1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy đọc hiểu văn chính luận trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông

126 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 759,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nhà nghiên cứu này, để nâng cao hiệu quả dạy học các văn bản chính luận trung đại, người dạy phải hiểu được bản chất của văn chính luận trung đại là sản phẩm mang tính tư duy nguyên

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn chính luận là một thể loại văn học quan trọng Riêng đối với Việt Nam, văn chính luận đồng hành cùng nền văn học trong suốt quá trình lịch sử Trong chương trình Ngữ văn phổ thông, văn chính luận chiếm một phần tương đối lớn Theo khảo sát ở cả chương trình SGK cơ bản và nâng cao

ở cả ba lớp 10, 11 và 12, tổng số văn bản chính luận là 18 (trong khi đó ở chương trình SGK Ngữ văn từ năm 2005 trở về trước ở cả ba lớp chỉ có 5 văn bản)

1.2 Các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học văn nói chung, văn chính luận nói riêng, dù khá nhiều, nhưng vẫn còn thiếu những công trình có tính nền tảng Phần văn chính luận cũng đã nhiều tác giả, nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo đề cập đến trong các bộ sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo… nhưng còn rời rạc, riêng rẽ, chưa thực sự hệ thống và chuyên sâu

1.3 Văn chính luận có đặc trưng riêng Tuy nhiên, đối với nhiều số giáo viên và học sinh, thể văn chính luận là khô khan, khó hiểu Cái nhìn mang tính định kiến đó dẫn đến việc dạy và học các tác phẩm chính luận chỉ mang tính qua loa, hình thức Điều này dĩ nhiên sẽ dẫn đến việc dạy và học văn chính luận trong nhà trường phổ thông chưa đạt đến hiệu quả như mong muốn

Trên đây là những lí do chính thúc đẩy chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Dạy đọc – hiểu văn chính luận trong chương trình SGK Ngữ văn THPT” Thực hiện đề tài, chúng tôi nhằm tới mục đích giúp cho công việc dạy học ngữ văn nói chung, văn chính luận nói riêng trong nhà trường được tốt hơn

Trang 3

Chúng tôi cũng hy vọng luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những

ai quan tâm đến vấn đề này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Theo tìm hiểu của chúng tôi, vấn đề phương pháp dạy học văn nói chung và dạy học văn chính luận nói riêng đã được khá nhiều nhà giáo học pháp, cũng như các nhà nghiên cứu, giảng dạy văn học quan tâm Điều này được thể hiện trong một số công trình, bài báo, bài trao đổi…Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày lần lượt những ý kiến tiêu biểu

Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn của nhóm tác giả Phan

Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng và Trần Thế Phiệt do Nxb

ĐH Quốc gia Hà Nội (xuất bản lần đầu 1988, tái bản 1999), Phan Trọng Luận cùng các nhà biên soạn đã đề cập đến phương pháp dạy học văn trong nhà trường phổ thông Trong phần hai (phần phương pháp dạy học bộ môn) của cuốn giáo trình này các nhà biên soạn đã đưa ra các phương pháp cụ thể trong việc dạy văn ở trường phổ thông như phương pháp đọc sáng tạo, gợi mở, nghiên cứu, tái tạo, nêu vấn đề Đặc biệt là trong giáo trình này các nhà biên soạn đã cho chúng ta thấy được vai trò của người học trong quá trình phân tích tác phẩm văn chương là chủ thể cảm thụ Các tác giả cũng đã đưa ra những phương pháp cụ thể khi dạy một thể loại nhất định như phương pháp dạy học môn làm văn, phương pháp dạy học văn học sử…[18; 69-370] Tuy nhiên về văn chính luận các tác giả chưa thực sự quan tâm Hơn nữa do tài liệu này ra đời đã lâu với chương trình cũ, nó phù hợp với đối tượng tiếp nhận

và xã hội của những năm cuối thế kỉ 20 Bước sang thế kỉ 21, khi mà nhu cầu của xã hội, của người học có sự thay đổi lớn thì những phương pháp dạy học văn mà giáo trình nêu ra không còn phù hợp Còn chương trình SGK hiện nay

ra đời trong bối cảnh cả trong nước và trên thế giới có những thay đổi lớn

Trang 4

buộc chúng ta phải có phương pháp dạy học cho phù hợp với xu thế của thời

Chúng tôi cho rằng những vấn đề mà tác giả đưa ra là rất bổ ích trong việc dạy và học các tác phẩm văn học trung đại Tuy nhiên xét về phương diện phương pháp dạy học thì chưa có gì mới và còn khá sơ lược

Năm 2010, với công trình nghiên cứu Văn chính luận Việt Nam thời trung đại, tác giả Phạm Tuấn Vũ đã đã phân tích khá cụ thể về đặc điểm thể

loại các văn bản chính luận trung đại và thực tế giảng dạy các văn bản chính luận trung đại trong trường phổ thông Theo nhà nghiên cứu này, để nâng cao hiệu quả dạy học các văn bản chính luận trung đại, người dạy phải hiểu được bản chất của văn chính luận trung đại là sản phẩm mang tính tư duy nguyên hợp (kiểu tư duy của người trung đại); phải chú ý đến đặc điểm riêng trong cách xác định chân lí của người trung đại; phải tạo được cho học sinh tâm thế tiếp nhận phù hợp; phải cung cấp nhiều kiến thức về văn học và phi văn học; phải có sự tổng quan toàn bộ chương trình; phải biết đính chính một số chỗ

Trang 5

dịch chưa đúng…[66; 119-124] Những kiến thức mà tác giả đưa ra giúp ích rất nhiều cho người giáo viên ngữ văn phổ thông Tuy nhiên phạm vi kiến thức mà tác giả nghiên cứu chỉ giới hạn ở phần chính luận trung đại, mà văn chính luận chương trình SGK ngữ văn ở phổ thông không chỉ thuộc thời trung đại mà còn có chính luận hiện đại nữa

Các tài liệu khác là SGK, SGV, tài liệu bồi dưỡng giáo viên, thiết kế bài giảng, các tài liệu tham khảo khác ra đời từ năm 2006 trở lại đây (năm

2006 là năm bắt đầu thực hiện đại trà bộ SGK mới) đều trình bày cụ thể, chi tiết các bài ngữ văn được giảng dạy trong nhà trường, trong đó có các văn bản chính luận Các tác giả đã phân tích rất rõ các đặc điểm của văn chính luận như về ngôn ngữ, lập luận, lí lẽ…nhưng các kiến thức, các phương pháp mà các tác giả trình bày theo từng tác phẩm riêng lẻ Mặc dù các tài liệu này đã

có đề cập đến phương pháp dạy các tác phẩm văn học trong chương trình hiện hành trong đó có văn chính luận, nhưng các phương pháp dạy học được đề xuất chưa thực sự mang tính hệ thống, khái quát

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đều đề cập đến vấn đề dạy học văn bản chính luận Song những công trình đó đang dừng lại ở một mức độ nhất định và chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách kĩ lưỡng về phương pháp dạy học văn chính luận trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nguyên tắc và phương pháp dạy đọc – hiểu văn chính luận trong chương trình ngữ văn THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn này có ba nhiệm vụ chính là:

Trang 6

- Giới thuyết về khái niệm văn chính luận và trình bày hệ thống văn bản chính luận trong chương trình ngữ văn ở trường THPT

- Đề xuất một số nguyên tắc và phương pháp dạy đọc – hiểu văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành

- Thiết kế một số giáo án thể nghiệm

4 Phạm vi tài liệu khảo sát

Với đề tài là “Dạy đọc –hiểu văn chính luận trong chương trình ngữ văn THPT ” nên phạm vi tài liệu chúng tôi khảo sát là toàn bộ các văn bản chính luận trong chương trình SGK ngữ văn ở THPT

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đưa

ra những phương pháp khi tiến hành nghiên cứu và giải quyết luận văn này là: Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp thống kê phân loại

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp thực nghiệm

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đưa ra một cái nhìn mang tính hệ thống về văn chính luận và phương pháp dạy đọc – hiểu văn chính luận trong nhà trường THPT hiện nay

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái niệm văn chính luận và hệ thống các văn bản chính luận

trong chương trình Ngữ văn THPT

Chương 2: Một số định hướng về phương pháp dạy đọc – hiểu văn chính

luận trong chương trình Ngữ văn THPT

Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm

Trang 7

Chương 1

KHÁI NIỆM VĂN CHÍNH LUẬN VÀ HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

1.1 Giới thuyết khái niệm văn chính luận

1.1.1 Khái niệm văn chính luận

Văn chính luận là thể loại văn học khá đặc biệt, nó có ý nghĩa không chỉ đối với đời sống văn học mà còn có tác động rất lớn trong đời sống chính

trị - xã hội Về khái niệm văn chính luận, hiện nay đang có nhiều ý kiến khác

nhau Trước hết, chúng tôi xin điểm qua một số ý kiến cơ bản

Theo Từ điển văn học (bộ mới): “Văn chính luận là một thể loại văn

học, một thể tài báo chí; thường nêu các vấn đề có tính thời sự về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá, văn học, tư tưởng…Mục tiêu của văn chính luận là: tác động đến dư luận xã hội đương thời, đến lối sống, đến các quyền lợi chính trị hiện hành; đề xuất việc củng cố hoặc thay đổi chúng cho phù hợp với quyền lợi giai cấp hoặc với lí tưởng xã hội, đạo đức Đối tượng của văn chính luận là toàn bộ cuộc sống quá khứ và hiện tại; cuộc sống cá nhân và xã hội, đời sống thực và đời sống được phản ánh trong báo chí, nghệ thuật Các bức tranh thực tại, các tính cách và số phận con người hiện diện ở tác phẩm chính luận như những chứng cớ lấy từ chính đời sống, như một hệ thống luận cứ, như sự đối tượng của sự phân tích, hoặc được dùng làm cơ sở của xúc cảm, làm “tác nhân” kích thích, làm nguyên cớ để lên án, tố cáo hoặc chất vấn các giới hữu quan, để khẳng định lí tưởng Chính luận luôn là hành vi tranh đấu (ngấm ngầm hoặc công khai) về chính trị, xã hội, tôn giáo, triết học, tư tưởng; Nó luôn mang định hướng phe nhóm, đảng phái và ý thức hệ Phong cách văn chính luận nổi bật ở tính luận chiến, tính cảm xúc; Nó gần gũi với giọng điệu,

Trang 8

kết cấu và chức năng của lời diễn thuyết Chính luận có vai trò rất đáng kể trong lịch sử văn hoá, trong các phong trào xã hội” [59;1941]

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Là thể văn nghị luận viết về

những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hoá….Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích một giai cấp, một tầng lớp nhất định Chính vì thế, tác phẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hướng tư tưởng, lập trường công dân rõ ràng Tình cảm sục sôi, luận chiến quyết liệt và tính công khai là những dấu hiệu quan trọng của phong cách chính luận Tất

cả những cái đó làm cho giọng điệu, cấu trúc và chức năng của lời văn chính luận gần gũi với giọng điệu, cấu trúc và chức nănng của lời văn tuyên truyền, hùng biện” [60; 400]

Sách giáo khoa Ngữ văn 11 (nâng cao) định nghĩa: “Phong cách ngôn

ngữ chính luận là loại phong cách ngôn ngữ dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ đối với những vấn đề thiết thực, nóng bỏng của đời sống, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị, xã hội Những văn bản này được gọi chung là văn bản chính luận” [50; 11]

Theo Cù Đình Tú xét về mặt nội dung thì trong văn chính luận “ người ta bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm chính trị - tư tưởng của mình đối với những vấn đề thời sự nóng hổi của xã hội” [58;97]

Nhìn chung, các định nghĩa nêu trên đều gặp nhau ở một điểm chung như sau: Văn chính luận là một thể loại của văn nghị luận Văn chính luận phân tích, bình luận hoặc nêu những vấn đề có tính thời sự về các lĩnh vực như chính trị, xã hội, tư tưởng… Đó là những văn bản mà qua đó người viết công khai bày tỏ thái độ, quan điểm, tư cách chính trị của mình Người viết văn chính luận bao giờ cũng sử dụng nhiều thuật ngữ chính trị, bày tỏ thái độ

Trang 9

tư tưởng – chính trị của mình, bình giá công khai về những vấn đề xã hội, thời

sự nóng bỏng của đất nước Sự bình giá này không chỉ xuất phát từ lập trường của cá nhân người viết mà có thế còn xuất phát từ tiếng nói chung của một tập thể, một tổ chức, một giai cấp xã hội

1.1.2 Đặc trưng của văn chính luận

Khi nói đến văn chính luận là người ta nói đến loại văn bản văn học viết về những vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội, tư tưởng…với những mục đích, đối tượng…gắn liền với những sự kiện quan trọng của đất nước cũng như đời sống nhân dân Văn chính luận có đặc trưng riêng về cách lập luận, ngôn từ, cú pháp, giọng điệu… so với loại hình văn chương thẩm

mĩ Chính vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu đặc trưng của văn chính luận

1.1.2.1 Văn chính luận bộc lộ trực tiếp và rõ ràng khuynh hướng tư tưởng của người viết

Tất cả các văn bản văn học nói chung thuộc văn học viết đều có chủ thể xác định rõ ràng Nhưng so với những văn bản văn học nghệ thuật thì chủ thể của những văn bản chính luận có sự khác biệt Ở các văn bản nghệ thuật, chủ thể - tác giả là người nghệ sĩ, người làm công việc sáng tạo nghệ thuật Hoạt động sáng tạo của chủ thể thẩm mĩ ấy gắn liền với lối tư duy hình tượng

và gắn liền với việc tạo dựng nên một hệ thống hình tượng tương ứng Ở các văn bản chính luận lại hoàn toàn khác Chủ thể - tác giả của những văn bản chính luận có nét đặc thù riêng Đó là những chủ thể tư tưởng – chính trị Họ tạo nên một văn bản chính luận phải có mục đích rõ ràng và mục đích đó phải gắn liền với thực tiễn của đất nước, xã hội Khi họ viết họ phải bộc lộ trực tiếp và rõ ràng khuynh hướng tư tưởng của chính mình về những vấn đề chính trị, xã hội của đất nước

Tất cả các tác phẩm văn học đều được viết ra với những mục đích nhất định Các nhà văn khi sáng tác văn học có nhiều động cơ, mục đích khác

Trang 10

nhau Có người sáng tác nhằm mục đích giải trí, có người nhằm mục đích giáo dục, cũng có người sáng tác vì cảm hứng bất chợt… Văn chính luận thì khác Các nhà chính luận không viết nên những văn bản chính luận nhằm mục đích giải trí, không viết vì ngẫu hứng bất chợt mà họ đứng trên lập trường riêng, quan điểm riêng về chính trị với những mục đích rõ ràng Những mục đích mà các nhà chính luận hướng đến là những mục đích cụ thể gắn liền với thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước Đó là những vấn đề quan trọng, thiết yếu của đất nước, dân tộc mà mọi người quan tâm “Tác phẩm chính luận không chỉ thể hiện những suy nghĩ, nhận định, bình luận về các sự kiện lịch sử, các biến cố có ý nghĩa dân tộc, mà còn bàn đến những vấn đề nhân sinh của thời đại được đông đảo mọi người quan tâm” [56; 399]

Luận đề tư tưởng chính trị là những nội dung cơ bản của các văn bản chính luận Khi đề cập đến nội dung đó, chủ thể - tác giả đã có sự bộc lộ thái

độ của mình Thường thì những văn bản chính luận đề cập đến những vấn đề lớn lao, có ý nghĩa đối với dân tộc, xã hội và đất nước Những vấn đề đó được coi là chân lí, là những cái mà đông đảo mọi người đồng tình, ủng hộ Chính

vì đề cập đến những vấn đề có liên quan đến quyền lợi của đông đảo mọi người nên chủ thể phải bộc lộ rõ “cái tôi” của chính mình khi bàn bạc Ở đây, chúng tôi hiểu khái niệm “cái tôi” ở đây theo nghĩa là chân dung con người tinh thần - tư tưởng của tác giả bộc lộ thông qua những quan điểm, tư tưởng chính trị xã hội và hệ thống lập luận tương ứng trong văn bản chính luận Có thể nói, nói đến cái tôi từ góc độ này là nói đến bản lĩnh, thái độ chính trị - xã hội, khuynh hướng tư tưởng riêng, mang tính cá nhân của chủ thể được thể hiện trong văn bản Tuy nhiên, khái niệm cái tôi này cũng cần phải được hiểu một cách uyển chuyển Bởi thái độ chính trị, khuynh hướng tư tưởng của người viết nhiều khi xuất phát từ quyền lợi, lợi ích của một giai cấp, một tổ chức, của đất nước Điều này đặc biệt rõ trong các văn bản chính luận hành

Trang 11

chức thời trung đại Cái tôi chủ thể - tác giả trong các văn bản chính luận là

cái riêng hòa trong cái chung Ví dụ như trong Bình Ngô đại cáo, “cái tôi” của

Lê Lợi được thể hiện qua cách viết của Nguyễn Trãi là lòng tự hào về truyền thống, về lịch sử, về nền văn hiến của dân tộc; là quan niệm về tư tưởng nhân nghĩa mà quan niệm này khác với Nho giáo Nho giáo quan niệm nhân nghĩa

là mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lí Nhưng với Lê Lợi và Nguyễn Trãi thì lòng nhân nghĩa là phải chiến đấu, phải làm sao cho “dân yên”; Vì giặc Minh đã gây nên bao tội

ác đối với con dân của mình nên thái độ của Lê Lợi đã được Nguyễn Trãi thể hiện rõ sự căm phẫn đến tột độ Chính sự căm phẫn đó đã tạo nên sự quyết tâm và đồng lòng của quân và dân, tạo nên những trận đánh giành được thắng lợi liên tiếp và vang dội “Cái tôi” đó còn được thể hiện rất riêng khi tuyên cáo nền độc lâp Có được sự thắng lợi đó, vị vua được mệnh danh là “anh hùng áo vải” đó khiêm tốn không nhận công cho mình mà cho rằng ngoài sự đồng lòng quyết tâm của quân và dân còn có sự giúp đỡ của tổ tiên nữa Trong thời hiện đại, cái tôi tư tưởng của tác giả càng được bộc lộ rõ nét Ta có

thể thấy rõ điều này qua văn bản Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc

bị áp bức của Nguyễn An Ninh Nguyễn An Ninh đã bộc lộ rõ nét chính kiến

của mình qua thái độ phê phán những kẻ lai căng, sùng ngoại, những kẻ cho rằng cứ bập bẹ vài ba tiếng tây là được coi là những lớp người văn minh Họ còn cho rằng tiếng Việt nghèo nàn Nguyễn An Ninh đã lớn tiếng khẳng định rằng tiếng Việt không hề nghèo nàn, vốn tiếng Việt của những kẻ thích “Tây hóa” đó không bằng bất kì người phụ nữ và nông dân An Nam nào Đứng trên lập trường của một nhà cách mạng, yêu nước, Nguyễn An Ninh đã cho rằng

“Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi [ ] Vì thế, đối với người An

Trang 12

Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình”[49;116]

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, chủ thể - tác giả của các văn bản chính luận có nét đặc thù riêng Việc xác định chủ thể của văn chính luận hết sức quan trọng Chủ thể - tác giả không chỉ bộc lộ trực tiếp thái độ chính trị, khuynh hướng tư tưởng về vấn đề chính trị, xã hội được bàn đến mà còn giúp người đọc, người nghe hiểu được nội dung luận đề của văn bản

1.1.2.2 Nội dung của văn chính luận gắn liền với những vấn đề chính trị - xã hội rộng lớn và bức thiết

Văn chính luận không chỉ dừng lại ở trình bày những tư tưởng, những bình luận, những nhận định về sự kiện lịch sử mà còn viết về những vấn đề gắn liền với cuộc sống, quyền lợi của đông đảo nhân dân, được đông đảo người dân quan tâm Nó gắn với mục đích thực tiễn đời sống chính trị, xã hội của đất nước Luận đề được coi là chủ đề chính, là vấn đề cốt lõi của văn bản nghị luận nói chung, văn chính luận nói riêng Đặc thù của luận đề trong văn chính luận là bàn bạc về các vấn đề chính trị, xã hội của đất nước từ đó bày tỏ quan điểm, tư tưởng của người viết Chính vì vậy trong một văn bản chính luận luôn hàm chứa tư tưởng của người viết và của cả người uỷ quyền (nếu có) Tư tưởng đó là tư tưởng về chính trị, xã hội Đó là vấn đề có ý nghĩa lớn lao cho một cộng đồng, một tập thể, một giai cấp, thậm chí là cho một quyền lợi của cả quốc gia Và đương nhiên khi bàn về những vấn đề đó người viết

đã thể hiện quan điểm, lập trường chính trị, thái độ chính trị của mình một cách công khai “ Người viết văn chính luận, dĩ nhiên trước hết là để thông tin

lí lẽ, bàn bạc vấn đề, nhưng với tất cả nhiệt tình để bảo vệ chân lí mà mình theo đuổi” [35; 437]

Để làm rõ luận đề đó, các nhà chính luận đã thông qua hệ thống luận điểm, luận chứng, luận cứ rõ ràng, thuyết phục để thuyết phục người đọc

Trang 13

người nghe Trong các văn bản chính luận, chủ đề của văn bản bao giờ cũng được thể hiện ngay ở nhan đề văn bản, còn phần nội dung của văn bản chính

là các luận điểm, luận cứ và cách lập luận để triển khai chủ đề đó một cách

thuyết phục Ví dụ trong Bình Ngô đại cáo: ngay nhan đề của nó đã thể hiện

rõ chủ đề là thông cáo rộng rãi về việc dẹp tan giặc Ngô Để thể hiện chủ đề

ấy, Nguyễn Trãi đã đưa ra hàng loạt các luận điểm lớn, nhỏ, các luận cứ xác thực, sinh động kết hợp với cách lập luận chặt chẽ thuyết phục tạo nên một bản tuyên ngôn được coi là tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, một

“áng thiên cổ hùng văn” Tương tự, với nhan đề Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí

Minh ngay từ ấn tượng đầu tiên đã cho người đọc, người nghe biết được chủ

đề của bản tuyên ngôn là tuyên bố với toàn thể thế giới về nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Trong đời sống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia ở mỗi thời điểm đều có thể diễn ra các sự kiện có ý nghĩa trọng đại Văn chính luận đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa thời sự nóng hổi nên nội dung mà nó hướng đến bao giờ cũng là những vấn đề rộng lớn, bức thiết đang diễn ra Chủ đề của các văn bản chính luận không chỉ là những bản tuyên ngôn, tuyên cáo sau khi kết thúc thắng lợi các cuộc chiến tranh chính nghĩa mà các nhà chính luận còn đề cập đến các vấn đề khác của đất nước, xã hội Ví dụ như Ngô Thì Nhậm thay mặt vua Quang Trung viết bài chiếu để ra lời kêu gọi người hiền tài ra phò giúp đất nước khi triều đại mới đang còn gặp nhiều khó khăn, nhất là thiếu người

tài phò giúp Nguyễn Trường Tộ viết Tế cấp bát điều để dâng lên nhà vua,

trình bày những việc cần làm gấp để củng cố đất nước khi ông chứng kiến xã

hội đang ngày càng loạn lạc Phan Châu Trinh viết Về luân lí xã hội ở nước

ta, so sánh ở ta và các nước phương Tây về luân lí xã hội để nhấn mạnh nước

ta chưa hề có luân lí xã hội Ông chỉ ra sự cần thiết phải có luân lí trong xã hội Việt Nam đương thời bởi luân lí xã hội tức là luân lí của chủ nghĩa xã hội, coi

Trang 14

trọng sự bình đẳng của con người, không chỉ quan tâm đến từng gia đình,

quốc gia mà còn đến cả thế giới nữa Trong Ba cống hiến vĩ đại của Các – Mác, Ăng – ghen với cách lập luận hết sức thuyết phục đã tổng kết lại ba

cống hiến của Mác khi còn sống Những cống hiến của Mác không chỉ có ý nghĩa cho một bộ phận người mà nó có ý nghĩa đối với sự tiến bộ của cả xã hội loài người.Việc tổng kết lại ba cống hiến vĩ đại của Mác ngay trong tang

lễ của ông, Ăng-ghen một mặt thể hiện sự mất mát và tổn thất lớn lao của nhân loại trước sự ra đi của Mác nhưng mặt khác ông muốn biến nỗi đau ấy thành sức mạnh Ông muốn tất cả người dân lao động trên thế giới trên cơ sở những cống hiến đó để đấu tranh chống lại giai cấp thống trị đòi quyền lợi do chính công sức mình bỏ ra

Như vậy có thể thấy rằng, văn chính luận đề cập đến những vấn đề chính trị xã hội của đất nước, đó là những vấn đề có ý nghĩa rộng lớn và hết sức bức thiết đối với nhân dân Đó không chỉ là những sự kiện có ý nghĩa lịch

sử lớn lao của nhân loại như những cuộc khởi nghĩa, những cuộc cách mạng

mà còn là những sự kiện, biến cố diễn ra trong đời sống xã hội – chính trị của một đất nước, một dân tộc, một khu vực … Nhìn chung tất cả đều gắn liền với đặc điểm, tình hình chính trị, xã hội của cả đất nước, có ý nghĩa trọng đại với đông đảo mọi người

1.1.2.3 Đặc thù về kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu của văn chính luận

Văn chính luận là loại văn dùng để trực tiếp phục vụ cho các cuộc đấu tranh chính trị, vận động văn hoá và có chức năng tuyên truyền sự thật và chân lí, cổ vũ khích lệ nhân dân, đả phá các lời dối trá… Chính vì vậy về mặt hình thức, văn chính luận cũng bị chi phối bởi các nội dung này, đặc biệt được thể hiện ở kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu

Về kết cấu Nói đến kết cấu của văn chính luận là nói đến cách tổ

chức hệ thống lập luận trong văn bản chính luận Trong văn chính luận, để

Trang 15

làm nổi bật được những vấn đề chính trị, xã hội có tính thời sự nóng hổi và để thể hiện được quan điểm thái độ của mình thì buộc các nhà chính luận phải có

sự lập luận chặt chẽ Tức là phải “bố trí, sắp xếp, triển khai, đan dệt các luận điểm và luận cứ cốt làm sao cho luận điểm có sức thuyết phục” [56; 406] Để thể hiện luận đề, văn chính luận sử dụng phương thức lập luận là dùng lí lẽ tác động trực tiếp vào lí trí người đọc người nghe thông qua hệ thống luận điểm,

luận cứ và luận chứng Theo Lí luận văn học (do Trần Đình Sử chủ biên) thì

luận điểm là những tư tưởng, quan điểm, chủ trương chứa đựng trong tác phẩm chính luận Luận điểm thể hiện dưới hình thức phán đoán, khẳng định của người viết về vấn đề được bàn đến Mỗi luận điểm phải có sự đúng đắn,

rõ ràng, phải chứa đựng những tư tưởng, quan niệm sâu sắc, có sức khái quát cao Luận cứ là những cứ liệu, lí lẽ, bằng chứng cụ thể trong thực tế cuộc sống và tư tưởng được phát hiện, sử dụng để chứng minh cho luận điểm đã nêu Luận chứng là sự bố trí, sắp xếp, triển khai, đan dệt các luận điểm và luận cứ cốt làm sao cho các luận điểm có sức thuyết phục vững chắc Tóm lại, luận chứng "là sự triển khai, đan dệt qua lại giữa luận điểm và luận cứ, giữa những ý nhỏ với nhau nhằm dẫn đến sự kết tinh là luận điểm chính”[35;442]

Luận điểm là những tư tưởng, quan điểm chủ trương chứa đựng trong văn bản chính luận nhằm làm nổi rõ tính luận đề, thuyết phục người đọc,

người nghe.Ví dụ: Văn bản Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn có ba luận

điểm chính: a) Nêu những tấm gương trung thần nghĩa sĩ; b) Trình bày tình hình đất nước và phê phán những cách sống không phù hợp với người tướng sĩ; c) Nêu cách hành xử thuận và nghịch để các tướng sĩ lựa chọn Ngoài ba luận điểm lớn nêu trên, văn bản còn có các luận điểm nhỏ và các luận cứ sinh động, được trình bày một cách chặt chẽ tác động vào lí trí, tình cảm của các tướng sĩ để họ có nhận thức đúng đắn

Trang 16

Luận cứ là những tài liệu, cứ liệu để làm rõ luận điểm, là cơ sở tồn tại của luận điểm Có các loại luận cứ là lí luận (các nguyên lí, chân lí, các ý kiến

đã được công nhận) và thực tế (các dẫn chứng lấy từ thực tế đời sống) Trong

Tuyên ngôn độc lập, để làm rõ luận điểm nêu cơ sở pháp lí cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã dẫn ra hai bản tuyên ngôn bất hủ của Mĩ (Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và của Pháp (Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm

1791) Từ hai bản tuyên ngôn đó, Hồ Chí Minh có đủ lí lẽ để đặt ngang hàng cuộc cách mạng nước ta với Pháp và Mĩ, để khẳng định quyền bình đẳng của tất cả các dân tộc trên thế giới Để vạch rõ tội ác của thực dân Pháp, Bác đã lấy các số liệu dẫn chứng hết sức xác thực như “kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói” [52;27]

Trong văn nghị luận nói chung, văn chính luận nói riêng không thể thiếu ba yếu tố này Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Luận điểm là kết luận sơ bộ Kết luận sơ bộ này có chính xác, khoa học hay không cần phải luận chứng Luận điểm cần được chứng minh bằng các luận cứ Luận

cứ vừa cung cấp cho luận điểm những sự thực, những lí do để nó đứng vững, vừa mang lại cho bài văn những tư liệu phong phú Luận điểm còn cần phải được phân tích, khai thác, xem xét, tổng hợp các luận cứ để liên kết luận điểm

và luận cứ Quá trình này chính là luận chứng

Về ngôn ngữ Mặc dù đặc thù của văn chính luận là bàn bạc về các vấn

đề chính trị xã hội song văn chính luận không phải hoàn toàn khô khan mà nó vẫn bộc lộ rất rõ cảm xúc của người viết Trữ tình và châm biếm là sự biểu hiện cao độ của lòng yêu thương và căm hận Ở cả hai nội dung này, người viết đều có thể dùng ngôn ngữ chính luận trực tiếp để bộc lộ triệt để cảm hứng của mình Do đặc điểm này nên ngôn ngữ chính luận cũng giàu sắc thái biểu

cảm và giàu hình ảnh Ví dụ như trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn đã tỏ

Trang 17

rõ lòng căm thù giặc đến tột độ: Nguỵ sứ “đi lại nghênh ngang”, “uốn lưỡi cú

diều”, “xỉ mắng triều đình”…Trong Tuyên ngôn độc lập, ngoài những lí lẽ

đanh thép ta còn bắt gặp lòng yêu nước thương nòi và sự căm giận đối với bọn bè lũ cướp nước được thể hiện trong ngôn ngữ giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm như: “Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”[52; 27] Tóm lại, trong văn chính luận, người viết chủ yếu sử dụng những ngôn

từ phản ánh được đối tượng một cách chính xác trong khi thể hiện thái độ đối với vấn đề được nói đến Tất nhiên sự chính xác đó không đồng nghĩa với sự khô khan mà nó kết hợp với cảm hứng, lòng nhiệt tình của người viết Một đặc điểm nổi bật và hết sức quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ của các nhà chính luận khi viết văn chính luận là sử dụng rất nhiều thuật ngữ chuyên môn, cụ thể là sử dụng nhiều thuật ngữ chính trị Nội dung của những khái niệm mà từ ngữ chính trị biểu thị luôn luôn thể hiện lập trường và quan điểm cách mạng của Đảng ta về từng vấn đề cụ thể của đời sống Ví dụ: dân chủ, kỉ luật, đoàn kết, đấu tranh, phê bình, cách mạng…

Về giọng điệu Vấn đề được bàn đến trong các văn bản chính luận là

những vấn đề về chính trị, xã hội Khi bàn bạc về các vấn đề đó các nhà chính luận bao giờ cũng phải tỏ rõ quan điểm, thái độ chính trị của mình một cách công khai Viết văn bản chính luận, người viết không chỉ xuất phát từ ý nghĩ riêng, nhu cầu riêng mà phải đứng trên ý nghĩ, quan điểm, nhu cầu… của một tập thể, một tổ chức, một giai cấp, thậm chí là một quốc gia để bàn bạc vấn

đề Do đó giọng điệu của người viết trong văn chính luận luôn là giọng đanh thép, cương quyết, dứt khoát và thể hiện thái độ, lập trường hết sức rõ ràng Tuy nhiên, giọng điệu của người viết còn thể hiện sự biến đổi linh hoạt để

thuyết phục người đọc, người nghe Trong Hịch tướng sĩ, ngoài sự trình bày

một cách chặt chẽ hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng, chúng ta còn bắt

Trang 18

gặp sự nồng nhiệt, mãnh liệt, thiết tha của tác giả được thể hiện thông qua

hình tượng một vị chủ tướng ngày quên ăn, đêm quên ngủ… Ở Bình Ngô đại cáo ngoài việc ta bắt gặp giọng điệu hùng hồn, tự hào khi tổng kết cuộc đấu

tranh chống giặc của quân và dân ta…còn có giọng điệu châm biếm kẻ thù

“Đô đốc Thôi Tụ lê gối đầu hàng dâng tờ tạ tội, Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng”[20;tr21]

Nội dung và hình thức không thể tách rời nhau Hình thức chứa đựng nội dung, nội dung tồn tại trong hình thức và chi phối hình thức Nội dung đặc thù của văn chính luận là những vấn đề chính trị xã hội gắn với mục đích thực tiễn của dân tộc, đất nước nên về hình thức của văn chính luận như kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ cũng bị chi phối cho phù hợp

1.1.3 Các loại hình văn chính luận

Nhìn trên tiêu chí loại hình lịch sử, người ta phân chia văn chính luận trung đại và văn chính luận hiện đại Trong tiến trình của văn học Việt Nam,

dù ở giai đoạn nào, thời kì nào thì văn chính luận cũng đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên, ở mỗi thời kì, mỗi giai đoạn, bị chi phối bởi hoàn cảnh lịch

sử - chính trị, quan niệm xã hội, văn học khác nhau nên văn chính luận trung đại, so với văn chính luận hiện đại cũng có những nét đặc thù Trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi chỉ chủ yếu khảo sát trên phạm vi tài liệu chủ yếu

là của văn học Việt Nam và chỉ dừng lại trên những mô tả khái lược nhất

1.1.3.1 Văn chính luận trung đại

Lịch sử Việt Nam thời trung đại kéo dài mười thế kỉ (từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX) Trong suốt mười thế kỉ đó, đất nước ta luôn phải đấu tranh chống lại các thế lực xâm lược hay phải đương đầu với các cuộc nội chiến diễn ra Văn học thời kì này đã phản ánh lại các thời kì thịnh suy của các triều đại phong kiến một cách sinh động Giai đoạn từ thế kỉ X cho đến hết thế kỉ XIV chế độ phong kiến Việt Nam phát triển, đất nước ta đã dành được chiến

Trang 19

thắng vang dội trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông Văn học

đã phản ánh lại giai đoạn lịch sử hào hùng đó với nội dung bao trùm là chủ nghĩa yêu nước mang âm hưởng ngợi ca Bước sang thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII, mặc dù nhìn chung chế độ phong kiến vẫn ổn định nhưng đã có dấu hiệu của sự khủng hoảng, nội chiến nên nội dung của văn học giai đoạn này

đã chuyển từ nội dung yêu nước mang âm hưởng ngợi ca sang phản ánh, phê phán hiện thực xã hội Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, mặc dù không

có các cuộc chiến tranh xâm lược nhưng nội chiến diễn ra khiến cho đời sống người dân cơ cực, con người bị chà đạp, bị tước đi các quyền sống, quyền hạnh phúc Bao trùm văn học giai đoạn này là chủ nghĩa nhân đạo nhằm bênh vực, cảm thông cho con người, phê phán xã hội Cuối thế kỉ XIX, đất nước ta rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, chuyển từ chế độ phong kiến đất sang chế độ thực dân nửa phong kiến Văn học đã phản ánh một giai đoạn đấu tranh hào hùng của nhân dân ta với nội dung yêu nước mang cảm hứng bi tráng Như vậy có thể nói, văn học Việt Nam thời trung đại đã “theo sát” một cách chân thực và sinh động lịch sử Việt Nam thời trung đại

Trong văn học Việt Nam trung đại, văn chính luận là những tác phẩm văn xuôi hoặc văn biền ngẫu có nội dung trực tiếp đề cập đến những vấn đề trọng yếu của quốc gia, dân tộc Khi mới ra đời, người ta không gọi những văn bản này là văn chính luận Nó chưa được tách thành một bộ phận mà văn chính luận chỉ là một bộ phận của văn học hành chức, nó nằm trong sự hỗn

dung của nhiều thể loại khác như thơ (Thơ thần – Lý Thường Kiệt), như sử

(sử kí )… (Dĩ nhiên, quan niệm của người xưa về “văn” cũng khác Trong quan niệm của người xưa, khái niệm “văn” khá rộng, nó bao hàm tất cả các văn bản ngôn từ Chính vì vậy văn học thời trung đại có tình trạng “ văn sử triết bất phân”) Văn chính luận thời trung đại là bộ phận trước tác gắn bó chặt chẽ với chính sự và trực tiếp phục vụ chính trị, nó là phương tiện để làm

Trang 20

sáng tỏ chính nghĩa của sự nghiệp chính trị Đồng thời, cũng trong thời kì này, văn chính luận là công cụ, phương tiện để các giai cấp thống trị của các triều đại phong kiến ban bố các chính sách, thể chế…cai trị đất nước Văn chính luận, vì vậy có nhiều thể: chép sử, cáo, chiếu, hịch… Văn tự chủ yếu được sử dụng trong các văn bản chính luận thời trung đại chủ yếu là Hán tự

Từ thế kỉ X –XIV, văn chính luận khá phát triển Tác phẩm chính

luận được coi là đầu tiên của văn học Việt Nam là Dự đại phá Hoằng Thao chi kế (Bày kế đánh tan quận Hoằng Thao) của Ngô Quyền (năm 938) Ở đời

nhà Lý thể chiếu phát triển khá mạnh và có nhiều tác phẩm có giá trị như:

Thiên đô chiếu (Lý Thái Tổ), Xá thuế chiếu (Lý Thái Tông)…Còn ở thời nhà Trần, chép sử phát triển khá mạnh với hai bộ sử lớn là Đại Việt sử kí ( Lê Văn Hưu) và Đại Việt sử lược (khuyết danh) Thế kỉ XV nổi bật với các tác phẩm chính luận của Nguyễn Trãi là Quân trung từ mệnh tập và Bình Ngô đại cáo Nửa sau thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX văn chính luận khởi sắc với các tác phẩm của Ngô Thì Nhậm như Chiếu cầu hiền, Hàn các anh hoa…Nửa sau thế kỉ XIX, do đặc thù về hoàn cảnh lịch sử là cuộc đấu tranh

thực dân xâm lược, trong xã hội tồn tại hai ý thức hệ, hai phương thức sản xuất…nên các văn bản chính luận ở thời kì này được sử dụng như là một vũ

khí đánh Tây, chẳng hạn Hịch đánh tây (Lãnh Cổ), Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh tây (Nguyễn Đình Chiểu)…

Như vậy, các văn bản chính luận trung đại được viết ra trong những hoàn cảnh khác nhau, người viết có thể là người trực tiếp bày tỏ tiếng nói cá nhân, hoặc là người được ủy quyền, song nhìn chung chúng đều nhằm phục

vụ các chức năng xã hội – chính trị Như vậy, nhìn chung văn bản chính luận thời trung đại chủ yếu thuộc loại chức năng hành chức.Về vấn đề này, tác giả Phạm Tuấn Vũ đã tìm ra được nguyên nhân dẫn đến vai trò quan trọng của văn chính luận trong hệ thống văn học Việt Nam thời trung đại: “Ngoài

Trang 21

nguyên nhân do đặc thù lịch sử, do đặc thù phổ quát của văn học trung đại thế giới và do văn chính luận gắn bó trực tiếp với đời sống chính trị xã hội… có thể nêu thêm những nguyên nhân khác nữa Người xưa coi văn học là công cụ

để giáo hoá xã hội và con người theo đạo lí thánh nhân Văn học gắn với học thuật cũng làm cho văn chính luận Việt Nam thời trung đại được coi trọng Ngoài ra nội dung thi cử khiến cho sĩ tử sớm làm quen và coi trọng bộ phận văn học chức năng này Thi cử xưa thường chọn người làm quan, vì vậy người đi thi phải rèn luyện nhiều để làm quen với lối văn hành dụng” [65; 212]

Tóm lại, ở thời trung đại, văn chính luận có những đặc điểm riêng, đặc điểm này bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, chính trị, những quan niệm văn hóa, xã hội, văn học… tương ứng

1.1.3.2 Văn chính luận hiện đại

Bước sang thế kỉ XX, do những biến động mang tính bước ngoặt về mặt lịch sử, chính trị, do tác động của những tư tưởng triết học và khoa học phương Tây, do sự phát triển nhanh chóng của báo chí và chữ quốc ngữ, vào đầu thế kỉ XX, đời sống xã hội thuộc địa Việt Nam dần có những rạn vỡ và thay đổi hết sức to lớn Bằng nhiều con đường: báo chí, sách vở, các tác phẩm dịch thuật, chương trình giáo dục ở nhà trường Pháp thuộc, đời sống sinh hoạt hàng ngày , ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đã dần tạo nên trong ý thức

xã hội bản địa một cái nhìn mang tính dân chủ, hiện đại về các vấn đề đời sống và văn hóa, văn học Đặc biệt, về quan niệm văn học của người Việt Nam đã có nhiều thay đổi Khi nói đến “văn” là người ta muốn nói đến những tác phẩm văn chương nghệ thuật, thể hiện tình cảm thẩm mĩ bằng hình tượng văn học Văn chính luận, giờ đây không chỉ là một loại văn bản hành chức Bên cạnh việc thể hiện những quan điểm chính trị của người viết, nhiều văn bản chính luận cũng bộc lộ vẻ đẹp nghệ thuật của nó qua cách diễn đạt, lập

Trang 22

luận, cách sử dụng ngôn từ, hình ảnh… Chính vì vậy, trong thời hiện đại, văn chính luận (nằm trong “loại hình” lớn là văn nghị luận) đã được gia nhập “gia đình” văn học

Ở thời trung đại, chủ thể của những văn bản chính luận thường là vua,

là quan lại, những người cầm quyền Sau một biến cố, một thắng lợi, một sự kiện nào đó trọng đại của đất nước có thể họ đích thân viết, có thể họ ủy quyền cho người khác viết Người viết phải thể hiện được tư tưởng, thái độ, quan điểm và vị trí chính trị của giai tầng xuất thân hoặc người ủy quyền viết Còn ở thời hiện đại, khi tinh thần dân chủ được phát huy, tác giả văn chính luận thường hiện diện trước hết với tư cách cá nhân Trước những vấn đề có ý nghĩa lớn lao đối với đời sống nhân dân, xã hội, đất nước người viết văn chính luận đã bày tỏ quan điểm, lập trường của mình về vấn đề đó một cách

rõ ràng và trực tiếp Trong những văn bản chính luận hiện đại tiêu biểu, ta có thể thấy cái tôi tư tưởng của người viết được bộc lộ một cách đậm nét Bước sang thế kỉ XX, người Việt Nam sử dụng chữ Quốc ngữ trong mọi hoạt động như trong sinh hoạt, trong sáng tác văn học, trong hành chính, báo chí…Các nhà chính luận đã phát huy được lợi thế này trong việc thể hiện một văn bản chính luận nhưng giọng điệu, ngôn ngữ hết sức linh hoạt Giọng điệu có thể dứt khoát, mạnh mẽ nhưng cũng có sự kết hợp mỉa mai, châm biếm Ngôn từ chủ yếu của các văn bản chính luận thuật ngữ chính trị, bên cạnh đó các nhà chính luận cũng có sử dụng linh hoạt ngôn ngữ, hình ảnh… khiến cho văn bản trở nên sinh động và thuyết phục hơn Trong nhiều văn bản chính luận hiện đại, ta không chỉ nhận thấy vẻ đẹp của tư tưởng mà còn thấy được vẻ đẹp của hình thức diễn đạt, lối viết Đây là điều khác biệt rất quan trọng giữa văn bản chính luận trung đại và văn bản chính luận hiện đại Điều này xuất phát từ sự thay đổi trong quan niệm của tác giả hiện đại: văn bản chính luận không chỉ

có chức năng, nhiệm vụ xã hội, nó còn có ý nghĩa, giá trị về mặt nghệ thuật

Trang 23

Có thể thấy rằng, cũng thuộc loại hình văn chính luận, nhưng giữa văn chính luận trung đại và văn chính luận hiện đại có nhiều điểm khác biệt Có

sự khác biệt đó là do văn học của từng thời kì chịu sự chi phối của các yếu tố mang tính lịch sử như tư duy con người, chế độ chính trị, hoàn cảnh đất nước

1.2 Khái quát về chương trình Ngữ văn và hệ thống các văn bản chính luận trong phần đọc văn

1.2.1 Khái quát về chương trình Ngữ văn THPT hiện hành

So với chương trình SGK cũ, chương trình SGK mới có rất nhiều điểm mới Có thể do đó là những điểm mới, khác biệt nên cả giáo viên và học sinh còn bỡ ngỡ Chính vì vậy mà chương trình Ngữ văn có nhiều vấn đề đang còn

là khó khăn cho cả người dạy và người học

Điểm mới thứ nhất là hiện tượng “ba trong một” Gọi là hiện tượng

“ba trong một” là vì trước đây chúng ta có ba bộ SGK khác nhau trong bộ môn văn là tiếng Việt, Làm văn và Văn học Cả ba phân môn này không chỉ tách rời thành ba cuốn sách mà còn tách rời về mặt nội dung Chương trình SGK hiện nay cả ba phân môn đã được biên soạn chung trong một bộ sách gọi chung là Ngữ văn Cả ba phân môn được xây dựng theo trục tích hợp Đọc văn – Làm văn nhằm tập trung hình thành cho học sinh kĩ năng giải mã văn bản, biết cách tạo lập văn bản Để đọc hiểu tốt một văn bản, hoặc để tạo lập được một văn bản các em phải được trang bị kiến thức về tiếng Việt, Làm văn Để học tốt các bài tiếng Việt buộc các em phải nắm vững các bài đọc hiểu trước đó vì ngữ liệu được trích dẫn trong các bài học tiếng Việt được lấy

từ các bài đọc văn trước đó….Ngoài ra SGK Ngữ văn còn được biên soạn tích hợp theo trục dọc đồng tâm với chương trình Ngữ văn THCS Nhiều văn bản, nhiều bài học về phân môn Làm văn hay Tiếng Việt các em đã được học ở chương trình cấp 2, nay các em tiếp tục được tìm hiểu nhưng ở một mức độ

Trang 24

cao hơn Với điểm mới này trong chương trình SGK Ngữ văn sẽ là điều khó khăn cho cả giáo viên và học sinh nếu giáo viên chưa hình thành cho mình một phương pháp giảng dạy cho phù hợp bởi vì sự tích hợp nhằm giúp học sinh biết cách tự đọc hiểu, tự khám phá một cách tích cực “Thông qua những văn bản, tác phẩm cụ thể (như là văn mẫu) một mặt giúp học sinh khám phá

ra vẻ đẹp cụ thể độc đáo của văn bản, tác phẩm đó, mặt khác hình thành và rèn luyện cho các em cách thức khám phá, cách đọc một kiểu văn bản – một thể loại tác phẩm nhất định” [64;11] Với mục đích biên soạn như thế, nếu giáo viên vẫn giảng dạy như trước đây, nếu học sinh vẫn học một cách thụ động như trước đây thì chắc chắn không phát huy được vai trò chủ động của người học, mục tiêu bài học sẽ không đạt được và cả người dạy lẫn người học

sẽ cảm thấy rối, chán nản trước mỗi bài học

Điểm mới thứ hai là nếu chương trình SGK cũ chọn các văn bản đưa vào giảng dạy theo tiến trình lịch sử và có phần nghiêng về phần văn học sử thì nay, trong chương trình Ngữ văn mới chọn văn bản theo đặc trưng thể loại Các thể loại văn học được đưa vào dạy học khá toàn diện và đầy đủ như văn học dân gian (sử thi, truyện cổ tích, truyện cười, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao…), văn học trung đại( cáo, chiếu, văn bia, sử kí, điều trần, thơ trung đại…), văn học hiện đại ( truyện ngắn, thơ hiện đại, tiểu thuyết, kịch, bút kí, văn bản nhật dụng, tuyên ngôn…), văn học nước ngoài (sử thi, thơ, văn bản nhật dụng, chân dung văn học, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch…)

Khi lựa chọn các văn bản văn học theo đặc trưng thể loại, các nhà biên soạn hướng tới mục đích hình thành phương pháp dạy và học theo đặc trưng thể loại Khi giảng dạy một tác phẩm, người dạy cần hướng dẫn học sinh khám phá tác phẩm dựa trên những đặc trưng của thể loại đó để từ đó các em

có thể tự đọc hiểu các tác phẩm khác cùng thể loại

Trang 25

Chương trình SGK mới vẫn dựa vào tiến trình lịch sử nhưng ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kì sẽ chọn ra các thể loại tiêu biểu cho giai đoạn, thời kì

đó Với điểm mới này, sẽ là điều khó cho giáo viên nếu không nắm được đặc trưng thể loại hoặc không hướng dẫn học sinh đọc hiểu theo đặc trưng thể loại thì học sinh tiếp thu kiến thức một cách manh mún

Điểm mới thứ ba thể hiện ngay ở bản chất của phần đọc hiểu Trước đây, trong chương trình SGK cũ, nói đến phân môn văn học là nói đến giảng văn Người dạy phải giảng tốt, bình hay, truyền thụ hết những gì mà mình cảm nhận được và chỉ cần học sinh ngồi im lắng nghe và ghi bài Thước đo sự thành công của những giờ dạy giảng văn là học sinh cảm nhận giáo viên giảng hay, xúc động…Đó là mô hình giờ văn học trong chương trình SGK cũ Còn chương trình SGK mới, nói đến phân môn văn là nói đến phương pháp đọc - hiểu Dạy văn theo lối đọc – hiểu, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn học sinh tìm hiểu, giúp các em khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn bản thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở, đặt các em vào tình hướng có vấn đề…Dạy đọc hiểu thực chất là dạy các em biết cách tự học, tự đọc Đây là điểm hoàn toàn mới Thời gian đầu khi SGK Ngữ văn bắt đầu thực hiện đại trà trên cả nước, rất nhiều giáo viên đã hết sức lúng túng trước cụm từ “Đọc – hiểu” Họ đã quen với cách giảng văn, với vai trò trung tâm của mình Chính

vì vậy khi dạy những bài đọc văn, nhiều giáo viên về hình thức vẫn dạy đọc – hiểu nhưng về bản chất vẫn là giảng văn

Về phần Tiếng Việt, trong chương trình SGK mới, các nhà biên soạn đã khắc phục được nhược điểm của bộ môn Tiếng Việt trước đây là nặng nề và ít gắn liền với đời sống Phần Tiếng Việt trong chương trình SGK Ngữ văn đã

có sự tích hợp với phân môn Làm văn và Đọc văn để học sinh có đủ tri thức

tự đọc hiểu các văn bản, tự biết cách tạo lập các văn bản Hầu hết các tri thức

Trang 26

được đưa vào giảng dạy trong các giờ học tiếng Việt đều gắn chặt với việc đọc – hiểu văn bản nên học sinh dễ tích hợp kiến thức với các bài đã học

Về phân môn làm văn, nếu so sánh với chương trình SGK văn cũ và SGK Ngữ văn chúng ta sẽ thấy được sự khác biệt ở hai chương trình Trước đây chúng ta dạy học sinh các kiểu bài văn như kiểu bài phân tích, bình luận, chứng minh, giải thích, bình giảng…và những kiểu bài này đều nằm trong phần nghị luận văn học Còn trong chương trình SGK Ngữ văn, phân tích, bình luận, giải thích, chứng minh, bình luận…chỉ được coi là những thao tác khi làm văn chứ không được coi là những kiểu bài Thực tế cho thấy khi làm một bài văn nghị luận chúng ta không thể sử dụng một kiểu bài từ đầu đến cuối mà phải có sự kết hợp các thao tác với nhau thì bài văn mới hấp dẫn, có sức thuyết phục Trong phân môn làm văn, ngoài phần nghị luận văn học, các nhà biên soạn còn đưa thêm phần nghị luận xã hội, và các loại văn sử dụng nhiều trong cuộc sống hiện đại như thuyết minh, phỏng vấn…Mục đích là giúp các em biết cách vận dụng những kiến thức đó vào công việc, vào cuộc sống của xã hội hiện tại

Điểm mới thứ tư là về phương pháp dạy học Vấn đề đổi mới PPDH

đã được bàn đến từ lâu Từ những năm 90 của thế kỉ 20 đã có nhiều nhà nghiên cứu viết những giáo trình về vấn đề PPDH Và nó cũng là một môn học bắt buộc trong các trường sư phạm Tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng PPDH mới vào giảng dạy lại là một vấn đề nan giải bởi vì một bộ phận không nhỏ giáo viên đã quen với chương trình cũ, cách dạy cũ Khi chương trình SGK Ngữ văn mới ra đời đi kèm với nó là yêu cầu phải đổi mới PPDH cho phù hợp với chương trình, với đối tượng và phù hợp với xu thế xã hội PPDH của chương trình hiện nay không chỉ dừng lại ở các phương pháp như diễn giảng, gợi mở…như trước đây Cái mà người ta yêu cầu và quan tâm là làm

Trang 27

sao để học sinh biết cách tự học, tự sáng tạo, phát huy được vai trò tích cực chủ động sáng tạo… trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức

Đây là vấn đề mới và rất khó khăn đối với giáo viên khi thực hiện Trên thực tế qua một thời gian không phải là dài nhưng cũng không quá ngắn

áp dụng vào PPDH mới vào chương trình dạy học, rất nhiều người chưa thực hiện được Dựa vào tài liệu đổi mới, một số người dạy cũng áp dụng các phương pháp như thảo luận nhóm, sử dụng phương tiện dạy học…nhưng hầu hết là còn mang nặng hình thức, đối phó trong những giờ thao giảng dự giờ, còn các tiết học bình thường lại quay về cách dạy cũ

Điểm mới thứ năm là chương trình SGK Ngữ văn không chỉ dừng lại dạy những văn bản trước năm 1975 mà còn lựa chọn cả những văn bản sau năm 1975, thậm chí còn đến những năm 2000 nữa Những văn bản đưa vào giảng dạy không chỉ là những văn bản mang tính hư cấu, hình tượng mà còn chọn những cả những văn bản không hư cấu như văn chính luận, văn nghị luận, văn bản nhật dụng…của các thời đại, của cả văn học nước ngoài… Điều này nhằm mục đích giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn, đa chiều, sâu sắc đối với những vấn đề của cuộc sống hiện đại ở cả trong nước và trên thế giới, giúp các em biết quan tâm đến những việc diễn ra hết sức gần gũi đối với cuộc sống nhân loại

1.2.2 Đặc điểm hệ thống văn bản chính luận trong phần Đọc văn ở trường THPT hiện nay

Trang 28

a) Bảng 1 Thống kê các văn bản chính luận trong chương trình

Ngữ văn THP

10

Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)

Hiền tài là nguyên khí quốc gia (Thân

sử kí toàn thư”)( Ngô Sĩ Liên)

Thái sư Trần Thủ Độ (Trích “Đại Việt sử kí toàn thư”)( Ngô Sĩ Liên) Thư dụ Vương Thông lần nữa (Trích “ Quân trung từ mệnh tập”)(

Nguyễn Trãi) Phẩm bình nhân vật lịch sử (Lê Văn

Hưu) Thái phó Tô Hiến Thành (Trích

“Đại Việt sử lược”)(Khuyết danh)

điều”)( Nguyễn Trường Tộ)

Xin lập khoa luật (Trích “Tế cáp bát điều”)( Nguyễn Trường Tộ)

Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích

“Đạo đức và luân lí Đông Tây”)( Phan

Châu Trinh)

Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích

“Đạo đức và luân lí Đông Tây”)( Phan

Châu Trinh) Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các

dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

Trang 29

Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

(Ăng- Ghen)

Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

(Ăng- Ghen)

12

Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh) Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

Thông điệp nhân ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 (Cô-phi-an-nan)

Thông điệp nhân ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 (Cô-

phi-an-nan)

Tư duy hệ thống – nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy (trích “Một góc nhìn của trí thức”)( Phan Đình Diệu) Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Trần

Đình Hượu)

Nhìn về vốn văn hoá dân tộc (Trần

Đình Hượu Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại (Trích “Bàn về đạo Nho”)( Nguyễn

Khắc Viện)

b) Nhận xét chung

Trong chương trình đọc văn hiện nay ở THPT, số lượng văn bản chính luận có mặt tương đối nhiều Trong tổng số 167 tiết đọc văn ở cả ba lớp (10,

11, 12) thì văn chính luận chiếm 21 tiết, tương đương 12,6 %

Các văn bản chính luận trung đại được các tác giả soạn sách giáo khoa sắp xếp đưa vào trong chương trình Ngữ văn lớp 10 và nửa đầu 11 Ở chương trình Ngữ văn lớp 10, văn chính luận được đưa vào dạy ở chương trình học kì 2, khi học sinh đã được làm quen với các văn bản văn học dân gian và thơ trung đại Một điều thuận lợi là trước khi học sinh tiếp xúc với các văn bản chính luận trung đại, học sinh đã được làm quen với bài khái quát về văn học trung đại, hiểu được phần nào đặc điểm nội dung và nghệ thuật của văn học trung đại, quan niệm thẩm mĩ của người trung đại Phần văn chính luận trung đại tiếp tục được đưa vào chương trình của học kì 1 lớp 11 Mục đích của các nhà biên soạn là để học sinh học tiếp nối các văn bản chính luận

Trang 30

theo tiến trình lịch sử Phần văn chính luận hiện đại bắt đầu được đưa vào chương trình ở học kì 2 của lớp 11, khi mà các em đã có một số vốn kiến thức nhất định về văn chính luận trung đại Phần văn chính luận hiện đại tiếp tục được đưa vào giảng dạy và được sắp xếp xen kẽ giữa các văn bản đọc hiểu khác, giữa các phân môn làm văn và tiếng Việt suốt cả hai kì của lớp 12 Có

sự sắp xếp như vậy là vì những văn bản chính luận ở chương trình Ngữ văn

lớp 12 chủ yếu là các văn bản mang tính nhật dụng (trừ Tuyên ngôn độc lập),

nội dung của những văn bản đó quen thuộc, gần gũi với cuộc sống nên các em

có khả năng liên hệ được trong thực tế Hơn nữa việc sắp xếp như vậy có tác dụng tích hợp kiến thức và kĩ năng liên ngành, đặc biệt là với bộ phận làm văn và tiếng Việt

Như vậy, văn bản chính luận được đưa vào chương trình phổ thông với số lượng văn bản tương đối nhiều, khá phong phú và đa dạng cả về tiểu loại lẫn nội dung phản ánh và được sắp xếp khá hợp lí

1.3 Dạy đọc – hiểu văn chính luận ở trường THPT hiện nay – những vấn đề thực tế đặt ra

1.3.1 Vấn đề phương pháp và kĩ năng giảng dạy của giáo viên

Từ năm 2006, Bộ giáo dục đã cho thực hiện đại trà bộ SGK Ngữ văn mới ở bậc THPT trên cả nước Trong bộ sách này phần văn chính luận được đưa vào giảng dạy nhiều hơn hẳn so với chương trình cũ Qua thực tế giảng dạy ở trường THPT cùng với tìm hiểu qua các đồng nghiệp ở các trường phổ thông khác nhau trên địa bàn chúng tôi nhận thấy rằng việc dạy đọc – hiểu văn chính luận hiện nay đang tồn tại nhiều vấn đề vướng mắc

Trước hết là vấn đề phương pháp dạy học của giáo viên Một trong những vấn đề quan trọng của đổi mới PPDH đó là phải dạy đọc – hiểu văn bản văn học theo đặc trưng thể loại, phải dạy cho học sinh biết cách tự học, phát huy vai trò tích cực của học sinh Thế nhưng khi giảng dạy văn chính

Trang 31

luận, người dạy còn chưa nắm được đặc trưng thể loại văn chính luận, hoặc nắm được đặc trưng rồi nhưng lại không chú ý khai thác đến điều đó trong việc tiếp cận, phân tích, dẫn đến hiệu quả của việc dạy đọc – hiểu loại văn bản đặc thù này chưa đạt đến hiệu quả như mong muốn

Qua tìm hiểu thực tế và từng được chứng kiến trong những tiết dự giờ trước đây, chúng tôi nhận thấy một trong những phương pháp giảng dạy chủ đạo của giáo viên là thuyết trình Giáo viên đọc nhiều sách, nhiều tài liệu sau đó truyền giảng những cái mà mình cho là hay, là đúng cho học sinh Nếu

có phần nào tâm đắc thì giáo viên có thể bình giảng sâu hơn, sau đó đọc cho học sinh ghi lại Ở các giờ thực tập, thao giảng người ta đánh giá giờ học chủ yếu ở cách truyền giảng có hấp dẫn không, học sinh có chăm chú lắng nghe không, kiến thức của giáo viên có rộng không… mà người ta không quan tâm sau giờ học đó học sinh hiểu được cái gì, biết thêm được cái gì Dạy học như thế gọi là dạy những gì mình muốn dạy chứ không phải dạy thứ người học cần

Thực ra cách dạy này đã tồn tại rất lâu và trên thực tế cũng đã đào tạo nên nhiều thế hệ học sinh giỏi văn, nhiều thế hệ học sinh thành đạt trong các lĩnh vực văn học nghệ thuât như nhà văn, nhà báo, nhà phê bình Thế nhưng, vấn đề đặt ra ở đây là xã hội ngày càng thay đổi, con người thay đổi, tâm lí học sinh thay đổi, quan niệm về cuộc sống, về hạnh phúc, đạo đức của con người thay đổi thì cách dạy như trước đây không còn phù hợp mà chỉ khiến học sinh không chỉ không hiểu bài mà còn ngày càng không mặn mà với môn văn, mặc dù người ta nói văn là người

Bên cạnh đó, nhiều khi người dạy không tự tìm ra cho mình một phương pháp riêng phù hợp với đối tượng học sinh khi dạy đọc – hiểu các văn bản chính luận, mà quá phụ thuộc vào các giáo án tham khảo Một khi quá

phụ thuộc vào các tài liệu như Thiết kế bài giảng, Giới thiệu giáo án, thậm chí

Trang 32

có người còn tải giáo án trên mạng về sử dụng mà không có sự kiểm chứng, chỉnh sửa thì chắc chắn người dạy cũng chưa chắc đã nắm được bài chứ chưa nói gì đến vấn đề dạy cho học sinh hiểu Chương trình Ngữ văn THPT

có 18 văn bản chính luận, nhưng nếu với cách dạy như thế thì học sinh không thể tự khám phá được Sau 18 bài học về văn chính luận chưa chắc các em sẽ nắm được đặc trưng của thể loại văn chính luận Việc các em không nhớ tên văn bản hoặc tên tác giả dường như là điều bình thường

Hiện nay cả nước đang nỗ lực để đổi mới phương pháp giảng dạy mặc

dù sự thay đổi đó chưa đạt kết quả như mong muốn Ngay trong việc đánh giá giờ dạy cũng có sự thay đổi Theo phiếu đánh giá, xếp loại giờ dạy của giáo viên bậc trung học thì tổng điểm là 20 điểm nhưng trong đó phần nội dung của giờ dạy chỉ chiếm 6,5 điểm, phần phương pháp và kĩ năng chiếm 10,5 điểm và phần còn lại là hiệu quả của giờ dạy chiếm 3 điểm Trong phần phương pháp dạy học, các tiêu chí để đánh giá là việc tổ chức các hoạt động linh hoạt sáng tạo và sáng tạo; thiết bị, đồ dùng, tư liệu được sử dụng hiệu quả; các nhiệm vụ giao cho học sinh phù hợp với đối tượng, đa dạng, kích thích được học sinh học tập sáng tạo; học sinh tham gia học tập tích cực, chủ động, có sự tương tác; học sinh được tạo điều kiện liên hệ những kiến thức đã biết để tìm tòi, phát hiện kiến thức mới; phân bố thời gian hợp lí; tổ chức đánh giá, giáo viên đánh giá học sinh, học sinh tự đánh giá lẫn nhau Như vậy khi xem xét cách đánh giá một giờ dạy văn của giáo viên, chúng tôi nhận thấy mức độ yêu cầu cao nhất ở người dạy vẫn là phương pháp và kĩ năng dạy học

1.3.2 Vấn đề tiếp nhận của học sinh

Như đã nói, tương ứng với những thay đổi trong hoàn cảnh lịch sử, xã hội, điều kiện sinh hoạt và học tập hiện đại, nhận thức và tâm lí của học sinh hiện nay có nhiều đổi khác so với thế hệ cha anh Quan niệm của các em về các vấn đề như đạo đức, lối sống cũng có nhiều thay đổi so với các thế hệ

Trang 33

trước Khát vọng của các em là được làm những điều mình muốn, thích tìm hiểu những gì khó, mới, đầy bí ẩn Trong những năm gần đây mức độ yêu thích học văn của học sinh bậc THPT đang có nhiều biểu hiện tụt dốc

Một đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi học sinh THPT là các em rất thích khám phá, thích tự tìm hiểu Các em sẽ cảm thấy hết sức hãnh diện nếu mình

là người tìm ra, khám phá ra một cái gì đó mà các em cho là mới Trong dạy học văn cũng thế Trong việc tìm hiểu một văn bản văn học, các em vẫn có nhu cầu khám phá văn bản thông qua sự hướng dẫn của giáo viên Trên thực

tế vẫn có một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn yêu thích học văn, vẫn chọn nghiệp văn để theo đuổi Tuy nhiên con số đó đang ngày càng ít đi Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó Và một trong số nguyên nhân là do phương pháp giảng dạy của giáo viên Như tôi đã trình bày ở trên, có một bộ phận giáo viên dạy chương trình mới nhưng lại chưa có sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy dẫn đến học sinh cảm thấy chán nản Các em bị thụ động trong học tập, không cần tư duy nhiều bởi mọi thứ sẽ có người dạy truyền đạt thông qua diễn giảng Càng ngày tình trạng đó càng kéo dài thì khát vọng khám phá của các em ngày càng lu mờ và tắt hẳn

Xã hội ngày càng phát triển, các ngành nghề như khoa học tự nhiên,

kỹ thuật, bác sỹ… ngày càng hấp dẫn các em vì các em tự thấy ở đó mình được thoả sức sáng tạo, tìm tòi, ra trường dễ xin việc và thu nhập cao Trong khi đó các môn xã hội rất khó đậu và học xong khó xin việc và lương bổng hết sức bèo bọt… Vậy là các em chú ý học các môn tự nhiên, còn các môn xã hội trong đó có môn văn các em học hết sức đối phó, miễn đủ điểm vượt qua các kỳ thi là được Một khi đã học không phải vì thích hoặc đam mê mà chỉ vì bắt buộc thì đương nhiên là các em sẽ thực hiện hết sức qua loa, đại khái Ở nhà các em vẫn soạn bài nhưng chép lại từ sách tham khảo mà chưa hề đọc qua tác phẩm Lên lớp làm bài, nếu không chép được tài liệu thì viết một cách

Trang 34

ngô nghê, lấy tác phẩm này gắn với tác giả kia, lấy nội dung của văn bản này gắn với nhan đề của văn bản kia… Văn chính luận là loại văn bản có tính đặc thù, tương đối khó tiếp nhận với học sinh phổ thông Nếu giáo viên không tích cực đổi mới, nếu tâm lí tiếp nhận của học sinh uể oải, thụ động, chắc chắn việc đọc – hiểu các văn bản này khó lòng đạt đến hiệu quả như mong muốn

1.3.3 Vấn đề tài liệu tham khảo

Có thể nói, chưa bao giờ thị trường tài liệu tham khảo của tất cả các môn trong chương trình THCS và THPT lại nhộn nhịp như giai đoạn hiện nay, riêng môn văn thì lại nhiều hơn Ở tất cả các bậc học, sách tham khảo về môn văn rất nhiều, nào là để học tốt, sách bài tập, kỹ năng đọc hiểu, nào là phân tích, tư liệu… vô số sách tham khảo Thế nhưng trên thực tế các cuốn sách đó rất ít các đầu sách bàn về văn chính luận (vấn đề này chúng tôi đã trình bày ở lịch sử vấn đề) mà chủ yếu phục vụ cho dạy và học các văn bản văn học khác Các tài liệu viết về văn chính luận nói riêng, văn nghị luận nói

chung chỉ đếm trên đầu ngón tay như Văn chính luận trung đại trong nhà trường phổ thông của tác giả Phạm Tuấn Vũ, một phần trong Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc của tác giả Phan Huy Dũng Các sách Thiết kế giáo án và Giới thiệu giáo án cũng bàn khá rõ

về các văn bản chính luận trong chương trình Ngữ văn phổ thông, tuy nhiên kiến thức đó lại rời rạc ở từng bài mà chưa có tính hệ thống.… Còn lại viết về văn chính luận và chủ yếu nhìn từ góc độ lí luận thể loại thì chỉ có ở giáo trình của bậc đại học Chính vì vậy nếu giáo viên, học sinh có nhu cầu tìm hiểu thêm về văn chính luận thì cũng hết sức khó khăn

Trên đây là những vấn đề thực tế đặt ra trong dạy và học môn ngữ văn ở trường THPT Những vấn đề đó thuận lợi cũng có mà khó khăn cũng không ít Với xu thế mới của xã hội trong việc đào tạo con người, chúng tôi hi

Trang 35

vọng những khó khăn, tồn tại sẽ dần được khắc phục để giáo dục Việt Nam nhanh chóng hòa nhập với giáo dục Thế giới

Kết luận chương 1

Thông qua phần giới thuyết về khái niệm chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất, đặc trưng của văn chính luận Đó là văn bản trực tiếp bày tỏ thái độ, quan điểm của người viết về các vấn đề chính trị, xã hội của đất nước.Văn chính luận bàn bạc về những vấn đề chính trị, xã hội của đất nước nên bao giờ

nó cũng gắn với hoàn cảnh của đất nước, xã hội Những văn bản chính luận được viết ra luôn luôn gắn với các mục đích thực tiễn của đất nước, dân tộc Cũng trong chương này, chúng tôi cũng đã điểm qua một số vấn đề về chương trình SGK hiện hành, đặc điểm về số lượng, cấu trúc, nội dung, những khó khăn và thuận lợi đặt ra trong việc dạy và học các văn bản chính luận hiện nay Từ những kiến thức về văn chính luận, thực trạng dạy học văn nói chung, văn chính luận nói riêng, chúng tôi vận dụng để đi sâu vào những vấn

đề cụ thể trong dạy đọc - hiểu các văn bản chính luận ở chương tiếp theo

Trang 36

2.1.1 Những định hướng trong dạy đọc – hiểu văn chính luận

trong chương trình Ngữ văn THPT theo đặc trưng thể loại

Để việc đọc – hiểu văn bản đạt hiệu quả như mong muốn, người dạy cũng như người học phải nắm vững đặc trưng thể loại của từng văn bản Với văn chính luận cũng vậy Sau đây là một số vấn đề mang tính định hướng chung trong dạy đọc – hiểu văn bản chính luận xét từ góc nhìn thể loại

2.1.1.1 Xác định đặc điểm chủ thể phát ngôn và mục đích phát ngôn trong văn bản chính luận

Trong văn chính luận bao giờ người viết cũng bày tỏ thái độ, quan điểm, lập trường của mình về một vấn đề chính trị xã hội nào đó Chính vì vậy trong quá trình dạy đọc – hiểu một văn bản chính luận, ngoài việc tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của văn bản thì người dạy phải giúp học sinh xác định được đặc điểm của chủ thể - tác giả của văn bản Trong các văn bản chính luận, chủ thể của những văn bản chính luận có thể là người trực tiếp viết văn

bản (Thân Nhân Trung viết Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Nguyễn Trường

Tộ viết các bản điều trần ), nhưng cũng có nhiều trường hợp chủ thể không phải là người viết mà là người giao nhiệm vụ cho người khác viết (Lê Lợi

giao nhiệm vụ cho Nguyễn Trãi soạn thảo bản Bình Ngô đại cáo, Vua Quang Trung giao nhiệm vụ cho Ngô Thì Nhậm viết bài Chiếu cầu hiền ) Cho dù

là trực tiếp viết hay ủy quyền cho người khác viết thì tất cả các văn bản chính luận đều thể hiện tư tưởng, quan điểm chính trị, tư cách chính trị chủ thể Chủ

Trang 37

thể - tác giả của các văn bản chính luận xuất phát từ những vấn đề có ý nghĩa

lớn lao đối với tập thể, cộng đồng, đất nước mà tạo nên Ví dụ trong Bình Ngô đại cáo, mặc dù chỉ là người được giao nhiệm vụ soạn thảo bài Cáo

nhưng Nguyễn Trãi đã thể hiện hết sức xuất sắc tư tưởng, quan điểm của Lê Lợi Cả ông và Lê Lợi đã có tiếng nói chung, cảm xúc, có chung tư tưởng nên nhiều khi người đọc không phân biệt được đâu là giọng của Nguyễn Trãi, đâu

là giọng của nhà vua Quan điểm, cảm xúc, tư tưởng đó được thể hiện rất rõ trong việc tự hào về đất nước Đại Việt với những giá trị bền vững muôn thuở; việc lên án, tố cáo đanh thép quyết liệt kẻ thù xâm lược đã gây ra bao tội ác

“Trời không dung, đất không tha”; việc ca ngợi ý chí vượt qua hi sinh, gian khổ, tinh thần anh hùng bất khuất của nghĩa quân Lam Sơn nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung

Các văn bản văn học được viết ra nhằm các mục đích khác nhau Riêng văn chính luận, các nhà chính luận phản ánh thực tiễn, phản ánh các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội, chính trị thuộc thời đại mà họ đang sống nhằm mục đích bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết phục, làm cho quần chúng có nhận thức đúng từ đó có hành động đúng, cùng tham gia giải quyết những vấn

đề mang tính thời sự của đất nước đang diễn ra trong đời sống xã hội Chính

vì vậy, khi dạy đọc – hiểu- văn bản chính luận, người dạy phải chú ý đến mục đích thực tiễn của từng văn bản chính luận bởi mỗi thời đại, mỗi thời điểm đất nước, xã hội, cuộc sống con người đều có những sự kiện riêng Mỗi văn bản chính luận đều đề cập đến những vấn đề thiết yếu của dân tộc mà mọi người quan tâm Những vấn đề được bàn đến trong các văn bản chính luận đều gắn với cuộc sống của người dân, gắn với quyền lợi của một tổ chức, một giai cấp…Ví dụ: Mục đích của Ngô Thì Nhậm thay mặt Quang Trung viết

Chiếu cầu hiền là thông qua việc nêu thực trạng khó khăn ban đầu của triều

đại mới, nêu cách ứng xử, thái độ của các bậc hiền tài Bắc Kỳ khi Tây Sơn ra

Trang 38

bắc “phò Lê diệt Trịnh”, nêu chủ trương đón nhận người hiền tài của vua Quang Trung… Tất cả là nhằm mục đích chiêu dụng người tài để xây dựng đất nước khi triều đại mới lên đang gặp khó khăn, để giúp vua nhưng cũng là giúp nước, giúp dân…

Khi dạy đọc - hiểu văn bản chính luận, chúng ta phải chú ý đến mục đích của từng văn bản vì khi đề cập đến mỗi vấn đề, sự kiện chính trị, xã hội của mỗi thời điểm, thời đại, người viết hướng đến những mục đích khác nhau

Vì vậy người dạy cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu những yếu tố ngoài văn bản, chẳng hạn hoàn cảnh ra đời để xác định mục đích hướng tới của chủ thể phát ngôn Ví dụ: Ở thế kỷ XV, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn diễn ra trong hàng chục năm trời đã giành thắng lợi hoàn toàn, Lê Lợi giao cho Nguyễn

Trãi viết Bình Ngô đại cáo nhằm mục đích tổng kết cuộc khởi nghĩa chống

quân xâm lược, lên án tội ác của giặc, ca ngợi tinh thần nhân nghĩa, vượt qua

hi sinh gian khổ của nhân dân ta, tuyên bố độc lập cho dân tộc Ở thế kỷ XX,

do kẻ thù ngày càng phức tạp nên khi dành được độc lập, Hồ Chí Minh đại

diện cho nhân dân cả nước viết và đọc bản Tuyên ngôn độc lập Mục đích của

Hồ Chí Minh là không chỉ hướng đến nhân dân trong nước để tuyên bố độc lập mà Người còn hướng đến nhân dân trên toàn thế giới, đặc biệt là hướng vào những kẻ đang lăm le quay lại xâm lược Việt Nam Để phục vụ cho mục đích đó, trong bản tuyên ngôn Người đã vạch trần bản chất tàn ác, nhu nhược của kẻ đến xâm lược Việt Nam với danh nghĩa là “bảo hộ”, khẳng định sự đấu tranh của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa, khẳng định sự tự do, độc lập của dân tộc Những lời lẽ của người khiến cho tất cả các đối tượng “không ai chối

cãi được”

2.1.1.2 Tìm hiểu chủ đề tư tưởng của văn bản chính luận

Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, văn chính luận trực tiếp bàn bạc đến các vấn đề chính trị, xã hội Luận đề tư tưởng chính trị - xã hội là chủ

Trang 39

đề, nội dung chính của văn bản chính luận Đó là những vấn đề thuộc các lĩnh vực chính trị, xã hội… mà những vấn đề đó đang là những “vấn đề thời sự nóng hổi” của xã hội đương thời Những “vấn đề thời sự nóng hổi” đó có thể

là việc giữ gìn Tổ quốc, đấu tranh xây dựng cuộc sống, pháp luật, ngoại giao…Khi bàn về những vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị xã hội, chủ thể bao giờ cũng bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm, thái độ chính trị, tư tưởng của mình

Vì đây là đặc trưng, đặc thù nhất của văn chính luận nên khi dạy, người dạy phải giúp học sinh tìm hiểu và nắm vững nội dung tư tưởng đặt ra trong tác phẩm Đó là những vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị xã hội, là những vấn đề được cộng đồng quan tâm đến, là vấn đề bức thiết, quan trọng đối với

một tập thể, một tổ chức, một giai cấp…Ví dụ: Vấn đề đặt ra trong Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm là sự cần thiết, cấp thiết có người hiền tài ra phò giúp

đất nước, là chủ truơng cầu hiền, tập hợp trí thức của vua Quang Trung

Trong Chiếu cầu hiền, Ngô Thì Nhậm thay mặt vua Quang Trung thuyết phục

sĩ phu Bắc Hà hiểu được nhiệm vụ xây dựng đất nước mà triều Tây Sơn đang

dự kiến thực hiện để họ ra cộng tác, chung tay, chung sức, chung lòng phục

vụ triều đại mới Tấm lòng khao khát người hiền tài của Vua Quang Trung đã được Ngô Thì Nhậm thể hiện một cách sắc sảo, chặt chẽ, thuyết phục thông qua hệ thống luận điểm

Luận đề của văn bản chính luận thường được thể hiện rõ nét qua hệ thống luận điểm chặt chẽ, thuyết phục Người dạy cần hướng dẫn học sinh phân tích hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng của văn bản chính luận để thấy rõ luận đề tư tưởng của văn bản chính luận như thế nào, thái độ quan điểm chính trị của chính chủ thể ra sao…

Tóm lại, chủ đề tư tưởng là vấn đề cốt lõi của một văn bản chính luận Chính vì vậy khi tìm hiểu và giảng dạy bất kì một văn bản chính luận nào

Trang 40

chúng ta cũng cần phải xác định được nó Trong quá trình dạy đọc – hiểu một văn bản chính luận, người dạy cần cho học sinh đọc kĩ văn bản Việc đọc văn bản không chỉ quan trọng đối với phần văn chính luận mà nó hết sức quan trọng đối với việc học văn nói chung Việc hướng dẫn học sinh đọc văn bản cho đúng giọng điệu, ngữ điệu, diễn cảm là hết sức quan trọng bởi thông qua việc đọc các em phần nào hiểu được nội dung tư tưởng của văn bản một cách trực tiếp, tích cực Tiếp theo khâu đọc văn bản là việc hướng dẫn học sinh xác định hoàn cảnh lịch sử - xã hội của văn bản Để xác định được hoàn cảnh lịch sử - xã hội của văn bản học sinh sẽ phải chú ý đến phần ngoài văn bản, tức là phần tiểu dẫn Phần tiểu dẫn thường cung cấp tri thức về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của văn bản, vị trí của văn bản Việc xác định được hoàn cảnh lịch sử - xã hội của văn bản chính luận hết sức quan trọng bởi vì từ đó

mà người viết đã viết về nội dung gì, chọn hình thức viết như thế nào, và một điều qua trọng nữa là văn bản đó gắn với mục đích thực tiễn ra sao? Một vấn

đề hết sức quan trọng trong việc xác định tính luận đề tư tưởng của văn bản là phân tích hệ thống luận điểm chính Người dạy cũng cần giúp học sinh thấy

rõ ngay nhan đề của các văn bản đã thể hiện chủ đề, nội dung của nó là thuộc

lĩnh vực chính trị xã hội Ví dụ như Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập…vừa là các nhan đề của các văn bản nhưng đồng thời cũng là

những chủ đề chính, những nội dung cốt lõi của các văn bản đó Thông qua nhan đề, kết hợp với các yếu tố trên, học sinh có thể nắm được nội dung tư tưởng của văn bản bằng hệ thống các luận điểm chính, luận điểm nhỏ, các luận cứ phân tích hệ thống luận chứng của các văn bản Ví dụ: Dạy học văn

bản Tuyên ngôn độc lập người dạy giúp học sinh làm rõ các vấn đề sau:

Trước hết là chủ đề của văn bản: Tuyên ngôn độc lập là bản tuyên

ngôn được tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và toàn thể cộng đồng quốc tế

về nền độc lập của nhân dân Việt Nam Để có được nền độc lập ấy nhân dân

Ngày đăng: 03/10/2021, 12:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w