1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Con người và không gian nam bộ trong truyện ngắn sơn nam

111 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con Người Và Không Gian Nam Bộ Trong Truyện Ngắn Sơn Nam
Tác giả Sơn Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 665,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều bài báo, luận văn nghiên cứu về Sơn Nam nhưng những nghiên cứu đó chủ yếu xoay quanh các mặt như: tiểu sử, tính cách, phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhân cách nhà văn, q

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sơn Nam là một nhà văn lớn của văn học miền Nam nói riêng và

văn học Việt Nam nói chung Ông đã để lại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ trên nhiều lĩnh vực: Tiểu thuyết, hồi kí, khảo cứu, thơ, truyện ngắn… Ông từng được mệnh danh là "nhà Nam Bộ học", là "pho từ điển sống về Nam Bộ", là "nhà phong tục học"… Dù được dư luận hết sức quan tâm nhưng sáng tác của Sơn Nam vẫn là một mảnh đất giàu tiềm năng chưa được khai phá hết, luôn vẫy gọi sự đồng hành khám phá của độc giả và các nhà nghiên cứu

1.2 Trong khối lượng sáng tác đồ sộ của Sơn Nam, nổi tiếng hơn cả

là truyện ngắn và ký, đặc biệt là truyện ngắn Chính truyện ngắn là thể loại đầu tiên đã vinh danh ông, đưa ông đến với sự đón nhận nồng nhiệt của công chúng Truyện ngắn đã thể hiện đầy đủ, đậm nét nhất phong cách nghệ thuật cũng như tài năng của Sơn Nam, đặc biệt là phương diện thể hiện con người và không gian nghệ thuật

1.3 Sơn Nam là tác giả có tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong

chương trình Ngữ Văn trung học phổ thông (Lớp 12) với truyện ngắn Bắt

sấu rừng U Minh hạ Đây là truyện ngắn rút từ tập truyện Hương rừng Cà Mau, một trong những truyện ngắn tiêu biểu, ở đó nổi bật lên hình tượng

người nông dân đầy nghĩa khí trong công cuộc khẩn hoang để tạo lập và phát triển cuộc sống ở vùng đất Nam Bộ Chúng tôi, với việc đi sâu tìm hiểu, lí giải về con người và không gian trong truyện ngắn Sơn Nam khi

khảo sát các tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau và Biển cỏ miền tây, hi

vọng sẽ góp phần hữu ích vào việc tiếp cận một tác phẩm cụ thể trong nhà trường

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Sơn Nam là nhà văn tắm mình trong vùng sông nước Cà Mau,

suốt cuộc đời gắn bó với miền quê Nam Bộ Tiếp cận với toàn bộ tác phẩm

Trang 2

của ông người đọc như được về thăm từng ấp, làng của Nam Bộ Những địa danh nghe qua cũng hết sức ấn tượng về sự hoang dã, tự nhiên của vùng đất này như: Bàu Láng, Cần Giuộc, Hòn Cổ Tròn, Gò Quao, Xẻo Rô, Xẻo Nước… Cả một cuộc đời gắn bó với vùng đất này, người con đất Nam

Bộ ấy, lặng lẽ dùng văn chương làm một công việc, mà như ông đã từng nói, đó là đưa Nam Bộ vào nghệ thuật

Sơn Nam là một nhà văn được đông đảo độc giả và các nhà nghiên cứu biết đến, họ dành cho ông những tình cảm ưu ái đặc biệt Có thể xem ông là một hiện tượng văn học Nam bộ và rộng hơn là văn học cả nước sau năm

1975 Những công trình nghiên cứu nổi bật về Sơn Nam có thể kể:

Luận văn Từ ngữ và biện pháp tu từ trong Hương rừng Cà Mau và

Cánh đồng bất tận của tác giả Lê Thị Thu Hằng Trong luận văn này, tác

giả đã nghiên cứu các đặc trưng về từ ngữ và các biện pháp tu từ trong hai tác phẩm

Trang web http://nhavansonnam.blogspot.com/ với hàng loạt bài báo

khắc hoạ chân dung tinh thần của Sơn Nam như:

- Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê của tác giả Lam Điền

- Sơn Nam Hơi thở của miền Nam nước Việt của tác giả Tạ Tỵ

- Nhà văn Sơn Nam nhà Nam Bộ học của Huỳnh Công Tín

- Sơn Nam - Dề lục bình Nam Bộ của Trần Mạnh Hảo

- Sơn Nam - Nhà văn, nhà khảo cứu văn hoá của Ngô Hà

- Mãi sừng sững một ngọn núi Sơn Nam của Phan Hoàng

- Sơn Nam - Người đi bộ vào bất tử của Hồng Minh

- Sơn Nam - Người của nhiều thời của N.A.Đ…

Trong những bài báo này các tác giả đã dựng nên bức chân dung đầy

ấn tượng khó phai về một ông già Nam Bộ am hiểu sâu sắc về văn hoá, phong tục tập quán của con người và miền đất Nam Bộ Điểm đặc biệt trong các bài báo này là đều đánh giá cao tài năng, tâm hồn và phong cách

Trang 3

nghệ thuật thể hiện đậm nét trên các phương diện: văn phong và ngôn ngữ, tính cách con người miền Nam… của ông

2.2 Vấn đề con người và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn

của Sơn Nam đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến một cách tản mạn trong các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học của mình

- Trong khoá luận tốt nghiệp Hình tượng người nông dân khẩn

hoang trong Hương rừng Cà Mau của tác giả Nguyễn Thị An đã khắc hoạ

hình tượng những người nông dân khẩn hoang với các tính cách đáng quí: đầy nghĩa khí, tha thiết với cội nguồn và sống hoà đồng với môi trường tự nhiên Đồng thời trong khoá luận này, tác giả đã chú trọng nghiên cứu nghệ thuật xây dựng người nông dân của Sơn Nam trên các phương diện bối cảnh hoang dã đầy thử thách, ngôn ngữ mang đậm tính vùng miền… Tuy nhiên, do yêu cầu của khoá luận, tác giả chưa khai thác hình tượng

con người Nam Bộ trong tập truyện Biển cỏ miền Tây

- Trong luận văn Nhân vật trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam của Cao Thành Đon, tác giả đã nghiên cứu nhân vật trong Hương rừng Cà

Mau trên hai tuyến nhân vật phản diện và nhân vật chính diện Đặc biệt

trong luận văn này, tác giả đã rất chú trọng đến các phương tiện nghệ thuật

để xây dựng nhân vật như: tạo tình huống, khắc hoạ nhân vật bằng các chi tiết ngoại hình và hành động, miêu tả ngoại cảnh, đặt tên nhân vật, ngôn ngữ,…

Cũng như khoá luận tốt nghiệp ở trên, luận văn này chưa khảo sát

hình tượng con người trong Biển cỏ miền Tây

- Đáng chú ý về không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Sơn

Nam có bài báo Hình tượng sông rạch trong truyện ngắn Sơn Nam của

tác giả Trần Phỏng Diều Trong bài viết này tác giả đã xem hình tượng sông rạch như là một cách ứng xử của con người trước tự nhiên Yếu tố sông rạch gắn liền với sinh hoạt vật chất và tinh thần, tâm linh của con người Nam Bộ

Trang 4

- Tác giả Trầm Hương trong bài viết Vĩnh biệt người thầy Nam Bộ

đã khẳng định những đặc thù của không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Sơn Nam Đó là một không gian ám ảnh thường trực đến nỗi nó có khả năng "Nam Bộ hoá", "miệt vườn hoá" những vùng không gian khác: "ông

đã mang theo cốt cách của đất rừng phương Nam vào những toà nhà lộng lẫy cao sang, những dinh thự quyền lực, để rồi lầm lũi đi bộ sâu vào những ngõ hẻm tối tăm, những khu lao động nghèo nàn mà tìm lại chút hương đất phương Nam còn sót lại chút thị thành" [21] Cùng quan điểm với Trầm Hương, hai tác giả Bùi Mới [26] và Nguyễn Hữu Hồng Minh [25] cho rằng, cái đóng góp lớn lao của Sơn Nam là đã tạo ra một vùng không gian thấm đẫm văn minh miệt vườn trước sự xâm lấn đầy khốc liệt của cuộc sống đô thị náo nhiệt

2.3 Đã có nhiều bài báo, luận văn nghiên cứu về Sơn Nam nhưng

những nghiên cứu đó chủ yếu xoay quanh các mặt như: tiểu sử, tính cách, phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhân cách nhà văn, quan niệm sống và cách viết của nhà văn… Một số bài báo, công trình khoa học đã bước đầu nghiên cứu hình tượng con người và không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Sơn Nam Tuy nhiên, nhìn chung chúng còn đầy tính tản mạn, chưa nghiên cứu hình tượng và không gian trong truyện ngắn của ông một cách đầy đủ và có hệ thống Tuy vậy những công trình nghiên cứu và các bài báo đó là những gợi ý quí báu cho chúng tôi hoàn thành luận văn này

3 Đối tượng, mục đích nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Con người và không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam 3.2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đi vào nghiên cứu về con người và không gian Nam bộ trong truyện ngắn Sơn Nam

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

- Tìm hiểu vai trò của truyện ngắn Sơn Nam trong bức tranh truyện ngắn Nam Bộ

- Tìm hiểu sự thể hiện con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam

- Tìm hiểu sự thể hiện không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam 3.4 Phạm vi nghiên cứu

- Tập truyện "Biển cỏ miền tây - Hình bóng cũ" (2004) - Nxb Trẻ, TP

Hồ Chí Minh (gồm 19 truyện ngắn)

- Tập truyện "Hương rừng Cà Mau" (2009), tập 1, tập 2, tập 3 - Nxb

Trẻ, TP Hồ Chí Minh (gồm 65 truyện ngắn)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp phân loại - thống kê

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Vị trí của truyện ngắn Sơn Nam trong bức tranh truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Chương 2 Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam

Chương 3 Không gian Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam

Trang 6

Chương 1 TRUYỆN NGẮN SƠN NAM TRONG BỨC TRANH TRUYỆN NGẮN NAM BỘ

1.1 Vài nét về bức tranh truyện ngắn Nam Bộ

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm truyện ngắn

Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỷ XIX) nhưng những hình thức gần với truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương Trải qua hàng ngàn năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm lĩnh được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên Hiện đại, Hậu hiện đại, khi con người bị dồn ép về mặt thời gian hơn bao giờ hết Con người không có đủ thời gian cho những bộ tiểu thuyết

đồ sộ Truyện ngắn đã hàm chứa cái thú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ, gọn và đầy truyền cảm, truyền dẫn cực nhanh những thông tin, nhanh cũng là một thế mạnh để truyện ngắn chinh phục độc giả đương đại Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất

sắc của mình

Ở Châu Âu thời kỳ Phục Hưng truyện ngắn xuất hiện với tư cách là một thể văn xuôi độc lập Sự ra đời của truyện ngắn ở các nước châu Âu gắn với điều kiện lịch sử - xã hội văn hoá của các dân tộc khác nhau Ở Nga, truyện ngắn đã có mầm mống từ trước, song sang thế kỷ XIX mới thực sự toả sáng với tên tuổi của A.Puskin (1799 - 1837) Nhìn chung ở các nước phương Tây, truyện ngắn là thể loại phát triển sớm và thu được nhiều thành tựu đáng kể Tên tuổi của các nhà văn nổi tiếng thế giới đều gắn liền với thể loại truyện ngắn

Ở Việt Nam, truyện ngắn xuất hiện cuối thế kỷ XIX, bắt đầu nở rộ vào khoảng giữa thế kỷ XX, với những cây bút đại thụ như Nam Cao,

Trang 7

Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyễn Tuân… Tiếp theo là Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu… rồi đến Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Lê Minh Khuê và gần đây một số nhà văn trẻ nổi lên như Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư…

Truyện ngắn là gì? Định nghĩa như thế nào cho đúng là một truyện ngắn, quả là một vấn đề rất khó Nếu thống kê đầy đủ có đến cả trăm định nghĩa cho thể loại này

Giáo sư văn học người Pháp D.Grônôpxki trong sách Đọc truyện

ngắn viết: "Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi khôn

cùng Nó là một vật biến hoá về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba mươi trang Biến hoá về kiểu loại: tình cảm, trào phúng, kỳ ảo, hướng về biến cố thật hay tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng Biến hoá về nội dung: thay đổi vô cùng vô tận Muốn có chất liệu để kể, cần một cái gì đó xảy ra, dù

đó là một sự thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hiệu quả, vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt" [66, 79]

Nhà văn Tônxtôi nói đại ý như sau: Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất Còn nhà văn Mỹ William Saroya cho rằng Truyện ngắn là một cái gì khôn cùng Thật là lạ, những gì được các nhà văn

có thể đạt tới trong cái hình thức riêng của sự không cùng này lại rất nhỏ bé… Còn D.Grjnowsky phát biểu tương tự: Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi khôn cùng Nó là một nhân vật biến hoá như một quả chanh của Lọ Lem Biến hoá về khuôn khổ; ba dòng hoặc ba mươi trang Biến hoá về kiểu loại, tình cảm trào phúng, kì ảo, hướng về biến cố

có thật hoặc tưởng tượng, hiện thực hoặc phóng túng Biến hoá về nội dung thay đổi vô cùng tận… Các nhà văn Việt Nam cũng như giới nghiên cứu đương thời đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về truyện ngắn

Trang 8

Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích về ''sự có mặt'' của thuật

ngữ truyện ngắn ở Việt Nam như sau: "Trước hết ta nên phân biệt thế nào

là truyện ngắn, thế nào là truyện dài Loại truyện viết bằng văn xuôi theo

nghệ thuật Âu Tây là loại mới có trong văn học Việt Nam, từ ngày ta chịu ảnh hưởng của văn học Pháp Ngày xưa, ta chỉ có truyện kể bằng miệng

hoặc viết bằng văn vần Những truyện Muỗi nhà, muỗi đồng, Hai ông Phật

cãi nhau trong Thánh Tông di thảo, là viết theo nghệ thuật Á Đông Hoàng

Lê nhất thống chí là lịch sử - ký sự, chứ không phải là lịch sử - tiểu thuyết

Cho nên loại truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây, ta theo Trung Quốc mà

gọi là tiểu thuyết, và cái nào viết trong vài trang gọi là đoản thiên - tiểu

thuyết và cái nào viết trăm trang gọi là trung thiên - tiểu thuyết và cái nào

viết hàng trăm trang gọi là trường thiên - tiểu thuyết… Năm 1932, báo

Phong hoá dịch đoản thiên - tiểu thuyết ra tiếng ta gọi là truyện ngắn Rồi

từ đó trường thiên - tiểu thuyết gọi là truyện dài và trung thiên - tiểu thuyết gọi là truyện vừa''

Trở lên là những ý kiến, quan niệm xung quanh thuật ngữ truyện ngắn Ở đây cần lưu ý trong sự xác nhận của nhà văn Nguyễn Công Hoan thì "Ngày xưa ta chỉ có truyện kể bằng miệng hoặc bằng văn vần" Quan niệm này về sau được giáo sư Phùng Văn Tửu trình bày lại trong hệ thống quan điểm của mình khi xem xét và so sánh truyện kể với truyện ngắn

Theo giáo sư Trần Đình Sử cũng nói đại ý như sau: Truyện là một

thuật ngữ có cội nguồn của thể loại lịch sử" và "Người Việt Nam thích gọi

là truyện, có lẽ đó là hình thức tự sự có thể kể lại được, có nhân vật, có cốt truyện, có hư cấu, khác với hình thức lục, ký, chí - là hình thức ghi chép của văn học viết Trong thuật ngữ truyện bao hàm một cảm giác dân gian

rất đặc trưng cho thời đại và không phải là truyện trong hệ thống phân loại

truyện, ở mục trên Chính vì vậy tôi đề nghị dùng truyện để chỉ loại hình tự

sự trung đại, dù tác phẩm viết bằng văn xuôi, văn vần, hoặc kể bằng miệng như trong truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười

Trang 9

Quan niệm của nhà nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ của truyện (trong đó có truyện ngắn) với truyện kể, nhưng nội hàm của thuật ngữ

truyện theo cách trình bày này lại rất rộng (truyện thần quái, truyện thần

kỳ, truyện diễn ca lịch sử, truyện tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ Hán và Nôm)

Vương Trí Nhàn thì cho rằng: "Truyện ngắn là một tác phẩm văn xuôi cỡ nhỏ, dung lượng hạn chế, phải nói là nhỏ hơn hẳn so với thể khác

là truyện vừa và tiểu thuyết"

Đối với những nhà văn sáng tác truyện ngắn, mỗi người quan niệm

về truyện ngắn một cách khác nhau Nhưng theo phương pháp loại hình có thể tạm xếp các ý kiến, quan niệm về truyện ngắn trong một số nhóm chính sau:

Nhóm thứ nhất: Tiêu biểu là K.Pauxtôpxki (nhà văn Nga; 1892 -

1968), tác giả những cuốn sách quen thuộc với bạn đọc Việt Nam như

Bông hồng vàng, Bình minh mưa, Một mình với mùa thu Ông xác định:

"Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó, cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường, và cái gì bình thường hiện ra như một cái gì không bình thường" [39, 105] Trong quan niệm của ông, chúng ta nhận ra sự gần gũi của ông với bậc tiền bối Gớt, khi cả hai đều nhấn mạnh đến "yếu tố bất thường, đột

biến", "một chuyện lạ làm ta kinh ngạc" Sự đan xen giữa cái bình thường

và cái không bình thường cũng chính là sự đan xen giữa cái hợp lí và cái

phi lí, lôgic và phi lôgic trong đời sống Mà bản thân nghệ thuật cũng chứa

đầy tính ngẫu hứng và "phi lôgic" của nó

Nhóm thứ hai: Đại diện cho nhóm này là quan niệm của nhà văn

Nguyễn Kiên: "Tôi cho rằng mỗi truyện ngắn là một trường hợp… Trong

quan hệ giữa con người và đời sống, có những khoảng khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó được bộc lộ Truyện ngắn phải nắm bắt được cái trường hợp ấy Trường hợp ở đây là một màn kịch chớp nhoáng, có khi là

Trang 10

một trạng thái tâm lý, một biến chuyển tình cảm kéo dài chậm rãi trong nhiều ngày Nhưng nhìn chung, thì vẫn có thể gọi là một trường hợp"[39, 38]

Trong cách diễn đạt của nhà văn Nguyễn Kiên, chúng ta thấy cụm từ

"một trường hợp" đã thể hiện rõ tính chất của truyện ngắn (so với truyện

vừa và truyện dài): một chỉ khối lượng của tác phẩm, nghĩa là dung lượng

của nó được qui định trong số ít: (một trạng thái tâm lý, một khoảng khắc đời sống, một vấn đề nhân tâm thời đại, một khía cạnh của tính cách…); loé sáng và từ đó vạch ra được bản chất, quy luật của đối tượng phản ánh

Chúng ta có thể khảo sát một số truyện ngắn như Mùi cọp của Quý Thể,

Một bữa no, Lão Hạc của Nam Cao…

Nhóm thứ ba: Tiêu biểu cho nhóm này là nhà văn Nguyễn Công

Hoan với quan niệm: ''Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc… Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện… Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi" [18, 301-303]

Trong khoảng 200 truyện đã viết, dường như nhà văn Nguyễn Công Hoan tuân thủ nguyên tắc này Nhà văn nhấn mạnh thêm: "Vậy thì mỗi truyện cần một ý - một ý thôi", chữ ý của nhà văn nói ở đây hiểu là vấn đề,

là tư tưởng - chủ đề của tác phẩm Trong sách Đời viết văn của tôi, nhà văn

đã nói rất kỹ về nghề viết truyện ngắn, thậm chí nói rất kỹ một số truyện

ngắn mà chính nhà văn và bạn đọc rất tâm đắc, thích thú, như trong Đào

kép mới, Hai thằng khốn nạn, Thằng ăn cắp, Kép Tư Bền…

Nhóm thứ tư: Đại diện cho những nhà văn gần gũi với mình về

quan niệm truyện ngắn, Nguyên Ngọc xác nhận "Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung", vì thế không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều vẻ Có

Trang 11

truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua" [39, 26]

Trong Từ điển văn học (tập 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội 1984), các tác giả giải thích:

"Hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống; một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội

Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian

và thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật tư tưởng chủ đề, khắc hoạ nét tính cách nhân vật đòi hỏi nhà văn viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén Do đó trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện được những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn" [14, 1847]

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa truyện ngắn như sau:

"Là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống, đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ" [13, 475] Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm

tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm ngắn nhưng thực chất những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như truyện cổ tích, truyện cười, giai thoại… lại càng không phải là truyện ngắn Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn

Trang 12

cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn so với lịch sử văn học

150 thuật ngữ văn học (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999) trong

mục truyện ngắn Lại Nguyên Ân: "Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ" [2, 236]

Mỗi người có một cách diễn đạt, định nghĩa khác nhau về truyện ngắn Nhưng chung qui lại ta có thể rút ra được những đặc điểm chính sau của thể loại truyện ngắn:

Truyện ngắn thuộc một thể tài tự sự cỡ nhỏ, chỉ thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật Nhỏ có là từ vài trang đến vài chục trang, một câu chuyện được kể nghệ thuật nhưng không được phép kể dài dòng, câu chuyện có sức ám ảnh, nghĩa là tạo ra một ấn tượng duy nhất mạnh mẽ đồng thời tạo liên tưởng ở người đọc Như vậy, truyện ngắn là cách phát hiện nghệ thuật của đời sống theo chiều sâu Có những bậc thầy về thể loại này đã đem đến cho truyện ngắn một sức chứa của tiểu thuyết Với hình thức tự sự cỡ nhỏ, số trang ít, ít sự kiện, ít nhân vật, phạm

vi phản ánh hẹp nhưng tất cả những chi tiết góp phần làm cho câu chuyện đạt đến hiệu quả mong muốn, tác động mạnh mẽ và giá trị thẩm mỹ lớn lao

Nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm Có thể nói nhân vật là xương sống là linh hồn của mỗi tác phẩm, nhân vật cũng là người phát ngôn cho tư tưởng nhà văn, thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả

Nếu nhiệm vụ của tiểu thuyết là theo dõi, tìm hiểu và mô tả tỉ mỉ sự thăng trầm của số phận thì nhiệm vụ của truyện ngắn là “sử dụng” nó, có nghĩa là vào lúc cần thiết nó hiện lên rõ ràng, tuân thủ các nguyên tắc điển hình hóa Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng,

Trang 13

một nét tính chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người Theo Sêkhốp, nhân vật truyện ngắn phải được hiểu theo nghĩa rộng, có khi

là người, có khi là vật Cho dù là tồn tại dưới dạng nào thì tất cả các nhân vật đều hướng tới con người Chỗ khác biệt cơ bản nhất của truyện ngắn là nhân vật của tiểu thuyết thường là một thế giới thì nhân vật chính của truyện ngắn chỉ là một mảnh nhỏ của thế giới

Chi tiết là tiểu tiết trong tác phẩm tự sự Truyện ngắn có thể không

có một cốt truyện nhưng không thể không có chi tiết Chính chi tiết mà không khí, cảnh trí, tình huống, tính cách, hành động, tâm tư nhân vật được bộc lộ đầy đủ Chi tiết đóng vai trò quan trọng, nó có tính chất biểu tượng Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết

Nhà văn Nguyên Ngọc nhấn mạnh: “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện ly kỳ, gây cấn, kể được Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ như nước lã” Nguyễn Công Hoan cũng nhìn nhận:

“Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết”

Một chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa chân thực còn cần phải đạt tới ý nghĩa tượng trưng, hàm chứa một cách nhìn, cách đánh giá và năng lực tưởng tượng của nhà văn đối với cuộc sống và con người

Tình huống được nảy sinh từ một sự kiện, một mâu thuẫn nhất định Mâu thuẫn càng quyết liệt, bất ngờ, thì tình huống càng hấp dẫn, cuốn hút Nói chung, tình huống phát triển cao thành xung đột Tình huống giúp cho những gì còn nằm trong hình thức chưa phát triển nay bộc lộ và hoạt động tích cực Vì thế, truyện ngắn cũng như các thể loại tự sự khác, không thể thiếu tình huống Chỉ trong các tình huống cụ thể các nhân vật mới bộc lộ tính cách, tâm lý hoặc thay đổi tính cách, tâm lý nhằm biểu đạt tư tưởng

Trang 14

nghệ thuật của nhà văn

Nói tóm lại, khi bước vào một truyện ngắn người đọc cần phải nắm được giá trị của các bình diện nghệ thuật cấu thành cái thực thể sinh động

là truyện ngắn Nhưng nếu chưa nắm được tình huống thì xem như chưa nắm được chiếc chìa khóa mầu nhiệm để mở vào một thế giới bí ẩn của truyện ngắn

Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển truyện ngắn có thể thâu nạp thêm những đặc điểm mới bởi sự thâm nhập tác động lẫn nhau giữa các thể loại văn học cũng như do cách đọc của thời đại quy định

1.1.2 Khái quát về diện mạo truyện ngắn Nam Bộ

Nam bộ được gọi vùng đất mới của tổ quốc ta, hình thành muộn, lưu dân người Việt mở cõi từ cuối thế kỷ XVII đến nay đã trên 300 năm Quá trình khai hoang, mở cõi đã hình thành trên vùng đất này những nét văn hoá cộng cư đặc sắc của bốn dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer và Chăm Người Nam bộ có phong cách, nếp sống, lời ăn tiếng nói, suy nghĩ có đặc thù riêng biệt; thể hiện ở sự thoáng đạt, sởi lởi, nghĩa khí, hào hiệp, thẳng thắn… đậm hơn những vùng khác

Nền văn học quốc ngữ ở Nam Bộ đầu thế kỷ XX đã được hình thành trong thời kỳ miền Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp và trải qua nhiều chặng đường chống xâm lăng của nhân dân Việt Nam

Vùng đất và con người Nam Bộ từ lâu đã đi vào văn học bởi sự gắn

bó máu thịt giữa người nghệ sĩ với hiện thực của một vùng đất mới Từ thuở mang gươm đi mở cõi, người Nam Bộ đã có thơ văn Xa xưa nhất,

chúng ta có thể kể tao đàn thơ “Chiêu Anh các” (1736) Đây là nơi chiêu tập những bậc anh tài về văn chương, với hai tập thơ chữ nôm “Hà Tiên

thập vịnh, Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh” ca ngợi nước non tươi đẹp Ngoài

ra còn phải kể đến Gia Định tam gia thi tập với sự có mặt của Trịnh Hoài

Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh trong nhóm “Bình Dương thi xã” Như vậy, Nam Bộ đã có truyền thống thơ văn từ ba trăm năm trước

Trang 15

Những năm từ nửa cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, nền văn học Nam Bộ được biết đến với những tên tuổi lớn, mà trước tiên phải kể đến Nguyễn Đình Chiểu Văn chương Nguyễn Đình Chiểu thấm đẫm tinh thần xả thân vì nghĩa, “thi ân bất cầu báo” Đến giữa những năm tám mươi của thế kỉ XIX, Trần Chánh Chiếu (1867 - 1919) đã đưa tiểu thuyết về với cuộc đời thường và bằng lối văn chương thông tục Ông quan niệm: “từ ngày các đấng cao minh trong lục châu bài diễn các thứ truyện chữ Nho ra quốc âm thì ít có truyện nào có việc trong xứ mình Các truyện đương thời

là truyện Tàu Nay tôi ngụ ý soạn một bổn nói về việc trong xứ mình, dùng tiếng tầm thường cho mọi người dễ hiểu đặng” Với quan điểm này văn chương Nam Bộ ngày càng gần hơn với hiện thực Đó chính là đặc điểm của văn chương Nam Bộ trong buổi đầu Đời sống con người Nam Bộ được tái hiện chân thực dưới ngòi bút của Hồ Biểu Chánh Đọc tác phẩm của Hồ Biểu Chánh ta thấy rất rõ con người Nam Bộ với những tính cách vị tha, bao dung… như đang sống ở ngoài đời

Kế tục thế hệ cha anh, là những cây bút văn xuôi thời hiện đại: Trang Thế Hy, Bình Nguyên Lộc, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trần Thanh Giao, Dạ Ngân… Trang văn của họ thấm đẫm chất Nam Bộ và được nhiều người biết đến

Văn học Nam Bộ chảy theo dòng chung văn học cả nước, sau 1975, văn học bắt đầu cách tân và đạt được nhiều thành tựu đáng kể về nội dung

và hình thức biểu hiện, tiêu biểu là các tác giả Nguyễn Thị Diệp Mai, Lâm Thị Thanh Hà, My Lăng, Đỗ Tuyết Mai, Nguyễn Ngọc Tư Năm 1999, Nhà xuất bản Trẻ cho ra hai tập truyện ngắn miền Tây, giới thiệu trên 50 tác giả khá quen thuộc Hội nhà văn Đồng bằng sông Cửu Long cho ra mắt tuyển tập 18 nhà văn Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều tuyển tập truyện ngắn khác lần lượt ra đời Điều này cho thấy truyện ngắn Nam Bộ đang có sự chuyển mình rõ nét, đội ngũ những cây bút truyện ngắn được bổ sung ngày một đông đảo hơn, truyện ngắn phần nào đã đáp ứng được tâm lý thị hiếu

Trang 16

của người đọc nhờ sự chuyển tải nhanh nhạy những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội

Thành tựu mà các nhà văn để lại trong lòng độc giả là họ đã xây dựng được những bức tranh Nam Bộ vô cùng phong phú với sông nước, kênh rạch chằng chịt, xuồng, bè tấp nập, rừng rậm, rừng sinh lầy, những cánh đồng bát ngát, chợ nổi trên sông… làm cho người đọc cảm nhận được rằng, thiên nhiên như một đối tượng, một hình tượng, một nhân vật thực sự chứ không đơn thuần làm bối cảnh hoặc nguyên cớ để thể hiện tính cách nhân vật Truyện ngắn Nam bộ đã có bước chuyển mình quan trọng, có được những thành tựu đáng kể Nhìn chung, lĩnh vực truyện ngắn có khởi sắc và phát triển liên tục, hết sức tự nhiên, có đóng góp tích cực vào việc hình thành một mảng văn học vùng miền mang màu sắc Nam Bộ, đồng thời, hòa quyện và bổ sung vào dòng văn học chung cả nước

1.2 Sơn Nam - một gương mặt đặc biệt của truyện ngắn Nam Bộ

1.2.1 Cuộc đời và con người

Sơn Nam có tên thật là Phạm Minh Tài, sinh ngày 11 tháng 12 năm

1926 và mất ngày 13 tháng 8 năm 2008 Ông sinh tại làng Đông Thái, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá Thủa nhỏ ông học tại quê nhà, rồi học trung học tại Cần Thơ Năm 1945, ông tham gia Thanh niên tiền phong, giành lấy chính quyền địa phương, rồi lần lượt tham gia công tác ở hội văn hóa cứu quốc, phòng chính trị quân khu, phòng văn nghệ ban tuyên huấn

xứ ủy Nam Bộ Sau hiệp định Giơneve 1954, ông về lại Rạch Giá Năm

1955, ông lên Sài Gòn cộng tác với các báo: nhân loại, Công Lý, Ánh Sáng… Năm 1960 - 1961, bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam ở nhà lao Phú Lợi (Bình Dương) Ra tù, ông tiếp tục làm báo, viết văn và khảo cứu

về Nam Bộ Sau 1975, ông tiếp tục hoạt động trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ đến khi qua đời (13 - 8 - 2008)

Như vậy, suốt hơn 80 năm trong đời, vừa hoạt động cách mạng vừa hoạt động văn nghệ, ông đã để lại cho hậu thế một tấm gương quý về lối

Trang 17

sống, sự cống hiến và sáng tạo “không chỉ cống hiến trong văn chương, ông còn được xem là người có công khai hóa, khảo cứu và sưu tầm văn hóa mảnh đất Nam Bộ Vì vậy, không phải hiển nhiên mà người ta trân trọng gọi ông là “nhà Nam Bộ học” hay “Ông già Ba Tri” Mảnh đất Nam bộ đã nhào nặn, đào luyện nên con người Sơn Nam Ông đã kết tụ trong mình nhiều tính cách ròng của người Nam bộ Ông giản dị đến mức xuềnh xoàng, bộc trực và khiêm nhượng, dân dã mà không thiếu kiêu sang, cần mẫn mà phóng khoáng… Nhưng trước hết Sơn Nam có tình yêu thầm lặng

mà mãnh liệt giành cho đất đai xứ sở Tình yêu ấy không chỉ khiến ông trở thành một chiến sĩ, sớm gia nhập cách mạng để đấu tranh cho nền độc lập của quê hương, mà quan trọng hơn, nó đã khiến ông sớm có cốt cách của một nhà văn hóa lớn, hằng thiết tha với mọi giá trị của ông cha để lại Trên bước đường nào, ông cũng trân trọng nâng niu từng dáng vẻ, từng lề lối, từng nề nếp, từng tập tục, từng địa danh, từng cảnh trí… của miền châu thổ Sông Cửu Long như một nhà bảo tồn đơn độc, cứ âm thầm lưu giữ tất cả vào những trang sách để lại cho đời Có lẽ vì thế mà Sơn Nam được mọi người ngưỡng mộ gọi cho những cái tên trìu mến, dân dã: Ông già Nam

Bộ, ông già “Ba Tri” của đồng bằng Nam Bộ, nhà Nam Bộ Học… “Sơn Nam luôn hiện ra như sự hòa hợp lạ lùng, theo đúng cách nói Nam Bộ: hình dong cỏ dả, tấm lòng hải sơn

1.2.2 Sự nghiệp văn học

Có lẽ trong làng văn chương Việt Nam, Sơn Nam là người duy nhất sống trọn một cuộc đời bằng chữ nghĩa và sống vì chữ nghĩa Ông sống để viết và viết để nuôi cuộc sống Trong kháng chiến đã viết và về thành thị ông cũng bắt đầu từ trang viết, viết ở bất kỳ đâu, lúc nào Tuy viết nhiều, nhưng so với các nhà văn viết tiểu thuyết tình cảm dưới chế độ Sài Gòn thời bấy giờ thì Sơn Nam vẫn là người có cuộc sống khiêm tốn vì tác phẩm của ông không phải phục vụ cho số đông có nhu cầu giải trí Ông tâm niệm rằng: “Tôi định hướng ngay từ buổi đầu đến với nghề viết: viết về cuộc

Trang 18

khẩn hoang Miền Nam Cả đời tôi đã đi theo định hướng đó và bây giờ vẫn tiếp tục Định hướng như vậy vì tôi đã sinh ra, lớn lên và sống ở vùng đất U Minh” Chính vì lẽ đó, hơn 60 năm cầm bút, Sơn Nam đã để lại một khối lượng đồ sộ viết về miền Nam, kể cả nghiên cứu và văn chương

Ở lĩnh vực nghiên cứu, Sơn Nam có nhiều biên khảo công phu, khoa học, với khoảng 20 đầu sách, trong đó có những tác phẩm rất có giá trị cho việc tìm hiểu về vùng đất Nam Bộ như:

- Người Sài G n

- Tiếp cận đồng bằng Sông Cửu Long

- Tìm hiểu đất Hậu Giang

- Văn minh miệt vườn

Ở lĩnh vực sáng tác văn chương, tác phẩm của Sơn Nam rất phong phú, đa dạng về thể tài, nội dung phản ánh, trong đó có chừng 20 sáng tác gắn liền với bối cảnh Miền Nam rất có giá trị Ông thành công ở nhiều thể loại, những tác phẩm tiêu biểu là:

Nam được dựng thành phim, tiêu biểu như: Mùa len trâu, Cây huê xà

Sơn Nam cũng thành công ở thể loại kí như:

- Kí sự “Tây đầu đỏ”

- Từ U Minh đến Cần Thơ

Trang 19

Trong danh mục sách của nhà văn Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh tập hợp, giới thiệu gồm hai mảng như sau:

• Sách biên khảo của Sơn Nam:

- Giới thiệu Sài G n ưa

- Đinh miếu và lễ hội xưa

- Văn minh miệt vườn

- Người Việt có dân tộc tính không?

• Sách văn học của Sơn Nam:

- Chim quyên xuống đất

- Dạo chơi tuổi già

- Hồi kí Sơn Nam

- Biển cỏ miền Tây

- Truyện ngắn của truyện ngắn

- Theo chân người tình

- Chuyện tình một người thường dân

- m dương cách trở

Trang 20

Tiếp cận với toàn bộ tác phẩm của Sơn Nam, người đọc như được ông đưa về thăm từng ấp, làng của Nam Bộ Những địa danh nghe qua cũng hết sức ấn tượng về sự hoang dã, tự nhiên của vùng đất này, như: Ba Giồng, Ba Láng…, có hàng trăm địa danh của đồng bằng sông Cửu Long được nhắc đến trong sáng tác cuả Sơn Nam

Ông còn làm sống lại quá khứ miền Nam, không chỉ thời hiện tại mà

cả vài trăm năm về trước, từ chuyện khẩn hoang, chuyện thời Đàng Cựu, đến lai lịch từng vùng đất cụ thể: Sài Gòn, Hà Tiên, Cần Thơ… những chuyện tranh chấp thế lực của thời kỳ Trịnh - Nguyễn; chuyện gia long bôn tẩu, dòng tộc, gia đình; chuyện kháng chiến, chuyện thành thị lẫn chuyện nông thôn… Rõ ràng những năm tháng sống, chịu khó đi nhiều, khéo nắm bắt và tra cứu, Sơn Nam mới có được một vốn sống cực kỳ phong phú như vậy Đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với người dân Nam

Bộ đủ các thành phần, hạng người, nghề nghiệp: giàu sang có, nghèo hèn

có, công chức, nông thôn, địa chủ, tri thức, thương gia có đủ cả… Ông am hiểu những nghề mang đậm nét đặc thù vùng sông nước Cửu Long như: thương hồ, tằn khạo, bắt rắn, làm ruộng dạo, bắt sấu… ông hiểu rành những phong tục tập quán, lễ hội của ba tộc người sống ở Nam bộ như: tết

cổ truyền, Lễ Cung Trăng, ngày giỗ bà…

Điểm nổi bật khác làm nên tên tuổi Ông già Nam Bộ là trong tác phẩm của mình, Sơn Nam để cho các nhân vật của mình chính diện suy nghĩ, hành động, biểu thị tính cách hoàn toàn phù hợp với đặc điểm phẩm chất của người Nam Bộ như: Trọng nghĩa khinh tài, mộc mạc, bộc trực, hiếu khách, chân thành, hào hiệp, cả tin, hiếu kỳ…

Điều quan trọng hơn để mọi người gọi Sơn Nam là “nhà Nam bộ học” chính là ở văn phong của ông Kế thừa và phát huy những thành tựu của thế hệ các nhà văn Nam bộ tiền bối hoặc đàn anh như: Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Trọng Quản, Phú Đức, Phi Vân… Sơn Nam tạo được sắc thái đặc trưng về văn phong trong các sáng tác của mình, làm nên hương sắc rất

Trang 21

riêng trong vườn hoa văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật Nó mang những nét đặc trưng đầy đủ về phương ngữ Nam Bộ trên nhiều bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và

cả phong cách diễn đạt… ngoài ra trong tác phẩm của mình, Sơn Nam còn

sử dụng một khối lượng rất lớn từ ngữ Nam Bộ thông thường trong cuộc sống như: ai dè, ảnh, ăng kết, nhà mát …

Sáu mươi năm cầm bút, Sơn Nam đã tiếp nối truyền thống văn xuôi Nam Bộ của lớp nhà văn đi trước và hơn thế nữa, ông còn làm được nhiều hơn ở mảng biên khảo độc đáo có một không hai trong sự nghiệp sáng tác của mình, góp phần rất lớn vào kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam một bản sắc riêng đáng ghi nhận

1.2.3 Truyện ngắn - nơi thể hiện tập trung tài năng và phong cách của Sơn Nam

1.2.3.1 Quá trình sáng tác truyện ngắn

Nhìn vào tiểu sử và lời bộc bạch, tâm sự của Sơn Nam: “Tôi bắt đầu viết từ những năm đầu của thập niên 50, viết trong khu kháng chiến Tác phẩm của tôi chỉ được công chúng biết đến nhiều khi được in và phát hành

ở Sài Gòn” Ta thấy quá trình sáng tác của Sơn Nam thể hiện qua hai giai đoạn: Trước và sau 1954

Giai đoạn đầu: 1945-1954 với tư cách là cán bộ kháng chiến vừa tham gia phòng trào đấu tranh cách mạng vừa hoạt động văn hóa, văn nghệ, tuy sáng tác không nhiều nhưng Sơn Nam đã để lại dấu ấn riêng mình trên văn đàn Văn học Nam Bộ bằng tập thơ mang tựa đề “Lúa reo”, do hội văn hóa kháng chiến Kiên Giang xuất bản năm 1948 Đặc biệt trong thể loại

truyện ngắn Bên rừng cù lao dung và Tây đầu đỏ đã giành giải nhất trong

cuộc thi do ủy ban kháng chiến - hành chính Nam Bộ tổ chức 1951 - 1952

Có thể gọi đây là giai đoạn thể nghiệm, tìm tòi chất liệu, hình thức thể hiện cũng như nội dung, đề tài… của Sơn Nam Tuy chỉ là mới bước đầu sáng tác văn chương nhưng với thái độ làm việc nghiêm túc, đầy tình thần trách

Trang 22

nhiệm cộng với tấm lòng yêu mến quê hương đất nước, tưởng nhớ nguồn cội văn hóa dân tộc… Sơn Nam sớm bén duyên với văn chương và khẳng định được phong cách của mình so với những nhà văn cùng cảnh ngộ

“bưng biền” lúc bấy giờ “tôi định hướng ngay từ đầu đến với nghề viết: viết về cuộc khẩn hoan Miền Nam Cả đời tôi đã đi theo định hướng đó và bây giờ vẫn tiếp tục Định hướng như vậy vì tôi đã sinh ra lớn lên và sống ở vùng đất u minh Chính vì mục đích viết để khẩn hoang cho một vùng đất đậm đặc để tài nhưng lại thưa thớt, Sơn Nam rất miệt mài lao động nghệ thuật nhằm chiếm lĩnh ở những nơi còn trống vắng tiếng nói tâm hồn của con người Nam Bộ, chất Nam Bộ trở thành trục xương sống cho toàn bộ sáng tác của Sơn Nam “Sơn Nam là nhà văn Nam Bộ, với những tính cách Nam Bộ, ông đã chọn cho mình con đường sáng tác ngay từ khởi đầu sự nghiệp cầm bút của mình, đó là tìm về cội nguồn văn hóa dân tộc mà chính xác là văn hóa Nam Bộ, bằng lối văn mộc mạc, chữ nghĩa dung dị, gần gũi với đời sống thực tế của người dân Nam Bộ” [8]

Giai đoạn 2 (1955 - 2008), đây là giai đoạn phát triển rực rỡ trong sự nghiệp cầm bút và cũng là giai đoạn đánh dấu tài năng và phong cách của Sơn Nam trên văn đàn văn học Việt Nam Kế thừa và phát huy những gì đã đạt được ở giai đoạn trước, ở giai đoạn này, sáng tác của Sơn Nam rất đa dạng, phong phú về thể loại: Thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn… ở lĩnh vực nào Sơn Nam cũng có những tác phẩm gây ấn tượng trong lòng công chúng và độc giả trong và ngoài nước Sơn Nam là một trong số những nhà văn từng sống ở đô thị Miền Nam, những tác phẩm vẫn được in liền một mạch sau giải phóng, điều đó không phải dễ Trước hết, tác phẩm của Sơn Nam không thuộc dạng a dua Sống dưới chế độ ấy mà tránh được lối viết ấy quả

là rất cao tay… chủ yếu viết về phong tục về lịch sử khai khẩn đất đai Nam

Bộ, và nếu là truyện thì đi vào tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị Hơn

60 năm gắn bó với sự nghiệp sáng tác nhưng trang viết của ông không đơn thuần là sự giải trí cho độc giả mà còn là những khảo cứu, khám phá về

Trang 23

mảnh đất phương Nam Là người Nam Bộ chính gốc nên nhà văn Sơn Nam

là người am hiểu quá trình hình thành dải đất này Những sáng tác của ông mang hơi thở thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam bộ được thể hiện qua đoạn văn giản dị mộc mạc

Ngoài tư cách là người cầm bút trực tiếp sáng tác, Sơn Nam còn tham gia một số lĩnh vực văn hóa, văn nghệ đòi hỏi uy tín, sự uyên thâm về lối sống, vốn tri thức khác như: làm cố vấn kịch bản phim, khai thác đề tài văn hóa, cúng tế… Không chỉ cống hiến trong văn chương ông còn là người được xem có công khai hóa, khảo cứu và sưu tầm văn hóa mảnh đất Nam Bộ Vì vậy, không phải hiển nhiên mà người ta trân trọng gọi ông là

“nhà Nam bộ học” hay “ông già Ba Tri”

1.2.3.3 Những đóng góp chủ yếu về nội dung

Truyện ngắn, tiểu thuyết hay biên khảo của Sơn Nam đều phơi bày

sự chan hòa giữa con người và thiên nhiên Nam bộ, ở đó con người khám phá thiên nhiên và thiên nhiên nâng đỡ con người Trong rất nhiều tác phẩm, ông đưa ta về với những sinh hoạt đời thường của người dân trên vùng đất Nam Bộ

Thiên nhiên qua sự khám phá, cảm nhận và phát hiện trong các tác phẩm của ông là một vẻ đẹp bình dị với sự hoang dã và nhiều hiểm nguy

Nó phong phú nhưng vô cùng khắc nghiệt Bởi sự khắc nghiệt đó là nơi rừng thiêng nước độc, chướng khí giăng đầy, thú dữ rình rập Đó chính là nỗi ám ảnh sâu sắc trong tâm trí con người Ở mảnh đất này, đâu chỉ có sấu

mà còn bao nguy hiểm khác như bệnh tật, rồi rắn, cọp, heo rừng… Và còn bao nhiêu là mối đe dọa trong buổi đầu khai phá Nỗi lo lắng băn khoăn của

họ được nhà văn thể hiện rất chân thật Từ cảnh lao động lam lũ quần quật nhưng tối đến lại: “ngủ trần, tay đập muỗi lia lịa, trí óc buồn bã nhớ đến

ngày mai thiếu gạo nấu” Sông Gành Hào, đến việc lưu lạc nay đây mai đó

sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau như bắt cá, nuôi ong, thầy rắn, đưa

đò, kiếm củi… rồi theo gia súc đưa những vùng cao tránh lũ và đặc biệt đó

Trang 24

là nỗi xót xa, đau đớn không biết gữi thân xác ở đâu trên con đường lưu lạc

Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Một cuộc biển dâu Tuy nhiên ta có thể thấy rằng

trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy con người và thiên nhiên ở đây hòa hợp, gắn bó với nhau Họ biết tận dụng thiên nhiên và sống dựa vào thiên nhiên Những sự nguy hiểm ấy cũng cho ta thấy bản lĩnh kiên cường của những con người buổi đầu mở đất

Sơn Nam đã từng nói: “viết văn để viết văn, để yêu nước, chứ không nhằm mục đích nào khác” Thật vậy cả đời ông sống và viết văn để phục vụ quần chúng, phục vụ con người và cuộc đời Ông như một con ong rừng chăm chỉ gom từng giọt mật để góp thêm bông hoa, mật ngọt cho văn hóa, cho văn học Việt Nam thêm đa dạng; góp phần làm cho văn hóa, văn học Nam Bộ một sắc thái riêng không thể nào lẫn lộn

Hầu như suốt những năm tháng cầm bút của mình, Sơn Nam luôn tìm cách đưa "lịch sử khẩn hoang miền Nam" vào trang viết Sáng tác của Sơn Nam đã đưa người đọc đến với những cảm nhận được thế giới riêng của vùng sông nước, cái cuộc sống mới nơi đất rừng “sơn lâm chứng khí”

và cả hào khí của tầng lớp lưu dân trên vùng đất Nam Bộ Bên cạnh sự khắc nghiệt và nguy hiểm đó, nhà văn Sơn Nam còn cho ta thấy được vùng đất mới khai phá được ưu đãi nhiều sản vật, là một nơi giàu có và phong phú của thiên nhiên Nó mang đặc điểm vùng miền còn hoang sơ nhưng trù phú Một vùng lắm kênh nhiều rạch, một vùng tràm bạt ngàn và vô số những điều mà tưởng như rất xưa rồi vậy mà nó như hiện hữu như mới xảy

ra gần đây bởi: sấu, cọp, ong, tràm, ô rô, cóc kèn, hương tràm, mật ong,… Điều đó đã tạo nên nét đẹp của miền Nam xa xưa một thuở nhưng nó không mất đi Thiên nhiên dù còn khắc nghiệt, dữ tợn, hoang dã như những ngày đầu của công cuộc mở đất nhưng bây giờ nó vẫn giữ được nét bình dị, nên thơ bình yên và mang nét đặc trưng của một vùng sông nước rất gần gũi và rất đẹp trong tâm trí con người

Trang 25

Đọc tác phẩm của ông, người đọc được tiếp xúc với những người Nam Bộ đủ các thành phần, hạng người, nghề nghiệp: giàu sang, nghèo hèn, công chức, trí thức, địa chủ, nông dân, thương gia,… ông am hiểu những nghề có tính đặc thù gắn với những vùng đất như nghề: trị rắn cắn

Cây huê xà, bắt sấu Bắt sấu rừng U Minh Hạ, len trâu Mùa len trâu…

Tác phẩm của Sơn Nam ít nhiều đã đem đến cho người đọc cái phong vị, lối sống, sinh hoạt rất đặc trưng của con người Nam Bộ Một cuộc sống phóng khoáng, tự do, những con người cởi mở, lạc quan

Sơn Nam đã làm sống lại quá khứ miền Nam, không chỉ hiện nay mà

cả những vài trăm năm về trước, từ chuyện khẩn hoang miền Nam, đến lai lịch vùng đất, chuyện đấu tranh giữa thực dân giữa ta và Tây, chuyện sinh

cơ lập nghiệp của vài dòng tộc, chuyện làng báo, chuyện sinh hoạt, các loại hình ca cổ, hò đáp, chuyện quan hệ tình cảm gia đình, yêu đương, xã hội…

Và từ những câu chuyện, từ một vài tình huống đến những nhân vật trong câu chuyện đó, Sơn Nam đã phần nào tái hiện được cuộc khẩn hoang quyết liệt, cam go, phức tạp và đầy tự hào của cái buổi đầu mang gươm đi mở cõi Trong quá trình khai mở và chinh phục thiên nhiên, vùng đất mới này không biết đã có bao nhiêu con người đã ngã xuống, đã mất mát và gặp biết bao nhiêu nỗi đau, biết bao nhiêu bi kịch Họ mất đi nhưng mãnh đất miền Nam còn mãi Có thể nói, thông qua những mẫu chuyện, nhân vật của mình

và những gì mà nhà văn Sơn Nam miêu tả, thể hiện trong tập truyện ngắn

Hương rừng Cà Mau ít nhiều giúp chúng ta hiểu thêm về con người và

cuộc đời vùng đất Nam Bộ đầu thế kỷ XX Họ đã sống và gắn bó với mảnh đất buổi đầu khai phá còn nhiều khó khăn và nhiều khắc nghiệt

Sơn Nam là một nhà văn am hiểu nhiều phong tục tập quán, lễ hội miền Nam: tết cổ truyền, ngày giỗ ông bà, thần thánh, kiêng kị,… Và ta nhận ra sinh hoạt một thuở của những người di dân Nam Bộ được sống lại

trong Hương rừng Cà Mau Những câu hò trong Cô Bảy đưa đ mang tâm

tình của người đi khai hoang Mùa nước nổi những đàn trâu bò phải đi

Trang 26

chuyển lên vùng cao, một nét đặc thù của người dân miền đồng bằng Mùa

len trâu hay mùa lụt phải thủy táng chứ không thể chôn được Rồi những

cách lao động, sinh sống và làm việc trong nhiều tác phẩm khác như

Hương rừng, Đóng gông ông thầy Quýt, Cây huê xà,… gắn với những nếp

sinh hoạt và những quan niệm nhân sinh hiền ác, vay trả ở đời

Sơn Nam đã đi vào khai thác những tình cảm tự nhiên của con người, cụ thể là tình yêu Sơn Nam hướng đến khai thác phương diện này dường như là sự minh chứng cho niềm tin của ông vào tình người trước cám dỗ của cuộc sống thị thành Người nông dân Nam Bộ trong cuộc sống

ở mảnh đất Cà Mau hun hút đầy chướng khí, tình yêu dường như không giữ chân được họ… Chàng trai vu vơ với “một tấm lòng” hẹn ước giờ “như con

nhạn bay xa” Hương rừng Cà Mau để cô Bảy năm nào thành dì Bảy Con

bảy đưa đ , tình yêu nảy nở với Hoàng Mai, với hương rừng Cà Mau

không níu giữ được Tư Lập Hương rừng… Tuy nhiên, điều đọng lại trong

tác phẩm cũng như hình tượng mà Sơn Nam xây dựng đã có một sợi dây gắn kết chúng lại Đó là tình yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân hậu thủy chung của con người

họ hoàn toàn phù hợp với đặc trưng của con người Nam Bộ Hầu như những nhân vật mà Sơn Nam đề cập đến nhìn bề ngoài có vẻ xấu xí, cục mịch, đơn giản… Hoặc có sự đối lập giữa bên ngoài và bên trong nhưng ở

họ phần lớn đều có một tâm hồn, những tính cách, phẩm chất tốt đẹp Những nhân vật này không chỉ được kể ra, miêu tả, gọi tên một cách rõ ràng, sinh động ở những suy nghĩ mà họ có những hành động rất cụ thể Họ

Trang 27

không hề phức tạp mà rất dễ hiểu Và từ cách gọi tên nhân vật đến việc miêu tả cách sống, lối sống của nhiều nhân vật đã được nhà văn lựa chọn, thể hiện một nét đặc trưng riêng về nhân vật của mình, cảm nhận của mình

về con người Nam Bộ Nhà văn kể, tả một vài nhân vật nhưng ta thấy được

sự tinh tế độc đáo của nhà văn trong việc phát hiện được chiều sâu cảm xúc, phẩm chất nhân vật Đọc đến đâu ta thấy không có gì gượng ép mà nó như vốn có mà nhân vật tự biểu hiện điều đó Những nhân vật được xây dựng là vẽ lên một đặc điểm về thiên nhiên và con người Nam Bộ với sự khám phá, trân trọng và tin yêu cũng như trong vài nhân vật không kém phần bùi ngùi, thương xót Nhân vật được xây dựng trên những kinh nghiệm, hiểu biết, cảm nhận sâu sắc của tác giả về con người Nam Bộ Họ phần lớn là những con người sống ngay thẳng, có nghĩa có tình, có sự tự tôn dân tộc Đặc biệt họ có tài năng phẩm chất riêng mà nhìn bề ngoài

không thể đánh giá được như Tư Lập Hương Rừng, Tư Thông H n Cổ

Tron, Tư Đức Sông Gành Hào… Từ đó tác giả cho ta thấy, những nhân vật

trong tác phẩm tạo được nét chân thật, cụ thể, gần gũi mà còn phác họa được bức tranh chung về diện mạo cuộc sống và con người Nam Bộ mà người đọc ít nhiều chưa biết hết

Đúng như Sơn Nam từng nói: “không phải cứ ghi âm lại cuộc nói

chuyện của người Nam Bộ là thành văn chương được đâu…” Ngôn ngữ

dùng để kể là một thứ ngôn ngữ đâm chất Nam Bộ - Nam Bộ không chỉ ở

sự xuất hiện nhiều phương ngữ mà chủ yếu là sự phản ánh khá rõ tính cách con người miền đất này: nói năng bộc trực, ưa sự giản dị thô mộc, không thích kiểu đưa đẩy rườm rà Sơn Nam đã hiểu sâu sắc lối sống và tính cách

ấy, hiểu được lời ăn tiếng nói hàng ngày của phần đông con người Nam Bộ nên khi thể hiện trong tác phẩm văn chương của mình đã làm cho ngôn ngữ đời thường mộc mạc chân chất mà không hề thiếu đi tính văn chương

Từ ngữ Nam Bộ xuất hiện đậm đặc trong tác phẩm của ông: ai dè,

ảnh, bển, mần, miệt dưới, đờn kìm,… Đọc văn Sơn Nam, ta mới hiểu ít

Trang 28

nhiều ngôn ngữ mà xưa kia người miền Nam sử dụng như bài kía, cà ràng,

len trâu, miệt thứ, miệt vườn, ngọc ong, sở thượng, thị quá, thèo lèo,… Là

một nhà văn mà Sơn Nam không khác gì một nhà Nam Bộ học Nhờ những lớp từ này mà chúng ta có thể hiểu được nhiều câu ca dao, nắm bắt được nhiều đoạn văn hay, hiểu được đặc điểm tự nhiên và xã hội của vùng đất

hào hiệp, trọng nhân trong Mùa len trâu, Cây huê xà, Ông già xay lúa,

Đảng cánh buồm đen,… Và lời nói trở thành lời văn gồm những câu ngắn

gọn, nhiều từ ngữ Nam Bộ giao tiếp bằng lời trở thành văn viết

Cốt truyện trong truyện ngắn Sơn Nam thường rất ngắn, có dung lượng độ vài ba trang Đọc truyện ngắn của ông, chúng tôi nhận thấy có hai đặc điểm chính trong việc xây dựng cốt truyện Thứ nhất, đồng thời cũng là điểm độc đáo trong cách xây dựng cốt truyện của truyện ngắn Sơn Nam, đó

là cách thức chêm xen những giai thoại, những hình thức sinh hoạt tinh thần và những mảng hồi ức có tính chất tư liệu của chính vùng đất Nam Bộ Thứ hai, đó là kiểu cốt truyện đơn giản về sự kiện, ít gay cấn, ít mâu thuẫn

và những xung đột xã hội quyết liệt Ở dạng thứ hai này, tác giả thường tổ chức các tình tiết, chi tiết có tính chất độc sáng để thu hút sự chú ý của người tiếp nhận Những câu chuyện từ các miền quê được họ mang ra kể lại cho nhau nghe trong những lúc dừng tay nghỉ việc, khi trò truyện trà nước hoặc những lúc cần giãi bày tâm sự, nỗi lòng Giai thoại về những anh hùng diệt sấu, bắt cọp từ thời khẩn hoang được lồng vào những câu chuyện, tạo sự hấp dẫn cho người đọc, người nghe Vùng đất Nam Bộ trong buổi đầu lịch sử đã dần hiện lên trước mắt người đọc với những nét

Trang 29

hoang sơ, dữ dội và huyền bí Cái tài của Sơn Nam chính là ở chỗ kể chuyện xưa mà người đọc lại có cảm giác rất gần gũi, rất thân thuộc với cuộc sống hôm nay Ngoài ra, nhiều truyện ngắn của ông còn có sức hấp dẫn bạn đọc bởi cách dựng truyện ly kỳ, những mảng hồi ức đậm đặc tư liệu quý Vốn sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, vì thế Sơn Nam nắm rất vững những đặc điểm về lịch sử, địa lý, xã hội của quê hương mình Đặc điểm của lối viết truyện ngắn theo kiểu dã sử của Sơn Nam còn thể hiện rõ ở cách nhà văn bổ sung những mảng hồi ức có tính tư liệu vào trong mạch truyện Bằng vốn hiểu biết về văn hóa của một vùng đất, trong những trang truyện của mình, người kể đã khéo léo lồng vào những biến động lịch sử lớn trên mảnh đất phương Nam Tiếp cận những câu chuyện ở dạng này, người đọc thấy được ngòi bút sáng tạo độc đáo, đa dạng của Sơn Nam Nhà văn thường chọn cách đặt nhân vật của mình vào một bối cảnh chung của dòng chảy lịch sử gắn liền với các sự kiện của vùng đất Nam Bộ với những mốc cụ thể: vào cuối năm 1945, lúc bấy giờ, vào khoảng năm 1932,… hoặc vào một giai đoạn thời gian như: vào thời Pháp thuộc, năm đó,… Qua đó các tính cách của nhân vật được hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ tư tưởng chủ đề tác phẩm

Trong truyện Kho vàng, người kể đã say sưa kể về di tích Óc Eo ở núi Ba

Thê, An Giang Theo bước chân của những người đi tìm kho báu, những tư liệu có giá trị về mặt khảo cổ học đã được ghi nhận: “Nơi săn vàng này, về sau các nhà khảo cứu gọi là Óc Eo, theo tên gọi có sẵn ở địa phương, được phỏng đoán là một thương cảng tấp nập, cách đây hơn ngàn năm, có thuyền ngoại quốc tới mua bán, từ Ấn Độ, Ba Tư” Qua đây, người đọc dễ dàng hơn khi hình dung về một nền văn hóa có từ xa xưa ở mảnh đất phía Nam Hoài niệm về quá khứ không chỉ để tôn vinh về vẻ đẹp của con người

và vùng đất Nam Bộ mà Sơn Nam còn muốn tìm hiểu thêm về cội nguồn dân tộc, lịch sử hình thành vùng đất Ở một số truyện ngắn khác, Sơn Nam còn lý giải rất cụ thể về lịch sử hình thành và đặc điểm của các địa danh,

Trang 30

những phong tục tập quán đặc trưng của khu vực hoặc những sự kiện có

tính chất nổi bật trong vùng Chẳng hạn, truyện ngắn Hết thời oanh liệt, ghi

dấu mốc sự kiện “làn sóng người Việt Nam từ Cần Thơ, Vĩnh Long đổ

xuống Rạch Giá, Cà Mau để khai khẩn đất hoang”; truyện Đảng Cánh

buồm đen là biến cố xảy ra vào năm 1946 khi Tây trở lại chiếm vùng Rạch

Giá, Đặc biệt Sơn Nam nắm rất rõ những địa danh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và giải thích cụ thể đến người đọc Tại sao lại gọi là

xứ Năm Căn, xóm Cà Bây Ngọp, Hà Tiên Tỉnh, chợ Ngã Bảy, Ngã Năm, con rạch Cái Thia, Xóm Cù Là, con kinh Bảy Ngàn,… đọc truyện ngắn Sơn Nam nếu chịu khó tra cứu ta có thể có được câu trả lời thỏa đáng Tìm

về cội nguồn xa xưa đối với Sơn Nam là một nét đẹp, một việc rất đáng làm nên cả đời ông đã nâng niu, trân trọng và tìm cách giữ nó bằng việc tái hiện lại trong các truyện ngắn của mình Truyện ngắn Sơn Nam thuộc loại

“chuyện xưa tích cũ Quả đúng như vậy, đây cũng chính là một điểm đặc sắc trong cách xây dựng cốt truyện của nhà văn Nam Bộ này Sở dĩ truyện của Sơn Nam có sức hấp dẫn bạn đọc bởi lẽ nhà văn đã chọn cách chêm xen thêm những chuyện xưa tích cũ, những điệu hò Nam Bộ, những câu hát huê tình, những câu ca dao mượt mà đằm thắm của chính người Nam Bộ

Và một điều quan trọng nhất để người đọc nhớ đến ông đó chính là “cách viết truyện mang hơi hướng khảo cứu” Thứ nhất và cũng có ý nghĩa rất quan trọng, đó là việc giới thiệu những nét văn hóa đặc sắc của quê hương Nam Bộ; thứ hai là từ sự hiểu biết thực tế của chính bản thân mình, Sơn Nam trực tiếp giải thích một sự kiện, một địa danh hay một phong tục độc đáo ở trong vùng Khi cầm bút sáng tác, Sơn Nam đã ý thức rất rõ tác phẩm văn học có khả năng rất lớn trong việc truyền tải, lưu giữ, sáng tạo văn hóa của dân tộc Vì vậy viết truyện hay khảo cứu về Nam Bộ cũng là cách để Sơn Nam bày tỏ tình yêu và lòng tự hào của mình với quê hương, đất nước

Một số truyện ngắn khác của Sơn Nam cũng có cách xây dựng cốt truyện dựa vào chất liệu dân gian trên cơ sở giải thích những nét văn hóa

Trang 31

vùng miền đặc sắc bằng sự hiểu biết, trải nghiệm của chính bản thân nhà

văn Truyện ngắn Tình bậu muốn thôi, Người mù giăng câu, Bốn cái ngu,

Đồng thanh tương ứng, Lũ trẻ chăn trâu, Tục lệ ăn trộm, Miễu bà chúa xứ, Vọc nước giỡn trăng, Ngày xưa tháng chạp, Con Bảy đưa đ … là những

truyện có cùng cách xây dựng cốt truyện như trên

Việc lựa chọn những tư liệu từ nguồn văn học dân gian trong khu vực và từ vốn sống tích lũy được qua khắp các ngả đường đồng bằng sông Cửu Long đã tạo cho truyện ngắn Sơn Nam có những đặc điểm mang đậm sắc thái dân gian Nam Bộ Nhà văn Sơn Nam đã làm việc đó như một con ong cần mẫn, xây chiếc tổ vững chắc như thách thức với thời gian và lòng người

Sơn Nam là một hiện tượng hiếm có của văn học Nam Bộ Các sáng tác của ông đã đóng góp đáng kể cho kho tàng văn học Việt Nam nói chung

và văn học Nam Bộ nói riêng, đặc biệt trong toàn bộ sự nghiệp của Sơn Nam là mảng truyện ngắn viết về Nam Bộ Đây có thể xem là thành tựu cả một đời cầm bút của một nhà văn tâm huyết với đất và người Nam Bộ - Sơn Nam

Trang 32

Chương 2 Con ng-êi Nam Bé trong truyÖn ng¾n S¬n Nam

2.1 Đặc điểm tính cách con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam 2.1.1 Con người dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá tự nhiên

Như chúng ta đã biết, U Minh - Rạch Giá - Cà Mau là mảnh đất cực Tây Nam của Tổ quốc Đó cũng là nơi dừng chân cuối cùng của đoàn người Nam tiến Khoảng những thập niên đầu thế kỷ XX, cùng với những biến đổi lớn về tình hình chính trị xã hội, con người hội tụ về đây gồm nhiều thành phần, nhiều lí do khác nhau Phần lớn họ là những người đem bàn tay, khối óc của mình để xâm rừng, lấn biển, mở làng lập ấp, sinh cơ lập nghiệp Trong số đó có không ít người đã từ bỏ quê hương vì không chịu đựng được ách áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến, ách đô hộ của thực dân Họ tự tạm gọi bằng những cái tên là đi trốn thuế thân và cố che đậy bằng hình thức giăng câu bắt rắn Tuy nhiên, họ đều có chung một mục đích cuối cùng là “đi tìm sự sống trong muôn ngàn cái chết” Đến đây,

họ sinh sống bằng nhiều nghề, chủ yếu khai thác những nguồn lợi từ nơi này như đốn củi, ăn ong, săn chim, săn khỉ… làm được ngày nào ăn ngày

ấy Bốn bề rừng rậm hoang vu, để có được miếng cơm manh áo, chẳng những họ phải đổ mồ hôi, công sức mà ngay cả tính mạng họ cũng bị đe doạ nghiêm trọng Những người đi chinh phục miền đất lạ dù có nhiều dũng khí nhưng trước thiên nhiên đầy tai họa, đôi lúc họ cũng chạnh lòng

vì cảm giác:

Tới đây xứ sở lạ lùng Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê

Trong cuộc hành trình đầy gian lao của những người đi mở đất, dường như Sơn Nam đã đặt họ trong tứ bề gian khổ như cái vốn dĩ hiện có của cuộc sống mà không bỏ sót một chi tiết nào Tác giả đã đề cập đến những cuộc đấu tranh không cân sức giữa con người với các thế lực của tự

Trang 33

nhiên, qua đó ông đã hết lời ngợi ca sự dũng cảm, gan dạ, thông minh và đầy sáng tạo của họ

Trong cuộc khẩn hoang miền Nam, con người cùng nhau tạo dựng cuộc sống, trả giá bằng máu và nước mắt trong cuộc chiến với thiên nhiên

dữ dằn hoang dã, nhưng con người Nam Bộ vẫn toát lên tinh thần dũng cảm, gan góc Những cuộc chiến đấu với thú dữ cuối cùng con người đã dành thắng lợi dù bao nhiêu người đã phải đổ máu

Đối lập hình ảnh bé nhỏ của con người với cái bao la bất tận của đất trời, của thiên nhiên hoang sơ huyền bí để cùng một lúc Sơn Nam vừa vẽ nên bức chân dung của con người Nam bộ, vừa hết lời ngợi ca những phẩm chất đáng quí của họ Đó là những con người nghĩa khí, dũng cảm, gan dạ Những con người có niềm tin lớn hơn sức mạnh Trong gian khổ thiếu thốn

họ vẫn cam chịu, cố bám đất, bám rừng để làm nên cuộc sống Họ sẵn sàng

ra tay bắt sấu, đuổi cọp, giết heo rừng… cho dù có hi sinh tính mạng Họ cùng nhau chung lưng đấu cật để rồi nhiều người đã không may làm mồi cho thú dữ, có người đã gửi thân lại nơi này Thịt xương của họ đã hòa vào trong lòng đất để cho cây lúa mọc xanh hơn

Hầu hết các nhân vật truyện ngắn Sơn Nam đều có số phận nghèo khổ, cơ cực Trong buổi đầu đi khai phá vùng đất mới, họ gặp phải vô vàn khó khăn, trở ngại, phải hàng ngày chống chọi với sự khốc liệt, hung dữ của thiên nhiên để bảo tồn tính mạng và duy trì cuộc sống Tưởng chừng con đường sống của những kiếp người bé nhỏ ấy đã lâm vào ngõ cụt Thế nhưng không phải vậy Trong gian lao, ở những gương mặt, những tâm hồn đôn hậu, chân chất đó vẫn ngời lên một niềm tin và sức sống mãnh liệt Và giữa thiên nhiên ấy, chân dung con người Nam Bộ hiện lên qua những hình ảnh dung dị trong cuộc sống đời thường của họ - cuộc sống lao động khỏe khoắn với một bản sắc riêng: những xóm làng, những dòng kinh, những cô gái quanh năm đưa đò và ca những điệu hò trên sông nước, những cuộc đua ghe ngo sôi động và căng thẳng, những đàn trâu bì bõm len đi tìm cỏ trên

Trang 34

đồng nước mênh mông, cách “câu” rắn bằng rượu đế, cách khai thác sân chim, hay cái thú ngồi trong bụi rậm suốt ngày suốt buổi, chờ đợi để quan sát một chú chim cu sập bẫy vì ghen tiếng hót

Nhân vật trong truyện ngắn của ông là những con người trong buổi đầu đi khai phá vùng đất sơn cùng, thuỷ tận Đó là hình ảnh những ông thầy võ Quảng Nam, thầy Râu đuổi cọp yên dân không cần tượng đồng, bia

đá trong Hết thời oanh liệt, là anh Tư Hưng xuống miệt Cà Mau lập nghiệp với duyên phận long đong cùng cô Một con lão Bích trong Truyện Rừng

tràm, là Tư Bình Thuỷ, Tư Châu Xương trong Nhất phá sơn lâm nhì đâm

hà bá với cái cơ cực vất vả của nghề đốn củi ở rừng cho kịp phiên chợ

kiếm sống… Nổi bật ở những con người này là phẩm chất dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá tự nhiên

Những con người dũng cảm, mưu trí, gan dạ này sẵn sàng đối mặt với những khó khăn nguy hiểm, đứng ra diệt trừ những loài thú dữ mang lại

sự yên bình cho nhân dân Đó là ông Năm Hên trong truyện Bắt sấu rừng

U Minh Hạ, ông Năm Cháy, ông Năm Tự trong Con heo khịt, chú Tư Đức

trong Sông Gành Hào,… hoặc hình ảnh về những ông già Nam Bộ khỏe mạnh và lao động cần cù siêng năng như ông Từ Thông trong H n Cổ

Tron, ông Năm xay lúa trong truyện Ông già xay lúa,

Đoạn văn miêu tả cuộc chiến đấu giữa ông Năm Tự với con heo khịt cho thấy sự dữ dằn của tự nhiên và sự dũng cảm chiến đấu đến cùng của con người vì sự yên ổn cho mùa màng, của xóm làng Hành động của nhân vật được nhà văn khắc họa trong thế chênh vênh hiểm nguy, có những phút con người cận kề bên cái chết Đó là giây phút ông Năm Tự một mình giữ chặt cái mác đang đâm vào con heo khịt, nước mắt ông tràn trề rưng rưng chảy trên má Đó là giây phút hai con sấu xuất hiện một lúc chống lại Tư Đức đơn phương độc mã nhưng trong lúc nguy hiểm đó, bằng sự quyết tâm, dũng cảm, nhanh trí họ đã chiến thắng được kẻ thù bốn chân Dẫu cuộc sống có khốc liệt, thiên nhiên có hung tợn hiểm nguy, những "dưới

Trang 35

sông sấu lội trên rừng cọp đua "con người vẫn "rộn rịp hơn tết" dựng rạp để thưởng thức hát bội [37, 205]

Con người Nam Bộ của núi rừng U Minh Hạ, không những phải đối đầu với cảnh rừng thiêng nước độc, nỗi lo âu sinh kế, họ còn phải đối đầu

với con thú rừng nguy hiểm, có thể lấy mạng của họ bất cứ lúc nào: Sấu nổi

lên, chen vào những bức tranh mầu xanh ấy những vệt đen chi chít: con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác [36, 86], thì con

người vẫn rộn rịp, vẫn không hề có một chút nao núng, chùn bước, hay động lòng…

Rừng U Minh Hạ là một khu vực thiên nhiên còn hoang dại: Muỗi vắt nhiều hơn cỏ Chướng khí mù như sương” [36, 37, 38, 7] Nơi mà những người dân miền cực nam Tổ Quốc đang khai khẩn và sinh sống Từng ngày, từng giờ họ sẵn sàng đấu tranh với thiên nhiên và thú dữ để bảo tồn sự sống của mình Những con người “trên phá Sơn Lâm, dưới đâm Hà Bá” này đã có công làm cho mảnh đất nơi đây phì nhiêu, màu mỡ bằng cách bón vào lòng đất mới mồ hôi và xương máu của chính mình Trong cuộc đấu tranh khắc nghiệt đầy sinh tử ấy đã xuất hiện không ít những con người đôn hậu, thật thà nhưng đầy mưu lược và dũng cảm Năm Hên

Ông Năm Hên chạy lại Sấu há miệng hung hăng đ i táp ổng ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp Sấu táp lại, dính ch t hai hàm răng: như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được Sau khi bị khúc mốp khóa miệng, c n cái đuôi đập qua đập lại [36, 90]

Ông Năm Hên, chú Tư Đức, ông Năm Tự, ông Hai Cháy là những người lam lũ, chân lấm tay bùn Với mong muốn mang lại đời sống yên ổn cho dân làng, họ đã sẵn sàng ra tay giết sấu, bẫy heo rừng mà không nghĩ đến tính mạng của mình Ông Năm Hên đã từng bắt sấu một mình ở rừng U Minh Hạ, cha con chú Tư Đức chủ trì cuộc chiến đấu với con sấu lửa trên

Trang 36

sông Gành Hào Ông Hai Cháy, ông Năm Tự và dân làng đã từng đối đầu

chạm trán với bầy heo rừng hung hăng Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Sông

Gành Hào, Con heo khịt Trong khi súng đạn của Tây cũng phải bất lực

trước những con sấu thần, sấu chúa thì chính sự dũng cảm, mưu trí của những người dân chân đất, tay không vũ khí đã khiến loài thú dữ qui phục Dân làng Khánh Lâm gọi ông Năm Hên là người kỳ tài, vì ông đi bắt sấu bằng chiếc xuồng ba lá, trên đó chỉ có hũ rượu và bó nhang Riêng ông thì khiêm tốn cho rằng “tôi đây không có tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít” [36, 88] Nhờ vào tài trí, mưu mẹo, đặc biệt là sự gan dạ, lòng dũng cảm của cha con chú Tư Đức và bà con dân làng nên họ đã giết được con sấu lửa Điều đó đã khiến cho ông Rốp - người đã từng xem thường chú Tư, khinh rẻ người dân An Nam phải thán phục

Quả là “thời thế tạo anh hùng” Khi phải đối đầu với những khó khăn thử thách, con người đã chứng tỏ bản lĩnh của mình Hơn nữa, để duy trì sự sống, con người đã tìm đủ mọi cách để tự vệ Cuộc sống đã dạy cho con người trí thông minh, sự gan dạ, và lòng dũng cảm Đó là một điều không thể phủ nhận Sơn Nam đã xem những phẩm chất đáng quí ấy như cái vốn

có của người dân nơi này Đối với thú dữ, họ đã nghĩ ra nhiều mưu kế, nhiều “chiến thuật” để thu phục chúng Cũng có lúc họ cúng vái, lập bàn thờ… để cầu xin cuộc sống bình yên Đối với thiên nhiên, họ đã sớm nắm bắt được qui luật, thu thập được nhiều kinh nghiệm Để rồi, bằng vốn sống

và những hiểu biết của mình, họ đã vận dụng những thuận lợi để phục vụ cho mục đích sinh kế, lập nghiệp Họ không quản ngại gian khó, và dường như họ chưa bao giờ chùn bước Đối với giống heo rừng hung hăng, thứ heo sống bảy, tám năm “nanh dài một tấc, mình mẩy nổi dấu chì, khi đổ quạu là sôi bọt mồm… một đêm phá năm bảy công rẫy khoai mì” thì dù có

sợ hãi, lo lắng con người vẫn sáng suốt nghĩ cách đối phó Không thể đấu sức, họ dùng mưu

Trang 37

Đọc truyện ngắn của Sơn Nam thời kì này chúng ta có dịp trở về với hình ảnh của đất trời Nam Bộ thời cha ông đi khai khẩn Từ đó chúng ta thấy được những phẩm chất tốt đẹp của con người ở mảnh đất cực Nam tổ quốc: cần cù, nhẵn nại, đầy tình người, đầy lòng nhân hậu đối với mảnh đất

mà họ đang khai hoang Và những nỗi nhọc nhằn khốn khổ của họ, man mác như hương rừng U Minh, và sâu sắc như tâm hồn bình dị của họ

Nam Bộ ngày nay là mảnh đất kết tinh của biết bao mồ hôi, nước mắt và máu xương của những người đi trước Bên cạnh những người đã ngã xuống vì bom đạn của chiến tranh là sự hy sinh thầm lặng của những người đi mở mang bờ cõi Họ là những chiến sĩ tiên phong trong việc đẩy hoang sơ lùi dần vào quá khứ, biến rừng rậm hoang vu thành đồng ruộng phì nhiêu cò bay thẳng cánh Khó có thể nói hết công lao của những người

đã từng gắn bó và làm nên mảnh đất này Sơn Nam đã làm cho người đọc sống lại những phút giây hào hùng của dân tộc, khơi dậy trong lòng họ một tình yêu quê hương đất nước, nhắc nhở họ ý thức trách nhiệm đối với xã hội Và đó cũng là cách làm hữu hiệu để ông vượt qua sự kiểm duyệt của chính quyền Sài Gòn

2.1.2 Con người nghĩa khí, hào hiệp trong quan hệ cộng đồng

Bước vào truyện ngắn Sơn Nam là tiếp xúc với một mảnh đất đầy những chuyện rừng, chuyện đời, chuyện săn bắn, và tình người trong thế giới hoang sơ, kỳ bí, lạ lùng, thâm u của miền Cà Mau, của những con người di dân Nam Bộ trong công cuộc khẩn hoang miền Nam Người đọc được chứng kiến tình cảm sâu đậm giữa người và người, giữa người và thiên nhiên, giữa người và rừng tràm, sông sâu, giữa người và thú rừng hoang dã Những đau khổ sâu sắc lẫn hạnh phúc nhẹ nhàng và tâm hồn bình dị của con người Nam Bộ qua những câu chuyện kể của ông, đã gây cho người đọc bồi hồi xúc động, ngậm ngùi

Trọng nghĩa khinh tài là một nét đẹp trong văn hoá ứng xử của người Nam Bộ từ xưa đến nay Miền Tây Nam Bộ là vùng đất được khai phá sau

Trang 38

cùng Rừng sâu, nước độc, rắn rết, hùm beo vây bủa, đe doạ mạng sống con người Trong cảnh ngộ ấy, ngoài tinh thần gan dạ, dũng cảm, con người đã sống với nhau bằng cái nghĩa Hội tụ về đây là những con người

xa lạ, có khi không cùng họ mạc xóm làng, không cùng quê hương xứ sở; sống giữa trời đất bao la, hiểm nguy gian khổ nên họ luôn thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó, đùm bọc, yêu thương quí trọng lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau trên tinh thần “Tứ hải giai huynh đệ” Họ giúp người vì cảm thương những ai đang rơi vào hoàn cảnh bế tắc, khốn khó và xem như đó là nhiệm

vụ của mình mà không hề vụ lợi, suy tính thiệt hơn Dường như họ thuộc nằm lòng lời dạy của thánh hiền “Thi ân bất cầu báo” Đối với họ, tình luôn

đi đôi với nghĩa Nghĩa là tình nghĩa, đạo nghĩa thể hiện trong sự ứng xử giữa con người với nhau, con người với thế giới xung quanh Khí chỉ tâm

thế sống của con người vì cái nghĩa mà có dũng khí, khí phách Nguồn gốc cao đẹp của khí chính là xuất phát từ cái nghĩa, vì nghĩa mà hành động Ðây là một nét đặc biệt nữa mà ca dao Nam Bộ ghi lại được:

Dấn mình vô chốn chông gai,

Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân

Lao xao sóng bủa dưới lùm,

thầy Hai rắn Cây huê xà vốn là hai kẻ thù địch Họ đã từng cạnh tranh nhau

trong nghề nghiệp, nhưng đến khi thầy Năm Điền với con Lài chết vì toa thuốc rắn, thầy Hai tỏ ra vô cùng xót xa “Chờ cho thưa khách, thầy tới cầm tay nạn nhân mà ngửi rồi nước mắt thầy bỗng tuôn xuống” [36,197] Phải chăng đó là giọt nước mắt của nhân tâm, của nghĩa tình, của bao nhiêu điều ông muốn nói với người bạn đồng môn? Thầy Hai Rắn từ bỏ nghề làm

Trang 39

thuốc ngừa rắn đã từng cả đời gắn bó, là niềm kiêu hãnh của thầy, là kế sinh nhai trước cái chết của cha con Lài Tấm lòng của thầy Hai Rắn chính

là sự bao dung đối với những toan tính, đố kị, mánh khóe của con người

Cũng trên tinh thần tình làng nghĩa xóm, khi bà con ở rạch Xẻo Bần

tự sản xuất được xà bông đi bán, mỗi khi từ xa trở về, họ không quên mua tặng cho Dượng Hai bác vật gói trà Kỳ Chưởng gọi là đền ơn “ khoa học” của dượng Tình nghĩa của con người ở đây là thứ tình cảm không biên giới Nó nảy sinh từ trong đấu tranh chống ngoại cảnh thù địch, chống áp bức bóc lột, thể hiện sự chân chất, thật thà của người lao động Cái tình ấy rất sâu đậm, nó gắn liền với cái nghĩa mà chúng ta từng bắt gặp trong “Lục Vân Tiên ” của cụ Nguyễn Đình Chiểu Đó là sự tốt bụng của chú Tư Lập,

ông bà Hai Tích trong Một cuộc biển dâu, là sự giúp đỡ nhiệt tình của ông

Tư Châu Xương với anh Tư Bình Thủy trong Nhứt phá sơn lâm, của Lão Bích với Tư Hưng trong Chuyện rừng tràm… và còn rất nhiều những con

người sống bằng tình thâm nghĩa cả khác

Điểm cao quí nhất trong tác phẩm của Sơn Nam vẫn là tình thương đồng loại, từ cái nghĩa xóm làng đến cái nghĩa đồng loại, người nông dân Nam Bộ thoát ra khỏi quan niệm làng, hướng tấm lòng cưu mang đến với tất cả con người trong hoạn nạn

Một cuộc biển dâu là tác phẩm khá tiêu biểu của Sơn Nam trong việc

ngợi ca tình cảm tốt đẹp của con người trước những tai hoạ xảy ra trong cuộc sống Giữa mùa mưa lũ, trâu bò không có cỏ ăn, người chết không có đất chôn thì chú Tư Lập, ông bà Hai Tích phải chứng kiến cảnh đau lòng của thằng Kìm Ba nó tắt thở giữa biển nước mênh mông của vùng ruộng sạ tỉnh Long Xuyên Trước thảm cảnh ấy, chú Tư Lập, ông bà Hai Tích đã hết lòng giúp đỡ Chẳng những lo “chôn cất” chu đáo cho cha nó mà ông bà Hai còn lập bàn thờ cầu siêu cho “vong hồn người bạc mạng” [38,18] Đó

là những nghĩa cử cao đẹp Đứng trước nỗi đau của người khác, họ xem như của chính mình Vì vậy, họ đã hết lòng giúp đỡ mà không hề tính toán

Trang 40

thiệt hơn Mặc dù đang trên đường đi len trâu đồng xa, chú Tư đã không ngần ngại đưa cho thằng Kìm chiếc nóp để nhờ ông Hai gói xác ba nó Ông

bà Hai thì “lụm cụm” khiêng cái thớt trên của cối xay lúa để dằn xác người chết xuống đáy nước Điều quan trọng không chỉ là việc làm của họ mà qua tác phẩm, người đọc có thể thấy được trong từng thái độ, cử chỉ, từng hành

vi, lời nói của họ đều đầy ắp nghĩa tình Chú Tư Lập thì xông xáo, hớt hải khi thấy tín hiệu cầu cứu của thằng Kìm Ông bà Hai thì sốt sắng hỏi han,

lo liệu Sau khi nghe thằng Kìm thuật lại hoàn cảnh của cha nó, ông Hai thở dài, gọi bà hai nấu cơm thêm cho thằng Kìm cùng ăn Thấy nó khóc, bà cũng rưng rưng nước mắt rồi hết lời an ủi Nhìn nó mệt lịm, ngả lên sàn mà ngủ, bà Hai thì thầm với ông “tới mùa nước giựt, bề nào ông cũng ráng nhớ hốt xương, chôn cất kỹ lưỡng dùm nó Tôi khổ lắm” [38, 19] Sơn Nam đã khéo sắp đặt những tình tiết éo le của câu chuyện để qua đó tác giả đề cao

vẻ đẹp tinh thần của những người đi mở đất

Rất nhiều nhân vật trong tác phẩm của Sơn Nam đã sống bằng tinh thần “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã” mà cụ Nguyễn Đình Chiểu ngày trước

đã nêu cao Thậm chí đến “phường khảo khấu lục lâm” cũng giàu tinh thần nghĩa hiệp Họ hiện lên trong truyện ngắn Sơn Nam như những tay anh

hùng, giang hồ mã thượng, có tài trí linh loạt Đảng Cánh buồm đen tung

hoành một dải từ Cà Mau đến Hà Tiên khiến tàu đoan của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam mấy phen thất điên bát đảo, nhưng tuyệt đối không xâm phạm

tài sản của dân chài ven biển Đơn Hùng Tín chỉ “Ăn cướp của Tây tà, đem

phân phát cho kẻ bần cùng” Có thể xem nghĩa cử của ông Tư Hiền trong Đảng Cánh buồm đen là một điển hình Nhân danh là một đảng cướp từng

hùng cứ từ Mũi Cà Mau đến địa phận Hà Tiên nhưng ông chỉ nhằm vào hai kẻ thù chính Đó là “tàu đoan của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam”, tuyệt đối không xâm phạm tài sản của dân chài ven biển Ông đã từng cứu con gái ông lão mò ngọc điệp ở hòn Sơn Nhạn khi bị đảng cũ bắt Ông cũng đã tuyên bố giải nghệ sau khi đã giết lầm một lương dân Hãy nghe lời ông tỏ

Ngày đăng: 03/10/2021, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Ái (chủ biên, 1991), Từ điển phương ngữ Nam bộ, Nxb Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển phương ngữ Nam bộ
Nhà XB: Nxb Cửu Long
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Lê Huy Bắc (2005), Truyện ngắn lý luận tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn lý luận tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. Văn Chinh, "Văn xuôi Nam Bộ nhìn từ xa", http://www.sachhay.com/new/200810251806/van-xuoi-nam-bo-nhin-tu-xa.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Nam Bộ nhìn từ xa
5. Võ Tấn Cường, "Nhà văn Trang Thế Hy và vẻ đẹp tài tử của con người Nam Bộ", http://www.saigongiaiphong. org,vn/vanhoavannghe/2009/12/213243 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Trang Thế Hy và vẻ đẹp tài tử của con người Nam Bộ
6. Võ Đắc Danh (2008), Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê, http:// www.tuoitre.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê
Tác giả: Võ Đắc Danh
Năm: 2008
7. Trần Phỏng Diều, "Hình tượng sông rạch trong truyện ngắn Sơn Nam", http://www.baocantho.com.vn/vietnam/sangtac/1975 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng sông rạch trong truyện ngắn Sơn Nam
8. Trần Hữu Dũng (2008), “Sơn Nam, Mấy độ qua đường phố, nghiêng mình nhớ đất quê”, http//www.vannghesongcuulong.Org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơn Nam, Mấy độ qua đường phố, nghiêng mình nhớ đất quê
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2008
9. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
12. Thoại Hà, "Tầm vóc Sơn Nam vẫn chưa được nhận diện đúng", http://evan. vnexprress. net/New/doi-song-van- nghe/2008/08/3B9AE022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầm vóc Sơn Nam vẫn chưa được nhận diện đúng
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên,1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
14. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá ( đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb thế giới
16. Trần Thị Hồng Hạnh (2008), Vĩnh biệt cây tràm cổ thụ, http://vannghesongcuulong.Org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh biệt cây tràm cổ thụ
Tác giả: Trần Thị Hồng Hạnh
Năm: 2008
17. Trần Mạnh Hảo, "Sơn Nam - Dề lục bình Nam Bộ" (nhân đọc lại Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam), http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieutacpham.Asp?TPID=1223&TGID=315&LOAID=15&LOAIR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơn Nam - Dề lục bình Nam Bộ
18. Nguyễn Công Hoan (1971), Đời viết văn của tôi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời viết văn của tôi
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1971
19. Phan Hoàng, "Mãi mãi sừng sững một ngọn núi văn học phương Nam", ttp://vietnamnet.vn/vn/tienggóiophan/5476/index.net18.hobieuchanh.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mãi mãi sừng sững một ngọn núi văn học phương Nam
20. Hoài Hương, "Nhà văn Sơn Nam theo cuộc "dạo chơi tuổi già", http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/4533/index.Aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Sơn Nam theo cuộc "dạo chơi tuổi già
21. Trầm Hương, "Vĩnh biệt người thầy Nam Bộ", http://www.sggp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh biệt người thầy Nam Bộ
22. Anh Kiệt, "Vĩnh biệt Sơn Nam, con ong rừng U Minh đã bay đi", Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vĩnh biệt Sơn Nam, con ong rừng U Minh đã bay đi
62. Nguyễn Mạnh Trinh (2006) ''Sơn Nam, ông già Ba Tri của đồng bằng Nam Bộ", http://www.Vietmaisau.org Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w