LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sĩ Sinh học, chuyên nghành Thực vật, Khoa Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Vin
Trang 1TRUỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ HOÀNG YẾN
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ SỰ CÓ MẶT CỦA HỢP CHẤT ALKALOID
Ở HỌ TRÚC ĐÀO (APOCYNACEAE) THUỘC VƯỜN
QUỐC GIA VŨ QUANG – HÀ TĨNH
LuËn v¨n th¹c sÜ sinh häc
Vinh, 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRUỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHAN THỊ HOÀNG YẾN
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ SỰ CÓ MẶT CỦA HỢP CHẤT ALKALOID
Ở HỌ TRÚC ĐÀO (APOCYNACEAE) THUỘC VƯỜN
QUỐC GIA VŨ QUANG – HÀ TĨNH
Chuyªn ngà nh Thùc vËt M· sè: 60.42.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc:
TS NGUYỄN ANH DŨNG
Vinh, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sĩ Sinh học, chuyên nghành Thực vật, Khoa Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Vinh, tôi đã nhận được sự ủng hộ giúp đỡ của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Qua đây cho xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS.Nguyễn Anh Dũng, người đã chỉ dẫn và giúp đỡ tôi từ khi nhận đến khi hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của kỹ sư Lê Vũ Thảo – Nguyên là cán bộ Phân viện điều tra quy hoạch rừng Bắc Trung Bộ
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo Khoa sau đại học – Trường Đại học Vinh, Ban giám đốc, cán bộ công nhân phòng
kỹ thuật, Hạt kiểm lâm, các Trạm kiểm lâm – Vườn Quốc gia Vũ Quang đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Vinh, Ngày 10/12/2011
Tác giả
Phan Thị Hoàng Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN 0
MỤC LỤC 0
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU 0
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu thực vật 4
1.2 Nghiên cứu phổ dạng sống của thực vật 8
1.3 Nghiên cứu đa dạng về yếu tố địa lý thực vật 10
1.4 Vài nét về họ Trúc đào - Apocynaceae 11
1.4.1 Đặc điểm chung 11
1.4.2 Đặc điểm hình thái 12
1.4.3 Phân bố địa lý 14
1.4.4 Tình hình nghiên cứu họ Trúc đào (Apocynaceae) 15
1.5 Hợp chất nghiên cứu 17
1.5.1 Hợp chất thứ cấp 17
1.5.2 Hợp chất alkaloid 18
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHI N VÀ HỘI KHU VỰC NGHI N CỨU 21
2.1 Điều kiện tự nhiên 21
2.1.1 Vị tr địa lý 21
2.1.2 Địa hình 22
2.1.3 Đất đai 23
2.1.4 Kh hậu, thuỷ văn 23
2.1.5 Thảm thực vật 24
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội 25
CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU 27
3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Phương pháp thu và xử lý mẫu 27
Trang 53.4.3 Xây dựng bảng danh lục thành phần loài thực vật 29
3.4.4 Phương pháp đánh giá đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật 29
3.4.5 Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống 30
3.4.6 Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ bị đe dọa 31
3.4.7 Phương pháp định t nh alkaloid 31
3.4.8 Xử lý số liệu bằng toán thống kê 31
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHI N CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Đa dạng về thành phần loài họ Trúc đào (Apocynaceae) 32
4.1.1 Thành phần loài thực vật thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae) 32
4.1.2 Sự phân bố số lượng loài trong các chi, tông và phân họ 35
4.2 Đa dạng về dạng sống 36
4.3 Đánh giá đa dạng sinh thái về các sinh cảnh và các yếu tố địa lý 38
4.3.1 Đa dạng sinh thái về sinh cảnh 38
4.3.2 Phân t ch đa dạng về yếu tố địa lý 39
4.4 Đa dạng sinh học nguồn gen có ch và mức độ đe dọa 41
4.4.1.Đa dạng nguồn gen có ch 41
4.4.2 Đa dạng về nguồn gen hiếm 42
4.4.3 Kết quả định t nh hợp chất alkaloid 43
4.5 So sánh sự đa dạng các taxon họ Trúc đào so với các VQG khác 46
4.5.1 So sánh số lượng chi, loài của họ Trúc đào ở VQG Vũ Quang với VQG Pù Mát 46
4.5.2 So sánh số lượng chi, loài của họ Trúc đào ở VQG Vũ Quang với VQG Bạch Mã 48
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
Kết luận 51
Kiến nghị 52
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
ẢNH MỘT SỐ LOÀI HỌ APOCYNACEAE Ở VQG VŨ QUANG – HÀ TĨNH 60
Trang 6Bảng 4.1: Danh lục thành phần loài họ Trúc đào (Apocynaceae) 32
Bảng 4.2: Đa dạng thành phần loài trong các chi, tông và phân họ 35
Bảng 4.3: Sự phân bố các chi và loài theo sinh cảnh 38
Bảng 4.4: Dạng sống của các loài thuộc họ Trúc đào ở VQG Vũ Quang 37
Bảng 4.5: Thống kê các dạng sống của các loài thuộc nhóm cây chồi trên (Ph) 37 Bảng 4.6: Yếu tố địa lý của các loài thuộc họ Trúc đào ở VQG Vũ Quang 40
Bảng 4.7: Công dụng của các loài thực vật thuộc họ Trúc đào 41
Bảng 4.8: Các loài thuộc họ Apocynaceae đang bị đe dọa ở VQG Vũ Quang 42
Bảng 4.9: Phản ứng tạo tủa nhận biết alkaloid của các loài thuộc họ Trúc đào 43
Bảng 4.10: So sánh số lượng chi, loài ở VQG Vũ Quang và VQG Pù Mát 46
Bảng 4.11: Các chi giống và khác nhau ở VQG Vũ Quang và VQG Pù Mát 47
Bảng 4.12: So sánh số lượng chi, loài ở VQG Vũ Quang với VQG Bạch Mã 48
Bảng 4.13: So sánh về số chi, loài giữa VQG Vũ Quang với VQG Bạch Mã 49
Trang 7Thực vật có mối quan hệ mật thiết và đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người Từ thời kỳ tiền sử con người đã kiếm cây cỏ làm thức ăn, qua chọn lọc và thử thách con người đã xác định được thực vật nào ăn được hoặc không ăn được và t nh chất chữa bệnh cũng tình cờ được phát hiện rồi kinh nghiệm được t ch lũy dần và truyền lại cho thế hệ sau Ngày nay, vai trò của thực vật đối với con người không chỉ dừng ở đó: cung cấp gỗ, vật liệu xây dựng, dược liệu, năng lượng, thức ăn, hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, điều hòa không khí,
Mặc dù hàng năm con người bổ sung diện t ch rừng trồng mới, nhưng hơn nửa thế kỷ quả, diện t ch rừng nước ta đã giảm 5 triệu ha Nguyên nhân làm giảm số lượng và chất lượng rừng nước ta một phần là do chiến tranh, mặt khác do dân số tăng nhanh, nhu cầu về gỗ củi tăng, trình độ dân tr thấp, tập quán canh tác lạc hậu, một bộ phận đồng bào vẫn duy trì cuộc sống du canh du cư, đốt nương làm rẫy Ngoài ra, vấn đề sử dụng đất đai chưa hợp lý, hình thức quản lý, bảo vệ rừng còn hạn chế Hiện nay con người đang phải gánh chịu hệ lụy do chặt phá rừng gây ra: hạn hán trong mùa khô và lũ lụt trong mùa mưa, nạn ô nhiễm môi trường gia tăng, nguồn gen quý hiếm đang
có nguy cơ bị tuyệt chủng
Con người cần phải nhận thức được rằng sự tồn tại và phát triển của loài người phụ thuộc rất lớn vào sự đa dạng của các sinh vật Ch nh vì vậy, nhiều Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc Gia (VQG) được thành lập như: Cúc Phương, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha, Bạch Mã,
VQG Vũ Quang được Thủ tướng ch nh phủ công nhận vào năm 2002 Nơi đây mang đậm nét kh hậu miền Trung: nhiệt đới gió mùa với độ ẩm cao, lượng mưa lớn là điều kiện thuận lợi cho hệ thực vật phát triển, tạo nên sự đa dạng và phong phú về số lượng cũng như thành phần loài Là một Vườn Quốc
Trang 8Gia còn rất trẻ, vì thế các công trình nghiên cứu về hệ động, thực vật nơi đây còn rất t, chưa tương xứng với tiềm năng mà khu vực này hiện có
Họ Trúc đào (Apocynaceae) là một họ lớn, có khoảng 200 chi với hơn 2.000 loài, phân bố chủ yếu ở miền nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam có khoảng 50 chi với khoảng 170 loài, có thể kể đến một số chi có số lượng loài
lớn và được sử dụng nhiều trong dược liệu như: Adenium, Alstonia, Strophanthus, Rauvolfia, Catharanthus, Thevetia,… Về mặt khoa học họ
Apocynaceae là một mắt x ch quan trọng trong chuỗi tiến hóa của lớp thực vật
Hai lá mầm (Dicotyledones) Một số nhà khoa học trên thế giới đã chọn họ
Trúc đào làm đối tượng nghiên cứu như Jussieu (1789), R.Brown (1810), Schum (1895), Takhtajan (1996) Ở nước ta, các tác giả Phạm Hoàng Hộ (1972, 1993), Trần Đình Lý (2005), Hoàng Thị Sản (2006) đã có một số công trình nghiêu cứu về đặc điểm hình thái, phân bố và công dụng của các loài
thuộc họ này
Trên thế giới, thuốc phòng và chữa bệnh hầu hết đều được điều chế từ 2 nguồn: dược liệu và hóa dược Các hợp chất lấy từ cây cỏ vẫn chiếm một vị tr quan trọng trong ngành dược liệu: 25% tất cả các loại thuốc của chúng ta lấy từ thực vật Tác dụng chữa bệnh của một số loài cây có được do trong chúng có các chất có hoạt t nh sinh học cao gọi là hợp chất thứ cấp Có thể kể đến một số hợp chất thứ cấp quan trọng có trong cây như: alkaloid, flavonoid, glycozid,… Trong đó hợp chất alkaloid là hợp chất có ý nghĩa lớn trong dược liệu
Vì những lý do trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: „Điều tra
thành phần loài và sự có mặt của hợp chất alkaloid ở họ Trúc đào (Apocynaceae) thuộc Vườn quốc gia Vũ Quang - Hà Tĩnh’’
Mục tiêu nghiên cứu: Điều tra thành phần loài thuộc họ Trúc đào ở
VQG Vũ Quang, khảo sát sự có mặt của hợp chất alkaloid của các loài trong
họ nghiên cứu nhằm cung cấp những dẫn liệu làm cơ sở cho việc bảo tồn các loài thực vật tại VQG Vũ Quang
Trang 9Nội dung:
- Thu mẫu và định danh các loài thực vật thuộc họ Trúc đào
- Đánh giá đa dạng sinh thái về các sinh cảnh
- Xây dựng phổ dạng sống của các loài trong họ Trúc đào
- Phân t ch đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật
- Đánh giá đa dạng về nguồn gen và số loài nguy cấp trong họ Trúc đào
- Khảo sát sự có mặt của hợp chất alkaloid ở các loài cây trong họ Trúc đào
- So sánh t nh đa dạng về các chi, các loài so với các VQG lân cận khác
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu thực vật
Việc nghiên cứu thực vật trên thế giới diễn ra từ rất sớm, những công trình mô tả đầu tiên về thực vật xuất hiện ở Ai Cập cổ đại (3000 năm TCN) và
ở Trung Quốc cổ đại (2.200 năm TCN) Sau đó ở Hy Lạp, La Mã cổ đại cũng xuất hiện hàng loạt các tác phẩm về thực vật
Theo Phraste (371- 286 TCN) [13] là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp phân loại thực vật và phân biệt một số t nh chất cơ bản trong
cấu tạo cơ thể thực vật Trong hai tác phẩm: “Lịch sử thực vật” và “Cơ sở thực vật”, ông đã mô tả được gần 500 loài cây, phân ra thành cây to, cây nhỏ,
cây thân cỏ, cây sống trên cạn, cây sống dưới nước, cây có lá rụng hàng năm hay thường xanh, cây có hoa hay không có hoa Nguyên tắc hình thái và sinh thái được coi là cơ sở trong cách phân loại của ông [30]
Dioscoride người Hy Lạp (20 - 60 sau CN) đã nêu đặc t nh của hơn
500 loài cây có trong tác phẩm “Dược liệu học” của mình và xếp chúng vào
các họ thực vật khác nhau [30]
J.Jay (1628 - 1750) người Anh đã mô tả gần 18.000 loài thực vật trong
cuốn “Lịch sử thực vật” Ông chia thực vật thành 2 nhóm lớn: nhóm bất toàn
(gồm nấm, rêu, dương xỉ, các loài thực thuỷ sinh) và nhóm hiển hoa (có hoa, gồm các thực vật 1 lá mầm và thực vật 2 lá mầm) [30] Cũng trong thời gian
đó, Journefort (1656 - 1708) dùng t nh chất của tràng hoa làm cơ sở phân loại, ông chia thực vật có hoa thành nhóm không cánh và nhóm có cánh hoa [30]
Công trình nghiên cứu của Linnée (1707 - 1778) đã đạt đến đỉnh cao của hệ thống phân loại thực vật Ông chọn đặc điểm của bộ nhị để phân loại
Hệ thống phân loại của Linnée rất đơn giản, dễ hiểu và được sử dụng rất rộng rãi Ông đã đề xướng cách gọi tên cây bằng tiếng Latinh gồm 2 từ ghép lại mà
Trang 11ngày nay chúng ta đang sử dụng Ông đã đưa ra hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới, ngành, lớp, bộ, họ, chi, loài [30]
Robert Brown (1773 - 1858) là người đầu tiên nghiên cứu tỉ mỉ về tùng bách và tuế do đó dẫn đến chỗ tách rời hai nhóm hạt trần và hạt k n [30]
Đến thế kỉ XIX thì việc nghiên cứu hệ thực vật mới thực sự phát triển mạnh mẽ Nhiều công trình nghiên cứu được công bố như: Thực vật ch Hồng Công (1861), thực vật ch Anh (1869), thực vật Ch rừng Ân Độ 7 tập (1872 - 1897), thực vật Ch Vân Nam (1977), Cho đến nay các loài chủ yếu tập trung ở vùng nhiệt đới có 90.000 loài, trong đó vùng ôn đới Bắc Mĩ và Âu Á
có 50.000 loài đã được xác định [32]
Sự tồn tại và phát triển của con người phụ thuộc rất lớn vào nguồn tài nguyên thiên nhiên Nếu nguồn tài nguyên đó giảm sút thì cuộc sống của chúng ta bị đe dọa nghiêm trọng Do con người khai thác không có kế hoạch
và chiều sâu dẫn đến nguồn tài nguyên ngày càng kiệt quệ Để tránh sự hủy hoại tài nguyên chúng ta phải tôn trọng trái đất và sống một cách bền vững,
dù muộn còn hơn không chú ý, vì thế Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992, có 150 nước đã ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiều cuốn sách mang t nh chất chỉ dẫn ra đời Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity) [38] hay IUCN, UNEP và WWF đã đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservation strategy) [36] Năm 1991, WRI, WCU,
WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới (Conserving the World's biological diversity) [36] Cùng với chiến lược đó, IUCN, UNEP, WWF cho xuất bản cuốn "Hãy quan tâm tới trái đất" (Caring for the earth) [38] Cùng năm, WRI, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động [38]; tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn
Trang 12và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai
Năm 1992 – 1995, WCMC công bố một cuốn sách (Global biodiversity assessment) tổng hợp các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu quả [38]
Bên cạnh đó, những công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm đưa ra các giải pháp th ch hợp trong việc bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học của mỗi nước, mỗi khu vực cũng như trên toàn thế giới, hướng tới sự phát triển bền vững của toàn cầu
Ở Việt Nam, mặc dù quá trình nghiên cứu ở thực vật diễn ra chậm hơn so với các nước khác, nhưng những giá trị để lại đã đánh giá được sự cố gắng, nỗ lực của các nhà khoa học thông qua các công trình nghiên cứu của họ Đầu tiên
là các công trình nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật cho mục đ ch chữa
bệnh cho con người như cuốn “Nam dược thần hiệu” của lương y Tuệ Tĩnh
(1417) đã mô tả được 397 loài cây làm thuốc [30]
Lê Quý Đôn (Thế kỷ XVI) trong bộ “Vân Đài loại ngữ” đã phân chia
thực vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cho quả, cây ngũ cốc, rau, cây mọc theo mùa khác nhau [30]
Lê Hữu Trác (1721 - 1792) dựa vào bộ “Nam dược thần hiệu” đã bổ sung thêm 329 vị thuốc mới trong sách “Hải Thượng y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển [30] Ngoài ra trong tập “Lĩnh Nam bán thảo”, ông đã tổng hợp được
2.850 bài thuốc chữa bệnh
Trong thời kỳ Pháp thuộc ở nước ta, do tài nguyên thực vật phong phú,
đa dạng, có hệ thống rừng rậm nhiệt đới đã hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu
phương Tây Có thể kể đến một số công trình như: “Thực vật ở Nam Bộ”
(1790) của Loureiro, mô tả gần 700 loài cây Pierre (1879) với tác phẩm
“Thực vật rừng Nam Bộ” đã mô tả được 800 loài cây gỗ Công trình lớn nhất
là bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H Lecomte và một số nhà thực vật học
Trang 13người Pháp đã mô tả được gần 7.000 loài từ dương xỉ tới hạt k n của toàn Đông Dương [30]
Về sau Humbert (1938 - 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việc đánh giá thành phần loài cho toàn vùng và gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác Đến nay đã công bố 29 tập nhỏ gồm 74 họ cây có mạch, nghĩa là chưa đầy 20% tổng số họ đã có [44] Đến năm 1965, dựa trên cơ sở các công trình đã có, Pocs Tamas đã thống kê và mô
tả được ở miền Bắc có 5190 loài, 1660 chi và 140 họ xếp theo hệ thống của Engler đồng thời ông còn đi sâu vào cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này [49]
Từ năm 1969 đến 1976, Lê Khả Kế (chủ biên) cho xuất bản sách “Cây
cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập [24] Ở miền Nam, Phạm Hoàng Hộ
công bố 2 tập cây cỏ miền Nam Việt Nam giới thiệu 5326 loài [15]
Để phục vụ công tác nghiên cứu tài nguyên, Viện điều tra quy hoạch rừng đã công bố 7 tập cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) [44] Bộ danh lục
có thể nói là đầy đủ nhất về thành phần loài thực vật bậc cao ở Việt Nam
thuộc về bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) xuất bản
tại Canada với 3 tập 6 quyển, đã mô tả được 10.500 loài thực vật bậc cao có mặt tại Việt Nam Theo tác giả thì số loài thực vật ở Việt Nam có thể lên tới 12.000 loài [16]
Nguyễn Tiến Bân và các tác giả (1984) đã công bố thực vật rừng Tây Nguyên với 3.754 loài thực vật có mạch [7]
Đặc biệt năm 1996, các nhà thực vật đã cho xuất bản cuốn “Sách đỏ Việt Nam” (phần thực vật), đã mô tả 356 loài thực vật quý hiếm ở Việt Nam
có nguy cơ tuyệt chủng được tái bản và bổ sung năm 2007 [2]
Năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn đã tổng hợp và chỉnh lý tên theo hệ thống của Brummit 1992, đã chỉ ra hệ thực vật Việt Nam có 11.178 loài, 2.582 chi và 395 họ thực vật bậc cao [32]
Trang 14Hai tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sapa- Phansipan [41]
Lê Trần Chấn (1999) với công trình “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam”, đã công bố 10.440 loài thực vật [8]
Hiện nay, các nhà khoa học đang đi theo hướng nghiên cứu một số họ riêng biệt dưới dạng thực vật ch như: Euphorbiaceae của Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) [33], Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân (2000) [6], Lamiaceae của Vũ Xuân Phương (2002) [28], Myrsinaceae của Trần Thị Kim Liên (2002) [21], Apocynaceae của Trần Đình Lý (2005) [25], Verbenaceae của Vũ Xuân Phương (2005) [29],… Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá sâu hơn về đa dạng các loài trong các họ thực vật ở Việt Nam
Phạm Hồng Ban (2000) trong công trình “Nghiên cứu đa dạng thực vật sau nương rẫy ở vùng đệm Pù Mát - Nghệ An” đã công bố 586 loài thực vật
bậc cao thuộc 334 chi và 105 họ [4]
Trong cuốn “Đa dạng thực vật Vườn quốc gia Pù Mát”, Nguyễn Nghĩa
Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004) đã tổng kết được hệ thực vật Pù Mát có tới
2494 loài thuộc 931 chi, 202 họ của 5 ngành [38]
1.2 Nghiên cứu phổ dạng sống của thực vật
Các loài sống trong một hệ sinh thái chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sinh thái của nơi sống đó tạo nên Các cá thể loài và các loài đó tập hợp nên những quần xã riêng biệt phản ánh môi trường ở nơi đó Khi phân t ch bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ thực vật của vùng ôn đới người
ta vẫn thường dùng hệ thống các dạng sống của Raunkiaer (1934) và sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó Cơ sở quan trọng nhất để sắp xếp các nhóm dạng sống đó là xem thời kỳ khó khăn cho cuộc sống (do lạnh hay khô hay cả hai)
Hiện nay, khi nghiên cứu phổ dạng sống của thực vật người ta thường dùng thang phân loại của Raunkiaer (1934) [48] dựa vào vị tr của chồi so với
Trang 15mặt đất trong thời gian bất lợi của năm Hệ thống phân loại phổ dạng sống được chia làm 5 nhóm dạng sống cơ bản sau:
1 - Cây có chồi trên đất (Ph)
2 - Cây chồi sát đất (Ch)
3 - Cây chồi nửa ẩn (Hm)
4 – Cây chồi ẩn (Cr)
5 – Cây chồi một năm (Th)
Hình 1: Mô tả dạng sống theo Raunkiaer (1934) [48]
Raunkiaer (1934) [48] đã t nh toán cho hơn 1000 loài cây ở các vùng khác nhau trên thế giới và đưa ra phổ dạng sống tiêu chuẩn sau:
SB = 48 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 8 Cr + 15 Th
Công trình nghiên cứu hệ thực vật ở Việt Nam của tác giả Pocs Tamás (1965) [49] đã đưa ra kết quả là: Nhóm cây chồi trên (Ph) 52.2% ; 3 nhóm cây chồi sát đất (Ch), nhóm cây chồi nửa ẩn (He) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) là 40.7% ; nhóm cây sống một năm (Th) 7.1% Phổ dạng sống của nhóm cây trên là:
SB = 52.2 Ph + 40.7 (Ch, He, Cr) + 7.1 Th
Trang 16Còn ở VQG Pù Mát, tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004) [38]đã lập được phổ dạng sống:
SB = 78.88 Ph + 4.14 Ch + 5.76 Hm + 5.97 Cr + 5.25 Th Theo Phạm Hồng Ban (2000) [4], hệ thực vật sau nương rẫy ở vùng đệm Pù Mát có phổ dạng sống:
SB = 67.40 Ph + 7.33 Ch + 12.62 He + 8.53 Cr + 4.09 Th
Phổ dạng sống mà tác giả Phùng Ngọc Lan và các tác giả (1996) [20]
đã đưa ra đối với Vườn Quốc gia Cúc Phương là:
1.3 Nghiên cứu đa dạng về yếu tố địa lý thực vật
Để đánh giá một cách toàn diện hơn mức độ đa dạng về thành phần loài, chúng ta cần xét đến các yếu tố địa lý thực vật tại khu vực nghiên cứu Bởi vì, mỗi khu hệ thực vật ngoài chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện khí hậu, đất đai, địa hình, địa mạo,… chúng còn phụ thuộc vào điều kiện địa
lý, địa chất xa xưa
Nguyễn Nghĩa Thìn [37] tham khảo với sự phân chia của các tác giả Pocs Tamas (1965), Ngô Chinh Dật (1993), đã chia hệ thực vật Việt Nam bao gồm các yếu tố chính sau:
Trang 17Một số công trình nghiên cứu về yếu tố địa lý ở các địa điểm khác nhau
đã chỉ ra được:
+ Vườn Quốc Gia Bạch Mã được tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô (2003) [39] chỉ ra:
Yếu tố toàn cầu: 0.61 %
Yếu tố nhiệt đới: 62.93 %
Yếu tố ôn đới: 3.76 %
Yếu tố đặc hữu: 25.12 %
Yếu tố cây trồng: 1.64 %
+ Yếu tố địa lý của Vườn Quốc gia Pù Mát năm 2004 [38]:
Yếu tố toàn cầu: 2.40 %
Yếu tố nhiệt đới: 65.05 %
Yếu tố ôn đới: 5.35 %
Yếu tố đặc hữu: 14.19 %
Yếu tố cây trồng: 5.56 %
1.4 Vài nét về họ Trúc đào - Apocynaceae
1.4.1 Đặc điểm chung
Các cây thuộc họ Trúc đào gồm những cây cỏ, cây bụi hay cây gỗ, có khi
là cây leo, thường có nhựa mủ trắng Lá mọc đối hay vòng 3, rất t khi mọc so le, nguyên, không có lá kèm hay có lá kèm dạng tuyến
Hoa đơn độc hoặc tập hợp lại thành cụm hoa vô hạn hoặc cụm hoa hình xim Hoa mẫu 5, trừ bộ nhuỵ gồm 2 lá noãn (đôi khi 3 - 5) Hoa đều, tràng hợp hình ống, thường có phần phụ hình vảy hoặc lông ở bên trong ống tràng, các thuỳ tràng xếp vặn Bộ nhị có số lượng nhị bằng bằng số cánh hoa chỉ nhị
d nh vào ống tràng, bao phấn hình mũi tên, trung đới có thể mang phần phụ là lông dài (như ở cây Trúc đào), hạt phấn rời nhau Bầu trên, thường rời hoặc phân thuỳ, 1 vòi và một đầu nhụy Đầu nhụy thường loe rộng hình nón cụt Trong mỗi lá noãn hoặc mỗi ô của bầu có từ 2 đến nhiều noãn đảo Quả thường gồm 2 đại, có khi là quả hoạch (như cây Thông thiên) Hạt có cánh hay chùm lông tơ dễ phát tán, phôi nhỏ và có nội nhũ
Trang 18Gồm khoảng 200 chi và 2.000 loài, phân bố rộng rãi khắp thế giới, chủ yếu ở miền nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở nước ta có khoảng 50 chi như:
Adenium, Aganonerion, Alstonia, strophanthus, Catharanthus, Thevetia, với
khoảng 170 loài, thường mọc trên các đồi hoặc ở rừng thưa, một số loài cây trồng Chất nhựa mủ trong cây ở họ Trúc đào thường có t nh độc (như ở các
chi Nerium, Strophanthus), hoặc có vị đắng y học dùng làm thuốc Ở một số t
cây chất nhựa trắng này lại có t nh đàn hồi như cao su Trong cây, sợi libe rất vững chắc và dài, có thể dùng lấy sợi Do đó việc nghiên cứu một số hợp chất thứ cấp (alkaloid, glycozid tim, ) là rất cần thiết để phòng ngừa cũng như sử dụng chúng vào mục đ ch chữa bệnh [ 9], [17], [30]
1.4.2 Đặc điểm hình thái
a, Thân
Họ Trúc đào gồm chủ yếu các dây leo gỗ hay gỗ trườn Dạng thân này
chiếm ưu thế ở phân họ Apocynoideae, ở các phân họ khác như Carissoideae, Cerberoideae t khi xuất hiện Riêng phân họ Tabernaemontanoideae thì không
có dây leo Thân leo có tua cuốn chỉ tìm thấy ở Willughbeia và Landolphia Tua
cuốn ở đây là dạng biến thái của cụm hoa mà tạo thành Dạng cây bụi thường
gặp ở một số chi như: Tabermontana, Rauvolfia, Carissa, Nerium, Holarrhena, Kibatalia, Một số rất t chi vừa có thân leo và vừa có cây bụi (Strophanthus) Ở chi Carissa có gai ở nách lá do chồi tạo thành Cây gỗ lớn hay gỗ nhỏ cũng gặp
ở một số chi trong họ này (Alstonia, Winchia, Couma, Lepinia, Aspidosperma, Kopsia, Hunteria, Plumeria, Thevetia, ) Cây thân thảo sống lâu năm gặp ở Catharanthus, Amsonia, Apocynum Thân có vỏ mọng nước gặp ở Adenium, Pachypodium, Điều đáng chú ý ở đây là cây thân thảo, sống 1 năm chưa gặp ở
Trang 19Craspidospermum, Nerium) Trong một số trường hợp ngoại lệ vừa có lá mọc vòng, vừa có là mọc đối cùng tồn tại trên một cây (Melodinus, Amsonia, Rhazya, ), ở đây có mối tương quan giữa kiểu sắp xếp lá mọc xoắn với thân có
vỏ mọng nước Ở nách cuống lá gần như luôn luôn có tuyến nâu hoặc cấu trúc dạng tuyến Lá kèm không phát triển, nhưng ở một số chi có vết t ch lá kèm rõ
(Tabernaemontana) [25]
c, Cụm hoa
Cụm hoa của họ Trúc đào gồm 2 kiểu ch nh là xim (Cyma) và chùm (Racemus) Ở kiểu cụm hoa xim chiếm ưu thế tuyệt đối và gặp ở phần lớn các taxon thuộc hệ thực vật cổ nhiệt đới Kiểu cụm hoa chùm chỉ gặp chủ yếu trong một số chi và loài thuộc hệ thực vật tân nhiệt đới Cụm hoa một hoa chỉ gặp ở vài chi và loài đặc biệt Đó là hiện tượng thứ sinh do sự tiêu giảm số lượng hoa của các cụm hoa nhiều hoa tạo thành
d Hoa
Hoa họ Trúc đào hoàn toàn lưỡng t nh, đối xứng, mẫu 5, rất t khi mẫu 4
và chỉ ở chi Tetradoa mẫu 6 Bao hoa phân hóa thành đài và tràng rõ ràng Sơ đồ
cơ bản của hoa là: K2+3C(5)A5G2
- Đài hoa: Đài hoa điển hình gồm 5 lá đài rời, t d nh nhau ở gốc (trừ
Leuconotis mẫu 4 và Tetradoa mẫu 6) Ống tràng có hình dạng ống, hay chuông,
hình phễu, đôi khi có dạng cái lu hay cái thẩu Mặt trong ống tràng luôn luôn có lông dính
- Bộ nhị: Số lượng nhị thường cùng với số cánh tràng Nhị đ nh ở họng tràng hoặc ở giữa ở giữa ống tràng hoặc ở đáy ống tràng Chỉ nhị rất ngắn, chỉ ở
chi Beaumontia có chỉ nhị dài Chỉ nhị của hầu hết các chi tự do (trừ chi Thenardia d nh thành ống) Bao phấn gồm 2 túi phấn có 2 ô phấn Bao phấn
cũng thể hiện mối quan hệ 2 chiều chặt chẽ với đầu nhụy, nếu bao phấn d nh vào đầu nhụy thì mặt trước của chúng có cơ quan d nh, nếu bao phấn không d nh vào đầu nhụy thì mặt trước của chúng không có cơ quan d nh
Trang 20- Hạt phấn: Hạt phấn họ Trúc đào nói chung là rời, riêng rẽ, rất hiếm khi
tạo thành tứ tử (ở Callichilia, Condilocarpa, Craspidosperma, Melodinus, Trachelospermum) Dạng hạt phấn thường bầu dục hay tròn, chỉ ở một số trường hợp đặc biệt có dạng hình ống cong (Alyxia) Theo cấu trúc bề mặt hạt phấn có
thể phân biệt thành 3 kiểu: hạt phấn tròn hay gần tròn có 3 rãnh lỗ (gặp ở phân
họ Carissoideae và Cerberoideae), hạt phấn gần tròn có 2 - 4 lỗ (dạng này gặp phần lớn ở phân họ Apocynoideae), hạt phấn dạng ống có 2 lỗ ở hai đầu (Alyxia)
- Bộ nhụy: Bộ nhụy của họ Apocynaceae có bầu trên, rất t khi bầu nửa
trên (Epigyum, Plumeria), bao gồm 2 lá noãn rất t khi 3 - 5 lá noãn (Pleiocarpa, Lepinia, Notonerium) Bộ nhụy có lá noãn rời gặp chủ yếu ở các đại diện trong
họ, rất t khi có bộ nhụy hợp
- Quả: Ở họ Apocynaceae không những có quả mọng, quả hạch, quả nang
mà còn có quả đại - loại quả này đặc biệt chiếm ưu thế ở họ Trúc đào Ở đây quả mọng không mở được sinh ra từ bộ nhụy hợp gồm 2 lá noãn được coi là khởi nguyên của họ và quả đại khô được sinh ra từ bộ nhụy rời thứ sinh được coi
là dạng tiến hóa nhất trong họ
- Hạt: Hạt của họ này có nhiều hình dạng khác nhau, gần tròn hay hình elip dài, hình mắt chim hay hình trứng dài bị ép, Hạt của cá taxon có quả hạch, quả mọng, quả đại nạc, không có cơ quan phát tán nhờ gió [25]
1.4.3 Phân bố địa lý
Họ Trúc đào phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Chỉ có
khoảng 10 chi có mặt ở vùng ôn đới như Amsonia, Apocynum, Goniama, Nerium Poacynum, Trachomitum, Vinca,
- Các chi có đại diện ở cả châu Á, châu Phi và châu Mỹ là: Alstonia, Amsonia, Rauvolfia, Tabernaemonta
- Các chi có đại diện ở cả châu Phi và châu Mỹ là: Alstonia, Rauvolfia, Tabernaemonta, Malouetia
- Các chi có đại diện ở cả châu Á và châu Phi là: Alstonia, Carissa, Cerbera, Rauvolfia, Strophanthus, Voacanga, Wrightia
Trang 21- Cỏc chi cú đại diện ở cả chõu Á và chõu Mỹ là: Alstonia, Amsonia, Tabernaemonta
- Ở Madagascar cú 24 chi thỡ 7 chi là đặc hữu của vựng Ở chõu Đại
Dương cú 4 chi, Notonerium là đặc hữu của chõu lục này
Ở Việt Nam, họ Trỳc đào phõn bố khắp cả nước, nhưng tập trung nhất là vựng đồi nỳi, nơi cũn thảm thực vật tự nhiờn tồn tại Ở vựng đồng bằng, trảng cỏ
và thảm thực vật cõy trồng rất t gặp cỏc đại diện của họ này Do yờu cầu về ỏnh sỏng nờn phần lớn cỏc loài thường cú mặt ở mộp rừng thưa Dưới tỏn rừng rậm
cú rất t loài tồn tại, một số t loài của chi Tabernaemontana và Rauvolfia Chi Ixodonerium cú thể được coi là chi đặc hữu của Việt Nam, bởi vỡ chưa tỡm thấy
được ở cỏc nước khỏc [25]
1.4.4 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu họ Trỳc đào (Apocynaceae)
Các cây thuộc họ Trúc đào gồm những cây cỏ, cây bụi hay cây gỗ, có khi là cây leo, th-ờng có nhựa mủ trắng Đõy là họ cú giỏ trị lớn về mặt dược liệu, bởi chỳng chứa 2 nhúm chất quan trọng là alkaloid và glycozid Từ rễ
cõy Ba gạc (Rauvolfia serpentina) người ta chiết xuất được hơn 40 loại
alkaloid khỏc nhau để sản xuất thuốc chữa bệnh tim mạch và cao huyết ỏp Từ
rễ của cõy Dừa cạn (Catharanthus roseus) thu được cỏc loại alkaloid
Vinblastin và Vincristin làm thuốc chữa ung thư Ở Việt nam cú trờn 20 loài của họ này được dựng làm thuốc Về mặt khoa học họ Apocynaceae là một mắt x ch quan trọng trong chuỗi tiến hoỏ của lớp thực vật hai lỏ mầm
(Dicotyledones) [25]
Ở Việt Nam, cụng trỡnh phõn loại đầu tiờn cú t nh hệ thống về họ Trỳc
đào là của Pitard, được cụng bố trong tập 3 Thực vật chớ đại cương Đụng Dương (1993) Tỏc giả đó mụ tả 115 loài thuộc 46 chi của họ này ở Việt Nam
Cú thể núi đõy là cụng trỡnh phản ỏnh đầy đủ những hiểu biết về họ Trỳc đào
ở Việt nam của thời kỳ đầu thế kỷ 20 trở về trước Tuy nhiờn đến nay đó cú khoảng 50% tờn cỏc loài trong cụng trỡnh của Pitard đó thay đổi, gần 20 loài mới cho khoa học được phỏt hiện thờm và bổ sung nhiều loài cho hệ thực vật
Trang 22Việt Nam Mặt khác, trong công trình của tác giả chưa chỉ rõ năm của tài liệu
tr ch dẫn, không chỉ ra mẫu nghiên cứu Đó là những trở ngại lớn cho những người nghiên cứu tiếp theo và rất khó sử dụng để tra cứu phục vụ cho công tác điều tra tài nguyên [25]
Tiếp theo là Phạm Hoàng Hộ, trong cuốn “Cây cỏ miền Nam Việt nam”, tập 2 (1972) và Cây cỏ Việt nam, tập 2 (1993), cũng đã có mô tả, vẽ
hình của phần lớn các loài của họ Apocynaceae ở Việt Nam Công trình của tác giả mang t nh khái quát, chưa dẫn tài liệu, không chỉ ra mẫu nghiên cứu để
so sánh nên cũng còn một số hạn chế để phục vụ phân loại [25]
Hoàng Thị Sản, năm 2006, trong cuốn Phân loại học thực vật, Nxb
Giáo dục cũng đã nêu khái quát chung các đặc điểm của họ Apocynaceae và cho biết họ này gồm khoảng 200 chi và 2.000 loài, phân bố rộng rãi khắp thế giới, chủ yếu ở miền nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở nước ta có khoảng 50 chi
như: Adenium, Aganonerion, Alstonia, Strophanthus, Catharanthus, Thevetia, với khoảng 170 loài, thường mọc trên các đồi hoặc ở rừng thưa,
một số loài cây trồng Chất nhựa mủ trong cây ở họ Trúc Đào thường có t nh
độc (như ở các chi Nerium, Strophanthus), hoặc có vị đắng y học dùng làm
thuốc Ở một số t cây chất nhựa trắng này lại có t nh đàn hồi như Cao Su Trong cây, sợi libe rất vững chắc và dài, có thể dùng lấy sợi Do đó việc nghiên cứu một số hợp chất thứ cấp (alkaloid, glycozid tim, ) là rất cần thiết
để phòng ngừa cũng như sử dụng chúng vào mục đ ch chữa bệnh [31]
Đặc biệt, trong Thực vật chí Việt nam, Tập 5: Họ Trúc đào -
Apocynaceae của Trần Đình Lý (2005) Tác giả không chỉ nghiên cứu đặc điểm hình thái các loài, hệ thống phân loại, mối quan hệ thân cận giữa các chi
mà còn phát hiện ra nhiều loài mới của Apocynaceae ở Việt nam và đưa ra khóa phân loại chi tiết cho họ này [25]
Trang 23Từ những công trình mang ý nghĩa khoa học đó, các nhà khoa học
đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của hệ thống phân loại thực vật
ở một lúc nào đó hay như một đáp ứng với các t n hiệu bên ngoài
Tại sao cây lại sản xuất những hợp chất này đến nay chưa rõ hết được Trong nhiều trường hợp, thực vật tạo ra các hợp chất thứ cấp để chống lại các nhân tố vô sinh và hữu sinh tác động lên nó Trong các trường hợp khác, hợp chất thứ cấp không có chức năng thật sự và hiện diện như một kết quả của sự ngẫu nhiên trong quá trình phân kỳ tiến hoá của các t nh trạng không có t nh chất rõ rệt cho sự tồn tại [2]
Lượng hợp chất thứ cấp tạo ra thường rất nhỏ, nhưng chúng có khả năng tiềm ẩn hoạt t nh sinh học rất mạnh ngay cả khi chúng được tổng hợp thấp hơn 1% trọng lượng mô thực vật Do đó, những hợp chất này có khả năng gây
độc đối với những loài ăn cỏ Senecio vulgaris là một v dụ về loài cỏ gây
độc, hoa của nó có chứa Allca Senecionine và Seneciphylline và các N - oxide, các hợp chất này gây độc đối với một số loài động vật ăn cỏ
Các hợp chất thứ cấp có thể được sản xuất trong các loại tế bào đặc biệt như tế bào tuyến tiết, lông tơ biểu mô, nơi mà chúng được tiết ra có chức năng như các chất xua đuổi hay dẫn dụ Nhiều hợp chất tự nhiên của thực vật đặc biệt quan trọng đối với con người do các ứng dụng y học của chúng: 25% tất cả các loại thuốc của chúng ta lấy từ thực vật Một số trong chúng được sử dụng ở lượng lớn (đã có thời điểm lượng quinine và quinidin
Trang 24thương mại vượt mức 200.000 kg/năm) trong khi những hợp chất khác rất t
và có lượng tiêu thụ toàn cầu khoảng vài kilogam
1.5.2 Hợp chất alkaloid
1.5.2.1 Khái niệm về alkaloid
Đã từ lâu các nhà khoa học tìm thấy trong cây các hợp chất tự nhiên, những hợp chất này thường là những axit hoặc những hợp chất trung t nh Đến năm 1806 một dược sĩ Friedrich Wilhelm Sertuner phân lập được một chất từ nhựa thuốc phiện có t nh kiềm và gây ngủ mạnh đã đặt tên là Morphin Năm 1810 Gomes chiết được chất kết tinh từ cây Canhkina và đặt tên nó là
“Cinchonino” Đến năm 1819, một dược sĩ là Wilhelm Meissner đề nghị xếp các chất lấy từ thực vật ra thành một nhóm riêng và ông đề nghị gọi là alkaloid, do đó người ta ghi nhận Meissner là người đầu tiên đưa ra khái niệm
về alkaloid
Sau này người ta cũng đã tìm thấy alkaloid không những có trong thực vật mà có trong động vật như cóc Bufo chứa những chất độc như Bufotenin, bufotenidin,
Ngoài t nh kiềm, alkaloid còn có những đặc t nh khác như có hoạt t nh sinh học mạnh, có tác dụng với một số thuốc thử gọi là thuốc thử chung của alkaloid Sau này Pôlônôpski đã định nghĩa: “Alkaloid là những hợp chất hữu
cơ có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường gặp trong thực vật và đôi khi trong động vật, thường có dược lực t nh mạnh và cho những phản ứng hoá học với một số thuốc thử chung của alkaloid”
Người ta đã biết tận dụng nhiều alkaloid làm thuốc trị bệnh có giá trị, các alkaloid có phản ứng kiềm và có tác dụng dược lực mạnh với một liều nhỏ Chúng có tác dụng mạnh nhiều hay t lên hệ thần kinh trung ương và thường là trên hệ thần kinh thực vật Một số alkaloid được xếp vào những loại thuốc có độc mạnh như: cocain, morphin, colchicin [2]
Trang 251.5.2.2 Phân bố alkaloid
Alkaloid có phổ biến trong thực vật ngoài ra ở một số t động vật cũng tìm thấy Ngày nay đã biết khoảng 6000 alkaloid từ hơn 5000 loài, hầu hết ở thực vật bậc cao chiếm khoảng 15 - 20% tổng số các loài cây [2]
Cromwell (1955) ước t nh alkaloid phân bố khoảng một phần bảy trong tổng số họ thực vật có hoa Một ước t nh khác Hegnener (1963) cho rằng alcaloit có từ 12 - 20% trong tổng số cây có nhựa Còn Willanam và Schubert (1955) thì cho rằng trong hơn 3000 họ của ngành hạt k n thì 1/3 họ có chứa alkaloid Nhiều tổng kết cho thấy đại đa số cây có chứa alkaloid là cây hai lá mầm, chỉ có một số t cây một lá mầm và nghành hạt trần
Trong cây alkaloid tập trung chủ yếu trong các tổ chức sinh trưởng hoạt động mạnh nhất, ở tổ chức nội bì và ngoại bì và các tổ chức nhựa mủ Alkaloid thường tập trung ở một số bộ phận nhất định, v dụ: alkaloid tập trung ở hạt Mã tiền, cà phê, ở quả như ớt, hồ tiêu; ở lá như coca, thuốc lá, ở hoa như canhkina; ở rễ như ba gạc, lựu
Sự biến động hàm lượng alkaloid của một tổ chức trong quá trình sinh trưởng rất đáng kể: hàm lượng alkaloid tăng nhanh trong giai đoạn phát triển tế bào và hoá không bào và giảm dần trong giai đoạn già cỗi (Sinden et al, 1973) Hàm lượng alkaloid trong cây phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kh hậu, ánh sáng, chất đất, phân bón, giống cây, bộ phận thu hái và thời kỳ thu hái [2]
1.5.2.3 Cấu tạo hoá học và phân loại
Alkaloid là những bazơ bậc 1, bậc 2, bậc 3 đôi khi là các amoni hydrat bậc 4 Hầu hết alkaloid có nitơ tham gia vào nhân dị vòng, nhưng cũng có alkaloid mà nitơ ở ngoài vòng
Alkaloid được phân loại tuỳ theo cấu trúc của nhân:
- Alkaloid không có nhân dị vòng
- Alkaloid có nhân sterol
- Alkaloid có cấu trúc terpen
Trang 261.5.2.4 Sinh tổng hợp alkaloid trong cây
Trước đây người ta cho rằng nhân cơ bản của các alkaloid là do các chất đường hay thuộc chất của đường kết hợp với amoniac để có nitơ mà sinh ra Ngày nay bằng phương pháp dùng các nguyên tử đánh dấu (đồng vị phóng xạ) người ta đã chứng minh được alkaloid được tạo ra từ các axit amin [2]
Qua nghiên cứu ở các bộ phận khác nhau của cây và theo dõi sự thay đổi của chúng trong quá trình phát triển của cây người ta thấy nơi tạo ra alkaloid không phải luôn luôn là nơi t ch tụ alkaloid Nhiều alkaloid được tạo
ra ở rễ lại vận chuyển lên phần trên mặt đất của cây, sau khi thực hiện những biến đổi thứ cấp chúng được t ch luỹ ở lá, quả hoặc hạt [2]
1.5.2.5 Tính chất h a học c a al aloid
- Hầu hết alkaloid đều có t nh bazơ yếu, song cũng có chất có tác dụng như bazơ mạnh có khả năng làm xanh qùi như nicotin, cũng có chất có t nh bazơ rất yếu như cafein, piperin,
Do có t nh bazơ yếu nên có thể giải phóng alkaloid ra khỏi muối của nó bằng những kiềm trung bình và mạnh như NH4OH, NaOH,
- Tác dụng với các axit, alkaloid cho các muối tương ứng
- Các alkaloid cho phản ứng với một số thuốc thử gọi là thuốc thử chung của alkaloid Những phản ứng chung này được chia làm 2 loại: Phản ứng tạo màu và phản ứng tạo tủa [2]
1.5.2.6 Tầm quan trọng trong dược liệu
Alkaloid nói chung là những chất có hoạt t nh sinh học, có nhiều chất rất độc Tác dụng của alkaloid thường khác nhau và tác dụng của vị dược liệu không phải bao giờ cũng giống như các alkaloid tinh khiết đã được phân lập
Nhiều alkaloid tác dụng lên hệ thần kinh trung ương gây ức chế như morphin, codein, reserpin hoặc gây k ch th ch như strychnine, cafein, lobelin
Trong số alkaloid có chất gây tê tại chỗ (cocain), có chất có tác dụng làm giảm cơ trơn, chống co thắt (papaverin) Có alkaloid làm tăng huyết áp, có chất làm hạ huyết áp, một số alkaloid có tác dụng trên tim như ajmalin, quinidin và - fagarin được dùng làm thuốc chữa loạn nhịp tim [2]
Trang 27CHƯƠNG 2:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHI N VÀ HỘI KHU VỰC NGHI N CỨU
2.1 Điều kiện tự nhiên
Vườn quốc gia Vũ Quang thuộc tỉnh Hà Tĩnh, ở miền Trung Việt Nam Vườn quốc gia được tuyên bố là khu bảo tồn vào năm 1986 với tổng diện tớch 16.000 ha Năm 2002 Thủ tướng ch nh phủ k quyết định công nhận là Vườn quốc gia với tổng diện tớch là 55.035 ha Vũ Quang nằm ở vị tr quan trọng trong dãy Trường Sơn, xen giữa vườn quốc gia Pù Mát ở ph a bắc và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẽ Bàng ở ph a nam
Vườn quốc gia là một trong số các vùng sinh thái trọng yếu của thế giới Dãy Trường Sơn Bắc cũng được xác định là khu vực ưu tiên trong khu bảo tồn, VQG là một mắt x ch quan trọng trong chuỗi các khu bảo tồn tạo nên môi trường sống hết sức quan trọng cho hệ động, thực vật Vì các khu vực được bảo tồn nằm rải rác đến tận ph a Bắc và Nam của vườn trong địa phận Việt Nam và đến ph a Tây của vườn, trong địa phận Lào Khác với các khu vực được bảo tồn khác, cảnh quan Vườn quốc gia chưa biến đổi trầm trọng vì hiện tượng đốt nương làm rẫy chưa xẩy ra ở đây Vườn quốc gia là khu vực đầu nguồn quan trọng của tỉnh Hà Tĩnh vì 3 nhánh của con sông lớn nhất trong tỉnh bắt nguồn từ đây
2.1.1 Vị tr địa lý
Vườn quốc gia nằm cách Thành phố Hà Tĩnh 70 km về ph a tây Điều kiện địa lý của vườn rất độc đáo vì đường ranh giới ph a Bắc gần với biển Đông và cánh đồng bằng trũng (xấp xỉ 50km đường chim bay) Trong khi ph a Tây và ph a Nam đều là núi Đường ranh giới ph a Nam ch nh là đường biên giới với Lào Vườn quốc gia Vũ Quang nằm trong phần khu địa sinh học Bắc Trường Sơn, giữa vĩ tuyến 180 9‟ và 180
27‟ và giữa kinh tuyến và 1050 15‟ và 1050 35‟ VQG Vũ Quang thuộc huyện Vũ Quang tỉnh
Hà Tĩnh, là một huyện mới được thành lập năm 2000 dựa trên sự sát nhập 1
số xã thuộc huyện Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê của tỉnh Hà Tĩnh VQG Vũ Quang nằm trong xã Hương Đại cạnh đường mòn Hồ Ch Minh
Trang 28Hình 2: Bản đồ Vườn Quốc Gia Vũ Quang – Hà Tĩnh
2.1.2 Địa hình
VQG Vũ Quang nằm trong một vùng núi trung bình và một phần núi cao, chênh cao địa hình từ 30 - 2286m (đỉnh Rào Cỏ) Địa hình núi cao vực sâu thung lũng hẹp, độ dốc lớn, độ chia cắt sâu và dày
Địa hình đặc trưng bằng 3 kiểu sau:
- Kiểu đại hình núi diện t ch 31.180 ha, chiếm 56,6% diện t ch Vườn, phân
bố chạy dọc biên giới Việt Lào Độ cao của địa hình núi từ 301 - 2000m với nhiều đỉnh cao độ dốc 20 - 350
có nơi hơn 350 Đây là kiểu địa hình đặc trưng có ý nghĩa quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 29- Kiểu địa hình đồi đai cao dưới 300m có diện t ch 23.681 ha chiếm 43% tổng diện t ch VQG Độ dốc nhỏ hơn so với kiểu địa hình núi là từ 15 - 300
phân bố chủ yếu ở phân khu phục hồi sinh thái, chủ yếu các khu vực tiếp giáp vùng đệm Kiểu địa hình đồi có ý nghĩa trong việc phục hồi hệ sinh thái bản địa góp phần bảo tồn nguồn gen, đa dạng sinh học cho VQG
- Kiểu địa hình đồng bằng dốc tụ và thung lũng có diện t ch rất t 197 ha chiếm 0,4% toàn Vườn, phân bố theo dạng đồng bằng ở Hương Quang và dạng thung lũng ở Hoà Hải, hiện đang được sử dụng canh tác nông nghiệp và dân cư
Vườn quốc gia Vũ Quang nằm trong điạ phận hành ch nh 3 huyện Vũ Quang, Hương Khê và Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh Đây là khu vực cuối cùng của vùng Bắc Trường Sơn Vườn quốc gia có độ cao giao động từ 30m đến 2.286m Đỉnh cao nhất kà trên đỉnh Rào cỏ ở ph a Bắc của vườn, nằm ở biên giới Việt Lào Vườn quốc gia là nơi bắt nguồn của 3 lưu vực sông: Sông Nậm Rươi, sông Rào Nổ
và sông Khe Tre
2.1.3 Đất đai
Vườn quốc gia là một miền núi có địa hình đơn điệu đến hiểm trở, đất đai ở đây có nhiều loại nhưng chủ yếu tập trung các loại đất sam, đất feranit đỏ vàng, feranit đỏ nâu và nhóm đất thung lũng có phù sa lắng đọng th ch hợp cho trồng trọt
- Đất feranit đỏ vàng, đất feranit đỏ nâu tập trung ở núi thấp và trung bình có hàm lượng mùn trong lớp đất mặt trung bình, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình
- Đất feranit đỏ nâu phát triển trên đá vôi, đất feranit đỏ nâu phát triển trên đá
ba gian nằm ở độ cao trên 1800m nằm ở khu vực biên giới Việt Lào
2.1.4 Kh hậu, thuỷ văn
Vườn quốc gia có điều kiện kh hậu rất khác biệt Ở đây có 2 chế độ kh hậu khác nhau ở những khu vực thuộc đồng bằng, kh hậu chịu ảnh hưởng của cả gió mùa đông bắc và gió đông nam có nghĩa là chế độ kh hậu của miền trung Việt Nam Ở miền núi, chế độ kh hậu là sự kết hợp giữa kh hậu Lào và kh hậu miền Trung Việt Nam
Trang 30Ở đây có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 1, nhiệt độ mát và độ ẩm cao Mùa nóng từ tháng 2 đến tháng 8, mùa mưa có mưa lớn và lũ lụt từ tháng 9 đến tháng 11 Trong tháng 5 thỉnh thoảng có mưa to bất thường, tới mức có thể gây ra lũ lụt
C
Lượng mưa
Tổng lượng mưa trung bình hàng năm ở VQG là 230mm Mưa nhiều nhất là vào 2 tháng 9 và 10 (572mm đến 504mm) Số ngày mưa trong tháng tương đối đồng đều quanh năm từ 18 ngày ở Hương Sơn đến 10 - 18 ngày ở Hương Khê
Thuỷ văn
Nhìn chung Vũ Quang có hệ thống sông suối phát triển, đây là khu vực đầu nguồn của nhiều sông suối lớn Suối ở đây thường ngắn, dốc và nhiều thác ghềnh Với 16 suối lớn dài trên 10 km, rất nhiều suối nhỏ ngắn mật độ 2 km/km2
hình thành 3 hệ thống thuỷ rõ rệt
- Ph a tây có hệ thống sông Khe Tre chảy ra sông Ngàn Phố
- Sông Ngàn Trươi dài 30km, rộng 30 - 50m bắt nguồn từ các suối ven biên giới Việt Lào ở độ cao trên 1000m
- Sông Rào Nổ nằm ở ph a đông VQG tập trung nước của khe Măng Đắng
và Khe Nổ
Khi mưa lũ thường lên nhanh và rút cũng nhanh Tốc độ dòng chảy lớn nhất 819m3/s Mùa lũ thường chiếm 70 - 80% tổng lượng nước trong năm, phần lớn là lũ đơn, lũ cao nhất kéo dài 3 - 5 ngày, thời gian xuất hiện cực đại vào tháng 7 đến tháng 10 Mô đun dòng chảy trung bình 30 - 40 lít/s/km2
2.1.5 Thảm thực vật
VQG Vũ Quang có 5 kiểu rừng ch nh phân chia theo các đai cao khác nhau:
Trang 31- Rừng thường xanh trên đất thấp: phân bố ở đai cao 100 - 300m ở ph a Bắc
và đông Bắc VQG, rừng ở đây bao gồm trảng cỏ, cây bụi nhưng chủ yếu là rừng thứ sinh phục hồi trên đất thấp
- Rừng thường xanh trên núi thấp: phân bố trong khoảng đai cao từ 300 - 1000m, ở vùng trung tâm của VQG Rừng ở đai này chủ yếu là rừng thứ sinh có trữ lượng gỗ lớn
- Rừng thường xanh trung bình phân bố trên đai có độ cao từ 1000 - 1400m: Kiểu rừng này chủ yếu là các loài cây lá rộng, nhưng cũng có một số loài cây lá kim
thuộc các họ Kim giao Podocarpaceae và Hoàng đàn Cupressaceae, đặc biệt là loài
Pơ mu Fokienia hodginii
- Rừng thường xanh trên núi cao: phân bố trong khoảng đai cao từ 1400 - 1900m: Kiểu rừng này có một số loài cây lá kim, nhưng ưu thế là các loài họ Côm Eleocarpaceae, họ Dẻ Fagaceae, Long não Lauraceae, Mộc lan Magnoliaceae Đặc
biệt ở đây có loài Du sam Keteleeria evelyniana
- Rừng phân bố trên độ cao > 1900m: chủ yếu rừng lùn ở tận cùng ph a nam VQG Trên các đai cao này liên tục có mây mù che phủ, độ ấm lớn thuận lợi cho
việc phát triển kiểu rừng với ưu thế các loài Đỗ quyên Rhododendron sp Cùng với các loài cây thuộc họ Dẻ Fagaceae, Long não Lauraceae và họ Côm Eleocarpaceae
2.2 Điều kiện kinh tế xã hội
- Số dân trong vườn: 59 hộ, 329 nhân khẩu
- Số dân sống tại vùng đệm: 27.526 người có 13.837 lao động
- Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1.2%/năm
- Sơ bộ tình hình kinh tế của các hộ gia đình:
+ Số hộ nghèo: 28 hộ, chiếm 47%
+ Số hộ trung bình: 31 hộ, chiếm 53%
- Các loại hình kinh tế ở vùng đệm:
+ Số hộ làm nông nghiệp chiếm 93%
+ Số hộ làm tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chiếm 4%
+ Số hộ tham gia trồng rừng 3%
Trang 32Là huyện miền núi mới được thành lập, do đó người dân có những khó khăn nhất định về điều kiện kinh tế Cộng thêm trình độ dân tr còn thấp nên người dân phải vào rừng khai thác lâm sản, săn bắt động vật đã gây nên nhiều khó khăn trong việc bảo vệ tài nguyên rừng Để giải quyết được vấn đề này cần đẩy mạnh phát triển kinh tế nhằm nâng cao chất lượng sống cho nhân dân, đồng thời cần tuyên truyền bảo vệ đa dạng sinh học và phòng chống cháy rừng
Trang 33CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHI N CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm toàn bộ các loài thực vật thuộc họ Trúc đào ở Vườn quốc gia Vũ Quang - Hà Tĩnh
3.2 Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 6/2010 đến tháng 10/2011 Được chia làm 3 đợt thu mẫu, mỗi đợt thu mẫu kéo dài từ 7 - 10 ngày, sau mỗi đợt thu mẫu khi xử l , giám định và định loại mẫu
- Tháng 6/2010: Thu mẫu đợt 1
- Tháng 4/2011: Thu mẫu đợt 2
- Tháng 7/2011: Thu mẫu đợt 3
- Tháng 8-10/2011: Xử lý số liệu và viết luận văn
- Tháng 10-11/2011: Hoàn chỉnh luận văn và bảo vệ
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Thu mẫu và định danh một số loài thực vật thuộc họ Trúc đào
- Đánh giá đa dạng sinh thái về các sinh cảnh
- Phân t ch đa dạng về dạng sống và xây dựng phổ dạng sống của các loài trong họ Trúc đào
- Phân t ch đa dạng về các yếu tố địa lý
- Đánh giá đa dạng về nguồn gen và số loài nguy cấp trong họ Trúc đào
- Khảo sát sự có mặt của hợp chất alkaloid ở các loài cây trong họ Trúc đào
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu và xử lý mẫu
- Phương pháp thu mẫu ngoài thiên nhiên:
Dựa theo nguyên tắc thu mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn [38]
+ Đối với cây gỗ, cây bụi mỗi loại cây t nhất thu 2 - 3 mẫu, k ch cỡ phải đạt 29 x 41 cm, cắt tỉa bớt cành, lá, hoa vả quả nếu cần thiết
+ Đối với cây thân thảo: thu rễ, thân, lá
Trang 34+ Sau khi thu mẫu thì đánh số hiệu vào mẫu Đối với mẫu cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu Đặc biệt khi thu mẫu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên nhiên, nhất là các đặc điểm dễ mất khi khô như màu sắc, hoa, quả, lá, nhựa mũ,
+ Khi thu và ghi nhãn xong gắn nhãn vào mẫu, cho vào bao ni lông bỏ vào bao túi buộc lại sau đó mới đem về nhà xử lý
đó trình bày và khâu đ nh trên bìa giấy cứng crôki k ch thước 30 cm x 42cm
3.4.2 Xác định và kiểm tra tên khoa học
Đồng thời với việc xử lý mẫu thành những tiêu bản đạt yêu cầu, tiến hành xác định tên loài, thực hiện theo trình tự gồm các bước như sau:
Xác định tên loài: Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học
phải theo các nguyên tắc:
+ Sử dụng phương pháp hình thái so sánh là chủ yếu
+ Phân t ch tổng thể từ bên ngoài đến chi tiết bên trong
+ Phân t ch đi đôi với ghi chép
+ Phân t ch đi đôi với việc tra khóa xác định
+ Hoàn toàn trung thực, khách quan với mẫu thực
+ Khi tra khóa luôn đọc từng cặp đặc điểm đối nhau cùng một lúc để dễ phân định các cặp dấu hiệu
Các tài liệu ch nh dùng trong quá trình xác định tên khoa học bao gồm:
+ Cây cỏ Việt nam (Phạm Hoàng Hộ, 1991- 1993, 1999- 2000) [16], [17] + Trần Đình Lý (2005), Thực vật chí Việt nam, Tập 5: Họ Trúc đào -
Apocynaceae, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
Trang 35+ Tên cây rừng Việt nam (2001), Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn, Nxb nông nghiệp, Hà Nội
Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại
các tên khoa học để đảm bảo t nh hệ thống, tránh sự nhằm lẫn và sai sót Điều
chỉnh tên loài theo các tài liệu: “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam” của Võ
Văn Chi (2007) [11]
Bổ sung thông tin: Việc xác định các thông tin về đa dạng sinh học của
các loài về dạng sống, về yếu tố địa lý, về công dụng và tình trạng đe doạ, bảo tồn, ngoài các tài liệu trên, còn sử dụng các tài liệu khác như:
+ 1900 cây có ích (Trần Đình Lý, 1993) [26]
+ Sách đỏ Việt Nam (1996) [2]
+ Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997) [9]
+ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1999) [24]
+ Cây cỏ có ch ở Việt Nam (Võ Văn Chi Trần Hợp, tập I 1999, tập II 2002) [12]
-+ Từ điển thực vật thông dụng (Võ Văn Chi, 2003) [10]
3.4.3 Xây dựng bảng danh lục thành phần loài thực vật
Bảng danh lục thành phần loài thực vật được lập theo vần A, B, C…
theo Brummit (1992) Danh lục ngoài tên khoa học và tên Việt nam của các loài còn ghi các thông tin khác gồm: Dạng thân và công dụng
3.4.4 Phương pháp đánh giá đa dạng về các yếu tố địa lý thực vật
Việc thiết lập phổ các yếu tố địa lý, áp dụng sự phân chia của các tác giả Pocs Tamas (1965) và Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [38], hệ thực vật Việt Nam bao gồm các yếu tố ch nh như sau:
1 Yếu tố Toàn thế giới
2 Yếu tố liên nhiệt đới
2.1 Yếu tố nhiệt đới Á - Mỹ
2.2 Yếu tố nhiệt đới Á - Phi - Mỹ
2.3 Yếu tố nhiệt đới châu Á, châu Úc, châu Mỹ và các đảo Thái Bình Dương
Trang 363 Yếu tố cổ nhiệt đới
3.1 Yếu tố nhiệt đới Á - Úc
3.2 Yếu tố nhiệt đới Á - Phi
4 Yếu tố châu á nhiệt đới
4.1 Yếu tố lục địa Đông Nam Á - Malêsia
4.2 Lục địa Đông Nam Á
4.3 Yếu tố lục địa Đông Nam Á - Himalaya
4.4 Đông Dương - Nam Trung Quốc
4.5 Đặc hữu Đông Dương
5 Yếu tố Ôn đới
5.1 Ôn đới châu Á - Bắc Mỹ
5.2 Ôn đới cổ thế giới
5.3 Ôn đới Địa Trung Hải
5.4 Đông Á
6 Đặc hữu Việt Nam
6.1 Gần đặc hữu Việt Nam
6.2 Đặc hữu Việt Nam
7 Yếu tố cây trồng và nhập nội
Xây dựng phổ yếu tố địa lý thực vật: Sau khi đã phân chia các loài thuộc
vào từng yếu tố địa lý thực vật, tiến hành lập phổ các yếu tố địa lý để dễ dàng
so sánh và xem xét cấu trúc các yếu tố địa lý thực vật giữa các vùng với nhau
3.4.5 Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống
Căn cứ vào các thông tin thu thập từ các bộ thực vật ch tiến hành xác định và phân loại dựa theo vị tr của chồi so với mặt đất trong mùa bất lợi cho
sinh trưởng
1 Phanerophytes (Ph) - Cây có chồi trên đất
2 Chamephytes (Ch) - Cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (Hm) - Cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr) - Cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th) - Cây chồi một năm
Trang 37Trong nhóm cây chồi trên đất (Ph) Raunkiaer [49] chia làm các dạng tìm thấy ở vùng nhiệt đới ẩm (theo Thái Văn Trừng, 1978) [43] như sau:
1 Megaphanerophytes (Mg) - Cây có chồi trên đất lớn
2 Mesophanerophytes (Me)- Cây chồi trên đất vừa
3 Microphanerophytes (Mi) - Cây có chồi nhỏ trên đất
4 Nanophanerophytes (Na) - Cây có chồilùn trên đất
5 Lianophanerophytes (Lp) – Dây leo
6 Epiphytes (Ep) - Cây có chồi sống bám, sống bì sinh
7 Parasit-hemiparasite phanerophytes (Pp) - Cây ký sinh hay bán ký sinh
8 Herbaces phanerophytes - (Hp) - Cây có chồi trên thân thảo
9 Succulentes (Suc) - Cây chồi trên mọng nước
Xây dựng phổ dạng sống: Sau khi thống kê các loài theo các kiểu dạng
sống, chúng tôi tiến hành lập phổ dạng sống Dựa vào đó để đánh giá mức độ
đa dạng của điều kiện sống (nhân tố sinh thái) cũng như thấy được mức độ tác động của các nhân tố đối với hệ thực vật
3.4.6 Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ bị đe dọa
Dựa vào các tài liệu: Sách đỏ Việt Nam [1], Cây gỗ rừng Việt Nam [45], Từ điển Cây thuốc Việt Nam [9] để phân t ch thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá
3.4.7 Phương pháp định t nh alkaloid
Cân 3g dược liệu cho vào bình nón, thấm ẩm bằng dung dịch NH3 Thêm 30ml Chloroform, để yên trong 30 phút, thỉnh thoảng lắc đều Lọc, dịch lọc cho vào bình gạn lắc với 5ml dung dịch H2SO4 2 - 5% trong 2 - 3 phút Để lắng, gạn lấy dung dịch axit Cho vào 2 ống nghiệm, mỗi ống 1ml dịch chiết Thử bằng thuốc thử Mayer và Wagner Ống nghiệm nào có kết tủa chứng tỏ có alkaloid [1]
3.4.8 Xử lý số liệu bằng toán thống kê
Trung bình mẫu: X =
n
Xi n
i
1