nghiên cứu một bình diện cuộc sống tinh thần của con người được thể hiện bằng ngôn ngữ nhằm làm sáng tỏ quan niệm, ý niệm của con người để góp phần xác định bản chất của con người xứ Ngh
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp và thủ nghiên cứu chính 7
6 Cấu trúc Luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Khái niệm “ý niệm” trong ngôn ngữ học tri nhận 8
1.1.1 Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận 8
1.1.2 Những nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận 9
1.1.3 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận 12
1.2 Từ, ngh a của từ và ý niệm từ vựng 14
1.2.1 Từ trong tiếng Việt 14
1.2.2 Ngh a của từ 15
1.2.3 Ý niệm từ vựng 16
1.3 Câu - đơn vị nghiên cứu ngh a trong ca dao 18
1.3.1 Câu và ngh a biểu hiện của câu 19
1.3.2 Các bình diện ngh a trong câu 20
1.3.3 Các loại câu xếp theo cấu trúc ngh a 21
1.4 Ca dao và ca dao tình yêu 23
1.4.1 Khái niệm ca dao 23
1.4.2 Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam 23
1.4.3 Mảng ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ 25
1.4.4 Tình yêu trong ca dao Nghệ T nh 27
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI NGHỆ BIỂU ĐẠT QUA CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG 31
Trang 22.1 Tình yêu là sự gắn kết hai thực thể 31
2.1.1 Tình yêu là sự gắn kết hai cá thể thành một thực thể thống nhất và gắn bó với nhau 32
2.1.2 Tình yêu cần sự tương xứng và hài hòa về phẩm chất 34
2.1.3 Tình yêu là sự hòa quyện và chia sẻ với nhau 35
2.3 Ý niệm về tình yêu được phản ánh qua phương thức ẩn dụ 44
2.3.1 Khái niệm về ẩn dụ và phân loại 44
2.3.2 Ẩn dụ ý niệm 46
2.3.3 Ẩn dụ về tình yêu trong ca dao xứ Nghệ 49
2.3.3.1 Tình yêu là sự hấp dẫn của hai thực thể với nhau 49
2.3.3.2 Tình yêu đòi hỏi sự trọn vẹn 54
2.3.3.3 Tình yêu thể hiện sự hóm hỉnh 55
CHƯƠNG 3: Ý NIỆM VỀ TÌNH YÊU CỦA NGƯỜI NGHỆ BIỂU ĐẠT QUA CẤU TRÚC NGHĨA SO SÁNH 60
3.1 Quan hệ giữa một thực thể với một thực thể 60
3.1.1 Quan hệ so sánh 60
3.1.2 Quan hệ đồng nhất 62
3.2 Quan hệ so sánh “A như B” 64
3.2.1 Quan hệ trong tình yêu xét từ bình diện cái so sánh 66
3.2.2 Quan hệ trong tình yêu xét từ bình diện cái được so sánh 69
3.2.2.1 Cái được so sánh là những thực thể vô tri vô giác 69
3.2.2.2 Cái được so sánh là những thực thể gợi sự yếu ớt không bền 73
3.2.2.3 Cái được so sánh là những thực thể có quan hệ khăng khít, có khả năng tương tác với nhau để tạo giá trị cho nhau 74
3.2.2.4 Cái được so sánh là những thực thể có ý thức, có linh hồn 76
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 3để các thế hệ tiếp theo thừa kế, xây dựng và phát triển nền văn hóa hiện đại,
có tính hội hội nhập cao và đậm đà bản sắc dân tộc
Ca dao Nghệ T nh vừa là sản phẩm của cộng đồng sử dụng tiếng Việt, vừa là sản phẩm của cộng đồng sử dụng tiếng Nghệ Nó mang những đặc trưng phổ quát của ca dao Việt Nam, những cũng mang những đặc trưng riêng của con người xứ Nghệ trong việc phản ánh trải nghiệm của con người, trong
đó có l nh vực tình yêu
1.2 Ca dao tình yêu là mảng đề tài rất hấp dẫn và phong phú trong ca dao Nó chứa đựng hầu như các cung bậc các sắc thái tình cảm của con người, trong đó có tình yêu Tình yêu là nơi con người bộc lộ rõ chính chính mình, thể hiện tính “người” với đầy đủ các cung bậc yêu thương, giận hờn, trách móc… Ca dao tình yêu xứ Nghệ cũng vậy Nó không chỉ phản ánh tất cả những trạng thái cảm xúc của con người xứ Nghệ mà còn góp phần không nhỏ cho sự phong phú, đa dạng của ca dao tình yêu Việt Nam bởi sự riêng biệt, độc đáo của mình Do vậy, tìm hiểu ý niệm về tình yêu của con người xứ Nghệ được thể hiện trong ca dao là vấn đề cần thiết nhằm góp phần xác định bản chất văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đã sản sinh ra nó
1.3 Tình yêu trong ca dao phản ánh quan niệm của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ Nó là cái nằm trong tiềm thức của con người và được thể hiện bằng ngôn ngữ thông qua các phương thức biểu đạt khác nhau Nghiên cứu nó là
Trang 4nghiên cứu một bình diện cuộc sống tinh thần của con người được thể hiện bằng ngôn ngữ nhằm làm sáng tỏ quan niệm, ý niệm của con người để góp phần xác định bản chất của con người xứ Nghệ, góp phần vào việc dạy học nội dung này trong các trường phổ thông cũng như các ngành văn hóa, xã hội
ở trường đại học
Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn tiếp cận vấn đề: Ý niệm của người
Nghệ về tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh
2 Lịch sử vấn đề
Từ lâu việc nghiên cứu, tìm hiểu ca dao người Nghệ đã được giới nghiên cứu cả trong và ngoài nước quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu về ca dao người Nghệ mang lại cho những ai yêu quý vốn văn hoá dân gian cổ truyền dân tộc những phát hiện lí thú, hấp dẫn Tìm đọc các công trình nghiên cứu về
ca dao người Nghệ, chúng tôi thấy có ba xu hướng nghiên cứu chính sau đây:
+ Nghiên cứu ca dao dưới góc độ văn học
+ Nghiên cứu ca dao dưới góc độ thi pháp học
+ Nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học
Nhìn chung, nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học không phải là
cận này Đó là các công trình nghiên cứu của các tác giả Đỗ Hữu Châu,
Hoàng Văn Hoành, Đinh Trọng Lạc, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Thiện Giáp,
Bản sắc văn hóa người Nghệ Tĩnh (Nguyễn Nhã Bản, Nxb Nghệ An, 2001), Đất nước con người xứ Nghệ qua kho tàng ca dao xứ Nghệ (Trương Xuân
Tiếu, 1997, Tạp chí Văn hoá Dân gian số 3)…và nhiều chuyên luận, luận án:
Sự khác nhau giữa ca dao người Việt xứ Nghệ và xứ Bắc (Nguyễn Phương
Châm, Tạp chí Văn hóa Dân gian, số 3, 1997), Thi pháp ca dao tình yêu
người Việt xứ Nghệ (Tăng Thu Hiền, Luận văn thạc s Ngữ văn, ĐH Vinh,
2001), Một số phương diện và biện pháp tu từ trong ca dao tình yêu đôi lứa
Trang 5xứ Nghệ (Nguyễn Văn Liên, Luận văn thạc s Ngữ văn, ĐHVinh, 1999),
“Nghiên cứu thể thơ của ca dao người Việt xứ Nghệ” (Hoàng Bích Tuyết,
Luận văn thạc s Ngữ văn, ĐH Vinh, 2002)….Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề cụ thể như tình yêu được thể hiện trong
ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận chưa nhiều Vì vậy, việc nghiên cứu ca dao dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận là vấn đề hiện đang được nhiều người quan tâm và còn hé mở nhiều điều lí thú
Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận được nghiên cứu trong các công
trình: Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng, 2005, Nxb KHXH, HN), Từ mô hình tri nhận đến mô hình
văn hóa (Phan Thế Hưng, Ngữ học trẻ, 2005), Ngôn ngữ học tri nhận là gì?
(Trần Văn Cơ, tạp chí ngôn ngữ số 7, 2006), Hệ hình nhận thức trong ngôn
ngữ (Nguyễn Hòa, Ngôn ngữ, 2007, số 1)…
Về những vấn đề cụ thể được nghiên cứu từ bình diện ngôn ngữ học tri
nhận có các bài báo: Ba giới từ tiếng Anh at, on, in (thử nhìn từ góc độ cơ chế
tri nhận không gian (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt) (Lê Văn Thanh
và Lý Toàn Thắng, Ngôn ngữ, 2002, số 9), Tìm hiểu ý niệm “ buồn” trong
tiếng Nga và tiếng Anh (Trần Trương Mỹ Dung, Ngôn ngữ, 2005, số 8), Bước đầu khảo sát ẩn dụ tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Việt (Nguyễn Thị Ý Nhi,
Ngữ học trẻ, 2006), Bài viết Về một cách giải thích nghĩa của thành ngữ từ
góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đăng trên Ngữ học trẻ - 2006 của tác giả
Nguyễn Ngọc Vũ góp phần đáng kể trong l nh vực nghiên cứu biểu tượng ca dao trên cả hai bình diện: lý thuyết và ứng dụng thực hành…
Ngôn ngữ học tri nhận với các vấn đề được thể hiện trong ca dao: có
các bài viết: Thử phân tích một bài ca dao hài hước từ bình diện ngôn ngữ
học tri nhận (Lê Đình Tường, Ngôn ngữ, 2008, số 9), Ý niệm về đôi-cặp trong
ca dao người Việt về hôn nhân và gia đình (Lê Thị Thắm, Ngôn ngữ & Đời
Trang 6sống, 2009, số 1 + 2), Quan niệm của người Việt về quan hệ gia đình trong ca
dao từ bình diện tri nhận (Nguyễn Thị Hiến, Luận văn thạc s Ngữ văn,
ĐHVinh, 2010), đặc biệt là Ý niệm của người Việt về tình yêu trong ca dao từ
bình diện tri nhận (Nguyễn Thị Hà, Luận văn thạc s Ngữ văn, ĐH Vinh,
2009),… Đó là những tiền đề, những cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu một vấn đề cụ thể hơn: Ý niệm của người Nghệ về tình yêu trong ca dao Nghệ
T nh
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi nhằm:
- Tìm hiểu các phương thức ngôn ngữ phổ biến nhất để biểu đạt ý niệm
về tình yêu hướng tới hôn nhân của người Nghệ trong ca dao
- Xác lập những nét cơ bản trong ý niệm của người Nghệ về tính yêu hướng tới hôn nhân được thể hiện trong ca dao
- Góp phần xác định những đặc trưng về văn hoá ứng xử truyền thống trong quan hệ nam nữ của người Nghệ
Qua việc tìm hiểu quan niệm của người Nghệ trong ca dao từ bình diện tri nhận, Luận văn bước đầu hiện thực hóa những nội dung cơ bản nhất của lý thuyết tri nhận và góp phần kiến giải về vẻ đẹp trong tình yêu ca dao xứ Nghệ, đồng thời góp phần vào việc nghiên cứu, học tập và giảng dạy ca dao ở trường phổ thông từ một góc nhìn mới
- Số liệu để về tình yêu sử dụng trong Luận văn được lấy từ công trình
“Kho tàng ca dao xứ Nghệ” do Ninh Viết Giao (chủ biên), NXB Nghệ An, 1996
Trang 75 Phương pháp và thủ nghiên cứu chính
pháp sau:
- Phương pháp điều tra
Dựa trên trường ngh a của sự tình „một người nam/nữ yêu một người nữ/nam‟ nhằm hướng tới hôn nhân để thu thấp số liệu trong “kho tàng ca dao
xử Nghệ”
- Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu thu thấp được được phân loại theo các tiêu chí như: phương thức biểu đạt các tham tố của sự tình “A yêu B” (phương thức biểu đạt A và B, các
vị từ có ngh a tương ứng với vị từ yêu …), loại cấu trúc sự tình biểu đạt mức
độ “A yêu B”, tường minh và ẩn dụ… Luận văn chỉ chọn những hiện tượng ngôn ngữ và lời có tính phổ biến cao nhất để đi sâu phân tích và làm cơ sở cho tổng hợp và khái quát
- Phương pháp tổng hợp, khái quát
6 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Tài liệu tham khảo”, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương II: Ý niệm về tình yêu của người Nghệ được biểu đạt qua các trường
từ vựng
Chương III: Ý niệm về tình yêu của người Nghệ được biểu đạt qua cấu trúc ngh a so sánh
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm “ý niệm” trong ngôn ngữ học tri nhận
1.1.1 Khái lược về ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguitics) là một khuynh hướng trong khoa học về ngôn ngữ ra đời vào nửa sau thế kỷ XX, gắn liền với những tên tuổi đã trở nên quen thuộc như: G.Lakoff và M.Johnson, R.Langacker, L.Talmy, W.Chafe, R.Jackendoff, G.Fauconnier, Ch.Fillmore, U.Neisser, E.Rosch, A.Wierzbicka, Yu.Stepanov, N.Aruchiunova, V.Demiankov, E.Kubriakova, V.Maslova, A.Parchin…Cũng như các phân ngành khoa học khác, ngôn ngữ học tri nhận cũng có mối quan hệ với những ngành học khác thuộc khoa học tri nhận Khoa học tri nhận bắt đầu phát triển ở M vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, ngh a là song song với một khuynh hướng rất mới của ngôn ngữ học thế giới lúc đó là ngữ pháp cải biến- tạo sinh của Chomsky Hai xu thế này có ảnh hưởng lẫn nhau và chính vì thế Chomsky được coi là một trong những nhà sáng lập ra khoa học tri nhận Bản thân Chomsky từng thừa nhận rằng lí thuyết ngữ pháp tạo sinh của ông là được thực hiện trong khuôn khổ của cuộc cách mạng tri nhận vốn đưa lại một
cách hiểu mới về bản chất và hành vi của con người, ông viết: “…cuộc cách
mạng tri nhận thể hiện sự quan tâm đến các trạng thái của trí não, đến việc chúng biểu hiện ra sao trong hành vi của con người, đặc biệt trong các trạng thái tri nhận của nó: tri thức, sự thông hiểu, sự giải thích, niềm tin và v.v Cách tiếp cận với tư duy và hoạt động của con người trong những thuật ngữ như trên làm cho tâm lí học và một phân môn cấu thành nó – ngôn ngữ học – biến thành một bộ phận của khoa học tự nhiên vốn nghiên cứu bản chất của
Trang 9con người và các biểu hiện của nó, mà điều chủ yếu là bộ não” [Chomsky,
1991, Dẫn theo: 59, 4-5]
a, Ngôn ngữ không phải là một khả năng tri nhận tự trị
Nguyên lí này của ngôn ngữ học tri nhận đối lập với giả thuyết nổi tiếng của ngữ pháp tạo sinh cho rằng ngôn ngữ là một khả năng tri nhận tự trị hay một “module” biệt lập với các khả năng tri nhận phi ngôn ngữ; nó cho rằng sự biểu hiện của tri thức ngôn ngữ về cơ bản giống y như sự biểu hiện của các cấu trúc ý niệm khác, các quá trình trong đó tri thức được sử dụng không khác
về cơ bản với các khả năng tri nhận mà con người sử dụng ngoài l nh vực ngôn ngữ Nói cách khác không nên coi khả năng ngôn ngữ là bộ phận thiên bẩm hoàn toàn độc lập với khả năng tri nhận phổ quát, cơ chế tri nhận ngôn ngữ chỉ là một phần của cơ chế tri nhận phổ quát Nguyên lí này có hai hệ luận quan trọng:
- Tri thức ngôn ngữ (tri thức về ý ngh a và hình thức) về cơ bản là cấu trúc
ý niệm và biểu hiện ý niệm Hơn nữa, các biểu hiện về cú pháp, từ pháp và
âm vị học về cơ bản cũng mang tính ý niệm, bởi vì các âm thanh và các phát ngôn phải được tạo sinh ở đầu ra và nhận hiểu ở đầu vào của các quá trình tri nhận chi phối sự nói viết và nghe đọc - vốn là hai quá trình của giao tiếp ngôn ngữ đều liên quan đến trí não
- Các quá trình tri nhận, vốn chi phối sự sử dụng ngôn ngữ, về nguyên lí là giống như các khả năng tri nhận khác Điều này có ngh a là sự tổ chức và trừu xuất tri thức ngôn ngữ không khác gì nhiều sự tổ chức và trừu xuất các tri thức khác trong trí não và những khả năng tri nhận mà chúng ta ứng dụng khi nói và viết cũng không khác gì những khả năng tri nhận mà chúg ta ứng dụng cho những nhiệm vụ tri nhận khác như tri giác bằng mắt, hoạt động suy luận hay vận động Do đó ngôn ngữ là một khả năng tri nhận của con người và
Trang 10theo quan điểm tri nhận thì ngôn ngữ là sự tri giác thời gian thực và sự tạo sinh theo thời gian các chuỗi đơn vị biểu trưng phân lập được cấu trúc hoá
b, Ngữ nghĩa và ngữ pháp là sự ý niệm hoá
Nguyên lí này cho thấy cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận đối lập lại điều kiện chân nguỵ vốn cũng thống trị trong ngôn ngữ học học đương thời như ngữ pháp tạo sinh Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng không thể quy cấu trúc ý niệm vào sự tương ứng đơn giản về điều kiện chân nguỵ đối với thế giới, rằng một phương diện chủ yếu của khả năng tri nhận của con người là sự
ý niệm hoá kinh nghiệm để giao tiếp và sự ý niệm hoá các tri thức ngôn ngữ
mà chúng ta có được Cho nên cần nghiên cứu tất vả các phương diện của cấu trúc ý niệm như cấu trúc của các phạm trù, tổ chức của các tri thức và đặc biệt
là vai trò chủ đạo của các biến tố và các kết cấu ngữ pháp trong việc cấu trúc kinh nghiệm theo những cách riêng biệt; cũng như quá trình ý niệm hoá ở các hiện tượng ngữ ngh a từ vựng như đa ngh a và một số quan hệ từ vựng ngữ ngh a khác
c, Tri thức ngôn ngữ nảy sinh ra từ việc sử dụng ngôn ngữ
Nguyên lí này đối lập với cả ngữ pháp tạo sinh lẫn ngữ pháp ngữ ngh a (lôgic), điều kiện chân nguỵ vốn cho rằng sơ đồ và các phạm trù chung, trừu tượng (đôi khi được coi như bẩm sinh) là cái chi phối sự tổ chức các tri thức ngôn ngữ và quy cho nhiều hiện tượng ngữ pháp và ngữ ngh a chỉ có tư cách ngoại biên “Ngôn ngữ học tri nhận là (…) một mô hình đầy đủ định hướng vào sự sử dụng và người sử dụng (ngôn ngữ) bao quát các bình diện chức năng,dụng học, tương tác và xã hội – văn hoá của ngôn ngữ trong sử dụng” (Dirven 2003:3, 59) Các nhà ngôn ngữ học cho rằng phạm trù và các cấu trúc trong ngữ ngh a, ngữ pháp, từ pháp và âm vị học đều được xây dựng trên cơ sở sự tri nhận của chúng ta về các phát ngôn riêng biệt trong khi sử dụng chúng
Trang 11Trên đây là ba nguyên lí cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận Để hiểu thêm
về khuynh hướng ngôn ngữ học này, chúng ta có thể nêu thêm một số quan điểm sau:
+ Ngôn ngữ học tri nhận có một mục đích là nghiên cứu một cách bao quát
và toàn diện chức năng tri nhận của ngôn ngữ Theo cách tiếp cận này ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người + Nếu trước đây, ngôn ngữ học truyền thống quan niệm rằng ngôn ngữ mở
ra cho ta cánh cửa đi vào thế giới khách quan quanh ta thì bây giờ ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ là cửa sổ để đi vào thế giới tinh thần của con người, đi vào trí tuệ của nó, là phương tiện để đạt đến những bí mật của các quá trình tư duy Với cách tiếp cận mới, các hình thức ngôn ngữ (các đơn vị, các phạm trù…) cần phải được nghiên cứu trong các mối tương liên của chúng với các cấu trúc tri nhận và sự giải thích mang tính tri nhận Đồng thời cần phải chuyển trọng tâm nghiên cứu từ tư duy sang ý thức trong cách hiểu ý thức như là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần mà một con người tích luỹ được trong suốt đời mình và nó phản ánh những ấn tượng, những cảm giác, những biểu tượng và những hình ảnh dưới dạng các ý niệm hay các ý của một hệ thống ý niệm thống nhất Ý thức ngôn ngữ như là tổng thể của các
ý (được gắn kết với hình thức ngôn ngữ) chỉ là một bộ phận của ý thức nói chung, giống như tư duy chỉ là một bộ phận bao hàm các quá trình tinh thần được thực hiện trong ý thức Chính trong khi nghiên cứu ý thức, người ta phải khảo sát mối liên hệ của nó với hiện thực được l nh hội qua các ý niệm và khảo sát bản chất của các ý niệm đặc trưng cho ý thức này; nói cách khác, người ta phải quan tâm đến các quá trình ý niệm hoá và phạm trù hoá thế giới khách quan – là những l nh vực được nghiên cứu k lưỡng nhất và thành công nhất của ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ngữ ngh a học tri nhận nói riêng
Trang 12+ Ngữ ngh a không phải được xây dựng trên cơ sở các điều kiện khách quan có giá trị chân nguỵ, nó không hề đối ứng với thế giới khách quan bên ngoài mà đối ứng với thế giới phi khách quan được phóng chiếu lại trong ý thức và đồng thời có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm được ước định trong đó Sự hình thành các cấu trúc ý niệm này có quan hệ chặt chẽ với kinh nghiệm và các chiến lược tri nhận của con người
+ Ý ngh a của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ
mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong qúa trình con người và thế giới tương tác với nhau, và từ tri thức và hệ thông niềm tin của con người Vì thế trong nghiên cứu ngữ ngh a không nên hoàn toàn tách rời tri thức ngữ ngh a “đời thường” với tri thức bách khoa bởi ngữ ngh a là một bộ phận của hệ thống ý niệm tổng thể chứ không phải là một “module” tự trị độc lập
+ Vì chức năng cơ bản của ngôn ngữ là chuyển tải ý ngh a nên những sự khác biệt về hình thức phải phản ánh những sự khác biệt về ngữ ngh a Cú pháp không tự trị hay độc lập như ngữ pháp tao sinh quan niệm mà chịu sự tác động của các nhân tố ngữ ngh a, ngữ dụng, tri nhận…; cấu trúc cú pháp
bề mặt có quan hệ đối ứng trực tiếp với cấu trúc ngữ ngh a bề sâu Kết cấu ngữ pháp là sự kết hợp giữa ý ngh a và hình thức, có vị trí tri nhận đích thực chứ không phải là hiện tượng phụ được tạo ra trong quá trình thực hiện các quy tắc tạo sinh hay quy tắc phổ quát Ngữ pháp do đó nên không được coi là một hệ thống quy tắc mà là một bảng danh mục các biểu hiện có cấu trúc nội tại được tạo thành bởi sự kết hợp ý ngh a và hình thức
1.1.3 Ý niệm trong ngôn ngữ học tri nhận
Theo Ju.X.Xtepanov: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hoá trong ý thức của con người, dưới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người
Trang 13bình thường, không phải là người “sáng tạo ra những giá trị văn hoá”; và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hoá” [17]
Ý niệm là sự kiện của lời nói, được hiện thực hoá qua lời nói Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành nên ý niệm
Ý niệm mang tính chủ quan với ngh a nó là một mảng của “bức tranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc Do đó, ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc
Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người Hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng Khác với khái niệm, ý niệm không chỉ mang đặc trưng miêu tả mà còn có cả đặc trưng tình cảm - ý chí và đặc trưng hình ảnh (hình tượng) Ý niệm không chỉ suy ngh mà còn cảm xúc Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị Ý niệm tạo
ra một lớp văn hoá trung gian giữa con người và thế giới Ý niệm chứa đựng
ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc - hình tượng và thành tố văn hoá Hai thành tố sau mang tính dân tộc sâu sắc
Nói rộng ra, ý niệm là dơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Các
ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả d trong những thế giới đó Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới
Trang 14Ý niệm được sử dụng trong Luận văn chúng tôi đồng nhất với ngh a quan niệm
1.2 Từ, ngh củ từ và ý niệm từ vựng
1.2.1 Từ trong tiếng Việt
Từ tiếng việt là một hiện tượng da diện và phức tạp vì thế mà nó luôn là
đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhìn nhận đánh giá dưới nhiều góc độ, bình diện khác nhau
Lưu Văn Lăng cho rằng: "Đặc điểm cơ bản của từ giúp chúng ta dễ phân biệt từ với các đơn vị cấu tạo từ là hình (trong từ vựng) và tiếng (trong ngữ pháp) là khả năng dùng tách biệt" [Dẫn theo: 45, 12] Khác với Lưu Văn Lăng, Nguyễn Tài Cần cho rằng: "Tất cả những đặc điểm từ pháp, cú pháp quan trọng
đó đều bắt nguồn từ một đặc điểm gốc mà mọi người đều biết là từ tiếng Việt không có biến hoà hình thái [Dẫn theo: 8,45], tác giả quan tâm đến mặt hình thái của từ, còn Lưu Văn Lăng quan tâm đến khả năng tách biệt của từ
Khi nghiên cứu về từ, các tác giả chỉ mới chú ý đến một vài phương diện của từ ngữ, chưa nói được các đặc trưng về hình thái, tính toàn vẹn hoàn chỉnh về ý ngh a, chủ ngh a của từ Khắc phục những hạn chế trên, Đỗ Hữu Châu: "Đối với tiếng Việt, từ là những hình thức ngữ âm tương đối ngắn gọn,
cố định, sẵn có, bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội biểu thị những nội dung tinh thần được xem là đơn vị nhận thức và giao tiếp cũng có tính sẵn
có, cố định (trong một thời gian nhất định) bắt buộc Từ là những dơn vị nhờ người đọc dùng để tạo nên câu, các phát ngôn cụ thể mang ý ngh a cụ thể Còn Nguyễn Kim Thản định ngh a: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách ra các đơn vị khác nhau của lời nói để vận dụng một cách độc lập và
là một khối hoàn chỉnh về mặt ngữ âm, ý ngh a (từ vựng hoặc ngữ pháp và chức năng ngữ pháp" [Dẫn theo: 59,64]
Trang 15Các định ngh a trên nhìn chung đều xem xét từ ở các phương diện như khả năng tách biệt, tính hoàn chỉnh, chức năng hình thức của từ Tuy nhiên, vẫn chưa có ngh a hoàn chỉnh về từ Theo chúng tôi, hiện nay trong tiếng Việt, định ngh a về từ được nhiều người chấp nhận là định ngh a của Đỗ Thị Kim Liên: "Từ là một đơn vị của ngh a, gồm 1 hoặc một số âm tiết, có ngh a nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu”[Dẫn theo: 48,18]
Như vậy, trong tiếng Việt từ là đơn vị ngh a mang những đặc điểm sau: + Đơn vị cơ bản nhỏ nhất của ngh a
"Ngữ ngh a quan hệ với nhận thức và qua nhận thức, quan hệ với hiện thực, nhờ đó, ngữ ngh a thực hiện chức năng của nó là công cụ của tư duy và công cụ giao tiếp" [Dẫn theo: 51, 2]
Ngh a được GS Lê Quang Thiêm xác định toàn diện và chi tiết hơn:
Ngh a là một thực thể tinh thần trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp
độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng giá trị và tư duy cũng như mọi chức năng cụ thể, đa dạng khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, điển ngôn Ngh a của ngữ ngh a thể hiện trong mọi l nh vực hình thức tồn tại của tín hiệu phải được xem xét ở loại đơn vị có thuộc tính tín hiệu, đặc biệt là ở dạng trừu tượng của các hình thức thực hiện tín hiệu Ngh a của một thực thể tinh thần, tức là một hình thức do con người và bởi con người cấu tạo, sử dụng ngữ
Trang 16ngh a như một phương tiện, công cụ nên quan điểm chức năng phải được xem xét là nòng cốt trung tâm của kiến giải ngh a [Dẫn theo: 62, 19]
Do vậy, ý ngh a ngữ ngh a đã lập thành nội dung của ý thức xã hội, ý ngh a của từ là thể thống nhất giữa sự khái quát hoá và sự giao tiếp
1.2.3 Ý niệm từ vựng
Tính hệ thống trong ngôn ngữ phản ánh cấu trúc hệ thống trong hệ thống khái niệm của con người Cơ chế trí não của con người phần nào phản ánh cơ chế của thế giới bên ngoài ( bao gồm cả trải nghiệm văn hoá xã hội)
Xét ví dụ sau: Lễ giáng sinh đang đến gần
Ví dụ này liên quan tới miền khái niệm về thời gian Miền khái niệm là tri thức trong hệ thống khái niệm của con người, chứa đựng và tổ chức các ý ngh và trải nghiệm có liên quan với nhau Ví dụ miền khái niệm thời gian có thể liên quan tới cả một loạt sự kiện mang tính thời gian như lễ Giáng sinh chẳng hạn Cũng cần lưu ý rằng, trong mỗi câu trên, khái niệm trừu tượng hơn (lễ Giáng sinh) được hiểu dưới dạng miền khái niệm liên quan tới các trải nghiệm vật chất cụ thể Chẳng hạn lễ Giáng sinh được khái niệm hoá như là
sự chuyển động khi dùng từ ngữ đến gần
Người nói và người nghe trong một cộng đồng ngôn ngữ thông hiểu nhau nhờ trao cho nhau, tạo ra trong hiểu biết của nhau những liên hệ ngh a, gợi lên trong đầu óc người nghe những ngh a hay những tư tưởng của người nói muốn truyền đạt Như vậy, tất cả những hiện tượng chúng ta bắt gặp hàng ngày đều trở thành những trải nghiệm và chứa đựng trong tâm trí của chúng ta thành những ngữ cảnh liên hệ lẫn nhau Cấu trúc của hiện thực được phản ánh trong ngôn ngữ là những hiểu biết của cá nhân và cộng đồng sử dụng ngôn ngữ, là một sản phẩm của trí tuệ con người Hay nói cách khác, nó là ý niệm, hình dung tưởng tượng của con người khi dùng tín hiệu ngôn ngữ, thổi vào tín
hiệu ngôn ngữ trong nói năng, giao tiếp, tư duy, suy tưởng
Trang 17Nếu như tâm lý học nghiên cứu ngôn ngữ trên các phương diện như trí nhớ, nhận thức, sự chú ý, hay lập luận, quan hệ liên tưởng, quá trình suy ý, sử dụng tri thức nền theo những mô hình nhất định thì các nhà ngôn ngữ học tri nhận quan tâm đến ngữ ngh a học nhận thức (cognitive semantics) và ngữ pháp nhận thức (cognitive grammar) Vấn đề là phải trả lời câu hỏi ý ngh a là gì? Ngh a của từ trong ngôn ngữ học tri nhận được coi là ý niệm từ vựng hay
sự thể hiện nhận thức và là một thực thể tinh thần (mental entity) Ray Jackendoff (1989) quan niệm rằng ý niệm là sự thể hiện tinh thần và sự thể hiện tinh thần này có thể là ngh a của một biểu thức ngôn ngữ Đây là đơn vị tinh thần gắn với hình thức ngôn ngữ Như vậy, có thể nói rằng các đơn vị từ vựng không có ngh a Cái mà chúng ta hay gọi là ngh a trong các từ điển về thực chất chỉ là các ý niệm Các ngh a khác nhau của một đơn vị từ vựng tạo nên một cấu trúc ý niệm cho đơn vị đó ý ngh a chỉ được kiến tạo (constructed) trong việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ mà thôi Croft (1993) nhận xét rằng: ngh a của một từ nào đó được “kiến tạo” chỉ sau khi toàn bộ ý ngh a của phát ngôn được xác định Điều này khác với cách lập luận truyền thống cho rằng ý ngh a của một phát ngôn là sự tích hợp giữa ý ngh a của các
từ thành phần và cách thức sắp xếp các thành phần đó trong phát ngôn
Một kí hiệu hay kí hiệu ngôn ngữ chỉ có vai trò kích hoạt cơ chế kiến tạo ngh a trong đầu người giao tiếp Việc kích hoạt ra ý ngh a nào lại xảy ra trong một không gian tinh thần nhất định (mental space) hay trong một khung
ý niệm, hay trong một phần của cấu trúc tri thức của con người Hãy xem xét
kí hiệu “ngon” trong các ví dụ sau:
Trang 18(a) được hiểu là quả chín, ngọt, còn (b) có ngh a là đẹp, hay, và (c) có ngh a
là gợi cảm hay xinh Như vậy, để hiểu được ý ngh a của từ “ngon” trong các
ví dụ trên, người nói hay người nghe phải sử dụng các phần tri thức bách khoa liên quan đến “quả”, “tranh” hay “con gái” Không gian tinh thần được kích hoạt để kiến tạo nội dung ngh a của các phát ngôn trên được gọi là quá trình
và tâm hồn xứ Nghệ Từ đó ta có thể hiểu một cách sâu sắc về một cộng đồng dân tộc
1.3 Câu - đơn vị nghiên cứu ngh trong c d o
Trong ngữ pháp truyền thống, thuật ngữ “câu” được dùng để chỉ cái đơn vị ngữ pháp lớn nhất là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp Câu đơn vốn được hiểu là đơn vị được làm thành từ một mệnh đề, câu ghép thì được làm thành
từ hơn một mệnh đề Nhưng “mệnh đề” là thuật ngữ của lôgic Hai nhà ngữ pháp Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê đã cố gắng tách “mệnh đề của ngôn ngữ” ra khỏi “mệnh đề của lôgic” bằng cách dùng tên gọi “cú” như là một tên gọi của mệnh đề ngôn ngữ
Hiện nay, theo cách hiểu chung nhất, câu (sentence) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ Còn cú (clause) được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn tả một sự thể (sự việc) “Câu hay cú đều có thể định ngh a gồm ba yếu tố như sau: câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong
tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn
Trang 19ngữ tập rung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc) Định ngh a này không tính đến đặc thù của ngôn ngữ cụ thể, không gắn với dạng nói hay dạng viết của ngôn ngữ và cũng chưa tính đến các chức năng khác, ngoài chức năng ngh a biểu hiện” [Dẫn theo: 2,17] Trong Luận văn này, ngh a phản ánh, ngh a biểu hiện của “câu” được chúng tôi sử dụng đồng nhất với ngh a biểu hiện của “cú”
1.3.1 Câu và nghĩa biểu hiện của câu
Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (Benveniste, 1961) [Dẫn theo: 30,27] Nó vừa là đơn vị nghiên cứu cách tổ chức câu, vừa
là đơn vị nghiên cứu cách tổ chức ý Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất
Về phương diện cấu trúc, câu là cái phạm vi lớn nhất của những mối quan
hệ ngữ pháp chính danh “Tất cả các quan hệ ngữ pháp có thể có được đều chỉ
có trong phạm vi câu Trong những ngôn từ hay văn bản gồm hai câu trở lên, giữa câu này với câu kia có thể có nhiều mối quan hệ về đề tài, về ý tứ nhưng không thể có mối quan hệ ngữ pháp, nhưng nó không thể làm thành tố ngữ pháp trong một đơn vị nào lớn hơn‟‟(Bloomfield 1933 : 170 ; Lyons 1968 : 172s, 176), [Dẫn theo: 30,27]
Như vậy, trong các hệ thống tôn ti của các đơn vị của ngôn từ làm thành một ngôn bản (văn bản), câu là đơn vị trung tâm, đơn vị bên lề Nếu không hiểu cương vị và cấu trúc của câu, không thể nào hiểu những đơn vị ngôn từ lớn hơn, mà cũng không hiểu được bất cứ điều gì về những đơn vị nhỏ hơn cấu tạo nó
Về phương diện chức năng, câu là „„sự thể hiện ngôn ngữ học của một mệnh đề (proposition) Nó là đơn vị mà ngôn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định gồm có một chủ đề được kết hợp với một điều nói về chủ đề đó”
Trang 20Cho đến nay có rất nhiều định ngh a khác nhau về câu (trên 300 định ngh a) Theo quan niệm của giáo sư Đỗ Thị Kim Liên : “Câu là đơn vị dùng
từ đặt ra trong quá trình suy ngh nhằm thực hiện chức năng thông báo hay bộc lộ thái độ, cảm xúc Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc và được gắn với ngữ cảnh nhất định” [Dẫn theo: 49]
Phần lớn các tác giả phương Tây đều cho rằng nội dung của bình diện ngh a của câu (và của ngôn ngữ) là cái phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những cái mảng của thế giới hiện thực (hay một thế giới nào khác ở bên ngoài ngôn ngữ) Đây thật ra chỉ là một mặt của ngh a - mặt cảm thụ và mặt tư duy – nhưng bao giờ cũng được phản ánh trong ngôn ngữ xuyên qua hai mặt này Ngh a biểu hiện phản ánh cái sự tình của thế giới được nói đến trong câu Tất nhiên câu nói (câu văn) không sao phỏng y nguyên cái sự tình đó Khi đã được sắp xếp lại theo các tri giác của người nói, được tổ chức lại thành một cấu trúc lôgíc ngôn từ, được tuyến tính hoá lại theo những quy tắc ngữ pháp của câu, được tình thái hoá ở nhiều cấp theo thái độ của người nói, cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt sự tình cho người nghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí thêm nhiều yếu tố chủ quan của người nói
1.3.2 Các bình diện nghĩa trong câu
Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ bao hàm ba bình diện: bình diện ngh a học, bình diện cú pháp và bình diện dụng pháp
Bình diện dụng pháp là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống giao tiếp cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể
Bình diện cú pháp là bình diện tổ chức câu theo các quy tắc thuần tuý, là
“bình diện của những khái niệm được xác định bằng các tiêu chuẩn hình thức thuần tuý” [Dẫn theo: 30,21]
Trang 21Bình diện ngh a học là bình diện phản ánh thế giới khả hữu thông qua nhận thức của con người “Bình diện ngh a học theo quan niệm này là bình diện của “sự tình” được biểu thị và những “vai trò” tham gia cái sự tình ấy Ở đây, ta sẽ có những tham tố (participants) của sự tình, gồm có những diễn tố (actants) và những chu tố (circumtants - “những kẻ đứng xung quanh”) Các diễn tố là những vai trò tất yếu được giả định sẵn trong ngh a từ vựng của vị
từ ( ) Các chu tố làm thành cái cảnh trí ở xung quanh các tham tố, nó không được giả định một các tất nhiên trong khung vị ngữ”[Dẫn theo: 30,21] Bản chất của phần ngh a này là miêu tả thế giới khách quan trong nhận thức của người nói, viết Nội dung này được gọi chung là kinh nghiệm
Kinh nghiệm của con người bao gồm kinh nghiệm “bên ngoài” (outer experience) và kinh nghiệm “bên trong” (inter experience) “Hình thức nguyên sơ của kinh nghiệm “bên ngoài” là kinh nghiệm về các hành động và
sự kiện: đó là những điều xảy ra, là con người hoặc những hành thể khác thực hiện hành động, hay tác động làm cho chúng xảy ra Kinh nghiệm “bên trong” khó phân loại hơn; nhưng một phần nó là một kiểu thể hiện lại kinh nghiệm bên ngoài, ghi lại nó, phản ứng lại nó và một phần, nó là ý thức riêng biệt về trạng thái tồn tại của con người” (Halliday, 1994) [Dẫn theo 68, 15] Loại kinh nghiệm thứ ba được phản ánh trong ngữ pháp chức năng là mối liên hệ giữa mảng này và mảng kia của thế giới kinh nghiệm vừa nêu Đó là quá trình phân loại (classifying) và đồng nhất (indentifying) hay quá trình quan hệ (relational)
1.3.3 Các loại câu xếp theo cấu trúc nghĩa
Theo các tiêu chí khác nhau, ngh a biểu hiện của câu được phân thành các loại khác nhau Với các tiêu chí động và tiêu chí chủ ý, tác giả cuốn
“Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng” xác định bốn loại câu xếp theo
Trang 22cấu trúc ngh a: câu chỉ hành động, câu chỉ quá trình, câu chỉ trạng thái và câu chỉ quan hệ
Ngh a biểu hiện của loại câu chỉ quan hệ chứa đựng những vấn đề lí thú về phương diện lô-gích cũng như về phương diện ngôn ngữ học Thường thường các câu chỉ quan hệ được các nhà ngôn ngữ học xếp thành những tiểu loại trong đó loại câu định tính, định vị, đẳng thức, hoặc giả một trong những quan
hệ ý ngh a được tách ra thành một loại riêng ngang hàng với các loại lớn Ngh a biểu hiện của câu chỉ quan hệ gồm nhiều loại khác nhau: Quan hệ giữa một thực thể với một thực thể, quan hệ giữa một thực thể với một chu cảnh, quan hệ giữa hai sự tình, quan hệ giữa sự tình với chu cảnh
Trong câu chỉ quan hệ giữa một thực thể với một thực thể, có kiểu câu
chứa vị tố là từ chỉ quan hệ không dùng độc lập Theo tác giả cuốn Ngữ pháp
tiếng Việt: “các vị tố do những từ chỉ quan hệ không dùng độc lập đảm nhiệm
có thể gọi chung là vị tố - hư từ, phân biệt với trợ động từ là và hư từ không
làm vị tố Trong câu với chức năng vị tố, các hư từ này vẫn là động từ chính (main verb) của câu; xét về từ loại, chúng có tư cách của những động từ thứ
(minor verb) Các kiểu quan hệ do các vị tố hư từ diễn đạt khá phong phú và gắn với những hư từ cụ thể ” [Dẫn theo: 2, 97-98]
Trong số các kiểu quan hệ do các vị tố hư từ diễn đạt đó, trong ca dao viết
về quan hệ gia đình, vị tố hư từ “như” có tần số xuất hiện khá lớn Vì vậy, ở đây, chúng tôi chỉ trình bày một số vấn đề liên quan đến câu chứa vị tố “như”
“Câu chứa vị tố hư từ như trong tiếng Việt dùng để nêu quan hệ so sánh
tương đương theo lối biểu trưng hoá (symbolizing), thường là so sánh có hình
ảnh Trong kiểu câu này, chủ ngữ chỉ cái được so sánh, tiếng như làm vị tố chỉ quan hệ, và bổ ngữ chỉ cái dùng để so sánh ( ) Câu chứa vị tố như được
dùng diễn đạt quan hệ cảnh huống, cụ thể là sự so sánh (comparison), và thuộc kiểu nhỏ nêu thuộc tính, thường có tính chất biểu trưng hoá Yếu tố
Trang 23dùng so sánh hoạt động với tư cách tham thể về ngh a biểu hiện, và với tư cách bổ ngữ về cấu trúc cú pháp”[Dẫn theo: 2, 120-12]
1.4 Ca dao và ca dao tình yêu
1.4.1 Khái niệm ca dao
ca dao còn được gọi là phong dao (có lẽ vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại) Đây là những thuật ngữ Hán – Việt, được các nhà nho người Việt dùng để gọi phần lời thơ trong vốn ca hát
và lời nói ví truyền miệng trong dân gian
dân ca - những sáng tác kết hợp thơ với nhạc Tuy nhiên cũng có những lời của dân ca không gọi là ca dao, đồng thời cũng lại có những câu, những bài thơ dân gian được sáng tác ra không phải để hát mà để đọc, nếu được phổ biến rộng rãi thì cũng gọi là ca dao Nói chung, ca dao là những sáng tác trữ tình dân gian có nội dung chính là đời sống nội tâm, đời sống tư tưởng, tình cảm của người bình dân
1.4.2 Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam
- Về nội dung:
tâm tình và nói lên những suy ngh về cuộc sống Khi nói chuyện với nhau, cùng với các câu tục ngữ, thành ngữ, họ cũng hay dẫn những câu ca dao có ý ngh a sâu sắc để lời nói thêm đậm đà và tăng sức thuyết phục Nhưng chỉ khi
ca hát họ mới bộc lộ được đầy đủ đời sống nội tâm của mình Rất nhiều hình thức ca hát đã trở thành những tập quán lâu đời gắn liền với những sinh hoạt lao động, sinh hoạt gia đình và sinh hoạt cộng đồng của người bình dân thời xưa Trong các sinh hoạt ca hát này, đã có rất nhiều bài ca dao ra đời, diễn tả những suy ngh sâu sắc, những tâm trạng, những tình cảm và cảm xúc tiêu biểu của người bình dân đối với lao động, đối với cuộc sống gia đình và xã hội
Trang 24Bên cạnh nội dung diễn tả niềm vui lao động, tư tưởng đề cao lao động,
ca dao hay nói đến những nổi vất vả trong lao động, những nổi dắng cay, buồn tủi vì cuộc sống nghèo khó, làm không đủ ăn Đời sống vật chất thấp kém, cộng với những nổi cực nhục mà những người dân “thấp cổ bé họng” phải chịu đựng trong một xã hội đầy rẫy những bất công do sự lộng hành của những kẻ có của và có quyền gây nên, đó là đề tài cho hàng loạt bài ca dao có tính chất than thân, phản kháng, thể hiện sự bất bình, nói lên những đòi hỏi về dân chủ, nhân đạo của người bình dân thời xưa
dao Việt Nam ấy là niềm khao khát sống đậm tình nặng ngh a, có đạo lí, hiếu trung Nó được thể hiên trực tiếp qua:
+ Thể thơ: Ca dao thường được sáng tác theo hai thể thơ truyền thống
là thể lục bát và thể song thất lục bát Ngoài ra còn có thể nói lối (nói bằng văn vần, mỗi câu gồm từ hai, ba, bốn đến nhiều tiếng)
cách gieo vần và về thanh điệu (luật bằng – trắc) Nếu bài ca dao sáng tác đúng theo những qui định ấy thì ta có dạng nguyên thể Nhưng ca dao thường hay sử dụng các dạng biến thể Phần lớn dạng biến thể là dạng của thể thơ
Trang 25trong đó các qui định tối thiểu về số lượng và trật tự của các vần và các thanh điệu thì vẫn được tuân theo, song số lượng các tiếng trong câu thì thay đổi
+ Cách diễn ý và lập ý: Ca dao thường diễn ý bằng các hình ảnh so
sánh và ẩn dụ; thường lập ý bằng hình thức đối đáp, hình thức mở đầu bằng cách miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoặc khung cảnh sinh hoạt, hình thức điệp ngữ…
+ Ngôn ngữ: Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ thơ song vẫn không cách
xa với ngôn ngữ của lời nói hàng ngày, từ cách dùng từ tới cách đặt câu Tác giả Mai Ngọc Chừ trong một bài nghiên cứu về ngôn ngữ ca dao Việt Nam đã
khẳng định: ngôn ngữ ca dao đã kết tụ những đặc điểm nghệ thuật tuyệt vời
nhất của tiếng Việt Nó có cả những đặc điểm tinh tuý của ngôn ngũ văn học đồng thời nó còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung, ngôn ngữ hội thoại vào một loại ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ Thật vậy, ngôn ngữ ca dao có rất nhiều những từ sinh
động của lời ăn tiếng nói dân gian, những thành ngữ, tục ngữ và cách nói theo kiểu thành ngữ, tục ngữ, những lối chơi chữ dí dỏm và táo bạo Tính chất phương ngữ thể hiện trong ca dao rất rõ, in đậm dấu ấn phong cách nói năng của từng cộng đồng người ở mỗi vùng miền trên đất nước ta
1.4.3 Mảng ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ
quen với khái niệm tình yêu, nhưng để trả lời câu hỏi “tình yêu là gì?” thì lại không đơn giản Những người đã yêu vẫn bàn về tình yêu Những người đang tới tuổi yêu thì có một nhu cầu tìm hiểu về khái niệm tình yêu Chủ điểm tình yêu đã trở thành bất tận trong cuộc sống Khó đưa ra một định ngh a khoa học
về tình yêu, có lẽ vì yêu là một tình cảm cực kì phong phú, bao hàm nhiều mặt về nội dung Tuy nhiên, có thể nói một cách khái quát, tình yêu là tình cảm cao nhất trong quan hệ nam nữ Nó biểu thị mối quan hệ giữa hai người
Trang 26khác giới cảm thấy có một nhu cầu phải gắn bó lại với nhau để sống, tự nguyện hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình
bộ phận phong phú nhất Tính chất phong phú của ca dao tình yêu đôi lứa trước hết thể hiện qua số lượng, nó chiếm số lượng nhiều nhất trong các bộ phận của kho tàng ca dao Việt Nam Điều này là dễ hiểu, bởi lẽ các chàng trai cô gái thời xưa sử dụng ca dao như là phương tiện hữu hiệu nhất để trò chuyện, diễn tả tình cảm, tâm trạng trong quan hệ tình bạn, tình yêu Họ thường gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi cùng lao động, trong những ngày hội hè, vui xuân Một trong những hình thức thể hiện của sự giao duyên đó là những cuộc hát đối đáp nam nữ Có thể tập hợp các bài ca dao cổ truyền về tình yêu nam nữ thành hai phần: một phần là của
cô gái, một phần là của chàng trai; hầu hết các câu hát bài ca trong hai phần
đó là những lời đối đáp bổ sung cho nhau thành một nội dung hoàn chỉnh của tình yêu nam nữ Mọi giai đoạn, cung bậc, sắc thái của tình yêu cũng như khát vọng về tình yêu trong sáng, chân thật, nồng cháy, thuỷ chung được thể hiện thật tinh tế, gợi cảm Do đó diện mạo tình yêu đôi lứa được ca dao vẽ ra thật hoàn chỉnh, thật cụ thể, sinh động và không kém phần sâu sắc, bay bổng, lãng mạn
nhất, viên mãn nhất, biểu hiện vẻ đẹp độc đáo trong tâm hồn, tài trí, tình cảm
và khát vọng của người Việt ta từ bao đời nay Chính nó là hiện thân cho vẻ đẹp, sức sống, sức hấp dẫn của ca dao nói riêng, văn học dân gian nói chung
Và nó cũng là mảng đề tài lớn, mảnh đất màu mỡ cho những ai yêu quý vốn văn học văn hoá dân gian quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu
Ca dao tình yêu Nghệ T nh là một bộ phận quan trọng trong chuỗi ca dao tình yêu Việt Nam Bộ phận này đã thực sự phản ánh những nét riêng của
Trang 27một vùng văn hóa, nét riêng của con người Nghệ T nh, đồng thời cũng thể hiện rõ những nét chung của con người Việt Nam, những đặc trưng tình yêu của người Việt Nói cách khác, ca dao tình yêu xứ Nghệ vừa nằm trong dòng chảy của ca dao tình yêu Việt Nam, vừa góp phần tạo nên tính đa dạng phong phú của bộ phận ca dao này bằng nét riêng biệt, độc đáo của nó
1.4.4 Tình yêu trong ca dao Nghệ Tĩnh
Trong kho tàng ca dao xứ Nghệ, bộ phận ca dao tình yêu đôi lứa là bộ phận phong phú nhất Tính chất phong phú của ca dao tình yêu đôi lứa trước hết thể hiện qua số lượng, nó chiếm số lượng nhiều nhất trong các bộ phận của kho tàng ca dao xứ Nghệ Điều này là dễ hiểu, bởi lẽ các chàng trai cô gái thời xưa sử dụng ca dao như là phương tiện hữu hiệu nhất để trò chuyện, diễn
tả tình cảm, tâm trạng trong quan hệ tình bạn, tình yêu Họ thường gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi cùng lao động, trong những ngày hội hè, vui xuân Một trong những hình thức thể hiện của sự giao duyên
đó là những cuộc hát đối đáp nam nữ Có thể tập hợp các bài ca dao cổ truyền
về tình yêu nam nữ thành hai phần: một phần là của cô gái, một phần là của chàng trai; hầu hết các câu hát bài ca trong hai phần đó là những lời đối đáp
bổ sung cho nhau thành một nội dung hoàn chỉnh của tình yêu nam nữ Mọi giai đoạn, cung bậc, sắc thái của tình yêu cũng như khát vọng về tình yêu trong sáng, chân thật, nồng cháy, thuỷ chung được thể hiện thật tinh tế, gợi cảm Do đó diện mạo tình yêu đôi lứa được ca dao vẽ ra thật hoàn chỉnh, thật
cụ thể, sinh động và không kém phần sâu sắc, bay bổng, lãng mạn
nhất, viên mãn nhất, biểu hiện vẻ đẹp độc đáo trong tâm hồn, tài trí, tình cảm
và khát vọng của người Việt ta từ bao đời nay Chính nó là hiện thân cho vẻ đẹp, sức sống, sức hấp dẫn của ca dao xứ Nghệ nói riêng và văn học dân gian
Trang 28nói chung Và nó cũng là mảng đề tài lớn, mảnh đất màu mỡ cho những ai yêu quý vốn văn học văn hoá dân gian quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu
Về nội dung của ca dao Nghệ T nh, kho tàng ca dao tình yêu Xứ Nghệ
có thể phân thành hai mảng: ca dao tình yêu của người Kinh và ca dao tình yêu các dân tộc thiểu số
Ca dao của người Kinh xứ Nghệ trong Kho tàng ca dao xứ Nghệ do
PGS Ninh Viết Giao chủ biên có 7 nội dung với 4147 lời Trong đó, tình yêu nam nữ có tỉ lệ lớn nhất với 1884 lời chiếm 46% Các nội dung còn lại gồm
Vài đặc điểm về địa phương xứ Nghệ, Quan hệ gia đình và hôn nhân, Cuộc sống trong xã hội nông nghiệp, Quan điểm lao động và kinh nghiệm cuộc sống, Tinh thần dân tộc và quan hệ giai cấp chiếm 54% còn lại
Ca dao tình yêu xứ Nghệ đã phản ánh đầy đủ các cung bậc cảm xúc, các quan niệm về tình yêu Lần theo bước đi của tình yêu, lần theo những cung bậc của cảm xúc, tình yêu của người Nghệ dần hiện ra trong ca dao với muôn màu sắc, muôn trạng thái tình cảm
Về những công trình cụ thể nghiên cứu về ca dao xứ Nghệ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như của: Ninh Viết Giao, Nguyễn Nhã Bản,
Sự khác nhau giữa ca dao người Việt xứ Nghệ và Xứ Bắc của tác giả Nguyễn
cứu của các tác giả tuy nghiên cứu chung về ca dao xứ Nghệ nhưng đã dành khá nhiều trang viết về ca dao tình yêu Những nghiên cứu này hết sức bổ ích với luận văn của chúng tôi Riêng về tình yêu ca dao xứ Nghệ, theo hiểu biết của chúng tôi cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu:
“Một số phương diện và biện pháp tu từ trong ca dao tình yêu đôi lứa Xứ Nghệ” (Nguyễn Văn Liên, Luận văn thạc sỹ Ngữ văn, ĐH Vinh, 1999),
“Nghiên cứu thể thơ của ca dao người Việt xứ Nghệ” (Hoàng Bích Tuyết,
Luận văn thạc s Ngữ văn, ĐH Vinh, 2002)
Trang 29Tình yêu là một khái niệm hết sức trừu tượng, dù mọi người ai cũng rất quen với khái niệm tình yêu, nhưng để trả lời câu hỏi “tình yêu là gì?” thì lại không đơn giản Những người đã yêu vẫn bàn về tình yêu Những người đang tới tuổi yêu thì có một nhu cầu tìm hiểu về khái niệm tình yêu Chủ điểm tình yêu đã trở thành bất tận trong cuộc sống Khó đưa ra một định ngh a khoa học
về tình yêu, có lẽ vì yêu là một tình cảm cực kì phong phú, bao hàm nhiều mặt về nội dung Tuy nhiên, có thể nói một cách khái quát, tình yêu là tình cảm cao nhất trong quan hệ nam nữ Nó biểu thị mối quan hệ giữa hai người khác giới cảm thấy có một nhu cầu phải gắn bó lại với nhau để sống, tự nguyện hiến dâng cho nhau cuộc sống của mình
Ca dao viết về tình yêu chiếm một khối lượng khá lớn và cũng là những câu ca hay nhất, xúc động nhất, để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bao thế
hệ độc giả yêu quý những giá trị tinh thần của dân tộc
Ca dao Nghệ T nh là kho tàng tinh thần vô giá, là sản phẩm nghệ thuật ngôn
từ tuyệt vời của người dân xứ nghệ nói riêng và của dân tộc Việt nói chung
Nó góp phần không nhỏ trong việc lưu giữ kinh nghiệm về các các l nh vực khác nhau của cộng đồng dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác Chính vì vậy,
ca dao phản ánh rõ quan niệm của con người về thế giới khách quan, trong đó
có mảng ca dao tình yêu đôi lứa
Trang 30Tiểu kết chương 1
Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp, là công cụ của tư duy và nhận thức
Nó vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người Sản phẩm này phản ánh quan niệm của cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ về từng vấn đề trong từng l nh vực cụ thể, trong đó có quan niệm về quan hệ gia đình Quan niệm của con người được phản ánh bằng nhiều phương tiện ngôn ngữ khác nhau như từ, cấu trúc ngh a biểu hiện, trường từ vựng ngữ ngh a… bằng các phương thức khác nhau như so sánh, ẩn dụ…
Quan niệm của cộng đồng sử dung ngôn ngữ phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ - văn hoá – tư duy Quan niệm chính là kết quả của quá trình trải nghiệm và nhận thức và cũng là cách nhìn thế giới của con người Quan niệm được hiện thực hoá qua ngôn ngữ thông qua các phương tiện khác nhau: từ, ngữ, câu, văn bản, thể hiện qua các phương thức so sánh, ẩn dụ Vì vậy, muốn hiểu quan niệm của con người ở một cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá nào đó, không thể không xuất phát từ việc tìm hiểu phương tiện ngôn ngữ
Trang 312.1 Tình yêu là sự gắn kết h i thực thể
Mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội đều có những mỗi liên hệ với nhau Những mối quan hệ này được hình thành trên sự tương tác qua lại Nhưng sự tương tác này không phải ngẫu nhiên mà nó tương tác có mục đích Hai đối tượng, người cá thể riêng biệt nhau nhưng khi kết hợp lại với nhau nó sẽ tạo nên một sự hoàn chỉnh và ca dao đã vận dụng thành công điều đó Sự kết hợp
hai thực thể đó người Nghệ T nh cho là Xứng đôi vừa lứa
- Đôi ta như đũa trong so Không bắt mà bén, không tho (so) mà bằng
- Đêm khuya cưởi (sương) xuống dần dần Sao hôm xích lại cho gần sao mai
Trong ca dao xứ Nghệ, sự gắm kết hai thực trong tình yêu được biểu hiện khá sinh động bằng một lớp từ ngữ ẩn dụ, mang tính biểu tượng, liên kết với nhau theo quan hệ đôi - cặp
Theo tư liệu lựa chọn khảo sát 1884 đơn vị ca dao tình yêu nam nữ trong kho tàng ca dao xứ Nghệ, chúng tôi thu thập được 273 cặp từ quan hệ qua lại
và tác động với nhau làm thành một chỉnh thể thống nhất Trong đó có rất nhiều cặp xuất hiện rất nhiều lần tạo nên một sự biến hoá linh hoạt, sinh động, phong phú trong ca dao:
Trang 32+ Kim Trọng - Thuý Kiều
+ Trúc - Mai
+ Sao hôm - Sao mai
+ Chăn loan - Gối huê
lộ hết các cung bậc cảm xúc
2.1.1 Tình yêu là sự gắn kết hai cá thể thành một thực thể thống nhất và gắn bó với nhau
Trên tƣ liệu khảo sát 1884 đơn vị ca dao tình yêu đôi lứa xứ Nghệ, chúng tôi thu thập đƣợc: 61 cặp thể hiện Tình yêu là sự gắn kết hai cá thể thành một
thực thể thống nhất và gắn bó với nhau
Trong thế giới tự nhiên cũng nhƣ trong đời sống xã hội, các hình ảnh, hiện
tƣợng luôn tồn tại trong mối quan hệ qua lại, tác động và ràng buộc nhau Bằng đầu óc quan sát tinh tế, nhanh nhạy của mình, các tác giả dân gian đã vận dụng các hình ảnh, đối tƣợng ấy tạo thành một chỉnh thể thống nhất gắn
gó khăng khít với nhau Hai yếu tố đó khi ở ngoài câu ca không quan hệ với nhau nhƣng trong câu ca dao thì tạo thành một cặp hoàn hảo Nó cũng giống
Trang 33nhƣ anh và em, chàng và nàng khi gắn bó lại với nhau sẽ thành một đôi hoàn hảo: Mƣợn những hình ảnh đó ca dao xứ Nghệ đã đề cập đến những cung bậc cảm xúc khi yêu
- Trông anh như bắc trông dầu,
Như con cá cạn trông chầu trông mưa
- Gặp em cám cảnh cho em,
Đôi ta như rượu với men mặn nồng
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, ách không có cày thì sao sử dụng đƣợc,
nó cũng chỉ là một vật dụng vô ngh a, bấc không dầu thì sao cháy? Thuyền không bến thì thuyền mãi lênh đênh, bền không thuyền sao còn là bền đậu?
Rõ là với các thành tố nói trên nếu không đƣợc kết hợp lại với nhau sẽ không làm nên một chỉnh thể có chức năng, công dụng, giá trị nào
- Nhớ ai như sách nhờ bìa, Như kim nhờ chỉn, canh khuya nhờ chàng
Sách - bìa, kim – chỉn là những vật biểu trƣng cho sự nhỏ bé; Nhƣng
khi kết hợp lại với nhau thì tạo thành một cặp biểu tƣợng cân xứng phù hợp với nhau quá đôi trai gái khi xa nhau Hơn thế nữa, nó còn biểu hiện sự cân xứng, phù hợp gắn bó khăng khít làm thành một chỉnh thể thống nhất để có
chức năng, công dụng Bởi lẽ, nếu không có bìa, thì quyển sách không có giá trị thẩm mỹ nữa Kim không có chỉn thì nó không có chức năng để may
Cũng nhƣ, anh và nàng, hai ta kết hợp lại với nhau không chỉ làm thành một
Trang 34chỉnh thể mà còn nhằm tôn giá trị cho nhau Chàng trai, cô gái nhớ nhau họ thể hiện thông qua những hình ảnh thật gần gũi, giản dị mà không bao giờ thiếu vắng nhau
Thế giới dân gian sử dụng các cặp biểu tượng này để nói về sự kết hợp hài hoà, cân xứng của tình yêu Đó là một sản phẩm trí tuệ tuyệt vời của nhân dân lao động
2.1.2 Tình yêu cần sự tương xứng và hài hòa về phẩm chất
Trên tư liệu khảo sát 1884 đơn vị ca dao tình yêu đôi lứa xứ Nghệ, chúng tôi thu thập được: 142 cặp biểu hiện tình yêu cần sự tương xứng và hài hòa về phẩm chất
- Đó ngọc thì đây cũng ngà,
Đó hoa thiên lý, đây là mẫu đơn
Trong tư duy của người dân thì ngọc là một loài đá quý, thường dùng làm vật trang trí, trang sức, nó rất có giá trị Ngà cũng là thứ quý hiếm rất có
giá trị trong việc sử dụng làm đồ trang trí, trang sức Ngọc và ngà rất tương xứng về giá trị Nếu anh/em là ngọc thì em/anh là ngà, anh/em là thứ có giá trị thì em/anh cũng có kém gì đâu Tức là chúng ta cân xứng với nhau cả về giá trị lẫn công dụng Điều này được nhấn mạnh thêm ở dòng dưới của câu ca
dao: Hoa thiên lý là một loài hoa đẹp, có sắc có hương, thì mẫu đơn cũng là
loài hoa đẹp, thơm chẳng thua kém gì
Sự cân xứng - hài hoà trong quan hệ lứa đôi biểu đạt cho mỗi từ lý tưởng dựa trên cơ ở tương xứng với nhau về phẩm chất, thuộc tính của các biểu tượng thành tố được ca dao thể hiện với mức độ tương đối đậm đặc Ta có thể thấy rõ điều đó ở những bài ca dao:
- Bây giờ trầu lại gặp cau
Cũng mong ta ở với nhau một nhà
Trang 35- Thương nhau chẳng lấy được nhau Trở về đắp bãi trồng dâu nuôi tằm
Để rồi anh hoá ra tằm,
Em hoá ra nhộng ta nằm một nơi
- Ước gì trầu lại bên cau,
Để anh đôi lứa cùng nhà sum vầy
Trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam, hình ảnh miếng
trầu đã trở nên hết sức quen thuộc, gần gũi và mời trầu, ăn trầu là một phong
tục phổ biến trong đời sống thường ngày, đặc biệt là lễ cưới hỏi Trầu cau
tượng trưng cho tình yêu thuỷ chung, thắm nồng và hạnh phúc bền chặt của đôi lứa Vì vậy, chàng trai, cô gái mượn hình ảnh miếng trầu, miếng cau để nói lên tình cảm của mình đồng thời thể hiện sự thuỷ chung son sắc trong tình yêu Đó là một biểu tượng đẹp nói đến sự nồng nàn, thắm thiết, mãnh liệt, bất
tử theo thời gian
Người dân xứ Nghệ mộc mạc đơn sơ, giản dị là thế nhưng khi yêu họ cũng mãnh liệt và đằm thắm Ca dao là nơi để họ gửi gắm niềm tâm sư và bộc
lộ hết tình cản của mình
2.1.3 Tình yêu là sự hòa quyện và chia sẻ với nhau
Trên tư liệu khảo sát 1884 đơn vị ca dao tình yêu đôi lứa xứ Nghệ, chúng tôi thu thập được: 42 cặp biểu hiện trong tình yêu là sự hòa quyện và chia sẻ với nhau
Mối quan hệ chàng - nàng là mối quan hệ ràng buộc, cùng chịu trách nhiệm với nhau Dù vất vả với bao công việc hằng ngày, các chàng trai - cô gái của nền văn minh nông nghiệp lúa nước vẫn bền bỉ nuôi giữ trong mình một đức tính vô cùng quý báu đó là hi sinh, dâng hiến hết mình cho nhau
Trang 36Họ nguyện được sống cùng nhau đến trọn đời cho dù có vất vả, khó khăn đến bao nhiêu:
- Dù rằng long lưỡi càn rơi
Thì duyên chồng vợ cũng không rời nhau ra
- Chàng về đọc sách ngâm thơ Đĩa đầu hao thiếp rót, ngọn đèn mờ thiếp thêu
Tình yêu là một chất kéo gắn hai cá thể vẫn xa lạ Nó có vững, có chắc hay không là tuỳ hai người nấu keo D nhiên, trong chất keo tình yêu đó thì điều quan trọng phải nói đến là sự chia sẻ, hi sinh vì nhau Họ quan tâm đến nhau, đến mọi mặt của cuộc sống, mọi nỗi buồn vui trong đời Tình ngh a vợ chồng dù trong tình huống khó khăn, khổ sở gì đi nữa thì cũng cam lòng chấp nhận không thở than, ai oán Trong hoàn cảnh có thử thách, vẻ đẹp của người phụ nữ càng sáng ngời tấm lòng vị tha, đức hi sinh thầm lặng cao cả:
- Đêm khuya sương xuống mù chan,
Thiếp đưa khăn nhiễu cho chàng che sương
- Chàng về cho thiếp về cùng,
Đói nó thiếp chịu, lạnh lùng có đôi
Cũng có những lời hứa, lời thề rất giản dị song ta vẫn thấy rõ quyết tâm bằng mọi giá vượt qua thử thách để được ở bên nhau
-Còn trời, còn nước, còn non
Còn trăng, còn gió, thì còn đôi ta
- Dẫu ai có muốn xé ra
Thì ta chắp lại cho hoa liền cành
Tình yêu trong trái tim những nam thanh nữ tú này mạnh mẽ đầy nhiệt huyết, có thể mang đến một sức mạnh phi thường, vượt lên cả quy luật tự nhiên và những tai ương trong đời sống: trời, nước, gió, trăng không bao giờ
Trang 37mất đi có ngh a là tình yêu của họ tồn tại v nh hằng, không bao giờ tàn lụi Bởi có sức mạnh tình yêu như vậy họ tự tin khẳng định:
Dâu kia hết lá vì tằm
Tình ta với bạn trăm năm đời đời
Người Nghệ khi đã quyết định gắn bó với nhau thì sẵn sàng đồng cam
cộng khổ, cùng nhau đi chung một con đường cho đến hết cuộc đời:
Giữ lời gắn bó với nhau Sớm cơm, trưa cháo, chiều rau cũng đành
Đến cái chết cũng không thể chia lìa:
Hai ta thề trước công môn Sống không lấy được chắc, chết hai hồn táng chung
Dù khó khăn, vất vả bao nhiêu thì cô gái vẫn muốn sẽ chia cùng chàng trai Họ chấp nhận mọi gian lao, thử thách Đó cũng là một quan niệm sống của người dân Xứ Nghệ
2.1.4 Tình yêu là sự thủy chung gắn bó
Trên tư liệu khảo sát 1884 đơn vị ca dao tình yêu đôi lứa xứ Nghệ, chúng tôi thu thập được: 29 cặp biểu hiện tình yêu là sự thủy chung gắn bó
Trong cảm thức của người dân xứ Nghệ, các nhân vật trong các tác phẩm
văn học cổ điển hay trong các truyện dân gian như Thuý Kiều - Kim Trọng,
Ngư Long - Chức nữ, Phạm Công - Cúc hoa, … không còn là những con
người đơn thuần có tâm lý, sản phầm mà tất cả họ đều đã trở thành những biểu tượng đẹp cho lòng thuỷ chung son sắc trong tình yêu Các cặp nhân vật nói trên đều là những cặp đôi tuyệt vời của một thứ tình yêu trong sáng, không tì vết, được bao thế hệ người Nghệ yêu quý và tôn thờ như một hình mẫu lý tưởng trong tình yêu Vì vậy, khi sử dụng những cặp đôi này để biểu
tỏ tình yêu ca dao không chỉ nói lên tình cảm mặn nồng, thắm thiết của đôi
Trang 38lứa yêu nhau mà còn thể hiện được sự tương xứng - hài hoà của tình yêu được nói đến:
- Thiên Thai là của nàng Kiều Chờ chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra
- Tình và ta gặp lại ta,
Vân Tiên mới gặp Nguyệt Nga một lần
Trong những câu ca dao về tình yêu, thì sự cân xứng - hài hoà trong tình yêu được xuất hiện với tần số lớn, với nhiều cách diễn đạt khác nhau Ở đây yếu tố từ vựng thực sự là một công cụ tri nhận mạnh mẽ để phạm trù hoà phạm trù trừu tượng - phạm trù tình yêu Sự cân xứng - hài hoà thể hiện một khát vọng, một sự hoà quyện trong tình yêu Qua đó nó còn thể hiện đặc trưng văn hoá của người dân xứ Nghệ nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung
2.2 Tình yêu b o gồm nhiều cung bậc tình cảm khác nh u
Ở trên đời, nói gì thì nói, không nói cho cùng thì tình yêu vẫn là cái gì bất hủ, bất diệt, tồn tại với thời gian Kể từ khi con người hiện hữu trên trái đất già nua đến nay đã hàng vạn năm nhưng tình yêu không già nua mà tình yêu vẫn trẻ mãi, mới lạ, hấp dẫn, mê hồn lòng người Và trong tình yêu được thể hiện vô vàn những cung bậc, sắc thái: có yêu thương, gắn bó, có hờn trách bởi những sai lầm, có nỗi đau đớn bởi tình cảm chia xa…
Trong muôn vàn những cung bậc tình cảm, cảm xúc mà ca dao thể hiện qua tình yêu thì thương, nhớ, yêu, ghét là những từ ngữ được sử dụng khá
nhiều Đây là các vị trí được tác giả Cao Xuân Hạo gọi là những vi từ song trị
trong kiểu câu chỉ trạng thái Cũng theo tác giả những câu chỉ trạng thái tâm
lý những tình cảm như trên có ngh a diễn tố, trong đó diễn tố thứ nhất là kẻ may hay thể nghiệm tình cảm được vị trí biểu thị gọi là nghiệm thể, diễn tố thứ hai là đối tượng gây nên tình cảm đó Vì vậy khi đi tìm hiểu tâm trạng của các chàng trai, cô gai khi yêu thì chúng ta cần xác định được: Ai (nghiệm thể)
Trang 39thương, nhớ, trách ai (đối thể) và tại sao đối thể (B) lại khiến nghiệm thể (A) thương, nhớ, yêu, ghét ? Trong cung bậc tình cảm thì từ : Thương, Nhớ, Trách được thể hiện nhiều
Khảo sát 1884 câu ca dao về tình yêu, chúng ta nhận thấy có 171 lần xuất
hiện từ thương
- Coi chừng thương được thì thương
Đừng đem em mà bỏ giữa đường nó nên
- Lòng đây thương đó đã nhiều
Lụa kia muốn nhuộm sợ màu điều không ăn
Theo từ điển tiếng Việt, thương có ngh a là: 1 Tình cảm gắn bó và
thường tỏ ra quan tâm săn sóc; 2 Yêu; 3 Cảm thấy đau đớn, xót xa trong lòng trước cảnh ngộ không may nào đó" [Dẫn theo:54, 975]
Trong cao dao tình yêu, thương là một cung bậc trong tình cảm Nói đến
"thương" trong ca dao, chúng tôi nhận thấy các câu ca dao này thường đề cập đến "thương" ở cả ba ngh a trên Những câu ca dao này có cấu tạo: A thương
B, trong đó A là chủ thể của tình cảm "thương", B là đối tượng tác động làm nảy sinh tình cảm ấy ở A Trong những câu ca dao này, có khi A là chàng trai,
B là cô gái và ngược lại
Trước hết, thương là tình cảm gắn bó và thường tỏ ra quan tâm săn sóc
- Chẳng chè chẳng chèn sao say,
Chẳng thương chẳng nhớ sao hay đi tìm
- Bốn mùa rồi lại bốn phương
Thiếp ngồi canh cửi thương chàng chàng ơi
Trong tình yêu luôn gắn liền với cả tình thương Có thương nhau mới hiểu và chia sẻ cho nhau mọi điều trong cuộc sống Tình thương ngày càng lớn dần lên cùng với thời gian gần gũi, đôi trai gái họ bên nhau, chăm sóc chia
Trang 40sẻ cho nhau bằng những cử chỉ âu yếm nhất Khi xa họ thương và luôn nhớ về nhau Họ sẵn sàng hi sinh dành hết tình thương cho người mình yêu:
- Mình thương ta chỉ một phần,
Ta thương mình chín lạng mười phân còn thừa
Đọc câu ca dao người đọc có thể cảm nhận một cách sâu sắc tình cảm
của chàng trai cô gái dành cho nhau Chín lạng mười phân là mười, gợi ngh
về một tình cảm trọn vẹn, không gì so sánh được tình thương ấy lớn hơn bất
kỳ một tình thương nào khác
Ca dao tình yêu còn diễn ra cho ta thấy, bên cạnh tình thương gắn bó sâu sắc, quan tâm thì nhiều khi chàng trai, cô gái còn cảm thấy đau đớn, xót xa trong lòng trước cảnh ngộ không may nào đó
- Có thương em thì cưới em đi Đừng có thương rồi lại bỏ làm chi cho cực lòng
- Nước non ai dám thương tình
Thấy em gánh nặng một mình anh thương
- Thương mình mình chẳng thương ta,
Muối kia bỏ biển có mặn mà chi không
Tình thương dành cho nhau "mười phần" nhưng cho đi mà không được nhận lại làm cho chàng trai càng trở nên buồn, đau xót Chàng thấy tình yêu của mình như hạt muối, mà muối có đổ xuống biển thì chẳng cố gắng là gì Tình thương ấy lại trở nên vô ngh a Nó càng làm cho chàng trai xót xa, ngậm ngùi hơn
Bên cạnh tình thương, ca dao tình yêu còn nhắc đến nhớ Trong tình yêu,
nhớ là một cung bậc cảm xúc trong tình cảm Qua khảo sát các câu ca dao nói
về tình yêu đôi lứa, chúng tôi thấy có 92 lần từ nhớ được nhắc đến một cách trực tiếp