Tuy nhiên, trong thực tiễn để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh theo hướng tích cực, người dạy cần phải có sự lựa chọn phương pháp phù hợp và phương tiện tham gia hỗ trợ như bài toá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2Cảm ơn Ban Giám Hiệu, các thầy cô giáo bộ môn sinh học ở các trường THPT Như Thanh, Như Thanh II, Nông Cống I, Nông Cống III, Nông Cống IV, Như Xuân ở tỉnh Thanh Hoá đã cộng tác và giúp tôi thực nghiệm thành công
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng chắc chắn đề tài này không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
Trang 33 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Giới hạn của đề tài
8 Dự kiến đóng góp mới của đề tài
PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng PHT dạy tự học
1.1 Lược sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài
1.1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
1.2 Cơ sở lý luận của việc xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học
1.3 Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng PHT để dạy học sinh học
1.3.1 Thực trạng xây dựng sử dụng PHT trong dạy học sinh học của GV THPT hiện nay
1.3.2 Thực trạng học tập sinh học của HS trong nhà trường THPT hiện nay
Chương II Xây dựng và sử dụng PHT để dạy tự học phần kiến thức sinh học VSV, SH 10 THPT
ii
Trang 42.1 Phân tích cấu trúc, nội dung phần kiến thức sinh học VSV sinh học 10 2.2 Xây dựng PHT
2.3 Phương pháp sử dụng PHT để dạy tự học phần sinh học VSV SH 10 THPT
Chương III Thực nghiệm sư phạm
3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 6Phần I MỞ ĐẦU
L h n t i
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT đã nêu: "phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh"
Hiện nay sự chuyển biến về phương pháp dạy hoc tích cực trong trường phổ thông nói chung và bộ môn sinh học nói riêng vẫn còn chậm, phổ biến vẫn là cách dạy thông báo kiến thức, cách học thụ động Do vậy cần đổi mới cách dạy theo
"Phương pháp dạy học tích cực"
Tuy nhiên, trong thực tiễn để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh theo hướng tích cực, người dạy cần phải có sự lựa chọn phương pháp phù hợp và phương tiện tham gia hỗ trợ như bài toán nhận thức, tình huống có vấn đề, câu hỏi, bài tập, phiếu học tập,… Trong đó sử dụng phiếu học tập dạy học có những ưu điểm lớn như hiệu quả cao, dễ sử dụng, sử dụng được trong nhiều khâu của quá trình dạy học Phiếu học tập không chỉ là phương tiện truyền tải kiến thức mà còn hướng dẫn cách tự học cho học sinh đồng thời qua đó rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo và xử
lí linh hoạt cho người học Phiếu học tập không chỉ tổ chức theo cá nhân mà có thể
tổ chức theo nhóm một cách có hiệu quả Vì vậy sử dụng PHT để dạy tự học sẽ giúp học sinh tự giác học tập, nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay
Phần Sinh học vi sinh vật thuộc chương trình Sinh học 10 (ban cơ bản), THPT là phần kiến thức mới và khó nhưng kiến thức này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông và khoa học về hình dạng kích thước tế bào vi sinh vật và vi rút Không dừng lại hiểu biết về vi sinh vật mà còn là cơ sở để giải thích các hiện tượng, các quá trình sinh học, ứng dụng vào thực tiễn đời sống và sản xuất để phòng ngừa một số bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường,…kích thích lòng ham hiểu biết niềm đam
Trang 7mê khoa học đặc biệt là kỹ thuật di truyền, công nghệ sinh học Vì vậy việc phát triển phương pháp tự học ở học sinh trong phần sinh học vi sinh vật là việc làm cần thiết
Với những lý do trên, để nâng cao chất lượng dạy học phần sinh học vi sinh
vật chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Xây ựng v sử ụng phiếu h tập ể ạy
tự h phần Sinh h vi sinh vật, Sinh h 0 -THPT”
Mụ h nghiên u
Xây dựng và sử dụng phiếu hoạt động học tập để dạy tự học phần sinh học
vi sinh vật sinh học 10 THPT nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Trang 8- Thực nghiệm xác định tính khả thi và hiệu quả của bộ phiếu học tập trong việc
tổ chức dạy học phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 THPT
- Nghiên cứu nội dung kiến thức phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 THPT
- Nghiên cứu tài liệu lý luận về PHT, nguyên tắc, kĩ thuật thiết kế và sử dụng PHT
Ph ng ph p huyên gi
- Trao đổi với những nhà sư phạm, các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu, từ
đó có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy học Sinh học 10 về bộ phiếu đã soạn làm
cơ sở chỉnh sửa và hoàn thiện bộ phiếu học tập
Ph ng ph p i u tr b n
- Đối tượng điều tra:
+ HS lớp 10 THPT
+ GV dạy chương trình sinh học 10 THPT
- Phương pháp điều tra: Thông qua phiếu điều tra, dự giờ, thăm lớp, trao đổi với
GV giảng dạy sinh học 10 THPT để:
+ Tìm hiểu việc sử dụng PHT của GV:
Kĩ năng soạn bài
Kĩ năng thiết kế PHT
Việc sử dụng PHT trong dạy học
+ Tìm hiểu việc lĩnh hội kiến thức của HS:
Ý thức học tập
Chất lượng lĩnh hội kiến thức
Các kỹ năng được rèn luyện trong học tập
- Nội dung điều tra: Mức độ tiếp thu kiến thức phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 THPT
Trang 9- Xây dựng hệ thống PHT phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 THPT
- Thiết kế giáo án cho lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
+ Lớp thực nghiệm: Giáo án được thiết kế có sử dụng PHT
+ Lớp đối chứng: Giáo án được thiết kế theo hướng dẫn trong SGV
- Tổ chức thực nghiệm tại trường THPT:
+ Chọn các trường thực nghiệm: Các trường thực nghiệm có đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy – học
+ Chọn GV thực nghiệm: GV dạy lớp TN cũng là GV dạy lớp ĐC
+ Chọn lớp ĐC và lớp TN phù hợp với tiêu chí đặt ra
+ Tiến hành thực nghiệm: Quá trình TN được tiến hành vào học kì II năm học 2010 – 2011
+ Xây dựng hệ thống câu hỏi khảo sát chung cho cả lớp TN và lớp ĐC
- Phân tích kết quả thực nghiệm:
+ Phân tích định lượng qua các tham số thống kê
+ Phân tích định tính dựa vào không khí lớp học và tỉ lệ học sinh tham gia phát biểu xây dựng bài
Ph ng ph p th ng ê t n h
Tính các tham số đặc trưng:
+ Điểm trung bình X: Là tham số xác định gía trị trung bình của dãy số thống
kê, được tính theo công thức sau: i
i
i x n n
2
Trang 10+ Độ lệch tiêu chuẩn: Biểu thị mức độ phân tán của các số liệu quanh giá trị
TN
DC TN
n
S n S
X X Td
2 2
Trong đó: S2TN: Phương sai của lớp TN
S2ĐC: Phương sai của lớp đối chứng
nTN: Số bài KT của lớp TN
nĐC: Số bài KT của lớp ĐC Giá trị tới hạn của td là t tra trong bảng phân phối student với = 0.05 và
bậc tự do f = n1 + n2 - 2 Nếu ltdl> t thì sự sai khác của các giá trị TB ĐC và TN là
có ý nghĩa
Các số liệu điều tra cơ bản được xử lý thống kê toán học trên bảng Excel,
tính số lượng và % số bài đạt các loại điểm và tổng số bài có điểm 5 trở lên làm cơ
sở định lượng, đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức từ đó tìm ra nguyên nhân ảnh
hưởng đến chất lượng học tập
Các số liệu xác định chất lượng của lớp ĐC và TN được chi tiết hoá trong đáp
án bài kiểm tra và được chấm theo thang điểm 10
i i hạn t i
Xây dựng và sử dụng PHT phần sinh học VSV trong các khâu của quá
trình dạy học nhằm nâng cao khả năng tự học cho học sinh
8 Dự iến óng góp i ủ t i
- Xây dựng bộ PHT phần kiến thức sinh học Vi sinh vât sinh học 10 THPT
- Thiết kế bài soạn sử dụng PHT để dạy tự học phần sinh học vi sinh vật sinh
học 10 THPT
Trang 11Phần II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ
SỬ DỤNG PHT DẠY TỰ HỌC
1.1 L sử nghiên u liên qu n ến t i
1.1.1 Tình hình nghiên u trên thế gi i ó liên qu n ến t i
Đổi mới PPDH theo hướng dạy HS cách tự học, áp dụng các PPDH phát huy tính tích cực học tập ở HS, với cách thức tổ chức hoạt động tự lực, chủ động đã trở thành xu hướng của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực Sử dụng PHT để dạy
tự học là một trong những PPDH nhằm phát huy tính tích cực học tập ở HS Trên thế giới PPDH phát huy tính tích cực học tập ở học sinh có mầm mống từ cuối thế
kỷ XIX, được phát triển từ những năm 20 và phát triển mạnh từ những năm 70 của thế kỷ XX [16]
Ở Anh năm 1920 vấn đề sử dụng “phương pháp dạy học tích cực” bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và sử dụng trong trường học
Ở Pháp, vào những năm 1920 đã hình thành những “nhà trường mới”, đặt vấn đề phát triển năng lực ở tr , khuyến khích các hoạt động do chính học sinh tự quản Mọi hoạt động giáo dục đều phải lấy HS làm trung tâm, coi trọng việc rèn luyện phương pháp tự dành lấy kiến thức
Năm 1950 ở các nước Liên xô(cũ), Pháp, Ba Lan, Tiệp khắc, Cộng hòa dân chủ Đức, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh bắt đầu được quan tâm, nghiên cứu và đem vào sử dụng
Ở Hoa K ý tưởng dạy học cá nhân hóa ra đời trong những năm 1970, đã được thử nghiệm gần 200 trường: Giáo viên xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướng dẫn (PHT) để học sinh tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực [21]
Ở Hàn Quốc: Từ thập niên 90 tới nay, giáo dục hướng vào giai đoạn hậu công nghiệp Để đáp ứng đòi hỏi mới đặt ra do sự bùng nổ kiến thức và sáng tạo kiến thức mới cần phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và tính sáng tạo[21]
Trang 12Ở Thái Lan đang tiến hành một chương trình giáo dục mới được giảm tải 1/3 kiến thức so với chương trình cũ, thay phương pháp học vẹt bằng cách phát huy tính sáng tạo của HS[7]
Dạy học phát huy tính tích cực học tập ở HS đã được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu Ở thế kỉ XVII, A.Kômenski đã viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn” [19]
Trong quá trình dạy học phải đề ra một phương pháp sao cho học sinh hứng thú học tập.Đó là khẳng định của X.L.Rubixtein (1946)
R.C Sharma (1988) cho rằng: Mục đích của PPDH tích cực là phát triển ở
HS kĩ năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết các vấn đề… Vai trò của GV
là tạo ra những tình huống để phát triển vấn đề, giúp HS nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận” [18]
R.R.Singh (1991) cho rằng: Người học được đặt ở vị trí trung tâm của hệ giáo dục, vừa là mục đích lại vừa là chủ thể của quá trình học tập, “quá trình học tập
do người học điều khiển” Tác giả đã viết: “Làm thế nào để cá thể hóa quá trình học tập để cho tiềm năng của mỗi cá nhân được phát triển đầy đủ đang là một thách thức chủ yếu đối với giáo dục” [18]
Như vậy trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS Các nước trên thế giới cũng đã đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tự học của HS
1.1.2 Tình hình nghiên u tr ng n ó liên qu n ến t i
Ở nước ta, từ những năm 1960 dạy học bằng phương pháp tích cực, chủ động
đã được đề cập tới ở cấp độ các chỉ thị và các phong trào thi đua “ dạy tốt, học tốt” Nhiều khẩu hiệu quyết tâm đổi mới PPDH “ Biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo, Học di đôi với hành”, nhưng do nhiều nguyên nhân mà sự phát triển của phong trào này còn rất hạn chế Ngày nay để đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì mục tiêu của giáo dục là hướng tới việc đào tạo ra những con người có tri thức, có kỹ năng và thái độ đúng đắn, muốn vậy phải đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, trong đó có đổi mới PPDH
Trang 13Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1- 1993) Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (12- 1996), được thể chế hoá trong luật giáo dục (2005), được cụ thể hoá trong các chỉ thị của bộ giáo dục và đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4- 1999) [5]
Luật giáo dục điều 28.2,đã ghi “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với các đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [5]
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Cùng với định hướng đổi mới phương pháp dạy và học của Đảng, Nhà nước đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục về đổi mới phương pháp giáo dục- dạy học như:
GS.TS Trần Bá Hoành: “ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”- Viện KHGD, 9/1993; “ Phương pháp tích cực”- NCGD số 3/1996
GS.TS Đinh Quang Báo: “ Dạy học sinh học ở trường phổ thông theo hướng hoạt động hoá người học” - Kỷ yếu hội thảo khoa học, 1/1995; “ Phát triển hoạt động nhận thức của học sinh trong các bài sinh học ở trường phổ thông Việt Nam” – 1981
PGS.TS Nguyễn Đức Thành: “ Năng cao chất lượng giảng dạy các quy luật
di truyền” - Luận án phó tiến sĩ, 1989
Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nguyễn K , Vũ Văn Tảo, Bùi Tường, “ Quá trình dạy - tự học”, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1997
Nguyễn Văn Duệ (chủ biên), Trần Văn Kiên, Dương Tiến sỹ “ Dạy học giải quyết vấn đề trong bộ môn sinh học”, Nxb Giáo dục, 2000
Đing Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, “ Lý luận dạy học sinh học”, 1996 PGS.TS Nguyễn Đình Nhâm, “ Hình thành và phát triển khái niệm di truyền học ở trường THPT Việt Nam” Luận án TS, 1996
Nguyễn Phúc Chỉnh: “ Phương pháp Grap trong dạy học sinh học”, Nxb Giáo dục, 2005
Gần đây có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề sử dụng PHT để tổ chức hoạt động học tập cho HS, có thể kể ra một số nghiên cứu sau:
Trang 14“Phiếu học tập – phương pháp dạy học có sử dụng phiếu học tập” Nguyễn Thị Dung, thông tin khoa học giáo dục số 45/1994 cho biết: Phiếu học tập là công
cụ để giáo viên tổ chức hoạt động khai thác và lĩnh hội kiến thức theo hướng định trước của giáo viên
Nguyễn Thị Dung: “ Dạy học giải quyết vấn đề có sử dụng PHT” - Luận án phó tiến sỹ, 1995
Nguyễn Thị Thanh Chung: “Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy học các khái niệm trong chương các quy luật di truyền sinh học 11- THPT” Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, 2006
Lê thị Việt An: “Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để tổ chức hoạt động dạy học phần sinh thái học lớp 12 THPT” - Luận văn thạc sỹ giáo dục, 2009
Nguyễn Viết Trung: “ Xây dựng và sử dụng phiếu học tập để dạy tự học chương I - phần di truyền học sinh học 12 THPT nâng cao” - Luận văn thạc sỹ giáo dục, 2009 Còn nhiều những nghiên cứu về vấn đề xây dựng và sử dụng PHT trong dạy học của các tác giả là học viên sau đại học, khoá luận tốt nghiệp đại học của sinh viên Tuy nhiên việc xây dựng và sử dụng PHT để dạy tự học còn ít tác giả nghiên cứu Phần sinh học VSV SH 10 THPT chưa có đề tài nghiên cứu về xây dựng sử dụng PHT để dạy tự học Vì thế chúng tôi tiến hành nhiên cứu vấn đề này
1.2.C sở l luận ủ việ xây ựng v sử ụng PHT tr ng ạy h
Kh i niệ phiếu h tập
Phiếu học tập hay còn gọi là phiếu hoạt động hay phiếu làm việc
Phiếu học tập là những tờ giấy rời, in sẵn những công tác độc lập hay làm theo nhóm nhỏ, được phát cho học sinh để hoàn thành trong một thời gian ngắn của tiết học Trong mỗi phiếu học tập có ghi rõ một vài nhiệm vụ nhận thức nhằm hướng tới hình thành kiến thức, kỹ năng hay rèn luyện thao tác tư duy để giao cho học sinh
Nội dung hoạt động được ghi trong PHT có thể là tìm ý điền tiếp hoặc tìm thông tin phù hợp với yêu cầu của hàng và cột, hoặc trả lời câu hỏi Nguồn thông tin
để HS hoàn thành PHT có thể từ tài liệu giáo khoa, từ hình vẽ, từ các thí nghiệm, từ
mô hình, mẫu vật, sơ đồ hoặc từ những mẫu tư liệu được GV giao cho mỗi HS sưu tầm trước khi học
Trang 15Ví dụ: Đọc thông tin mục I trang 114 SGK Sinh học 10 và hoàn thành sơ
đồ sau bằng cách điền tiếp vào dấu “….”
Các thao tác, công việc học sinh cần thực hiện là:
- Đọc thông tin mục II SGK sinh học 10 trang 114
- Quan sát sơ đồ trong PHT
- Tìm ý thích hợp
- Điền vào phiếu và hoàn thành PHT
* Phần quy định thời gian thực hiện:
Hoàn thành PHT phải thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định tu vào khối lượng công việc mà thời gian có thể là 5 phút, 10 phút, dài hơn hoặc ngắn
hơn Ngoài ra cũng cần căn cứ vào trình độ học sinh, thời gian tiết học
Tuy nhiên phần này không bắt buộc phải để trong PHT, nó có thể được giáo viên thông báo bằng lời trong quá trình phát phiếu
* Phần đáp án:
Thường tách biệt với các phần trên được sử dụng để giáo viên chỉnh sửa,
bổ sung cho học sinh hay căn cứ đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho học sinh
Trang 16Ví dụ : Một PHT đầy đủ có cấu trúc như sau:
PHT : ặ iể sinh tr ởng ủ quần thể vi huẩn tr ng nuôi ấy hông liên
1 Pha tiềm phát a Số tế bào trong quần thể giảm dần do
thiếu chất dinh dưỡng, chất độc hại tích luỹ quá nhiều
1……
2 Pha luỹ thừa( pha log) b Số lượng vi khuẩn trong quần thể đạt
cực đại và không đổi theo thời gian
2……
3 Pha cân bằng c Vi khuẩn thích nghi với môi trường,
số lượng tế bào trong quần thể chưa tăng, enzim cảm ứng được hình thành để phân giải cơ chất
3……
4 Pha suy vong d Vi khuẩn sinh trưởng với tốc độ lớn
nhất và không đổi, số lượng tế bào trong quần thể tăng lên rất nhanh
4……
Thời gian hoàn thành : 5 phút
Đáp án ( sẽ ghi ở phần riêng)
1.c ; 2.d ; 3.b ; 4.a
Yêu ầu s phạ ủ phiếu h tập
Qua các dạng PHT nêu ở trên ta thấy khi xây dựng PHT cần chú ý đến
các yêu cầu sư phạm sau:
- Phải thực sự là phương tiện để hình thành kiến thức, kỹ năng
- Phải thực sự là phương tiện giúp học sinh tự lực trong học tập
- Phiếu phải diễn đạt rõ các điều kiện cho và yêu cầu công việc phải hoàn thành, các thao tác cần thực hiện
Trang 17Phân l ại phiếu h tập
Căn v ụ h l luận ạy h
PHT ùng ể hình th nh iến th i:
Trong quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu kiến thức mới GV có thể
sử dụng phiếu kết hợp với SGK, học sinh thảo luận sau đó đưa ra ý kiến thống nhất hoặc trong một số phần kiến thức gần giống với phần đã học trước đó GV có thể cung cấp PHT cho học sinh, học sinh tự nghiên cứu trên lớp hoặc về nhà vận dụng kiến thức đã học để hoàn thành PHT theo quy định
Ví dụ 1: Khi dạy mục II.2, bài 22, SH 10, ta có thể sử dụng PHT sau
Nghiên cứu mục II.2, bài 22, SGK SH10, tìm ý phù hợp điền vào ô trống trong bảng sau;
khắc sâu kiến thức, giúp học sinh hoàn thiện những kiến thức vừa được lĩnh hội
Ví dụ 2: PHT: So sánh sinh sản của VSV nhân sơ và sinh sản của VSV
Trang 18PHT ùng ể iể tr , nh gi :
Được dùng trong các bài kiểm tra 1 tiết, 15 phút, kiểm tra 1 k , kiểm tra năm học Giúp học sinh khắc sâu, hệ thống hoá lại kiến thức, giúp giáo viên nắm bắt được
tình hình học tập của học sinh để điều chỉnh lại phương pháp dạy học cho phù hợp
Ví dụ 3: Nghiên cứu sơ đồ sau và trả lời các câu hỏi
1 Vi rút lai có dạng như thế nào?
2 X là chủng vi rút gì? Vì sao?
(Thời gian hoàn thành: 7 phút)
Căn v nguồn thông tin sử ụng ể h n th nh PHT
PHT h i th ênh hữ
Thường dùng trong các khâu dạy bài mới, nội dung của phiếu dạng này đi kèm với kênh “đọc thông tin” hay “nghiên cứu mục, bài…” Kiến thức SGK phần lớn được đề cập dưới dạng kênh chữ, do đó PHT dạng này có vai trò trong việc định hướng cho học sinh cách đọc, cách thảo luận để từ đó HS tự chiếm lĩnh tri thức
Ví dụ 4: Nghiên cứu thông tin trang 114, SGK sinh học 10, tìm ý phù hợp
điền vào chỗ có dấu chấm hỏi (?)ở sơ đồ sau
Chủng
vi rút A
Nhiễm vào cây
Vi rut lai
Axit nucleic B
Trộn
Tách
ProteinA
Phân lập Tách
X Chủng
vi rút B
Trang 19(Thời gian hoàn thành: 4 phút)
b PHT khai thác kênh hình
Hệ thống tranh ảnh, hình vẽ được xem là một trong những phương tiện trực quan của quá trình dạy học, có vai trò rất lớn trong việc truyền tải thông tin Việc sử dụng PHT khai thác kênh hình có vai trò lớn trong việc định hướng cho HS khai thác nội dung hình vẽ, tranh ảnh Đây được xem là dạng phiếu tích cực với học sinh,
có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học giúp học sinh phát triển
kỹ năng quan sát, phân tích Nguồn thông tin để hoàn thành PHT là kênh hình trong SGK, tranh ảnh, phim tư liệu
Ví dụ 5: Quan sát hình 29.1, bài 29 SGK SH 10 Hãy chỉ ra những điểm
giống nhau và khác nhau về cấu tạo của virut trần và virut có vỏ ngoài bằng cách điền ý thích hợp vào ô trống trong bảng sau:
Thành phần cấu tạo giống
Trang 20PHT h i th ênh hữ v ênh hình
So với hai dạng trên thì dạng này phổ biến hơn nhiều bởi chương trình SGK đổi mới có cả kênh chữ và kênh hình đi kèm với nhau Dạng này yêu cầu học sinh vừa đọc thông tin, vừa quan sát hình mới có thể hoàn thành PHT
Ví dụ 6: Nghiên cứu mục II.1, kết hợp quan sát hình 25, bài 25 SGK
SH10, tìm ý phù hợp điền vào các ô trống của bảng sau cho phù hợp
Pha tiềm phát
Pha luỹ thừa
Pha cân bằng
Pha suy vong
(Thời gian hoàn thành: 7 phút)
1.2.3.3 Căn v ụ tiêu rèn luyện ỹ năng
Theo giáo sư Trần Bá Hoành có 6 dạng phiếu học tập
Dạng :Phiếu ph t triển ỹ năng qu n s t
Trên PHT dạng này có các tranh vẽ, sơ đồ và câu hỏi yêu cầu quan sát mẫu vật, tranh vẽ, mô hình
Ví dụ 7: Nghiên cứu mục I, quan sát hình 30, bài 30, SGK SH10 hãy xác
định diễn biến từng giai đoạn nhân lên của virut bằng cách hoàn thành bảng sau:
(Thời gian hoàn thành: 8 phút)
b Dạng : Dạng PHT ph t triển ỹ năng phân t h:
Dạng PHT này hướng sự chú ý của HS vào việc nghiên cứu chi tiết những vấn đề khá phức tạp, nắm vững những sự vật hiện tượng gần giống nhau, những khái niệm có nội hàm chồng chéo một phần, qua đó tập dượt cho HS phương pháp
so sánh phân tích để áp dụng vào những trường hợp tương tự
Trang 21Ví dụ 8: Nghiên cứu bảng số liệu về sự phân chia của E.coli, trang 99, bài 25
SGK SH10 và trả lời các câu hỏi sau:
1 Số tế bào con được tạo thành từ 1 tế bào mẹ sau n làn phân chia là bao nhiêu?
2 Nếu biết thời gian t và số lần phân chia n, có thể tính g theo công thức nào?
3 Tổng số tế bào con được tạo thành từ N0 tế bào ban đầu sau thời gian t qua
n lần phân chia là bao nhiêu?
(Thời gian hoàn thành: 7 phút)
Dạng : Dạng PHT ph t triển ỹ năng s s nh
Khi dạy các khái niệm mang tính chất ngang hàng, tương đương nhau, nội hàm và ngoại diên có một phần chồng chéo nhau có thể yêu cầu HS lập bảng so sánh để phân biệt những điểm khác nhau giữa các khái niệm đó
Ví dụ 9: Nghiên cứu mục III, bài 22 SGK, SH 10 phân biệt giữa hô hấp hiếu
khí, hô hấp kị khí và lên men bằng cách điền ý thích hợp vào ô trống trong bảng sau:
(Thời gian hoàn thành: 8 phút)
d Dạng : Dạng PHT ph t triển ỹ năng quy nạp, h i qu t
Ví dụ 10: Nghiên cứu 2 ví dụ sau rồi trả lời các câu hỏi
VD1: Bệnh AIDS do virut HIV gây ra, lây từ người này sang người khác
VD2: Bệnh cảm lạnh do bị nhiễm lạnh, không lây từ người này sang người khác
Trang 22Câu hỏi:
a Trong 2 loại bệnh trên, bệnh nào là bệnh truyền nhiễm, bệnh nào không phải
là bệnh truyền nhiễm?
b Thế nào là bệnh truyền nhiễm?
(Thời gian hoàn thành: 5 phút)
e Dạng : Dạng PHT ph t triển ỹ năng suy luận, xuất gi thuyết
Dạng PHT này được sử dụng để gợi ý cho HS xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ, có thói quen suy nghĩ sâu sắc, có óc hoài nghi khoa học Từ đó HS nắm được kiến thức một cách tích cực và phát triển được tư duy suy luận, các vấn
đề mâu thuẫn đề ra trong học tập cũng như trong đời sống
Ví dụ 11 : Khi dạy mục II.2, bài 27, SH10, có thể sử dụng PHT sau
Hãy giải thích các hiện tượng sau 1.Tại sao các loại hạt ngũ cốc ( gạo, ngô, ) chứa nhiều nước rất dễ bị hư hỏng ?
2.Theo em, làm thế nào để bảo quản các loại hạt ? Tại sao ?
(Thời gian hoàn thành 5 phút)
f Dạng : Dạng PHT vận ụng iến th ã h
HS sau khi học xong phần sinh học VSV sinh học 10, HS có thể vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống để giải thích các hiện tượng thường gặp trong thực tiễn, đó là nhu cầu tự nhiên muốn áp dụng kiến thức mới học vào trong đời sống, sản xuất
Ví dụ 12 : Khi dạy hết bài 23, SH10, GV yêu cầu HS hoàn thành PHT sau
Hãy ghép nội dung ở cột I và cột II cho phù hợp và ghi phương án trả lời vào cột III
1 Tổng hợp protein a Sản xuất gôm sinh học 1
2.Tổng hợp polysaccarit b Sản xuất rượu, giấm 2
3 Phân giải protein c Sản xuất axitamin 3
4 Phân giải polysaccarit d Làm nước mắm, nước tương 4
(Thời gian hoàn thành : 3 phút)
Trang 231.2.4 V i trò ủ phiếu h tập tr ng ạy-h
1.2.4 Phiếu h tập l ột ph ng tiện truy n t i nội ung ạy h
Trong quá trình dạy học PHT được sử dụng như một phương tiện để truyền tải kiến thức, nội dung của phiếu chính là nội dung hoạt động học tập của học sinh Thông qua việc hoàn thành các yêu cầu nhất định trong phiếu một cách độc lập hay
có sự trợ giúp của giáo viên mà học sinh lĩnh hội được một lượng kiến thức tương ứng
Phiếu h tập l ột ph ng tiện hữu h tr ng việ rèn luyện ỹ năng h h sinh
Để hoàn thành được các yêu cầu do PHT đưa ra học sinh phải huy động hầu như tất cả các kỹ năng hành động, thao tác tư duy: quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán, suy luận, khái quát hóa, cụ thể hóa, hệ thống hóa
Vì vậy, sử dụng PHT trong dạy học sẽ giúp cho học sinh hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản
Phiếu h tập ph t huy t nh t h ự , hủ ộng s ng tạ , rèn luyện năng lự tự h , tự nghiên u h h sinh
Trong quá trình tổ chức dạy học cho học sinh có thể sử dụng PHT giao cho mỗi cá nhân hoặc nhóm học sinh hoàn thành, bắt buộc học sinh phải chủ động tìm tòi kiến thức Vì vậy, tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh được nâng lên
Mặt khác mỗi PHT có thể dùng trong nhiều khâu của quá trình tự học như nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, kiểm tra đánh giá…dưới nhiều hình thức như ở lớp hoặc ở nhà, có thể cần sự giúp đỡ của giáo viên hoặc không Do vậy, PHT còn phát huy được khả năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
1 Phiếu h tập l ế h ạ h nhỏ ể tổ h ạy h
Phiếu học tập thường được thiết kế dưới dạng bảng có nhiều cột, nhiều hàng thể hiện nhiều tiêu chí Vì vậy, ưu thế của PHT là khi muốn xác định một nội dung kiến thức, thõa mãn nhiều tiêu chí hay xác định nhiều nội dung với các tiêu chí khác nhau Với PHT một nhiệm vụ học tập phức tạp được định hướng rõ ràng, diễn đạt ngắn gọn như một kế hoạch nhỏ dưới dạng bảng hoặc sơ đồ PHT
có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học
Trang 24Phiếu h tập b thông tin h i hi u giữ ạy v h , l sở
h việ u n nắn, hỉnh sữ những lệ h lạ tr ng h ạt ộng nhận th ủ
ng ời h
Sử dụng PHT trong dạy học giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá được động lực học tập của học sinh thông qua kết quả hoàn thành PHT, thông qua báo cáo kết quả cá nhân, thảo luận trong tập thể từ đó chỉnh sửa, uốn nắn những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của học sinh Do đó, PHT đã trở thành phương tiện giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò và trò đó là mối liên hệ thường xuyên, liên tục
Phiếu h tập l biện ph p hữu hiệu tr ng việ h ng ẫn h sinh tự
h
Đối với hoạt động tự học PHT là một biện pháp hữu hiệu để hỗ trợ học sinh trong việc tự lực chiếm lĩnh tri thức Nó có tác dụng định hướng cho học sinh cần nắm bắt phần này như thế nào? Nội dung nào là nội dung trọng tâm? Với vai trò đó nó đã giúp đỡ người thầy rất nhiều trong hoạt động dạy học Làm cho chất lượng dạy học ngày càng được nâng cao
Dạy tự h bằng phiếu h tập
Kh i niệ tự h
Theo GS.TS Thái Duy Tuyên: “ Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) cùng các phẩm chất, động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”
Tác giả Nguyễn k ở tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998 cũng bàn về khái niệm tự học: “ Tự học là người học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình.Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hoá việc học”
GS.Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích luỹ từ nhiều thế hệ của nhân loại thành
Trang 25kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kỹ năng thực hành những tri thức ấy”
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng; cốt lõi của việc học
là tự học, hễ có học là có tự học Tri thức, kinh nghiện, kỹ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự học Nếu người học rèn luyện được những kỹ năng tự học thì có thể học suốt đời
Vị tr , v i trò ủ tự h
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học
Trong quá trình hoạt động dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ yêu cầu HS ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Giúp HS không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành tính tích cực, chủ động , sáng tạo cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra nhữnh lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ
tr trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sư hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá.Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với
tự giác Nó đảm bảo cho sự định hình tính độc lập trong học tập
Tự học giúp cho người học có thể chủ động học tập suốt đời
Trang 26Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế
- xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh vơi những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
Với những lẽ đó, ngày nay trong quá trình dạy học, người ta nhấn mạnh hoạt động học, đặc biệt là phương pháp tự học, ý chí tích cực, chủ động, sáng tạo
sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học
Năng lực tự học thể hiện qua các khâu:
- Năng lực thu thập thông tin: qua đọc SGK, tài lệu tham khảo, qua quan sát sơ đồ, hình vẽ, mô hình, qua làm thí nghiệm,…
- Năng lực xử lý thông tin: thông tin thu thập được sẽ trả qua một chuỗi các thao tác tư duy logic để giải quyết những vấn đề học tập nêu ra
- Khả năng lưu trữ thông tin (ghi nhớ): sau khi xử lý thông tin, HS sẽ chủ động lĩnh hội được kiến thức và đồng thời nhớ lâu hơn, khả năng vận dụng sáng tạo hơn và kích thích được hoạt động học tập tích cực của HS
Có hai hình thức tự học đó là:
- Tự học có sự hướng dẫn của thầy: Tự học diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của thầy thông qua sử dụng PHT, sử dụng câu hỏi – bài tập, sử dụng sơ đồ hoá,… để định hướng, tổ chức hoạt động tự lực nghiên cứu SGK của
HS nhằm phát huy tính tích cực của HS
Trang 27- Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy ( tự nghiên cứu): Đây
là cấp cao nhất của các cấp độ tự học, đòi hỏi người học phải nỗi lực tối đa, tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức, người học phải tự nghiên cứu vấn đề mình quan tâm bằng cách tự tìm tài liệu có liên quan, tự quan sát, tự làm thí nghiệm… Đối với HS hình thức tự học này còn hạn chế
Phiếu h tập – ph ng tiện ể tổ h h ạt ộng tự h h h sinh
Bằng việc sử dụng PHT trong dạy học sẽ chuyển hoạt động của GV từ trình bày, giải giảng, thuyết minh sang hoạt động hướng dẫn chỉ đạo Mọi HS được tham gia hoạt động tích cực, tự lực nghiên cứu SGK, hoạt động với các phương tiện trực quan, làm thí nghiệm,… trao đổi, thảo luận để hoàn tất yêu cầu PHT, từ đó các em chủ động lĩnh hội được kiến thức, vừa nắm được phương pháp đi tới kiến thức đó, phát triển tư duy, rèn luyện các kỹ năng
PHT là phương tiện hỗ trợ đắc lực để GV tổ chức, giải quyết những yêu cầu dạy học theo hướng phát huy năng lực tự học, tích cực học tập của HS, GV
sử dụng PHT hướng dẫn, định hướng cho HS cách tự nghiên cứu SGK, tài liệu,
xử lý thông tin, từ đó lĩnh hội được kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ, biết vận dụng tri thức đã học vào những tình huống khác nhau, qua đó giúp các em có thể học suốt đời Bằng việc hoàn thành PHT, HS sẽ chủ động trong việc tìm tòi kiến thức sẽ giúp HS có hứng thú trong học tập, kích thích tư duy của HS, tạo điều kiện để HS rèn luyện được các kỹ năng khác nhau
1.3.C sở thự tiễn ủ việ xây ựng v sử ụng PHT ể ạy h sinh h Thự trạng xây ựng, sử ụng PHT v sử ụng ph ng ph p ạy h
tr ng ạy h sinh h ủ gi viên THPT hiện n y
Để tìm hiểu thực trạng xây dựng, sử dụng PHT nói riêng và phương pháp dạy học môn SH nói chung ở trường THPT hiện nay, chúng tôi đã tiến hành dự giờ, trao đổi, tham khảo bài soạn của GV, tìm hiểu qua phiếu khảo sát với các
GV SH thuộc các trường THPT Như Thanh, THPT Như Thanh II, THPT Nông Cống I, THPT Nông cống III, THPT Nông Cống IV, THPT Như Xuân ở tỉnh Thanh Hoá trong năm học 2010 – 2011
Chúng tôi đã thiết kế phiếu khảo sát về tình hình sử dụng PHT và phương pháp dạy học trong dạy học SH ở THPT
Trang 28Sau đây là tổng hợp kết quả khảo sát và nhận định về thực trạng xây dựng,
sử dụng PHT và sử dụng PPDH SH ở trường THPT
1.3.1.1 Tổng h p ết qu h s t
Kết qu h s t việ xây ựng v sử ụng PHT tr ng ạy h SH
- Việc xây dựng PHT để dạy học
+ Không bao giờ : 20%
- sử dụng PHT để dạy học phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 nói riêng và trong môn sinh học THPT nói chung
2 Phát huy được tính tích cực, độc lập sáng tạo của học sinh
trong học tập
30 100
8 Sử dụng PHT có thể nâng cao được khả năng tự học cho học
sinh
9 Truyền đạt được nhiều thông tin, tiết kiệm được thời gian 21 70
Trang 2910 Chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian, tốn ké 21 70
- PHT được sử dụng như thế nào khi dạy phần sinh học vi sinh vật sinh học 10 THPT?
2 Dùng để gợi ý cho việc hình thành kiến thức của học sinh 21 70
3 Dùng như là một phương tiện của quá trình dạy học 15 50
4 Dùng để hướng dẫn biện pháp tự học cho học sinh 12 40
- Trong dạy học sinh học quý thầy cô thường sử dụng PHT đối với loại kiến thức nào là chính:
- Tình hình sử dụng PHT trong việc hướng dẫn học sinh tự học
học
Mức độ sử dụng Thường
xuyên (%)
Không thường xuyên (%)
Ít sử dụng (%)
Không
sử dụng (%)
1 Hướng dẫn tự học bài mới tại
Trang 30Bảng 1.1 Kết quả khảo sát tình hình sử dụng một số phương pháp trong dạy học SH của GV THPT
Mức độ sử dụng Thường
xuyên (%)
Không thường xuyên (%)
dụng (%)
Không
sử dụng (%)
8 Làm việc với SGK- tái hiện
sơ đồ hoá không sử một cách thường xuyên hoặc ít sử dụng Như vậy PPDH được
sử dụng thường xuyên ở các trường THPT hiện nay vẫn là lối dạy học truyền thụ một chiều, GV thuyết trình nêu câu hỏi, HS chú ý lắng nghe trả lời câu hỏi, sau đó
GV giảng giải, giải thích và rút ra kết luận về nội dung kiến thức, HS ghi chép lại
Trang 31những nội dung kiến thức GV kết luận Dạy theo cách này GV chỉ đơn giải là người truyền đạt tri thức, còn HS thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt
Trong quá trình dạy học GV ít sử dụng các PTTQ ( biểu diễn thí nghiệm, mô hình, tranh vẽ,…), nếu có thì cũng chỉ cho HS quan sát các hình trong SGK hoặc sử dụng PTTQ chủ yếu để minh hoạ cho nội dung bài học, chưa sử dụng PTTQ để tổ chức các hoạt động học tập cho HS khám phá nguồn tri thức được thể hiện ở PTTQ
đó Như vậy PTTQ, TBDH mới chỉ là phương tiện của việc dạy, chưa phải là phương tiện của việc học
b Việ xây ựng v sử ụng PHT tr ng ạy h ủ V
Qua khảo sát việc xây dựng và sử dụng PHT của GV dạy SH ở THPT hiện nay chúng tôi có một số nhận định như sau:
- GV chưa coi trọng việc xây dựng và sử dụng PHT để dạy học SH, thậm chí
cá biệt có một GV còn nói rằng: “ Hiện nay người ta đã bỏ không còn sử dụng PHT trong dạy học”, có tới 86.7% GV không thường xuyên xây dựng PHT để dạy học và
có 80% GV không thường xuyên sử dụng PHT trong dạy học SH
- Đa số GV chỉ sử dụng PHT khi dạy các kiến thức về cấu tạo và quá trình
SH Các loại kiến thức khác như quy luật, cơ chế,… rất ít GV sử dụng PHT để dạy, thậm chí không có GV nào sử dụng PHT khi dạy về các khái niệm SH
- Đa phần GV cho rằng việc sử dụng PHT trong dạy học SH nói chung và dạy phần SH VSV nói riêng là cần thiết, nhưng chỉ có 40% GV sử dụng PHT để hướng dẫn biện pháp tự học cho HS, trong đó có rất ít GV thường xuyên sử dụng PHT để hướng dẫn tự học bài mới tại lớp và hướng dẫn tự học trong khâu củng cố,
ôn tập, hệ thống hoá kiến thức,thậm chí không có GV nào thường xuyên sử dụng PHT để hướng dẫn tự học bài mới ở nhà
- Qua dự giờ một số GV ở các trường THPT chúng tôi nhận thấy GV chủ yếu chỉ sử dụng PHT ở dạng bảng, yêu cầu HS tra cứu thông tin ở SGK và hoàn thành PHT trong một thời gian nhất định, sau đó cho 1- 2 cá nhân HS trình bày và GV kết luận về nội dung kiến thức, HS vẫn không chủ động tiếp thu được nội dung bài học
và GV mới chỉ tổ chức được những hoạt động cá nhân ở HS GV còn lúng túng trong việc sử dụng PHT để dạy - tự học, khi sử dụng PHT GV chưa tổ chức được các hoạt động học tập theo nhóm, chưa tạo nên được mối quan hệ hợp tác giữa các
cá nhân HS thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể để HS tự chiếm lĩnh nội
Trang 32dung học tập Như vậy khi dạy hoc bằng PHT GV mới chỉ đóng vai trò là người thiết kế, hướng dẫn các hoạt động độc lập cá nhân để hoàn thành các yêu cầu của PHT, chưa đóng vai trò là người tổ chức, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi, khám phá tri thức và tranh luận sôi nổi của HS để HS chủ động lĩnh hội kiến thức, rèn luyện phát triển các kỹ năng và năng lực tự học
Khâu s ạn b i ủ V
Qua tham khảo giáo án của một số GV SH ở các trường THPT chúng tôi có một số nhận định sau:
- Việc xác định mục tiêu bài hoc: Khi soạn bài GV đã xác định được mục
tiêu bài học về kiến thức, kỹ năng, thái độ Tuy nhiên GV còn coi nhẹ việc xác định mục tiêu bài học Cụ thể:
Viết mục tiêu bài học một cách chiếu lệ, chung chung, hình thức ( Mục tiêu
về kiến thức: nắm được, hiểu được,…; Mục tiêu về kỹ năng: phát triển kỹ năng so sánh,phân tích, tổng hợp, khái quát hoá,…; Về thái độ: cần có thái độ,…) Chưa xác định rõ mức độ hoàn thành công việc của HS, chưa cho thấy rõ mức độ cần đạt được về kiến thức là định nghĩa, giải thích, mô tả lại, so sánh, tóm tắt, phản biện, hay chứng minh,…; Về kỹ năng chưa xác định cụ thể là thu thập, đo đạc, vẽ, tính toán, liệt kê, phân loại, hay nhận dạng,…; Về thái độ chưa xác định rõ là tán thành, phản đối, hưởng ứng, hay chấp nhận,… của HS Như vậy khi viết mục tiêu bài học
GV chưa xác định rõ được là sau khi học xong bài đó HS phải có được những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở mức độ như thế nào
GV mới chỉ dừng lại ở việc xác định mục tiêu bài học theo kiểu dạy học đồng loạt ( mục tiêu chung cho cả lớp), lấy trình độ chung của cả lớp làm căn cứ, chưa hình dung thêm yêu cầu phân hoá đối với những nhóm HS có trình độ kiến thức và tư duy khác nhau để tính toán độ khó của nhiệm vụ sao cho thích hợp với
cả nhóm HS giỏi và HS yếu để từ đó xác định mục tiêu riêng cho các nhóm HS
Xác định mục tiêu bài học chưa sát hợp với điều kiện về cơ sở vật chất( phòng học), PTDH, TBDH của nhà trường
- Việc xác định nội dung bài học
Nội dung bài học được GV trình bày theo các mục và trình tự nêu trong SGK, phần lớn GV tóm lược lại nội dung kiến thức trong SGK, đôi khi GV chưa xác định được nội dung trọng tâm của bài học mà còn trình bày một cách dàn trải
Trang 33các nội dung kiến thức trong SGK Phần lớn GV chưa có sự liên hệ giữa nội dung bài học với thực tiễn (nếu có) để khai thác vốn hiểu biết và kinh nghiệm của từng
án hầu như không đề cập đến việc sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học
Cốt lõi của giáo án đổi mới là phần thiết kế các hoạt động giúp HS tự lực chiếm lĩnh nội dung bài học Nhưng trong các bài soạn của GV hầu như không
có phần thiết kế các hoạt động học tập của HS ( quan sát tranh, tiến hành thí nghiệm, tranh luận về vấn đề đặt ra, giải bài toán nhận thức,…) và phần tổ chức, hướng dẫn của GV đối với việc thực hiện các hoạt động học tập của HS ( giao bài tập cho cá nhân hay theo nhóm, biểu diễn thí nghiệm cho HS quan sát rút ra nhận xét, hay tổ chức cho HS trực tiếp làm thí nghiệm để tự rút ra kết luận,…).Đặc biệt trong các bài soạn hầu như không sử dụng các PHT để tổ chức các hoạt động học tập cho HS, có chăng chỉ hình dung chút ít về những hành động hưởng ứng của HS
sẽ trả lời câu hỏi nêu ra như thế nào? Có thể nêu thắc mắc gì?
1.3 Nguyên nhân ủ thự trạng ạy h sinh h ở THPT hiện n y
- Do thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ một chiều ( thầy truyền đạt tri thức, trò thụ động tiếp thu tri thức) đã tồn tại trong cách dạy của GV từ nhiều năm nay Thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy, làm hạn chế việc áp dụng các PPDHTC của GV, trong đó có PP sử dụng PHT.Vì trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả
- Sự không đồng đều về trình độ kiến thức, tư duy của HS, lớp học đông HS (trung bình 48- 50 HS/lớp), nên khi áp dụng PPDHTC, PP sử dụng PHT buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của HS
Do đó khó tổ chức các hoạt động học tập theo nhóm của HS
Trang 34- Để đổi mới được phương pháp dạy học theo yêu cầu mới, GV phải được thường xuyên bồi dưỡng và cập nhật kiến thức sao cho vừa có bề rộng lại vừa đủ sâu thì mới có khả năng dạy học tích cực Tuy nhiên do kiến thức SH phát triển quá nhanh, GV không cập nhật, không theo kịp được yêu cầu bởi do đời sống của họ còn gặp nhiều khó khăn, chưa tập trung cho công tác giảng dạy
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường THPT hiện nay còn thiếu thốn, chưa đồng bộ, các trang thiết bị cần thiết như hoá chất, ống nghiệm, tranh vẽ,… không đủ và chất lượng kém, chưa có phòng thí nghiệm bộ môn, phòng học
bộ môn đã hạn chế GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS trên cơ sở tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm, quan sát tranh vẽ,… Đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế việc đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, phát triển năng lực tự học cho HS
1.3.2 Thự trạng h tập SH ủ HS trong nhà tr ờng THPT hiện n y
1.3 Tổng h p ết qu i u tr thự trạng h tập ôn SH ủ HS
Chúng tôi tiến hành điều tra HS qua phỏng vấn, qua phiếu điều tra đối với các em HS khối 10 thuộc các trường THPT Như Thanh, THPT Như Thanh II của tỉnh Thanh Hoá trong năm học 2010 – 2011, kết quả thu được ở bảng 1.2 và bảng 1.3 như sau:
Coi môn sinh học là nhiệm vụ bắt buộc 341 62 Không yêu thích môn sinh học 132 24
Trang 35tập môn sinh học bạn bè, có thể vận dụng kiến thức đã
học vào việc giải quyết một số vấn đề
lý thuyết hay thực tiễn
Xử lý thông tin, phân tích tƣ liệu, sơ
đồ, hình vẽ,…trả lời câu hỏi, hoàn thành PHT,… để lĩnh hội kiến thức mới
Bảng 1.3 Thái độ của HS đối với giờ dạy môn sinh học của giáo viên
1 Thầy cô trình bày từ đầu đến cuối 132 24 418 76
2 Giờ dạy có nhiều tranh, ảnh, …, kèm
theo PHT, câu hỏi dẫn dắt
3 GV hỏi những câu hỏi chỉ cần học thuộc
lòng, hoặc những câu hỏi mà câu trả lời
có thể nhìn thấy ngay trong SGK không
cần hiểu bài mà vẫn trả lời đƣợc
4 Giờ dạy mà kiến thức dài, khó nhớ và
phải nhớ máy móc
5 Giờ dạy mà GV tổ chức cho học sinh
làm việc tích cực bằng hệ thống câu hỏi,
PHT, sơ đồ hoá,… thông qua hoạt động
cá nhân hoặc hoạt động nhóm
524 95.27 26 4.73
Trang 361.3 Nhận ịnh v thự trạng h tập SH ủ HS THPT hiện n y
Kết quả ở bảng 1.2 và bảng 1.3 cho thấy:
- Chỉ có một tỷ lệ nhỏ HS yêu thích môn SH, phần lớn HS coi môn SH là
nhiệm vụ bắt buộc và có tới 24% HS không yêu thích môn SH, do vậy không đầu tư thời gian, công sức vào học môn SH
- Việc tự học ở nhà của HS sau mỗi bài học: Đa số HS học thuộc lòng một
cách thụ động theo vở ghi và nhớ một cách máy móc, việc học của HS không có động cơ bên trong mà chỉ mang tính đối phó
- Việc chuẩn bị bài học mới của HS: Nếu thầy cô giao nhiệm vụ cụ thể và
hướng dẫn HS nghiên cứu trước nội dung bài mới ở nhà thì số đông HS sẽ có ý thức chuẩn bị, còn nếu thầy cô không giao nhiệm vụ, không hướng dẫn nội dung cần nghiên cứu trước của bài mới thì hầu hết HS không chuẩn bị Việc tìm đọc thêm tài liệu, tìm tư liệu, tranh ảnh ngoài SGK có liên quan đến bài học lại càng hiếm HS chuẩn bị
- Trong giờ học ở lớp:Phần lớn HS không thích những giờ dạy mà thầy cô
trình bày từ đầu đến cuối, những giờ dạy mà kiến thức dài, khó nhớ và phải nhớ máy móc Số đông HS thích những giờ dạy có nhiều tranh ảnh, băng hình,… những giờ dạy mà GV tổ chức cho HS làm việc tích cực bằng những câu hỏi, bài tập, PHT,
sơ đồ hoá,… Như vậy những giờ học mà GV có sử dụng PTDH, PHT,câu hỏi, bài tập phù hợp với trình độ HS để tổ chức các hoạt động học tập cho HS, làm cho HS học tập tích cực, sôi nổi, đua nhau phát biểu ý kiến xây dựng bài, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập dẫn đến chất lượng lĩnh hội kiến thức tốt hơn
Những giờ học GV dạy theo PP thuyết trình, giảng giải, hỏi đáp, HS học một cách thụ động chú ý nghe GV giảng bài để hiểu và nhớ nội dung bài học Khi GV nêu câu hỏi hoặc ra bài tập thì chỉ số ít HS trong lớp phát biểu ý kiến đưa ra câu trả lời, phần đa HS trong lớp ngồi yên Không khí lớp học nặng nề, trầm lắng, HS học tập uể oải, nhàm chán, không có hứng thú học tập, không phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS và kết quả học tập không cao
1.3 Những nguyên nhân ủ thự trạng h tập ôn SH ủ HS
- Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học Tuy nhiên do cách dạy chỉ chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức của GV đã
Trang 37làm cho HS học một cách thụ động, không chịu tư duy, suy nghĩ, nhớ kiến thức một cách máy móc, không phát huy được khả năng tư duy logic và sáng tạo, không hình thành được năng lực tự học cho HS
- Do thói quen học tập thụ động của HS, chú ý nghe GV giảng bài để nhớ kiến thức, ngại đọc SGK, ngại tìm hiểu các tư liệu khác để tham khảo, ngại suy nghĩ đặt ra các câu hỏi để tìm hiểu sâu hơn, rõ hơn vào vấn đề học tập, không có thói quen chủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức
- Chương trình SH phổ thông nặng về lý thuyết, ít các tiết luyện tập, bài tập, thực hành, nên HS không khắc sâu được kiến thức, dễ quên, vì thế mà làm giảm hứng thú học tập của HS
- Do việc lựa chọn ngành nghề sau này của HS, các ngành học của khối B (toán, hoá, sinh) rất ít và có ít trường đại học ở nước ta thi đầu vào khối B, cơ hội tìm kiếm việc làm sau này của các sinh viên theo học các ngành nghề khối B không nhiều Do đó đa số HS không đầu tư thời gian để học môn sinh học
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài chúng tôi rút ra kết luận sau:
- Bồi dưỡng năng lực tự học cho HS, dạy HS cách tự học là một công việc có
vị trí quan trọng góp phần vào công cuộc đổi mới PPDH, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
- Sử dụng PHT trong dạy học là một PPDH tích cực góp phần rèn luyện năng lực tự học cho HS, thông qua PHT HS được tham gia vào các hoạt động học tập, tự tìm tòi, khám phá và lĩnh hội kiến thức, hình thành các kỹ năng, tinh thần hợp tác, tạo niềm vui, hứng thú trong học tập PHT có thể vận dụng vào nhiều PPDH khác nhau ( diễn giảng, vấn đáp, nêu vấn đề, biểu diễn thí nghiệm trực quan,…) đều có hiệu quả hình thành kỹ năng giải quyết vấn đề, thái độ tích cực trong học tập
- Việc đổi mới PPDH của GV THPT chưa thường xuyên và đồng bộ Trong từng bài dạy hầu như GV không sử dụng PHT và không tổ chức được các hoạt động học tập cho HS buộc HS phải chủ động trong việc tìm tòi, khám phá tri thức do vậy chưa rèn luyện được năng lực tự học cho HS Học sinh học một cách thụ động, chú
ý lắng nghe GV giảng bài và nhớ kiến thức một cách máy móc, chưa biết cách tự học, tự khám phá, phát hiện và tự chiếm lĩnh kiến thức Do vậy chất lượng lĩnh hội kiến thức bị hạn chế
Trang 38Chương II XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG PHT ĐỂ DẠY TỰ HỌC PHẦN KIẾN
THỨC SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 THPT
Phân t h ấu trú , nội ung phần iến th sinh h vi sinh vật sinh h 0 Cấu trú , nội ung phần sinh h vi sinh vật sinh h 0 THPT
2 V ấu trú
Phần SH VSV trong chương trình sinh học 10 THPT được cấu trúc thành ba
chương với 12 bài, trong đó có 9 bài lý thuyết, 2 bài thực hành và 1 bài ôn tập
Chương I: Chuyển hoá vật chất và năng lượng ở VSV
(gồm 3 bài từ 22 – 24)
Bài 22 Dinh dưỡng, chuyển hoá vật chất và năng lượng ở VSV
Bài 23 Quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở VSV
Bài 24 Thực hành: Lên men êtilic và lactic
Chương II Sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật
(gồm 4 bài từ 25 – 28)
Bài 25 Sinh trưởng của vi sinh vật
Bài 26 Sinh sản của vi sinh vật
Bài 27 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật
Bài 28 Thực hành: Quan sát một số vi sinh vật
Chương III Virut và bệnh truyền nhiễm
(gồm 5 bài từ 29- 33)
Bài 29 Cấu trúc các loại virut
Bài 30 Sự nhân lên của virut trong tế bào chủ
Bài 31 Virut gây bệnh Ứng dụng của virut trong thực tiễn
Bài 32 Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch
Bài 33 Ôn tập phần sinh học vi sinh vật
Sự sắp xếp các bài qua 3 chương thể hiện mối liên hệ logic với nhau, kiến thức bài trước là cơ sở, nền tảng để hình thành kiến thức mới ở các bài sau
V nội ung iến th
Nội dung chủ yếu của phần sinh học VSV đề cập về thế giới của những sinh vật vô cùng nhỏ bé, có kích thước phần lớn ở mức độ hiển vi và siêu hiển vi, với những đặc điểm đặc trưng như: hình thức trao đổi chất vô cùng đa dạng, sinh trưởng
Trang 39với tốc độ rất nhanh và cuối cùng là vai trò của VSV trong thế giới sống nói chung
và trong đời sống của con người nói riêng
Chương I đề cập đến những kiến thức:
- Khái niệm VSV và các đặc điểm chung của VSV
- Các kiểu dinh dưỡng ở VSV dựa vào nguồn năng lượng và nguồn cacbon
-Cơ sở của công nghệ vi sinh, công nghệ sinh học
-Sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng của VSV
-Khái niệm sinh sản ở VSV, các hình thức sinh sản ở VSV nhân sơ và VSV nhân thực
-Điểm khác biệt của sinh sản ở VSV nhân sơ và VSV nhân thực
Chương III đề cập đến những kiến thức:
-Khái niệm, cấu tạo chung và hình thái của virut, quá trình sinh sản của virut trong tế bào
-Các phương thức truyền bệnh của virut và những ứng dụng của virut trong thực tiễn
-Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch, các con đường và các phương thức lây truyền của bệnh truyền nhiễm và cách phòng tránh
Trang 40Th nh phần iến th phần sinh h vi sinh vật sinh h 0 THPT
Nội dung Sinh học vi sinh vật trong chương trình Sinh học THPT bao gồm
các loại kiến thức sau:
- Các khái niệm virút, chu trình sinh tan, chu trình tiềm tan, HIV Khái niệm bệnh truyền nhiễm, miễn dịch, miễn dịch đặc hiệu, miễn dịch không đặc hiệu…
b Kiến th qu trình
- Quá trình tổng hợp, quá trình phân giải các chất ở VSV
- Quá trình: lên men, hô hấp hiếu khí, hô hấp kị khí
- Quá trình sinh trưởng của quần thể vi khuẩn trong nuôi cấy liên tục
- Quá trình nhân lên của vi rút trong tế bào chủ, quá trình tiềm tan,
Kiến th ng ụng
- Ứng dụng quá trình tổng hợp và phân giải các chất ở vi sinh vật
- Ứng dụng các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của vi sinh vật để điều khiển tốc độ sinh trưởng của vi sinh vật phục vụ con người
- Ứng dụng của virut trong trong sản xuất, y học
Mụ tiêu phần sinh h vi sinh vật sinh h 0 THPT
Mụ tiêu v iến th
- Trình bày được khái niệm, đặc điểm chung của VSV
- Nêu và giải thích được quá trình tổng hợp, phân giải chủ yếu ở VSV và ứng dụng của nó
- Trình bày được các kiểu chuyển hoá vật chất và năng lượng ở VSV
- Chỉ ra được dấu hiệu bản chất của sinh trưởng, sinh sản của VSV - cấp
cơ thể đơn bào
- Nêu được đặc điểm cơ bản để xác định sinh trưởng ở VSV và giải thích được đặc điểm của quá trình sinh trưởng trong điều kiện môi trường nuôi cấy liên tục và không liên tục