30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo :
“1 Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
Trang 302 Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ
em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ
em trong địa bàn trường được phân công phụ trách
3 Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương
4 Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục
5 Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
6 Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật
7 Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục
8 Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng
9 Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.”
1.3 Đặc trưng của thời đại CNTT
1.3.1 Vai trò của CNTT với Giáo dục – Đào tạo
Trong xu thế hội nhập với thế giới của Việt Nam, mọi thành phần, tổ chức, ngành nghề trong nước cũng không đi ra ngoài xu hướng đó Lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục phổ thông, cũng không phải là ngoại
lệ Điều quan trọng trong quá trình hội nhập này là bản thân chúng ta luôn cập nhật được những tiến bộ trong cách dạy, cách học và phương thức quản lý
Trang 31giáo dục tiên tiến trên thế giới Bên cạnh đó, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của đơn vị mà các nhà quản lý giáo dục áp dụng cho đơn vị, tổ chức của mình
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của xu hướng giáo dục hiện đại
là sự thay đổi trong mô hình giáo dục Trong triết lý giáo dục mới này, học sinh là trung tâm của mô hình giáo dục thay cho giáo viên như trong mô hình truyền thống của giáo dục Việt Nam Điều này có lẽ là sự thay đổi căn bản trong nhận thức đối với nền giáo dục Á Đông – nơi đề cao vị trí của người thầy Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập, hiệu quả vận hành của một tổ chức hay cá nhân được đánh giá dựa trên kết quả, chất lượng thì việc thay đổi tư duy giáo dục này là hợp lý, vì học sinh là sản phẩm của trường học, chất lượng học sinh chính là thước đo, tiêu chí đánh giá căn bản nhất đối với sự vận hành của đơn vị, tổ chức
Với xu thế thay đổi mô hình giáo dục như trên, trường học phải thay đổi môi trường giáo dục Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng tạo cho học sinh Một môi trường giáo dục hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi học sinh; trong khi giáo viên chỉ hướng dẫn kỹ năng, phương pháp giải quyết công việc Kỹ năng giải quyết công việc và xử
lý thông tin chính là cốt lõi của phương thức giáo dục này Để hiện thực hóa những giá trị cốt lõi trên, công nghệ thông tin (CNTT) là một công cụ hữu hiệu
Với sự thay đổi căn bản về mô hình giáo dục trong trường học ở trên, vai trò của CNTT trở nên đặc biệt quan trọng CNTT là công cụ cần thiết, phục vụ hiệu quả các qui trình quản lý trong trường học Đặc điểm nổi trội nhất là thông qua dữ liệu, thông tin được lưu trữ, xử lý, các tiêu chí trong quản lý nhà trường đang dịch chuyển từ định tính sang định lượng Bên cạnh
đó, với bản chất của CNTT, sự minh bạch hóa và chia sẻ thông tin, dữ liệu
Trang 32giữa các thành viên cũng như tốc độ xử lý thông tin của máy tính sẽ làm tăng hiệu quả vận hành, quản lý nhà trường Các Hiệu trưởng như vậy cần có ý thức về ứng dụng CNTT trong nhà trường
1.3.2 Lợi thế của quản lý giáo dục bằng CNTT
- CNTT làm cho quá trình quản lý học sinh được rõ ràng, chính xác : Chương trình quản lý học sinh giúp cho các thông tin về học sinh luôn được xử lý một cách tự động Những thông tin về quá trình phấn đấu của học sinh giúp cho Hiệu trưởng điều chỉnh cách thức quản lý để đạt mục đích của đơn vị đề ra
CNTT làm cho những thông tin về quá trình học tập và phấn đấu của học sinh được công khai hóa làm cho gia đình, xã hội được biết những nhận xét đánh giá của nhà trường đối với học sinh Việc công khai các thông tin đó làm cho học sinh có động lực học tập hơn, làm cho học sinh có ý thức học tập cao hơn CNTT và mạng Internet thực hiện việc công khai hóa những thông tin đó một cách rất nhanh chóng, dễ dàng, hiệu quả Người sử dụng chỉ cần kích chuột là có thể có được thông tin về kết quả học tập của mình, người nhà của mình
- CNTT giúp quản lý hoạt động dạy của giáo viên nhanh chóng, kịp thời :
Máy tính là một công cụ chủ yếu trong CNTT, máy tính thực hiện những phép tính toán rất nhanh và chính xác Công nghệ truyền thông đã dần tiến tới trình độ hoàn thiện ở mức độ cao nên thông tin được truyền đi nhanh chóng, rộng khắp Nhờ CNTT, thông tin quản lý được truyền đến Hiệu trưởng hầu như tức thì, trực tiếp, không thông qua khâu trung gian nên Hiệu trưởng nắm bắt được thông tin một cách nhanh chóng, chân thực Từ nguồn thông tin
đó, Hiệu trưởng có thể xử lý thông tin quản lý kịp thời và chính xác
Trang 33CNTT làm cho những quyết định quản lý sát với thực tế đang diễn ra, làm cho quyết định quản lý có hiệu quả hơn Do xã hội luôn luôn thay đổi nên trạng thái của đơn vị biến đổi không ngừng Các quyết định quản lý cũng vì vậy mà không đồng nhất như nhau trong thời điểm khác nhau Tốc độ thay đổi của xã hội hiện đại càng nhanh càng yêu cầu người Hiệu trưởng phải cân nhắc tức thời để ra được quyết định quản lý phù hợp với tình hình thực tế CNTT giúp cho việc cân nhắc các điều kiện thực tế một cách nhanh chóng, đặc biệt là việc tính toán các đại lượng có thể đo đếm được Khả năng tính toán của CNTT có thể là một cơ sở để hỗ trợ cho các nhà quản lý ra quyết định một cách đúng đắn một cách nhanh nhất, dành nhiều thời gian hơn vào công việc khác
- Ứng dụng CNTT trong khâu lập kế hoạch :
Hoạt động lập kế hoạch là hoạt động căn cứ thực trạng ban đầu của nhà trường, bao gồm xác định mục tiêu, mục đích của nhà trường trong từng giai đoạn, thời kỳ và từ đó định ra biện pháp hay cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó CNTT giúp Hiệu trưởng tính toán, ước lượng, thu thập thông tin làm cho kế hoạch của nhà trường sát với mục tiêu của nhà trường, phù hợp với môi trường của nhà trường hơn Việc lập kế hoạch sát với mục tiêu, phù hợp với trạng thái của nhà trường giúp cho Hiệu trưởng chủ động hơn trong việc thực hiện kế hoạch, chủ động đối phó, thích ứng vơi sự thay đổi của môi trường giáo dục
- Ứng dụng CNTT trong khâu tổ chức :
Tổ chức là sự hình thành nên cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong nhà trường với nhau mà nhờ cấu trúc đó, Hiệu trưởng tác động lên đối tượng quản lý một cách hiệu quả nhất nhằm thực hiện thành công kế hoạch, tức là đạt được mục tiêu, mục đích mà kế hoạch đã đặt
ra Khâu tổ chức cần thông tin chính xác, rõ ràng, chân thực CNTT giúp Hiệu
Trang 34trưởng trong việc thu thập thông tin nhanh, rõ ràng, chính xác, chân thực Những thông tin này giúp cho công tác tổ chức trong quản lý giáo dục của Hiệu trưởng được chính xác, có hiệu quả
- Ứng dụng CNTT trong khâu chỉ đạo:
Chỉ đạo là hoạt động điều khiển hệ thống, làm cho hệ thống tiến đến mục tiêu đề ra Hiệu trưởng cần nắm được thực trạng của hệ thống đang có vấn đề gì? Các cấp quản lý ý thức như thế nào về vấn đề đó? Để giải quyết vấn đề thì cần những nguồn lực nào? Hiện trạng hệ thống đã có những nguồn lực nào, đã đủ điều kiện để giải quyết vấn đề chưa? Khâu này cần nhiều thông tin có tính khách quan, trung thực, chính xác, rõ ràng Thông tin thu được còn phải được xử lý qua các khâu ước lượng, kiểm định Thông tin làm cho Hiệu trưởng nắm được hiện trạng của đơn vị, nắm được vị trí của đơn vị trong quá trình thực hiện mục tiêu, mục đích đề ra Việc nắm những thông tin một cách đầy đủ, trung thực giúp cho Hiệu trưởng ra được những quyết định sáng suốt, đúng đắn, phù hợp với trạng thái của nhà trường, giúp nhà trường đạt đến mục tiêu với một chi phí thấp
- Ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá :
Kiểm tra là hoạt động nhằm thẩm đinh, xác định trạng thái của hệ thống, của nhà trường Như vậy, kiểm tra là thu thập, ghi chép các thông tin
về hệ thống và so sánh các thông tin này với một thước đo nhằm xác định xem hệ thống đang ở vị trí nào trong quá trình thực hiện mục tiêu Kiểm tra
có hai quá trình: thiết lập hệ thống thang đo và thu thập các thông tin về trạng thái hệ thống, so sánh nó với thang đo đề ra CNTT là một ngành rất thuận lợi cho phép triển khai kỹ thuật trắc nghiệm khách quan Kỹ thuật kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan cho phép Hiệu trưởng tăng cường kiểm tra một cách sâu sát hơn, mở rộng hơn Hiệu trưởng có thể thực hiện kiểm tra trắc nghiệm khách quan đến từng học sinh Công nghệ Internet cho phép học sinh
Trang 35có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của bản thân Làm cho học sinh
tự thẩm định chính mình, chuyển dần quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Việc kiểm tra để nắm bắt trạng thái của hệ thống rất quan trọng Kiểm tra cho phép đánh giá mức độ, chất lượng các công việc mà nhà trường đã thực hiện trong quá trình thực hiện mục tiêu để có những điều chỉnh kịp thời, làm cho nhà trường thực hiện mục tiêu đề ra một cách tối ưu nhất
Ứng dụng CNTT trong kiểm tra giúp cho các thông tin thu được chính xác, chân thực, nhanh chóng làm cho kết quả kiểm tra phản ánh đúng trạng thái của hệ thống Thông tin về trạng thái đúng đắn, rõ ràng, nhanh chóng giúp cho Hiệu trưởng có điều kiện tăng cường hoạt động kiểm tra, giúp cho Hiệu trưởng nhanh chóng nắm bắt được những biến đổi của hệ thống, có được các quyết định điều chỉnh kịp thời, làm cho hiệu quả công tác quản lý được nâng cao
1.4 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về ứng dụng CNTT trong quản lý
1.4.1 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về ứng dụng CNTT trong quản lý
Cuộc cách mạng CNTT cùng với quá trình toàn cầu hóa đã và đang tác động mạnh mẽ, toàn diện đồng thời tạo cơ hội cho những chuyển biến căn bản tích cực đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trên toàn thế giới Nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã nắm bắt được cơ hội ứng dụng CNTT, phát huy thế mạnh, tăng cường năng lực kinh tế xã hội tạo nên những bước chuyển biến góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển
Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000, về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ thị đã khẳng định: “Công nghệ thông
Trang 36tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một
số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp,
hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Năm 2005 khi Đảng ta đề ra chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cũng đã xác định: Phát triển CNTT là một trong những giải pháp
để hiện đại hóa nền hành chính và là công cụ quan trọng trong việc thực hiện cải cách hành chính Với mong muốn tạo nên sự công bằng, minh bạch và hiệu quả, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính còn được xác định là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giảm phiền hà cho người dân, doanh nghiệp
Năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước Nghị định này là sự thể chế hóa chủ trương của Đảng, nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của Chính phủ, phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp; nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp; thúc đẩy phát triển kinh tế góp phần quan trọng vào sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thủ tướng Chính phủ qua Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 cũng đã phê duyệt chương trình Quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động
Trang 37của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 – 2015, trong đó, mục tiêu đến năm
2015 là :
- Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong hoạt động nội bộ của các
cơ quan nhà nước, hướng tới nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí hoạt động
- Cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng cho người dân và doanh nghiệp, làm cho hoạt động của cơ quan nhà nước minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn
Và định hướng đến năm 2020 của việc ứng dụng CNTT là :
- Tích hợp các hệ thống thông tin, tạo lập được môi trường mạng rộng khắp phục vụ đa số các hoạt động của các cơ quan nhà nước Hầu hết các giao dịch của các cơ quan nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau
- Hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau
Quyết định cũng nêu rõ hai nội dung :
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan nhà nước :
+ Nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý văn bản và điều hành của các cấp
+ Phát triển hệ thống quản lý thông tin tổng thể
+ Xây dựng mới, nâng cấp và hoàn thiện các ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động nghiệp vụ, đáp ứng nhu cầu công tác tại mỗi cơ quan
Trang 38+ Nâng cấp, hoàn thiện các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin khác trong công tác nội bộ theo hướng hiệu quả hơn, mở rộng kết nối
- Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp
+ Cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 Cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện
hồ sơ theo yêu cầu và được thông báo tình trạng xử lý các thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước qua mạng
+ Cung cấp hầu hết các dịch vụ công cơ bản trực tuyến tối thiểu mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp Cho phép người sử dụng điền
và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch
vụ Danh mục nhóm các dịch vụ công trực tuyến được ưu tiên cung cấp tối thiểu ở mức độ 3 tại các tỉnh, thành phố được nêu trong Phụ lục I, tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ được nêu trong Phụ lục II Danh mục nhóm các dịch vụ này có thể được cập nhật, thay đổi hàng năm phù hợp thực tế triển khai trên cơ sở đề nghị của các cơ quan chủ trì thực hiện
+ Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả, toàn diện tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông theo hướng: Bảo đảm khả năng kết nối giữa các hệ thống thông tin tại bộ phận một cửa với cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, tạo điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân và doanh nghiệp qua mạng Internet; bảo đảm tính liên thông giữa các đơn vị trong quy trình xử lý thủ tục; bảo đảm tin học hóa tối đa các hoạt động trong quy trình thủ tục hành chính
+ Xây dựng các hệ thống thông tin thiết yếu cho công tác ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp tại các địa phương, đặc biệt là các hệ thống thông tin về dân cư, tài nguyên và
Trang 39môi trường Căn cứ nhu cầu quản lý thực tế, xây dựng các hệ thống thông tin quy mô quốc gia trên cơ sở kết nối, tổng hợp thông tin từ địa phương các cấp
+ Tăng cường sự tham gia của người dân và doanh nghiệp trong hoạt động của cơ quan nhà nước bằng cách nâng cao hiệu quả kênh tiếp nhận ý kiến góp ý của người dân trên môi trường mạng, tổ chức đối thoại trực tuyến, chuyên mục hỏi đáp trực tuyến về hoạt động của các
cơ quan nhà nước
1.4.2 Chủ trương của ngành giáo dục về ứng dụng CNTT trong quản lý giáo dục
Quán triệt tinh thần công tác ứng dụng CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT là công tác thường xuyên và lâu dài của ngành giáo dục Thủ tướng Chính phủ cũng như Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về việc ứng dụng CNTT trong giáo dục như :
- Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 Chỉ thị nêu rõ : Công nghệ thông tin là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục Phát triển nguồn nhân lực CNTT và ứng dụng CNTT trong giáo dục
là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển CNTT của đất nước
- Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 6 tháng 11 năm 2009 về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước;
Trang 40- Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục;
- Thống nhất sử dụng bộ mã tiếng Việt unicode TCVN 6909:2002; Chấm dứt việc sử dụng các phần mềm quản lý giáo dục, phần mềm quản lý thi chứa các phông chữ ABC
- Thông báo số 679/TB-BGDĐT ngày 25/1/2008 của Bộ GD&ĐT chỉ
rõ : Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ trọng tâm, rất quan trọng, rất có ý nghĩa và sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động CNTT trong các cơ sở giáo dục và đào tạo… Cần xác định rõ mục tiêu, nội dung hoạt động, trúng các yêu cầu,
có sự chỉ đạo chặt chẽ, có lộ trình cụ thể cho từng bậc học và phải có giải pháp thực hiện rõ ràng Phải xác định được các tiêu chuẩn, tiêu chí để phấn đấu và đánh giá… Cần có kế hoạch phối hợp với doanh nghiệp để xã hội hoá, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT cho khối phổ thông Cần rà soát
và có kế hoạch xoá điểm trắng, vùng lõm về Internet, CNTT (là những nơi đang còn rất yếu kém về ứng dụng CNTT trong ngành), cho từng cấp học, từng đối tượng, dứt điểm việc kết nối Internet ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo Thúc đẩy các hoạt động ứng dụng CNTT trong việc đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả giảng dạy Triển khai các phần mềm quản
lí trường phổ thông và đại học Xây dựng và nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu ngành
Và trong văn bản số 4937/BGDĐT-CNTT ngày 18/8/2010, Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong điều hành và quản lý giáo dục với một số nội dung cụ thể như :
+ Triển khai tin học hoá quản lý trong trường học theo hướng áp dụng các hệ thống phần mềm quản lý trực tuyến (online) Theo hướng
đó, các trường sẽ không phải lo đầu tư server, bảo trì và nâng cấp hệ thống, không phải lo tìm kiếm chuyên viên chuyên trách CNTT để vận