1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an

135 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa danh không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ mà còn của nhiều ngành khoa học khác như lịch sử, địa lý, văn hóa,… Mỗi địa danh đều được hình thành trong một hoàn cảnh văn hóa,

Trang 2

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với GS.TS Nguyễn Nhã Bản,

người đã nhiệt tình, tận tâm và chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Vinh cùng các thầy, cô giáo đã tận tình chỉ bảo

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè và người thân, những người đã cùng sẻ chia, giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Phan Thị Huệ

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 8

7 Bố cục của luận văn 9

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA DANH CON CUÔNG 10

1.1 Cơ sở lý thuyết về địa danh 10

1.1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học 10

1.1.2 Phân loại địa danh 14

1.2 Khái quát địa lý, lịch sử, văn hóa, dân cư, ngôn ngữ và vấn đề địa danh Con Cuông 19

1.2.1 Địa lý tự nhiên, địa lý hành chính và bản sắc văn hóa 19

1.2.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh Con Cuông 24

TIỂU KẾT 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA DANH CON CUÔNG 33

2.1 Mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông 33

2.1.1 Khái niệm chung về mô hình cấu trúc phức thể địa danh 33

2.1.2 Mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông 34

2.2 Thành tố chung trong cấu trúc địa danh Con Cuông 35

2.2.1 Số lượng các thành tố chung 35

2.2.2 Cấu tạo của thành tố chung 38

Trang 4

2.3.1 Số lượng tên riêng trong địa danh Con Cuông 45

2.3.2 Đặc điểm cấu tạo của tên riêng trong địa danh Con Cuông 49

2.3.3 Các phương thức định danh của tên riêng trong địa danh Con Cuông 54

TIỂU KẾT 60

Chương 3 ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA ĐỊA DANH CON CUÔNG 61

3.1 Vấn đề ý nghĩa được phản ánh qua địa danh 61

3.2 Các nhóm ý nghĩa được phản ánh qua địa danh Con Cuông 63

3.2.1 Nhóm ý nghĩa gắn với bản thân đối tượng định danh 63

3.2.2 Nhóm ý nghĩa gắn với các đối tượng khác có liên quan đến đối tượng được định danh 66

3.2.3 Nhóm ý nghĩa gắn với đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất của cư dân nơi đối tượng được định danh 68

3.2.4 Nhóm ý nghĩa gắn với tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, ước muốn của người dân địa phương 69

3.2.5 Nhóm ý nghĩa gắn với lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng và đời sống tâm linh của người dân địa phương 70

3.3 Bức tranh tổng thể về huyện Con Cuông qua ý nghĩa của các địa danh 70

3.3.1 Địa hình 70

3.3.2 Dân cư 71

3.3.3 Bản sắc văn hóa 72

3.4 Ý nghĩa lịch sử, văn hóa của một số địa danh ở Con Cuông 74

3.4.1 Thành Trà Lân 74

3.4.2 Bia Ma Nhai 75

Trang 5

3.4.5 Núi Trầm Hương 78

3.4.6 Hang Thắm Nàng Màn 79

3.4.7 Suối Tạ Bó (còn gọi là suối Nước Mọc) 80

3.4.8 "Cơm Mường Quạ, cá sông Giăng" 81

TIỂU KẾT 83

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 92

Trang 6

Bảng:

Bảng 1 Kết quả thu thập địa danh huyện Con Cuông 25

Bảng 2 Bảng thống kê và phân loại địa danh Con Cuông theo tiêu chí loại hình 27

Bảng 3 Bảng thống kê và phân loại địa danh Con Cuông theo tiêu chí ngữ nguyên 31

Bảng 4 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh 34

Bảng 5 Mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông 35

Bảng 6 Thống kê, phân loại thành tố chung theo loại hình 37

Bảng 7 Thống kê cấu tạo các thành tố chung 39

Bảng 8 Thống kê xu hướng chuyển hóa thành tố chung vào tên riêng 41

Bảng 9 Thống kê tỉ lệ chuyển hóa của thành tố chung 42

Bảng 10 Tổng hợp số lượng tên riêng theo số lượng âm tiết 46

Bảng 11 Tổng hợp số lượng tên riêng theo ngữ nguyên 48

Biểu đồ: Biểu đồ 1 Vị trí của Địa danh học trong Ngôn ngữ học 13

Biểu đồ 2 Số lượng địa danh theo loại hình 25

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Địa danh là một đơn vị từ ngữ có chức năng định danh sự vật, do

đó trước hết đây là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học Cùng với Tộc danh và Nhân danh, Địa danh là một bộ phận của khoa Danh học - một phần của khoa học ngôn ngữ Việc nghiên cứu địa danh nói chung, các địa danh của một địa phương nói riêng, sẽ giúp chúng ta hiểu được quá trình hình thành, phát triển ngôn ngữ của một dân tộc nói chung, phương ngữ ở một vùng miền nói riêng Hơn nữa, trong hoàn cảnh một vùng đất có nhiều cộng đồng ngôn ngữ khác nhau cùng nhau hoặc nối tiếp nhau sinh sống, địa danh là một kho dữ liệu từ vựng phong phú, lưu trữ dấu tích của sự giao thoa của các ngôn ngữ nơi đó

1.2 Địa danh có những nguyên tắc riêng trong cấu tạo, trong cách gọi

tên Địa danh là những đơn vị được cấu tạo từ chất liệu ngôn ngữ giống như

từ nhưng lại có ưu thế hơn từ về nội dung ngữ nghĩa, sắc thái biểu đạt, biểu cảm và sự tồn tại lâu bền của chúng trong lòng cộng đồng dân cư kể cả khi chúng bị thay đổi hay biến mất Như vậy, nghiên cứu địa danh còn góp phần soi sáng nhiều mặt cho các ngành khác của khoa học ngôn ngữ như ngữ âm,

từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa,…

1.3 Địa danh không chỉ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ mà còn

của nhiều ngành khoa học khác như lịch sử, địa lý, văn hóa,… Mỗi địa danh đều được hình thành trong một hoàn cảnh văn hóa, lịch sử nhất định, gắn với những chủ thể nhất định và còn lưu dấu mãi về sau Qua địa danh ta có thể tìm thấy được quá trình lịch sử - xã hội của một vùng đất, của một dân tộc, thấy được đặc trưng văn hóa, cuộc sống sinh hoạt, phong tục tập quán, tâm lý, tín ngưỡng của con người nơi địa bàn tạo ra nó Có thể nói địa danh là những

“trầm tích”, là những “đài kỷ niệm bằng ngôn ngữ” độc đáo, lưu giữ các

Trang 8

thông tin văn hóa về thời đại mà nó chào đời Nghiên cứu địa danh sẽ góp phần nghiên cứu lịch sử, địa lý và văn hóa của một vùng lãnh thổ - một trong những vấn đề đang được quan tâm hiện nay

1.4 Con Cuông là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Nghệ

An, là một vùng đất có truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời Theo các nhà khảo cổ học, con người đã có mặt ở Con Cuông hơn một vạn năm trước Địa hình đa dạng: sông, suối, đồi, núi, lèn đá, thung lũng,… và là mảnh đất cư trú của nhiều cộng đồng người dân tộc thiểu số như: Thái, Đan Lai, Thổ, Hoa, Nùng, Khơ mú… Huyện Con Cuông cũng là địa phương có những đặc điểm

về ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa khá tương đồng với nhiều địa phương khác thuộc miền núi phía Tây của vùng Bắc Trung bộ bao gồm Thanh Hóa, Nghệ

An và Hà Tĩnh Nghiên cứu địa danh huyện Con Cuông không chỉ góp phần vào việc tìm hiểu đặc điểm trong cách đặt tên của một vùng địa lý dân cư mà còn làm sáng tỏ thêm quá trình phát triển của tiếng Việt cũng như sự giao thoa ngôn ngữ - văn hóa giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ của các dân tộc khác cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và của vùng miền núi phía Tây Thanh - Nghệ - Tĩnh nói riêng

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Trên thế giới

Con người bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu địa danh từ rất sớm

Có thể kể đến các cuốn sách từ giai đoạn đầu công nguyên như: Địa lý học (Geographia) của Claudius Ptolemy (Hy Lạp, 90 - 168) đã miêu tả hơn 3000 dịa danh, Hán Thư của Ban Cố (đời Đông Hán, 32 - 92) có 4000 địa danh,

Thủy Kinh Chú Sớ của Lịch Đạo Nguyên (đời Bắc Ngụy, 380 - 535) đã ghi

chép được trên 2 vạn địa danh Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu địa danh ở giai đoạn này hầu như mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầm địa danh Phải đến cuối thế

Trang 9

kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho đến nay thì địa danh mới thực sự được nghiên cứu sâu rộng, với tư cách là một ngành khoa học - địa danh học

Ở châu Âu, bộ môn Địa danh học chính thức được ra đời từ cuối thế kỷ

XIX đầu thế kỷ XX với các công trình nghiên cứu: Địa danh học của J.J.Eghi (Thụy Sỹ) năm 1872, Địa danh học của J.W.Nagh (Áo) năm 1903, Nguồn gốc

và sự phát triển địa danh của A.Dauzat (Pháp) năm 1926,… Trong thời kỳ đầu

này, các nhà địa danh học chủ yếu tập trung khảo cứu nguồn gốc địa danh

Cùng với sự hình thành của bộ môn Địa danh học là sự ra đời của các

Ủy ban địa danh, thể hiện sự quan tâm của Chính phủ các nước đối với bộ môn khoa học mới mẻ này như: Ủy ban địa danh nước Mỹ (1890), Ủy ban địa danh Thụy Điển (1902), Ủy ban địa danh nước Anh (1919),…

Tuy nhiên, phải từ năm 1960 trở về sau thì địa danh mới thực sự được nghiên cứu dưới góc độ ngôn ngữ học Đi đầu và đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu là các công trình của các học giả Xô-Viết (trước đây) như:

Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học (E.M.Murzaev, 1964), Dẫn luận địa danh học (V.A Nhikonov, 1965), Từ điển địa danh bỏ túi (V.A

Nhikonov), Địa danh học là gì (A.V.Superanskaia, 1984),

Như vậy, địa danh đã được nhân loại quan tâm, nghiên cứu từ xa xưa

và liên tục phát triển cho đến nay thành một bộ môn khoa học thực thụ, có mối quan hệ mật thiết với nhiều ngành khoa học khác như lịch sử, địa lý, dân tộc học,… Địa danh ngày càng thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, góp phần minh chứng sự phong phú, đa dạng của địa danh cũng như những vấn đề nghiên cứu trong lĩnh vực này Những thành tựu nghiên cứu về địa danh trên thế giới đã góp phần thúc đẩy và tác động sâu sắc đến việc nghiên cứu địa danh ở nước ta

2.2 Ở trong nước

Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu địa danh cũng đã có từ lâu, nhưng trước đây chỉ mới đề cập đến góc độ địa lý - lịch sử, địa chí,… nhằm tìm hiểu

Trang 10

đất nước, con người Trước hết, địa danh được đề cập đến trong các cuốn sách

lịch sử hay văn học như Việt sử lược (khuyết danh), Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sỹ Liên và một số tác giả), Đại Nam thực lục (triều Nguyễn), Khâm

Định Việt sử thông giám cương mục (triều Nguyễn) Tiếp đến, địa danh được

phản ánh trong các cuốn địa chí như Dư địa chí (Nguyễn Trãi, 1435), Phủ

biên tạp lục (Lê Quý Đôn, 1776), Lịch triều hiến chương loại chí (Phan Huy

Chú, 1821), Đại Nam nhất thống chí (triều Nguyễn), Phương đình dư địa chí

(Nguyễn Văn Siêu, 1900) Địa danh được lý giải ở đây chủ yếu qua việc giải thích từ nguyên hoặc theo các truyền thuyết, truyện cổ tích

Mặc dù địa danh được đề cập đến từ nhiều thế kỷ trước nhưng vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam chỉ thực sự có được những bước tiến đáng

kể từ những năm 60 của thế kỷ XX cho đến nay Hàng loạt bài viết, công trình

nghiên cứu về địa danh đã ra đời, trong đó phải kể đến: Mối quan hệ về ngôn

ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông (Hoàng Thị Châu, 1964), Nước Văn Lang qua tài liệu ngôn ngữ (Hoàng Thị Châu, 1969), Thử bàn về địa danh Việt Nam (Trần Thanh Tâm, 1976), Những thay đổi về địa lý hành chính trong thời kỳ Pháp thuộc (Vũ Văn Tỉnh, 1972), Bàn về tên làng Việt Nam (Thái Hoàng, 1982), Phương pháp vận dụng địa danh học trong nghiên cứu địa lý học, lịch sử cổ đại Việt Nam (Đinh Văn Nhật, 1984),…

Nếu Hoàng Thị Châu với Mối quan hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam

Á qua một vài tên sông (1964) được xem như là người cắm cột mốc đầu tiên

trong nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn ngôn ngữ học thì Trần Thanh Tâm,

trong bài báo Thử bàn về địa danh Việt Nam (1976), lại là người đã đặt ra

những vấn đề cơ bản của nghiên cứu địa danh, đưa ra định hướng và gợi ý cho người nghiên cứu về vấn đề này Từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị về mặt ngôn ngữ học ra đời như: Luận án phó tiến sỹ

của Lê Trung Hoa với Địa danh ở Thành phố Hồ Chí Minh (1991) đã chỉ ra

các đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa,… của các địa danh ở Thành phố

Trang 11

Hồ Chí Minh; luận án phó tiến sỹ của Nguyễn Kiên Trường với Những đặc

điểm địa danh Hải Phòng (1996), các luận án tiến sỹ: Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004) của Từ Thu Mai, Những đặc điểm chính của địa danh Đắk Lắk của Trần Văn Dũng và Khảo sát các địa danh ở Nghệ An (2005) của

Phan Xuân Đạm,… Các công trình này dựa trên cơ sở lựa chọn cách phân loại địa danh khác nhau, không những giải thích cấu tạo, ý nghĩa của một số địa danh mà còn tìm hiểu nguồn gốc, sự biến đổi của chúng, đem lại cho độc giả những hiểu biết lý thú và khoa học về địa danh trên đất nước Việt Nam

Ngoài ra cũng phải kể đến các luận văn Thạc sĩ khảo sát địa danh ở các địa phương đã góp phần không nhỏ trong việc nghiên cứu, tiếp cận vấn đề địa danh học dưới góc nhìn ngôn ngữ học

2.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở huyện Con Cuông (tỉnh Nghệ An)

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về địa danh như đã nêu ở trên nhưng địa danh huyện Cong Cuông vẫn là đối tượng đang còn mới mẻ, chưa có công trình nào thực sự đi sâu khảo sát Hiện chỉ có một số công trình nghiên cứu về

địa danh ở Nghệ An như An Tĩnh cổ lục (Le vieux An-Tinh) của Hippolyte le Breton (1936), Khảo sát các địa danh ở Nghệ An (luận án tiến sỹ của Phan Xuân Đạm - 2005), Địa lý các huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An của Trần

Kim Đôn (2004),… Song các công trình nghiên cứu này đều mang tính phổ quát hay chuyên biệt hóa, hoặc trên nhiều lĩnh vực của văn hóa - xã hội, hoặc dưới góc độ một lĩnh vực chuyên ngành nào đó như hành chính chẳng hạn

Ngay cả Phan Xuân Đạm trong luận án tiến sỹ Khảo sát các địa danh ở Nghệ

An cũng chỉ chú trọng đến các huyện miền xuôi của tỉnh Nghệ An từ Đô

Lương, Thanh Chương trở xuống Trong khi đó, các huyện miền núi thực thụ của tỉnh Nghệ An, từ Đô Lương đến tận biên giới với Lào, khá đa dạng về địa hình, dân cư, dân tộc, phong tục tập quán cũng như ngôn ngữ, vẫn còn là vùng đất đậm đà bản sắc đang chờ được khám phá trên nhiều bình diện

Trang 12

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh trên địa bàn huyện Con Cuông cả về đồng đại và lịch đại, bao gồm cả địa danh hành chính, tự nhiên và nhân văn Trên cơ sở đó bước đầu rút ra những nét tiêu biểu liên quan đến tiến trình lịch sử tiếng Việt qua sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa và ngôn ngữ trên địa bàn, đồng thời tìm hiểu, phân tích đặc điểm sinh hoạt dân cư, tín ngưỡng văn hóa, lịch sử truyền thống của người Con Cuông, từ đó xác định đặc trưng văn hóa địa phương

4 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát địa danh huyện Con Cuông (gồm cả những địa danh đang sử dụng hoặc còn được lưu giữ), chúng tôi hướng đến những mục đích sau:

- Cung cấp một cái nhìn tổng quát về địa danh huyện Con Cuông, tìm

ra các đặc điểm, quy luật về mặt cấu tạo, nguồn gốc và ý nghĩa của các địa danh có ở địa phương

- Hệ thống hóa các địa danh trên địa bàn

- Trong giới hạn cho phép, góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ gắn bó giữa địa danh với ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học, ngữ nghĩa học và các ngành khoa học khác như địa lý, lịch sử, khảo cổ học, văn hóa học,… trong việc nghiên cứu địa danh

- Từ góc nhìn ngôn ngữ, qua các lớp địa danh, góp phần tìm hiểu thêm

về các mặt phương ngữ, văn hóa, lịch sử, địa lý của Con Cuông, từ đó làm phong phú thêm những đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa của xứ Nghệ - một khu vực còn nhiều ý kiến nhìn nhận của các nhà ngôn ngữ học

- Góp phần nhỏ bé trong việc từng bước hướng đến khảo sát toàn

bộ địa danh miền tây Thanh - Nghệ - Tĩnh cũng như trên toàn lãnh thổ Việt Nam

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Thu thập tư liệu

Để có thể dựng lại bức tranh tổng quát về hệ thống địa danh Con Cuông, chúng tôi tiến hành thu thập tư liệu từ những nguồn sau:

- Tư liệu điều tra điền dã, khảo sát thực tế ở tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn huyện thông qua việc gặp gỡ, trao đổi với các đấng cao niên, các người am hiểu lịch sử, văn hóa địa phương và các cán bộ văn hóa, địa chính, công an xã,…

- Phiếu điều tra địa danh được thực hiện với các đối tượng cán bộ địa chính, công an các xã, học sinh các trường: THPT Dân tộc nội trú Con Cuông, THPT Mường Quạ và THPT Khe Choăng

- Tư liệu qua sách, báo, tạp chí và những ấn phẩm khác có liên quan đến đề tài được tìm hiểu tại Thư viện Nguyễn Thúc Hào (ĐH Vinh), Thư viện Nghệ An, Văn phòng Tỉnh ủy, cơ quan Huyện ủy, UBND huyện Con Cuông,…

- Sắc chỉ, gia phả, văn bia, …

- Bản đồ, tranh ảnh có liên quan

đề tài (cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa)

- Cuối cùng, chúng tôi tiến hành miêu tả, phân tích, đối chiếu để chỉ ra các đặc điểm cấu trúc, đặc trưng ngữ nghĩa cũng như nguồn gốc, xuất xứ của địa danh Con Cuông

Trang 14

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích của mình, trong quá trình triển khai thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như:

- Điều tra điền dã

Trong quá trình phân tích đánh giá nội dung, ngữ nghĩa, giá trị biểu đạt, biểu cảm ở các địa danh thì ngoài các phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học luận văn còn sử dụng thêm các phương pháp khác như: phương pháp địa lý - ngôn ngữ học (phương ngữ học) để xác định vùng phân bố của các thành tố chung; các phương pháp nghiên cứu của từ vựng học để lý giải các phương thức định danh và phương pháp ngôn ngữ - xã hội học, so sánh - lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc, xuất xứ của các địa danh, đặc biệt là một số địa danh nổi tiếng

6 Đóng góp của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: góp phần bổ sung lý thuyết về nghiên cứu địa

danh, nhất là địa danh các vùng miền có sự cộng cư, đan xen của nhiều dân tộc mà ở đó ngôn ngữ, bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc vừa bảo toàn một cách trọn vẹn, vừa có sự giao thoa với các dân tộc khác

- Ý nghĩa thực tiễn: tư liệu và kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tiến tới

xây dựng một công trình nghiên cứu toàn diện về địa danh miền núi phía tây vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh (vùng Bắc Trung Bộ) Bên cạnh đó, đề tài sẽ có

Trang 15

nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, phát triển du lịch và công tác hoạch định hành chính của huyện Con Cuông nói riêng, của tỉnh Nghệ An nói chung

7 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết về địa danh và khái quát địa danh Con Cuông Chương 2 Đặc điểm cấu trúc địa danh Con Cuông

Chương 3 Đặc trưng ngữ nghĩa địa danh Con Cuông

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA DANH CON CUÔNG

1.1 Cơ sở lý thuyết về địa danh

1.1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học

Trong sinh hoạt đời thường cũng như trong văn hóa, tín ngưỡng, cuộc sống con người luôn gắn liền với những điểm địa lý khác nhau, được chúng ta gọi bằng những từ ngữ riêng Đó là những tên gọi địa lý hay còn gọi là địa danh

Thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp toponima có cấu tạo gồm hai bộ phận: "Topos" (vị trí) và "omoma" / "onyma" (tên, gọi) Như vậy,

ý nghĩa căn bản đầu tiên của thuật ngữ này là “tên gọi điểm địa lý”

Tuy nhiên, lý giải một cách đầy đủ và chính xác khái niệm địa danh là

gì không hề đơn giản Nếu hiểu theo lối chiết tự thì địa là đất, danh là tên, vậy

địa danh tức là tên đất Cách hiểu như thế mang tính bó hẹp phạm vi của

thuật ngữ vì trên thực tế và trong thực tiễn nghiên cứu, khái niệm này cần phải được hiểu ở mức độ rộng hơn, khái quát hơn Theo đó, địa danh không chỉ đơn thuần là tên gọi của các đối tượng địa lý gắn với từng vùng đất cụ thể

mà có thể là tên gọi đối tượng địa hình thiên nhiên (địa danh thiên nhiên), đối tượng địa lý cư trú sinh sống (địa danh hành chính), hay các công trình do con người xây dựng nên (địa danh nhân văn) Như vậy, tên đất, tên núi, tên sông, tên biển, tên phố, tên làng, tên đường, tên cầu,… đều là những địa danh

Hiện nay trong giới nghiên cứu địa danh vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về khái niệm địa danh Mỗi nhà nghiên cứu đều dựa vào cách lập luận và hướng tiếp cận của mình để đưa ra các định nghĩa khác nhau về vấn đề này

Nhà ngôn ngữ học Nga A.V.Superanskaia trong cuốn Địa danh là gì (1985) cho rằng “Tên gọi các địa điểm được biểu thị bằng những từ riêng Đó

Trang 17

là các tên gọi địa lý, địa danh hay toponoma” [53, tr.1] và chỉ rõ “những địa điểm, mục tiêu địa lý đó là những vật thể tự nhiên hay nhân tạo với sự định vị xác định trên bề mặt trái đất, từ những vật thể lớn nhất (các lục địa và đại dương) cho đến nhũng vật thể nhỏ nhất (những ngôi nhà, vườn cây đứng riêng rẽ) đều có tên gọi Khác với những vật thể thông thường, những mục tiêu địa lý có hai loại tên: Tên chung để xếp chúng vào hệ thống các khái niệm nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [53, tr.13].A.V.Superanskaia đã chỉ ra hai tiêu chí để phân biệt địa danh với các đối tượng được định danh khác đó là: địa danh là những đối tượng địa

lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất, có cấu tạo gồm hai bộ phận: tên

chung để xếp vào hệ thống khái niệm và tên riêng biệt của từng vật thể.

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu địa danh chia thành hai nhóm quan điểm nghiên cứu: dưới góc độ địa lý - văn hóa và dưới góc độ ngôn ngữ học

Nhóm các nhà địa danh học nghiên cứu theo hướng địa lý - văn hóa,

tiêu biểu là Nguyễn Văn Âu cho rằng “địa danh là tên đất, gồm tên sông,

núi, làng mạc… hay là tên các địa phương, các dân tộc” [3, tr.15] Quan

niệm về địa danh của ông gần với nguyên nghĩa của từ toponima đã được

nói tới ở trên và trùng với cách hiểu thông thường của nhân dân Chẳng hạn,

Từ điển Hán Việt do Đào Duy Anh chủ biên giải thích “địa danh là tên gọi các miền đất”, Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê cũng cho rằng địa danh là

“tên đất, tên địa phương”

Nhóm các nhà nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học như Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm,… lại hướng đến tính lý thuyết, tính hệ thống; nhấn mạnh đến đặc điểm chức năng của địa danh, chú ý nhiều hơn đến những vấn đề nội tại trong bản thân địa danh

Lê Trung Hoa quan niệm: “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định

được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng

Trang 18

thiên về không gian hai chiều, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ”

[24, tr.21]

Nguyễn Kiên Trường cho rằng: “Địa danh là tên riêng của các đối

tượng địa lý tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”

[65, tr.16]

Từ Thu Mai đưa ra cách hiểu: “Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng

của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [62, tr.21]

Phan Xuân Đạm lại đưa ra định nghĩa về địa danh như sau: “Địa danh

là lớp từ ngữ đặc biệt được định ra để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn” [61, tr.12]

Như vậy, trừ định nghĩa của Nguyễn Văn Âu, các định nghĩa còn lại đều nêu khá cụ thể những vấn đề liên quan đến địa danh Từ các định nghĩa trên đây chúng tôi rút ra một vài nhận xét sau đây về địa danh:

- Địa danh là tên gọi của các đối tượng địa lý tự nhiên hoặc nhân văn, tồn tại trên bề mặt trái đất và ngoài trái đất

- Ngoài chức năng định danh sự vật, địa danh còn có chức năng cá thể hóa và khu biệt đối tượng

Nhằm đáp ứng được mục đích nghiên cứu và phù hợp với thực tế ở địa

phương nơi khảo sát, trong luận văn này chúng tôi quan niệm địa danh là

những từ hoặc cụm từ chuyên dùng vào việc định danh và có tác dụng khu biệt, định vị các đối tượng địa lý tự nhiên hoặc nhân văn

Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng để gọi tên các đối tượng địa lý, vì thế nó hoạt động và chịu sự tác động, chi phối của các quy luật ngôn ngữ nói chung về mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp Mỗi địa danh đều gắn chặt với một chủ thể nhất định, ở một thời điểm nhất định, tương ứng với một giai đoạn phát triển của lịch sử, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ và tư duy Nói cách khác, địa danh

Trang 19

mang tính phản ánh Qua mỗi địa danh nào đó ta có thể thấy được quá trình lịch sử - xã hội của một dân tộc

Địa danh học (toponymy, toponomastics) là một chuyên ngành của

ngôn ngữ học có nhiệm vụ nghiên cứu cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và sự biến

đổi của địa danh Trong ngôn ngữ học, Địa danh học là một trong những chuyên ngành của Danh xưng học, thuộc bộ môn Từ vựng học

Địa danh học còn chia thành các ngành nhỏ hơn như Sơn danh học

(nghiên cứu tên gọi đồi núi, địa hình dương so với mặt đất), Thủy danh học (nghiên cứu tên gọi liên quan đến nước và các dòng chảy), Phương danh học (nghiên cứu tên gọi địa điểm cư trú của con người), Phố danh học (nghiên

cứu tên gọi đường phố và các công trình nhân tạo khác trong thành phố),…

Biểu đồ 1 Vị trí của Địa danh học trong Ngôn ngữ học

Sơn danh học Thủy danh học Phương danh học Phố danh học

Hiệu danh học

Địa danh học

Nhân danh học

Danh xưng học Ngữ âm học Từ vựng học Ngữ pháp học

Ngôn ngữ học

Trang 20

1.1.2 Phân loại địa danh

Cho đến nay, do các nhà địa danh học có cách hiểu khác nhau về khái niệm địa danh nên trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có sự thống nhất trong cách phân loại địa danh giữa các nhà nghiên cứu và chưa có một mô hình phân loại khái quát tối ưu nào để có thể áp dụng phổ biến cho mọi công trình nghiên cứu Vì vậy, tùy từng mục đích và đối tượng nghiên cứu, tùy từng cách tiếp cận mà người nghiên cứu cần đưa ra cách phân loại địa danh sao cho phù hợp Sau đây chúng ta cùng tham khảo một số cách phân loại địa danh trên thế giới và ở trong nước

1.1.2.1 Cách phân loại của các nhà địa danh học Pháp

A.Dauzat trong La toponomie francaise (Địa danh nước Pháp) đã phân

chia địa danh nước Pháp thành 4 loại dựa trên nguồn gốc ngôn ngữ:

- Vấn đề những cơ sở tiền Ấn - Âu

- Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học

- Các từ nguyên Gô Loa - La Mã

- Địa danh học Gô Loa - La Mã của người Auvergne và Velay

Ch.Rostaing trong Les noms de lieux (Danh từ chỉ nơi chốn) lại căn cứ

theo sự hỗn hợp giữa nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng phản ánh để chia địa danh nước Pháp thành 11 loại:

- Những cơ sở tiền Ấn - Âu

- Các lớp tiền Xentích

- Lớp Gô Loa

- Những phạm vi Gô Loa - La Mã

- Các sự hình thành La Mã

- Những đóng góp của tiếng Giécmanh

- Các hình thức của thời phong kiến

- Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo

Trang 21

- Những hình thái hiện đại

- Các địa danh và tên đường phố

- Tên sông và tên núi

Nhìn chung, cách phân loại của hai nhà nghiên cứu trên đây hoặc chưa

cụ thể hoặc quá đi sâu vào chi tiết, thiếu tính khái quát, hệ thống

1.1.2.2 Cách phân loại của các nhà địa danh học Nga (Liên Xô cũ)

G.P.Smolienaja và M.V.Gorbanevskij trong Toponimika Moskvy (Địa

danh Mátxcơva) đã phân chia các địa danh ở Mátxcơva ra làm 4 loại:

- Phương danh (tên các địa phương)

- Sơn danh (tên núi, đồi, gò…)

- Thủy danh (tên các dòng chảy, đầm, hồ…)

- Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)

A.V.Superanskaia trong Chto takoe toponimika? (Địa danh là gì?) lại

chia địa danh làm 7 loại:

- Phương danh

- Sơn danh

- Thủy danh

- Phố danh

- Viên danh (tên các quảng trường, công viên)

- Lộ danh (tên các đường phố)

- Đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên nước, trên không)

Cách phân loại của hai nhà nghiên cứu người Nga trên đây khá chi tiết, đầy đủ Tuy nhiên họ còn chưa chú ý đến các công trình dân sinh và xây dựng nhân tạo khác như: cầu, cống, đập…

1.1.2.3 Cách phân loại của các nhà địa danh học Việt Nam

Trần Thanh Tâm trong Thử bàn về địa danh Việt Nam đã chia địa danh

thành 6 loại:

Trang 22

- Loại đặt theo địa hình và đặc điểm (gồm 4 nhóm: nhóm đặt theo nước, suối, ao, hồ, sông, ngòi; nhóm đặt theo cây cối, rừng rú, vườn tược; nhóm đặt theo núi, gò, đồi; nhóm đặt theo hình dáng, màu sắc, âm thanh)

- Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian

- Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử

- Loại đặt theo hình thái, chất đất, khí hậu

- Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế

- Loại đặt theo sinh hoạt xã hội (gồm 3 nhóm: nhóm quân sự; nhóm hành chính; nhóm văn hóa, xã hội)

Đứng trên góc độ địa lý - lịch sử, Nguyễn Văn Âu trong Địa danh Việt

Namcho rằngđịa danh có 2 loại:

- Địa danh tự nhiên

- Địa danh kinh tế - xã hội;

Trang 23

Lê Trung Hoa trong Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh

đã dựa vào đối tượng phản ánh và căn cứ vào tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên để phân loại địa danh Thành phố Hồ Chí Minh thành 2 nhóm lớn là:

- Địa danh tự nhiên như: núi, đồi, sông, suối, biển…

- Địa danh không tự nhiên: gồm 3 tiểu nhóm:

+ Địa danh chỉ các công trình xây dựng: cầu, đường, chùa, miếu… + Địa danh hành chính: huyện, thành phố, xã, phường, bản…

+ Địa danh chỉ vùng: xóm, thôn, khu phố…

Ngoài ra, tác giả còn căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ (ngữ nguyên) để chia địa danh thành 2 loại:

- Địa danh thuần Việt

- Địa danh không thuần Việt (gốc Hán, Pháp, Khơ me)

Cùng chia sẻ với cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường đã áp dụng các tiêu chí sau đây để phân loại địa danh trong luận

án tiến sỹ của mình Đặc điểm địa danh thành phố Hải Phòng:

Căn cứ vào thuộc tính đối tượng, địa danh Hải Phòng gồm có 2 loại:

- Địa danh địa lý tự nhiên: gồm 2 tiểu loại:

+ Đất liền

+ Vùng biển giáp ranh

- Địa danh địa lý nhân văn: cũng gồm 2 tiểu loại:

+ Địa danh cư trú hành chính (trấn, bộ, châu, tỉnh, huyện, ấp, xã, xóm,

…) và địa danh nhân tạo gắn với hoạt động của con người (di chỉ, di tích, xứ đạo, khu tập thể, trang trại…)

Trang 24

+ Địa danh đường phố (đường, ngõ, ngã ba, ngã tư…) và địa danh các công trình xây dựng (đền, chùa, nhà thờ, khu du lịch…)

Căn cứ vào ngữ nguyên, địa danh Hải Phòng gồm có các loại sau:

- Địa danh thuần Việt

- Địa danh Hán - Việt

- Địa danh có nguồn gốc Pháp

- Địa danh có nguồn gốc Việt - Mường, Tày - Thái, Môn - Khơ Me, Chăm, Mã Lai

- Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp

- Địa danh chưa xác định được nguồn gốc

Căn cứ vào chức năng giao tiếp, địa danh Hải Phòng được chia thành:

- Tên gọi chính thức

- Tên gọi dân gian

- Tên gọi cổ, cũ

- Tên gọi khác

Một nhà nghiên cứu địa danh khác là Từ Thu Mai, trong luận án tiến sỹ

của mình Nghiên cứu địa danh Quảng Trị cũng đi theo xu hướng phân loại

của Lê Trung Hoa khi đưa ra khái niệm địa hình địa danh và cho rằng có 3 loại hình địa danh:

- Địa danh địa hình thiên nhiên

- Địa danh đơn vị dân cư

- Địa danh công trình nhân tạo

Trong khuôn khổ luận văn này, căn cứ vào mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu cụ thể là các địa danh thuộc huyện miền núi Con Cuông - mảnh đất cư trú của nhiều dân tộc, đa dạng về địa hình và có bề dày lịch sử - văn hóa, chúng tôi đã dựa vào cách phân loại của Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường và Từ Thu Mai để tiến hành phân loại địa danh của vùng đất này như trình bày trong mục dưới đây

Trang 25

1.2 Khái quát địa lý, lịch sử, văn hóa, dân cƣ, ngôn ngữ và vấn đề địa danh Con Cuông

1.2.1 Địa lý tự nhiên, địa lý hành chính và bản sắc văn hóa

1.2.1.1 Địa lý tự nhiên

Con Cuông là huyện miền núi vùng cao phía tây nam của tỉnh Nghệ

An, phía đông nam giáp huyện Anh Sơn, phía đông bắc giáp huyện Quỳ Hợp

và Quỳ Châu, phía tây bắc giáp huyện Tương Dương, phía tây nam có đường biên giới nước Lào dài 55,5km Trung tâm huyện lỵ cách thành phố Vinh (Nghệ An) 130 km Diện tích tự nhiên 173381 ha, dân số khoảng 68000 người, mật độ dân số khoảng 39 người/km2

Tên gọi Con Cuông là do biến âm của Cồn Công mà thành Sự biến âm này xuất phát từ cách phát âm của người địa phương, điều này cũng xảy ra ở một số địa danh khác trên lãnh thổ Việt Nam như: Đò Lường  Đô Lương (Nghệ An), Làng Cò  Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế) Theo dân gian, xưa kia khúc sông Cả (sông Lam) chảy qua nơi này dần tụ thành một khu đất nổi (cồn), chiều chiều thường có nhiều đàn chim công tụ tập về nhảy múa, vì vậy người dân gọi vùng đất này là Cồn Công Lâu ngày, tên gọi bị biến âm thành Con Cuông

Con Cuông có địa hình tương đối đa dạng: rừng, núi, lèn (núi đá vôi), đồi, sông, suối, khe, thung lũng, ruộng, đồng… Diện tích sông suối và núi đá

là 8.446 ha, đất nông nghiệp chiếm 4.035 ha, đất lâm nghiệp 104.663 ha, trong đó có 61.752 ha rừng đặc dụng (55.928 ha thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Vườn quốc gia Pù Mát và 5824 ha thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống) Sông suối ở Con Cuông có ảnh hưởng rất lớn tới cấu tạo địa hình, cảnh quan Dòng sông Lam bắt nguồn từ hợp lưu của sông Nậm Nơn và Nậm

Mộ tại Cửa Rào (Tương Dương) chảy qua địa phận Con Cuông 30 km Ngoài

ra còn có các sông suối nhỏ như: Sông Giăng (nậm Khăng), khe Mọi, khe

Trang 26

Choăng, khe Thơi Phần lớn các khe suối này đều đổ vào sông Lam thuộc địa giới Con Cuông Chỉ có sông Giăng chảy qua Môn sơn nhập vào sông Lam ở Thanh Chương

Địa hình Con Cuông bị chia cắt bởi dòng sông Lam thành hai vùng với đặc điểm khác nhau rõ rệt Vùng tả ngạn, chủ yếu là đồi núi đất, độ cao bình quân 500 mét so với mặt biển với độ dốc khoảng 200 - 300, cao nhất là đỉnh

Pù Su 900m Vùng hữu ngạn, địa hình hiểm trở, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởi nhiều núi cao, núi đá vôi (lèn), suối sâu, độ cao bình quân 1000 mét, độ dốc khoảng 300 - 350 Phía đông bắc, vùng dọc đường quốc lộ số 7, cao bình quân 500 mét; phía tây nam, thuộc dãy Trường Sơn, cao 1.400 mét, trong đó

có đỉnh Pù Luông cao 1.880 mét

1.2.1.2 Sự hình thành và phát triển địa lý hành chính

Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên, vào thế kỷ XIII, vùng

đất thuộc các huyện Con Cuông, Tương Dương và Kỳ Sơn ngày nay có tên gọi là Nam Nhung, rồi Kiềm Châu, sau lại đổi thành Mật Châu Năm 1406, nhà Minh xâm chiếm, đổi nước ta thành quận Giao Chỉ và cũng đổi Mật Châu thành Trà Lung, Trà Long rồi Trà Thanh Thời Hậu Lê, vùng này gọi là Trà Lân, thủ phủ của khu vực tây bắc xứ Nghệ, là nơi diễn ra trận chiến Trà Lân vang dội trong khởi nghĩa Lam Sơn và được người anh hùng dân tộc Nguyễn

Trãi ghi danh lại trong Bình Ngô đại cáo:

“Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay”

Năm Minh Mạng thứ hai (1822) phủ Trà Lân được đổi tên thành phủ Tương Dương gồm 4 huyện: Tương Dương (3 tổng), Vĩnh Hoà (3 tổng), Hội Nguyên (3 tổng) và Kỳ Sơn (5 tổng) Cho đến năm 1886, huyện Tương Dương có 3 tổng là: tổng An Duyệt (gồm 4 xã: Chính Yên, Chi Khê, Thạch Ngàn, Mậu Đức), tổng Lục Dạ (gồm 2 xã: Cẩm Đường, Hữu Lệ), tổng Tứ

Trang 27

Dương (gồm xã Môn Sơn) Về sau cắt tổng Lịch Cốc (gồm 2 xã) của huyện Vĩnh Hoà nhập vào huyện Tương Dương Giai đoạn này tuy là huyện Tương Dương nhưng trong thư từ giao dịch, dân trong huyện ghi lại địa danh Cồn Cuông Trong các bản sao lục của Thừa phái nha huyện Tương Dương cũng ghi địa danh sao lục là Cồn Cuông Sau Cách mạng Tháng Tám - 1945, huyện Con Cuông tách ra khỏi huyện Tương Dương Thời kỳ này, huyện Con Cuông chỉ có 6 xã: Môn Sơn, Lục Dạ, Chính Yên, Châu Khê, Mậu Thạch, Cam Phục Đến năm 1958, xã Chính Yên tách thành 2 xã mới là xã Bồng Khê và xã Yên Khê Ngày 27-2-1961, tách xã Châu Khê thành 3 xã là Chi Khê, Châu Khê và Lạng Khê Ngày 5-7-1963, sát nhập xã Bình Chuẩn của huyện Tương Dương vào huyện Con Cuông; tách xã Mậu Thạch thành 2

xã Mậu Đức và Thạch Ngàn; tách xã Cam Phục thành 2 xã Cam Lâm và Đôn Phục; sát nhập chòm Muỗng và chòm Bỏi thuộc xã Đôn Phục vào xã Mậu Đức; sát nhập chòm Hua Nà thuộc xã Môn Sơn vào xã Lục Dạ Ngày 1-3-1988, thành lập Thị trấn Con Cuông trên cơ sở các thôn Đồng Tiến, Tân Yên, Tân Tiến, Việt Tiến của xã Bồng Khê Từ đó đến nay, huyện Con Cuông gồm 13 xã, thị trấn là: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Chi Khê, Châu Khê, Lạng Khê, Cam Lâm, Thạch Ngàn, Mậu Đức, Đôn Phục, Bình Chuẩn và thị trấn Con Cuông

1.2.1.3 Sự hình thành dân cư và bản sắc văn hóa dân tộc

Con Cuông ở vào một trong những khu vực có sự hiện diện của loài người từ rất sớm Qua nghiên cứu 1096 mảnh tước và một số vỏ ốc tại Thẳm Hoi (Hang Ốc) ở xã Yên khê, các nhà khảo cổ học đã cho thấy con người đã

có mặt ở vùng đất này từ hơn 1 vạn năm trước đây, thuộc thời kỳ văn hoá Hoà Bình Ngày nay vùng đất có địa hình đa dạng này là nơi làm ăn, sinh sống của nhiều dân tộc, trong đó chủ yếu là người Thái, người Kinh, người Thổ (Đan Lai - Ly Hà), người Nùng và người Hoa

Trang 28

Theo các cuốn sách Sổ tay về các dân tộc Việt nam (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978) của Viện dân tộc học và Địa chí văn hoá dân

gian Nghệ Tĩnh (Nxb Nghệ An, Vinh, 1995), tổ tiên của người Thái gốc xa

xưa ở Trung Quốc vào Việt Nam cách đây trên giới 1000 năm Đầu tiên họ cư trú ở Tây Bắc, đa số ở lại đó, một số tiếp tục di cư qua Lào rồi vào miền Tây Nghệ An, một nhóm di cư thẳng vào Hoà Bình, Thanh Hoá rồi đến miền Tây Nghệ An Trong cuộc thiên di ấy, một số gia đình thuộc nhóm Thái hàng Tổng, Tày Mười, Tày Thanh (Man Thanh) đã định cư ở Con Cuông vào đầu thế kỷ XV Ngôn ngữ hai nhóm này tuy có khác nhau đôi chút về ngữ điệu và một số ít từ nhưng nhìn chung là thống nhất, mang theo tất cả những nét văn hoá đã hình thành từ xa xưa, được bổ sung hấp thụ những cái mới trên con đường lập bản xây mường Họ biết làm nghề rừng, chăn nuôi dệt thổ cẩm, trồng lúa nước Đa số người Thái ở vùng núi thấp, thường ở dọc ven sông suối và thung lũng

Người Thổ (Đan lai - Ly Hà) sống tập trung chủ yếu ở thị trấn và các thị tứ, một bộ phận sống đan xen với đồng bào dân tộc Thái Về ngôn ngữ, khác với người Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, tiếng Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường

Người dân tộc Nùng từ tỉnh Cao bằng vào định cư ở xã Yên khê từ

1995, sinh sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi Người Nùng cũng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái

Người Hoa sống tập trung ở thị trấn Con Cuông, chủ yếu lấy buôn bán làm kế sinh nhai

Do nhiều dân tộc khác nhau cùng cư trú đan xen với nhau nên ở Con Cuông có sự giao thoa văn hóa khá rõ nét Điều đó đã làm cho mảnh đất này có được một bản sắc văn hóa đặc sắc, phong phú và đa dạng, phản ánh

Trang 29

chân thực về mọi mặt của đời sống sinh hoạt xã hội và tâm linh của cư dân địa phương

Về văn hoá vật thể:

Trước hết phải kể tới nghệ thuật dệt thổ cẩm Với bàn tay khéo léo và những bí quyết tạo màu tự nhiên, người dân bản địa đã dệt nên những mặt hàng thổ cẩm đậm đà bản sắc dân tộc như váy, khăn, áo, gối, chăn, màn… với hoa văn tinh tế, gam màu hài hoà

Bên cạnh đó, đời sống âm nhạc cũng vô cùng phong phú với nhiều nhạc cụ độc đáo như: bộ gõ có cồng, chiêng, trống, mõ khắc luống; bộ hơi có các loại sáo pi thiu (sáo dọc), khèn lá, khèn bè, khèn môi Những nhạc cụ này khi tấu lên tạo ra những âm hưởng vừa hoang sơ, thơ mộng, vừa trầm hùng thiết tha, vừa sôi động dịu dàng, gợi lên trong tâm thức người nghe những âm thanh của nắng núi, mưa ngàn, tiếng chim kêu vượn hót, tiếng suối ngàn ngân nga, tiếng thác đổ ào ào, tiếng chày giã gạo, tiếng xa quay thấp thoáng thoi đưa; những âm thanh làm say đắm lòng người

Ngoài ra, cư dân nơi này còn có văn hoá ẩm thực rất đặc trưng với nhiều món ăn, uống mang đậm hương vị tự nhiên, có bổ dưỡng như: cơm lam, lạp pa, thịt chua, canh măng đắng, chúp (nộm hông), canh bon, canh ốt (gà bồi), rượu siêu, rượu trấu, chè đâm…

Đóng góp thêm vào văn hoá vật thể còn tính đến rất nhiều đền, chùa, miếu và nhà thờ như: đền thờ Đức Ông, Đức Bà ở Bồng khê, đền Tam Toà (thờ Lý Nhật Quang) ở thị trấn, đền Cửa Luỹ (thờ Bạch Y công chúa) ở Yên Khê, đền thờ các tù trưởng người Thái có công giúp Lê Lợi đánh quân Minh ở Môn Sơn, đền thờ vua Trần Minh Tông ở Chi Khê, đền Kẻ Trịnh

Về văn hoá phi vật thể:

Đầu tiên phải nhắc đến những làn điệu dân ca của các dân tộc như: khắp, xến, nhuôn, xuối, lăm… Bên cạnh ca hát, múa là một bộ môn nghệ

Trang 30

thuật được nhân dân rất ưa thích, có nhiều điệu múa như múa trống chiêng, múa xăng khàn, thường tổ chức ba ngày, ba đêm vào dịp cuối năm

Tiếp đến là kho tàng tục ngữ, ca dao, truyện, thơ, truyện cổ, câu đối phản ánh sinh động cuộc sống, tâm tư, tình cảm và ước vọng của cư dân nơi này

Ca dao Thái vừa tế nhị, tinh tế về nhận thức xã hội, tự nhiên vừa thể hiện trí tưởng tượng phong phú của con người Bằng ngôn ngữ mộc mạc, giản

dị, ca dao Thái đã kết hợp được cái lãng mạn trữ tình của thơ ca với cái hiện thực của cuộc sống hàng ngày

"Hoong bọ dụ năm cồn ngoạ,

Vạ bọ dụ năm cồn lắc

Cồn lắc bọ mi vạ, Cồn ngoạ bọ mi khoong."

(Của không ở với người dại,

Vạ không ở với người khôn

Người khôn không có vạ, Người dại không có của.) Những truyền thuyết, những áng văn học dân gian của dân tộc bản địa cũng rất đa dạng về thể loại và cuốn hút về nội dung, nghệ thuật Có những tác phẩm được thể hiện bằng văn vần như tập tục "cù mun pi mớ" của người Thái, bài cúng Tết của người Đan Lai… Lại có những truyền thuyết, truyện dân gian viết bằng văn xuôi như truyện anh Cấp, chị Kèo, Thắm Nàng Màn,

Tạ Bó, Mường Quạ, Lèn Chùa, Eo Vực Bồng, Cửa Rọ

1.2.2 Kết quả thu thập và phân loại địa danh Con Cuông

Sau khi đã xác định mục đích, phạm vi, đối tượng và các tiêu chí phân loại cho công trình nghiên cứu này như đã trình bày trên đây, chúng tôi tiến hành đi khảo sát điều tra điền dã, tra cứu các tài liệu liên quan như văn bản hành chính, bản đồ, công trình nghiên cứu khác… Kết quả chúng tôi đã thu

Trang 31

thập được 1176 địa danh thuộc 59 loại địa danh khác nhau, thể hiện qua bảng

1 và biểu đồ 1 dưới đây

Bảng 1.Kết quả thu thập địa danh huyện Con Cuông

TT Loại hình địa danh Số lƣợng Tỷ lệ

Địa danh hành chính Địa danh tự nhiên Địa danh nhân văn

Biểu đồ 2: Số lượng địa danh theo loại hình

Các địa danh này trải rộng trên khắp cả huyện Con Cuông nhưng phân

bố không đồng đều về mặt địa lý, có nhiều nơi nằm sâu trong dãy Trường Sơn, nơi con người chưa đặt chân tới thì vẫn còn chưa được định danh Tuy nhiên, ở một huyện miền núi, nơi mật độ dân số không cao và chưa có nhiều công trình nhân tạo thì con số 1176 địa danh cũng đủ chứng tỏ sự phong phú, đa dạng về địa lý, lịch sử và văn hóa nơi đây Để có thể khái quát hết những khía cạnh khác nhau trong cách gọi tên những đối tượng địa lý của địa phương này, chúng tôi phân loại địa danh thu thập được theo 2 tiêu chí khác nhau:

Trang 32

- Phân loại theo loại hình (thuộc tính của đối tượng địa lý): cách phân

loại này nhằm làm nổi bật lên những đặc điểm về địa lý dân cư và địa hình của địa phương

- Phân loại theo ngữ nguyên (nguồn gốc ngôn ngữ): Cách phân loại

này giúp chúng ta thấy được lịch sử hình thành cộng đồng dân cũng như sự giao thoa văn hóa và ngôn ngữ giữa các dân tộc sinh sống trong vùng

Ngoài hai tiêu chí phân loại trên đây, còn có phương pháp phân loại theo chức năng giao tiếp Dựa vào tiêu chí này chúng ta có thể phân chia địa danh thành địa danh hiện nay đang được sử dụng và địa danh không còn được

sử dụng nữa (do chia tách về mặt hành chính địa lý hoặc do được đổi thành tên khác…) Tuy nhiên, địa danh ở huyện Con Cuông ít thay đổi, hầu hết các địa danh tự nhiên được giữ nguyên, nếu trước đó chưa có tên thì sẽ được đặt tên mới, chỉ một số địa danh đơn vị dân cư được Nhà nước quy hoạch, sắp xếp lại, trong đó chủ yếu là sát nhập và chia tách cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội Vì vậy, chúng tôi không đưa ra tiêu chí này khi phân loại mà ghép vào trong phân loại theo loại hình

1.2.2.1 Phân loại theo loại hình (thuộc tính của đối tượng địa lý)

Dựa vào tiêu chí này, địa danh Con Cuông được chia thành ba loại hình lớn:

- Địa danh hành chính (đơn vị dân cư):

+ Địa danh hành chính hiện tại (huyện, xã, bản, thôn, làng, khối…) + Địa danh hành chính cũ (phủ, huyện, tổng, xã, bản, thôn…)

- Địa danh tự nhiên:

+ Sơn danh (núi, lèn, rừng, đồi, dốc, cồn, hang, động…)

+ Thủy danh (sông, suối, khe, đầm, vũng, hồ, ao…)

+ Vùng đất nhỏ phi dân cư (bãi, đồng, ruộng…)

- Địa danh nhân văn (do con người kiến tạo):

Trang 33

+ Các công trình dân sinh và xây dựng nhân tạo (chợ, đường, cầu, ngã

tư, đập, kênh, mương…)

+ Các di tích lịch sử và các công trình văn hóa, tín ngưỡng (đền, chùa,

nhà thờ, di tích lịch sử, nghĩa địa…)

Chúng tôi đã cố gắng bám sát các thuộc tính, chức năng của đối tượng địa lý để tiến hành phân loại địa danh một cách chi tiết hơn Ví dụ: Chúng tôi

đã dựa vào đặc điểm của hai loại núi ở đây là núi đất đá và núi đá vôi để phân

chia thành núi và lèn (trong tiếng dân tộc Thái cũng phân biệt rõ ràng: pù là núi, đồi đất; pha là lèn đá vôi) Bản và thôn là hai đơn vị hành chính ngang

nhau nhưng bản thường ở vùng núi cao và có số đông người dân tộc thiểu số sinh sống còn thôn thường ở gần đường quốc lộ 7 nơi đa số là người Việt sinh sống Chúng tôi cũng dựa vào đặc điểm và chức năng của các loại đập để chia

thành đập tràn (đập làm mực nước của dòng chảy dâng lên và tràn qua nó),

đập thủy điện (dùng cho các nhà máy điện), đập hay đập thủy lợi (dùng để trữ

nước phục vụ tưới tiêu),…

Bảng 2 Bảng thống kê và phân loại địa danh Con Cuông theo tiêu chí loại hình

hành

Trang 35

57

Các di tích lịch

sử và các công trình văn hóa, tín ngưỡng

Di tích lịch sử 5 Thành Trà Lân

Trang 36

1.2.2.2 Phân loại theo ngữ nguyên (nguồn gốc ngôn ngữ)

Căn cứ vào tiêu chí này, chúng tôi phân loại địa danh Con Cuông thành

6 loại sau:

- Địa danh có nguồn gốc tiếng Thái: Chiếm số lượng rất lớn trong địa

danh tự nhiên, địa danh cư trú hành chính cũng như địa danh các công trình văn hóa, tín ngưỡng

- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt: Chiếm số lượng vừa phải, có ở cả

địa danh hành chính, địa danh tự nhiên và địa danh nhân văn Ở loại hình địa danh tự nhiên, địa danh thuần Việt thường chỉ xuất hiện trong cách gọi tên đồi, dốc, cồn, thung… nơi người Việt ở miền xuôi di cư lên khai phá, lập nghiệp

- Địa danh có nguồn gốc Hán Việt: Tương tự như địa danh thuần

Việt, địa danh Hán Việt chỉ chiếm thiểu số và thường do người Việt ở miền xuôi lên sinh sống ở vùng đất này định danh cho

- Địa danh có nguồn gốc tiếng Pháp: chỉ có 3 địa danh là đồng Ô Tô,

cồn Plu Lao và hang Thắm Téc Ô Tô tiếng Pháp là auto viết tắt của từ automobile có nghĩa là xe hơi, xe ô tô (gọi là đồng Ô Tô vì trước đây có nhiều

xe ô tô tập kết ở đây để chở gỗ từ thuyền ở dưới sông đi các nơi) Plu Lao tiếng Pháp là Ploucs Laos, là một từ thông tục dùng trong nghĩa xấu: những

kẻ nhà quê người Lào Téc tiếng Pháp là citerne có nghĩa là bể chứa, nhân dân gọi hang Thắm Téc vì trong hang có một téc xăng dầu của quân đội (thắm tiếng Thái có nghĩa là hang)

- Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp: Chủ yếu là Thái - Việt, Việt -

Thái, Thái - Hán Việt Ví dụ: nguồn gốc Thái - Việt: Noong Mét (noong tiếng Thái có nghĩa là vũng, mét là từ thuần Việt, tên của một loại cây họ tre nứa, Noong Mét là Vũng Cây Mét); nguồn gốc Thái - Hán Việt: Pù Bia (pù tiếng Thái có nghĩa là núi, đồi; bia là một từ Hán Việt để chỉ tấm đá có khắc

chữ, ghi lại những việc mà người đời cần ghi nhớ) Điều này cho thấy sự

Trang 37

giao thoa văn hóa giữa người miền xuôi và người miền núi cùng sinh sống trên mảnh đất này

- Địa danh chƣa xác định đƣợc nguồn gốc: chiếm một số lượng

không nhiều lắm Do sự giao thoa ngôn ngữ giữa các dân tộc, nhất là trong cách phát âm đã làm phai mờ nguồn gốc của địa danh đó Thậm chí ngay trong nội bộ một ngôn ngữ cũng có cách phát âm khác nhau (tiếng Thái Thanh và tiếng Thái hàng Tổng) làm cho phức tạp và khó xác định được nguồn gốc ngôn ngữ của địa danh đó

Ngoài ra, địa danh Con Cuông còn lưu lại được một số tiếng Việt cổ

như kẻ có nghĩa là làng, xóm Chúng tôi xếp các địa danh này vào loại có

nguồn gốc thuần Việt

Bảng 3 Bảng thống kê và phân loại địa danh Con Cuông

theo tiêu chí ngữ nguyên

1 Nguồn gốc tiếng Thái 484 / 41,2% Bản Quẹ (Bản Cây Quế)

4 Nguồn gốc tiếng Pháp 3 / 0,2% Hang Thắm Téc (citerne)

6 Địa danh chưa xác định được

Trang 38

TIỂU KẾT

Qua sự trình bày một số quan niệm về địa danh của các nhà nghiên cứu như A.V.Superanskaia, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Phan Xuân Đạm, chúng tôi đã đưa ra quan điểm riêng của mình về địa danh cho công

trình nghiên cứu này: địa danh là những từ hoặc cụm từ chuyên dùng vào việc

định danh và có tác dụng khu biệt, định vị các đối tượng địa lý tự nhiên hoặc nhân văn

Cho đến nay, các nhà địa danh học vẫn chưa có được sự thống nhất với nhau về cách phân loại địa danh Tùy từng mục đích và đối tượng nghiên cứu, tùy từng cách tiếp cận mà người nghiên cứu đưa ra cách phân loại của mình sao cho phù hợp

Qua tham khảo một số cách phân loại địa danh của một số nhà địa danh học trên thế giới và trong nước như Ch.Rostaing, A.V.Superanskaia, Trần Thanh Tâm, Nguyễn Văn Âu, Lê Trung Hoa, Từ Thu Mai…, đồng thời căn

cứ vào đặc điểm địa lý tự nhiên, hành chính và bản sắc văn hóa của huyện Con Cuông, chúng tôi đã trình bày cách phân loại của mình theo hai tiêu chí:

tích lịch sử và các công trình văn hóa, tín ngưỡng)

Dựa trên tiêu chí ngữ nguyên, theo chúng tôi địa danh Con Cuông có 6 loại: địa danh tiếng Thái, địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh hỗn hợp và địa danh chưa xác định được nguồn gốc

Trang 39

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC ĐỊA DANH CON CUÔNG

2.1 Mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông

2.1.1 Khái niệm chung về mô hình cấu trúc phức thể địa danh

Tuy số lượng các địa danh là không thể kể hết nhưng chúng không tồn tại rời rạc mà vẫn có những mối liên kết với nhau, chúng luôn được đặt trong một cấu trúc, một chỉnh thể nhất định Các nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm

mô hình cấu trúc phức thể địa danh để chỉ các hình thức cấu tạo nhất định này

của địa danh

Theo A.V.Superanskaia: “Những mục tiêu địa lý có hai loại tên: tên

chung để sắp xếp chúng vào hệ thống khái niệm nào (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [53, tr.13]

Từ Thu Mai cho rằng: “Khi đã phân biệt thành bộ phận từ ngữ chung

và bộ phận tên riêng, địa danh được hiểu chỉ là bộ phận tên riêng, còn bộ phận từ ngữ chung được đặt trước tên riêng đó chỉ có tính chất đi kèm, chỉ loại hình đối tượng địa lý” [62, tr.55]

Theo Nguyễn Kiên Trường: “Địa danh mang trong mình hai thông tin:

a) đối tượng được gọi tên thuộc loại hình đối tượng địa lý nào (đồi, sông, phố, làng…), thể hiện qua ý nghĩa của danh từ chung; b) có nghĩa nào đó (phản ánh điều gì đó), thể hiện qua tên riêng” [65, tr.53]

Phan Xuân Đạm cũng chia sẻ các quan điểm trên đây khi nhận định:

“Mỗi địa danh gồm hai thành tố: thành tố chung (A) là từ, ngữ danh pháp và

thành tố riêng (B) là tên riêng… Thành tố thứ nhất giúp chúng ta nhận biết loại hình của đối tượng địa lý, thành tố thứ hai giúp chúng ta khu biệt đối tượng” [61, tr.51-52]

Trang 40

Tổng hợp các ý kiến trên đây, chúng tôi thấy rằng về mặt cấu tạo, địa

danh là một tổ hợp gồm hai bộ phận: thành tố chung (A) và tên riêng (B)

Tổ hợp đó được gọi là cấu trúc phức thể địa danh

Bảng 4 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh

Địa danh

Trong cấu trúc phức thể địa danh, hai yếu tố: thành tố chung và tên

riêng tuy gắn bó, thống nhất với nhau nhưng đều có vai trò, chức năng riêng Thành tố chung thường là danh từ hoặc danh ngữ chứa đựng thông tin về loại

hình của đối tượng như núi, rừng, sông, suối, làng, xóm…, có chức năng chỉ một lớp đối tượng địa lý có cùng thuộc tính, làm cho chúng ta nhận biết được

loại hình của các đối tượng địa lý Tên riêng chứa đựng thông tin về đặc điểm,

ý nghĩa riêng của từng đối tượng địa lý, có chức năng khu biệt đối tượng địa

lý này với đối tượng địa lý khác Thành tố chung là cái được hạn định, còn tên

riêng là cái hạn định, dùng để hạn định cho thành tố chung Về mặt hình thức, thành tố chung thường đứng trước tên riêng và được viết thường còn tên riêng được viết hoa

2.1.2 Mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông

Địa danh huyện Con Cuông cũng được tạo thành bởi một phức thể

gồm hai bộ phận là thành tố chung và tên riêng Qua khảo sát 1176 địa danh

trên địa bàn huyện, chúng tôi đưa ra mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông như sau:

Ngày đăng: 03/10/2021, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005) - Hán - Việt từ điển, Nxb VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt từ điển
Nhà XB: Nxb VHTT
2. Nguyễn Quang Ân (2003) - Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính (1945 - 2002), Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những thay đổi địa danh và địa giới hành chính
Nhà XB: Nxb Thông tấn
3. Nguyễn Văn Âu (1993) - Địa danh Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa danh Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. Nguyễn Văn Âu (2000) - Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, Nxb ĐHQG HN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam
Nhà XB: Nxb ĐHQG HN
5. Diệp Quang Ban (2005) - Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
6. Ban nghiên cứu lịch sử và địa lý Nghệ Tĩnh (1994) - Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập I), Nxb Nghệ Tĩnh, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập I)
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
7. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên, 1999) - Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
8. Nguyễn Nhã Bản (2001) - Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh trên dẫn liệu ngôn ngữ, Nxb Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh trên dẫn liệu ngôn ngữ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
9. Nguyễn Nhã Bản (2001) - Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Nghệ An
10. Nguyễn Nhã Bản (2005) - Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
11. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên, 2005) - Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Nhà XB: NXB Nghệ An
12. Nguyễn Nhã Bản - Phan Xuân Đạm (2009) - Tiếng Việt trong lòng đất và trên mặt đất, NXB Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trong lòng đất và trên mặt đất
Nhà XB: NXB Nghệ An
13. Đỗ Hữu Châu (1998) - Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQG
14. Đỗ Hữu Châu (2007) - Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQG
15. Hoàng Thị Châu (2004) - Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQG
16. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên, 1995) - Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
17. Phan Huy Chú (1997) - Hoàng Việt địa dư chí, Phan Đăng dịch, NXB Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt địa dư chí
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
18. Lê Hồng Chương (2007) - Từ điển địa danh hành chính Việt Nam, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển địa danh hành chính Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
19. Chương trình Thái học Việt Nam (1998) - Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
20. Lê Quang Đinh (2005) - Hoàng Việt thống nhất dư địa chí, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt thống nhất dư địa chí
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(nghiên cứu tên gọi đồi núi, địa hình dương so với mặt đất), Thủy danh học - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
nghi ên cứu tên gọi đồi núi, địa hình dương so với mặt đất), Thủy danh học (Trang 19)
thập được 1176 địa danh thuộc 59 loại địa danh khác nhau, thể hiện qua bảng 1 và biểu đồ 1 dưới đây - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
th ập được 1176 địa danh thuộc 59 loại địa danh khác nhau, thể hiện qua bảng 1 và biểu đồ 1 dưới đây (Trang 31)
6 Địa danh chưa xác định được - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
6 Địa danh chưa xác định được (Trang 37)
Bảng 3. Bảng thống kê và phân loại địa danh Con Cuông theo tiêu chí ngữ nguyên  - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 3. Bảng thống kê và phân loại địa danh Con Cuông theo tiêu chí ngữ nguyên (Trang 37)
Bảng 4. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 4. Mô hình cấu trúc phức thể địa danh (Trang 40)
Bảng 5. Mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 5. Mô hình cấu trúc địa danh Con Cuông (Trang 41)
Bảng 6. Thống kê, phân loại thành tố chung theo loại hình - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 6. Thống kê, phân loại thành tố chung theo loại hình (Trang 43)
Bảng 7. Thống kê cấu tạo các thành tố chung - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 7. Thống kê cấu tạo các thành tố chung (Trang 45)
Sau đây là các bảng thống kê xu hướng và tỉ lệ chuyển hóa thành tố chung vào tên riêng:  - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
au đây là các bảng thống kê xu hướng và tỉ lệ chuyển hóa thành tố chung vào tên riêng: (Trang 47)
Bảng 9. Thống kê tỉ lệ chuyển hóa của thành tố chung - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 9. Thống kê tỉ lệ chuyển hóa của thành tố chung (Trang 48)
Bảng 11. Tổng hợp số lượng tên riêng theo ngữ nguyên - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
Bảng 11. Tổng hợp số lượng tên riêng theo ngữ nguyên (Trang 54)
2. Bảng thống kê hệ thống các địa danh Con Cuông: - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
2. Bảng thống kê hệ thống các địa danh Con Cuông: (Trang 101)
3. Bản đồ và một số hình ảnh về huyện Con Cuông: - Khảo sát địa danh huyện con cuông, tỉnh nghệ an
3. Bản đồ và một số hình ảnh về huyện Con Cuông: (Trang 133)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w