1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của mật độ, mức phân đạm bón đến tăng trưởng, năng suất giống vừng đen hương sơn, vừng vàng diễn châu và dòng vừng nv10 trên đất cát pha huyện nghi lộc, tỉnh nghệ an

137 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Mật Độ, Mức Phân Đạm Bón Đến Tăng Trưởng, Năng Suất Giống Vừng Đen Hương Sơn, Vừng Vàng Diễn Châu Và Dòng Vừng NV10 Trên Đất Cát Pha Huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Cao Thị Thu Dung
Người hướng dẫn PGS. TS Vũ Văn Liết
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Trồng Trọt
Thể loại luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH --- CAO THỊ THU DUNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, MỨC PHÂN ĐẠM BÓN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG VỪNG ĐEN HƯƠNG SƠN, VỪNG VÀNG DIỄN CHÂU VÀ DÒN

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

CAO THỊ THU DUNG

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, MỨC PHÂN ĐẠM BÓN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG VỪNG ĐEN HƯƠNG SƠN, VỪNG VÀNG DIỄN CHÂU VÀ DÒNG VỪNG NV10 TRÊN ĐẤT CÁT PHA HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT

NGHỆ AN - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH -

ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ, MỨC PHÂN ĐẠM BÓN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG, NĂNG SUẤT GIỐNG VỪNG ĐEN HƯƠNG SƠN, VỪNG VÀNG DIỄN CHÂU VÀ DÒNG VỪNG NV10 TRÊN ĐẤT CÁT PHA HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRỒNG TRỌT

MÃ SỐ: 60 - 62 - 01

Người thực hiện: Cao Thị Thu Dung Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Vũ Văn Liết

Trang 3

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, có được qua các thí nghiệm do bản thân tiến hành và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan các thí nghiệm để thu thập số liệu trong luận văn đã được chính bản thân tôi tiến hành tại Trại thực nghiệm nông nghiệp, khoa Nông Lâm Ngư, phòng thí nghiệm Khoa học cây trồng và phòng thí nghiệm Trung tâm của trường Đại học Vinh với sự đồng ý và hướng dẫn của Phó giáo sư, tiến sĩ Vũ Văn Liết và các kỹ thuật viên phụ trách phòng thí nghiệm

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luân văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Người cam đoan

Cao Thị Thu Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:

1 Phó giáo sư, tiến sĩ Vũ Văn Liết – trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội vì

đã định hướng, hướng dẫn tôi trong việc xác định đề tài, thiết kế nghiên cứu và theo dõi, giúp đỡ sát sao trong quá trình thực hiện luận văn

2 Ban giám hiệu trường Đại học Vinh, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, khoa Sau Đại học và chuyên ngành Trồng trọt đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để đề tài có thể được hoàn thành tốt đẹp

3 Thạc sĩ Nguyễn Tài Toàn, các cán bộ trong tổ Khoa học cây trồng và Bảo

vệ thực vật đã góp ý và giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong các thí nghiệm

4 Nhóm sinh viên lớp 48K Nông học, lớp 49K Nông học đã hỗ trợ tôi trong quá trình bố trí thí nghiệm nghiên cứu, chăm sóc cây trồng và theo dõi các chỉ tiêu

5 Các kỹ thuật viên phòng thí nghiệm Khoa học cây trồng, phòng thí nghiệm Trung tâm, kỹ thuật viên trại thực nghiệm Nông nghiệp của Trung tâm thực hành thí nghiệm đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình đo đếm, phân tích các chỉ tiêu nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự quan tâm, động viên và giúp đỡ của gia đình và bạn bè cả về mặt tinh thần và vật chất Tôi xin chân thành cảm ơn vì tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó!

Người cảm ơn

Cao Thị Thu Dung

Trang 5

5

MỤC LỤC

1.1.1 Các nghiên cứu về đánh giá và khai thác nguồn gen vừng 6

1.1.4 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh vừng 12

1.1.4.3 Phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh và công nghệ sau thu hoạch 19

1.2.1 Các nghiên cứu về đánh giá và khai thác nguồn gen cây vừng 20

1.2.3 Nghiên cứu về phân bón và kỹ thuật thâm canh cây vừng 22 1.2.4 Nghiên cứu phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh và công nghệ sau thu

Trang 6

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 25

3.1 Một số đặc điểm hình thái của các dòng, giống vừng nghiên cứu 34 3.2 Ảnh hưởng của mật độ và mức phân đạm bón đến một số đặc

điểm hình thái của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn

Châu và dòng vừng NV10

40

3.2.1 Ảnh hưởng của mức phân đạm bón đến một số đặc điểm hình

thái của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và

vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10

48

3.2.2.1 Chiều cao cây cuối cùng của các dòng, giống vừng 49

3.2.2.4 Đường kính thân của các dòng, giống vừng 53 3.2.2.5 Độ cao đóng quả của các dòng, giống vừng 54 3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng và mức phân đạm bón đến năng

suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống vừng đen

Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10

55

3.3.1 Ảnh hưởng của mức phân đạm bón đến năng suất và các yếu tố

cấu thành năng suất của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng

55

Trang 7

7

Diễn Châu và dòng vừng NV10

3.3.1.3 Khối lượng 1000 hạt của các dòng, giống vừng 58 3.3.1.4 Năng suất cá thể của các dòng, giống vừng 59 3.3.1.5 Năng suất thực thu của các dòng, giống vừng 61 3.3.1.6 Năng suất lý thuyết của các dòng, giống vừng 62 3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và các yếu tố cấu thành

năng suất của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn

Châu và dòng vừng NV10

64

3.3.2.3 Khối lượng 1000 hạt của các dòng, giống vừng 67 3.3.2.4 Năng suất cá thể của các dòng, giống vừng 68 3.3.2.5 Năng suất thực thu của các dòng, giống vừng 69 3.3.2.6 Năng suất lý thuyết của các dòng, giống vừng 71 3.4 Ảnh hưởng của mật độ và mức phân đạm bón đến hàm lượng

lipít và prôtêin của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn

Châu và dòng NV10

72

3.4.1 Ảnh hưởng của mức phân đạm bón đến hàm lượng lipít và

prôtêin của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu

và dòng NV10

72

3.4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến hàm lượng lipít và prôtêin của giống

vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng NV10

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Trang 9

9

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 10

Bảng 3.14 Ảnh hưởng của mức đạm đến năng suất và các yếu tố cấu

thành năng suất các dòng, giống vừng

55

Bảng 3.15 Sự ảnh hưởng tương tác của đạm và giống đến số quả/cây các

dòng, giống vừng

56

Trang 11

Bảng 3.21 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và yếu tố cấu thành

năng suất của các dòng, giống vừng

Bảng 3.28 Ảnh hưởng của các mức phân đạm đến hàm lượng lipít và

prôtêin của các dòng, giống vừng

Trang 12

Bảng 3.32 Sự ảnh hưởng tương tác của mật độ và giống đến hàm lượng

Trang 13

khác nhau

67

Hình 3.20 Năng suất cá thể của 3 dòng, giống vừng ở các mật độ khác nhau 68 Hình 3.21 Năng suất thực thu của 3 dòng, giống vừng ở các mật độ khác nhau 70 Hình 3.22 Năng suất lý thuyết của 3 dòng, giống vừng ở các mật độ khác nhau 71 Hình 3.23 Hàm lượng lipít của 3 dòng, giống vừng ở các mức đạm khác nhau 73 Hình 2.24 Hàm lượng prôtêin của 3 dòng, giống vừng ở các mức đạm

khác nhau

75

Trang 14

Bảng 3.25 Hàm lượng lipít của 3 dòng, giống vừng ở các mật độ khác nhau 76 Bảng 3.26 Hàm lượng prôtêin của 3 dòng, giống vừng ở các mật độ khác nhau 77

Trang 15

15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Vừng (Sesamum indicum L.), là một trong những cây lấy dầu quan trọng và cổ

xưa nhất ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Những nước trồng vừng có diện tích lớn là

Ấn Độ, Trung Quốc, Myanmar, Sudan chiếm 68% diện tích và sản lượng toàn cầu

(Bertha Salazar và cs., 2006) [11] Cây vừng có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng

cao nên được nhiều nước quan tâm nghiên cứu phát triển, diện tích trồng vừng từ

6,65 triệu ha năm 1995 tăng lên 7,70 triệu ha năm 2009; sản lượng tăng từ 2,5 triệu

tấn năm 1995 lên 3,97 triệu tấn năm 2009 và năng suất vừng năm 2009 tăng lên 1,5

lần so với năm 1995 Sản lượng vừng tăng bên cạnh sự đóng góp do mở rộng diện

tích có phần rất quan trọng của công tác chọn tạo giống và kỹ thuật thâm canh

(FAOSTAT, 2009)

Về giá trị dinh dưỡng, cây vừng được xem là “hoàng hậu” của những cây có

dầu thông qua ưu điểm tuyệt hảo của dầu từ hạt vừng (Falusi O.A và cs., 2001)

[16] Thomas Jefferson, nhà làm vườn nổi tiếng của Mỹ, tiến hành những thử

nghiệm trên cây vừng khi nó được du nhập vào Mỹ từ châu Phi đã phát biểu rằng

“vừng là một trong số những cây trồng có giá trị nhất mà đất nước tôi tìm ra

được… trước đây tôi không tin rằng có sự tồn tại của một loại dầu hoàn hảo như

thế có thể thay thế dầu oliu” (Betts, 1999) [12] Hàm lượng dầu bình quân trong hạt

vừng biến động từ 34,4 đến 59,8% (Ashri 1998) [4]

Dầu vừng tinh chế được xem là loại dầu ăn hảo hạng ngày càng được sử dụng

nhiều thay thế cho mỡ động vật bởi ăn dầu vừng tránh được bệnh xơ cứng động

mạch Ngoài ra, do không bị ôxi hoá nên có thể cất giữ được lâu mà không bị ôi và

nó có hương vị đặc thù nên dầu vừng được sử dụng nhiều trong ngành công nghiệp

thực phẩm

Trong ngành công nghiệp, người châu Phi đã dùng vừng để tạo nước hoa (The

Nut Factory, 1999) và loại nước hoa cô-lô-nhơ nổi tiếng được sản xuất từ hoa vừng

Axit myristic (C14 :0) được sử dụng như là thành phần có trong mỹ phẩm

Hạt vừng là nguồn cung cấp mangan, đồng, canxi, magie, sắt, phốt pho,

vitamin B1, kẽm và chất xơ Hạt vừng còn chứa 2 chất độc nhất vô nhị: sesamin và

Formatted: Font: Bold Formatted: Centered, Line spacing: 1.5 lines Formatted: Line spacing: 1.5 lines Formatted: Indent: First line: 0.39", Line

Trang 16

sesamolin Cả hai chất này đều thuộc về một nhóm chất xơ có ích đặc biệt gọi là lignan, chống cao huyết áp và tăng nguồn cung cấp vitamin E ở động vật Sesamin cũng được biết là có khả năng bảo vệ gan khỏi tác hại oxi hóa (Kato và cs., 1998) [24] Bên cạnh đó, sesamin có hoạt tính diệt vi khuẩn và côn trùng, đồng thời chất này cũng được xem như là chất chống oxy hóa có tác dụng hấp thụ cholesterol và sự sản xuất cholesterol ở trong gan (Home Cooking, 1998) [20] Sesamolin cũng có khả tiềm năng diệt côn trùng và được sử dụng như là chất tăng cường cho thuốc trừ sâu được tạo ra từ hoa cúc khô (Simon và cs., 1984) [40] Dầu vừng được sử dụng như là chất hòa tan, tá dược lỏng nhờn cho các loại thuốc, chất làm mềm da và sử dụng trong chế tạo bơ thực vật và xà phòng (Dark, 1998) [14] Chlorosesamone thu được từ rễ cây vừng có hoạt tính kháng nấm (Begum và cs., 2000) [9]

Vào thế kỷ thứ 4, người Trung Quốc đã dùng dầu vừng để trị chứng đau răng

và bệnh viêm lợi, dầu vừng giảm cholesterol do có chứa nhiều chất béo không có khả năng sinh colesterol Những công dụng khác của vừng bao gồm điều trị mờ mắt, hoa mắt, chóng mặt và đau đầu Gần đây, nhiều công trình khoa học đã cho thấy tác dụng của đồng (Cu) có trong hạt vừng nhằm điều trị viêm khớp mãn tính Ở Việt Nam có hơn nửa triệu người mắc loại bệnh này, trong đó gặp chủ yếu (80%) là phụ nữ trung niên Đồng có trong hạt vừng có hiệu quả cao như vậy là vì chất khoáng này có vai trò quan trọng trong hệ enzim chống viêm và chống oxi hóa Thêm nữa, đồng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động của lysyl oxidase, một enzyme cần thiết cho việc tạo ra các liên kết chéo giữa collagen và elastin - chất nền tạo nên cấu trúc, sức bền và độ đàn hồi của mạch máu, xương và khớp

Nhờ thành phần Magie trong hạt, vừng còn có tác dụng hỗ trợ tim mạch và hô hấp ở người Chống co thắt khí quản ở người bị bệnh hen suyễn, giảm cao huyết áp

và đau tim do tiểu đường Ngăn ngừa hiện tượng co thắt mạch máu của dây thần kinh não Ngoài ra, các thành phần khác có trong hạt vừng còn giúp chống ung thư ruột kết, loãng xương, đau nửa đầu và PMS,…

Tại Nghệ An, cây vừng được xác định là 1 trong 10 loại cây trồng trọng điểm cần đầu tư nghiên cứu và phát triển Cây vừng có một số đặc tính nông học quan trọng như phổ thích nghi rộng, chịu hạn khá tốt, thời gian sinh trưởng ngắn, phát triển được trên đất nghèo dinh dưỡng, không cần đầu tư nhiều Vì vậy cây vừng có

Trang 17

17

ven biển của các miền nhiệt đới Trên địa bàn tỉnh Nghệ An, diện tích trồng vừng

năm 2000 là 7.506 ha, năm 2009 giảm xuống còn 6.071 ha, trong khi đó, năng suất

vừng tăng từ 5,33 tạ/ha năm 2000 lên 6,35 tạ/ha năm 2009, sản lượng vừng đạt

tương ứng là 4.004 tấn và 3.856 tấn Diện tích trồng vừng phân bố chủ yếu ở các

huyện có đất cát ven biển, trong đó huyện Diễn Châu có diện tích lớn nhất 2.393 ha

và Nghi Lộc có 1.474 ha (2009) [4] Các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của việc

trồng vừng so với một số cây trồng khác trong điều kiện thâm canh cho thấy, ở

Nghệ An năm 2002 nếu tính giá bán lạc 350 USD/tấn lạc vỏ, năng suất lạc đạt 1.200

kg/ha, lạc đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Năng suất vừng 500 kg/ha, giá bán 380 USD/tạ

thì giá trị thu nhập 1 ngày công trồng vừng là 1,022 USD/ngày công, còn của lạc là

0,736 USD/ngày công Nếu vừng được thâm canh tưới nước, đầu tư giống chống

chịu sâu bệnh đưa năng suất đến 800 -1000 kg/ha thì lợi nhuận sẽ là 200 USD/1ha,

gấp đôi của lạc (Nguyễn Vy, 2003); cùng trên 1 diện tích, vừng cho thu hoạch cao

gấp 3 lần trồng lúa mùa cao cây (cây lúa lốc địa phương) [13]

Có 3 giống vừng được trồng phổ biến ở Nghệ An như vừng vàng Diễn Châu,

vừng đen Hương Sơn và vừng V6 (Hoàng Văn Sơn, 2004) Trong đó, vừng vàng

Diễn Châu và vừng đen Hương Sơn là 2 giống địa phương có nhiều đặc điểm rất tốt

như thích nghi với điều kiện đất đai, khí hậu ở Nghệ An, đòi hỏi mức đầu tư thấp,

chống chịu sâu bệnh, thích hợp với kiểu quảng canh, Nhưng năng suất thấp, hàm

lượng dầu không cao Còn vừng V6 là giống nhập nội có nguồn gốc Nhật Bản Đây là

giống có năng suất tương đối cao Tuy nhiên, quá trình canh tác thời gian qua đã bộc

lộ một số nhược điểm như mẫn cảm với một số loại sâu bệnh nhất là bệnh héo xanh

vi khuẩn, quá trình chọn lọc nhằm giữ giống không đảm bảo do đó độ thuần của

giống không cao, sản lượng không ổn định

Xu hướng nhập nội giống vừng như giống V6 từ Nhật Bản đã và đang làm

suy thoái các giống vừng địa phương Các giống vừng địa phương như giống vừng

vàng Diễn Châu, giống vừng đen Hương Sơn,… tuy có năng suất thấp, nhưng là các

giống vừng địa phương có phẩm chất tốt, thích nghi với điều kiện địa phương và

chống chịu sâu bệnh… Do vậy chọn tạo giống vừng thích nghi với điều kiện Nghệ

An kết hợp những ưu điểm của giống địa phương và giống nhập nội là rất cần thiết

Thành công của các nhà khoa học khoa Nông Lâm Ngư đại học Vinh đã phát triển

dòng vừng NV10 đáp ứng được yêu cầu trên [8], [9]

Formatted: Condensed by 0.1 pt

Trang 18

Giống cây trồng mới nói chung và giống vừng nói riêng muồn phát huy được

tiềm năng của giống cần có kỹ thuật canh tác phù hợp Những nghiên cứu của các

nhà khoa học Ấn Độ và Mỹ cho thấy rằng, mật độ và phân bón nâng cao năng suất,

số quả trên cây đối với cây vừng Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ, mức phân đạm bón đến tăng trưởng,

năng suất giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10

trên đất cát pha huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm xác định mật độ gieo, mức phân đạm bón thích hợp với

giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10, từ đó góp

phần xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cho các dòng/giống vừng nghiên cứu

nhằm đạt năng suất cao, chống chịu tốt trong điều kiện đất cát pha của huyện Nghi

Lộc, tỉnh Nghệ An

3 Yêu cầu nghiên cứu

- Xác định ảnh hưởng của mật độ gieo và mức phân đạm bón đến sinh trưởng

và phát triển của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng

NV10

- Xác định ảnh hưởng của mật độ gieo và mức phân đạm bón đến năng suất và

yếu tố tạo thành năng suất của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu

và dòng vừng NV10

- Xác định ảnh hưởng của mật độ gieo và mức phân đạm bón đến hàm lượng

dầu và prôtêin của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng

NV10

- Khuyến cáo mật độ và mức bón đạm phù hợp nhất cho giống vừng đen

Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10 trong điều kiện đất cát pha

huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của 3 mật độ gieo và 4 mức phân đạm

đến sự tăng trưởng, năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất của giống vừng đen

Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10 trên vùng đất cát pha ven

biển Nghệ An

Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Trang 19

19

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nghiên cứu về cây vừng trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu về đánh giá và khai thác nguồn gen vừng

Vừng thuộc họ Pedaliaceae R Br và giống Sesamum L (Hutchison và

Dalziel, 1963; Purseglove, 1974) Chi này bao gồm 36 loài, trong đó 19 loài có

nguồn gốc ở Châu Phi (Weiss, 1983; Uzo, 1998) (Trích dẫn qua Akpan-Iwo G., và

cs., 2006) [5]

Việc thu thập nguồn gen cây vừng địa phương được tiến hành ở Ấn Độ năm

1925 Trong khoảng thời gian trên, một bộ sưu tập lớn nguồn gen cây vừng từ nhiều

nước được thực hiện ở Liên Xô cũ (Weiss, 1983) [44] Bắt đầu từ những năm 1940,

một bộ sưu tập lớn được thiết lập ở Venezuala (Langham và Mazzani, 1940) Các

mẫu thu thập ở Mỹ, Venezuela và Liên Xô cũ có nguồn gốc từ nhiều nước trồng

vừng trên thế giới Tuy nhiên, việc thu thập, đánh giá và tư liệu hoá các giống vừng

truyền thống không được thực hiện

Ashri (1995) đã thu thập được 2990 mẫu giống Hạt của chúng được bảo quản

ở 2 ngân hàng gen tại Suwon, Hàn Quốc và Viện Nông nghiệp Kenya ở Muguga

[3]

Viện hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Trung Quốc (CAAS- Chinese Academy of

Agricultural Sciences) và Trung tâm Quốc gia về tài nguyên di truyền thực vật Ấn Độ

(NBPGR - National Bureau of Plant Genetic Resources), cùng với Viện Tài nguyên Di

truyền thực vật thế giới (IPGRI - International Plant Genetic Resources Institute) đã thu

thập thêm được 4000 mẫu vừng Dựa trên các số liệu thu thập và các đặc điểm nông

học đã chia ra các nhóm (năng suất, chống chịu sâu bênh, chống chịu hạn…) phục vụ

cho mục tiêu chọn tạo giống vừng hiện tại và tương lai ở Trung Quốc và Ấn Độ

(Hodgkin T và cs., 1999) [21]

Trước đó, trong thời gian hai năm (1991 - 1993), Trung tâm Quốc gia về tài

nguyên di truyền thực vật Ấn Độ (NBPGR) đã thu thập tổng số 6658 mẫu vừng, trong

đó có 4136 dạng bản địa và 2522 dạng nhập nội Kết quả thu thập này đã làm phong

phú thêm nguồn gen cho Ban quốc tế về Tài nguyên di truyền thực vật, Rome, Italy

Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Formatted: Condensed by 0.2 pt

Trang 20

(Mahajan R.K., và cs., 2007) [29]

Ấn Độ là một trong những nước có nguồn tài nguyên về cây vừng rất phong phú Trong chương trình khai thác và sử dụng nguồn gen này nhằm đáp ứng các mục tiêu nâng cao năng suất vừng Quỹ gen Quốc gia thuộc và Trung tâm Quốc gia về tài nguyên di truyền thực vật Ấn Độ (NBPGR) đã thực hiện quá trình lai 24 dòng phổ

biến và cả các dạng giống dại (Sesamum mulayanum) với nhau nhằm kết hợp các đặc

tính tốt của các dạng đó Quá trình chọn lọc các thế hệ con lai của 103 tổ hợp lai được thực hiện ở 4 địa điểm mục tiêu Kết quả đánh giá con lai ở thế hệ F4 đã cho thấy những đặc điểm cây lý tưởng và năng suất hạt cao, đặc biệt sự kết hợp tốt giữa các

dạng bố mẹ vào con lai của các tính trạng liên quan đến năng suất (Bisht I.S., và cs.,

2004) [13]

Ngoài ra, trong chương trình thiết lập các tập đoàn giống vừng công tác được thực hiện bởi Trung tâm Quốc gia về tài nguyên di truyền thực vật Ấn Độ (NBPGR) Một tập đoàn bao gồm 2168 mẫu giống vừng được thu thập từ Ai Cập, Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan, Iran, Mexico, Mỹ, Venezuela, Liên Xô, Hy Lạp, Nhật Bản và Afghanistan Chúng được phân thành 16 nhóm địa lý, trong đó vùng Đông Nam Á bao gồm cả Việt Nam có 53 mẫu giống thuộc 5 loài chiếm 2,91% trong tập đoàn nghiên cứu Vùng có sự đa dạng nhất là vùng Trung Đông (bao gồm: Iran, Iraq, Israel, Jordan, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ có 387 mẫu giống thuộc 36 loài chiếm 20,94%

(Mahajan R K., và cs., 2007) [29]

Nigeria là một nước có nhiều tiềm năng to lớn trong sản xuất vừng phục vụ

nhu cầu nội địa và xuất khẩu Ở nước này, hiện có 3 loài bao gồm S alatum Thonn,

S indicum L., và S radium Schum & Thonn là những loài trồng phổ biến (Dabir,

2000) Tuy nhiên, năng suất của loại cây trồng giá trị này thấp và biến động giữa các vùng Nhằm phục vụ cho việc nâng cao năng suất, Viện nghiên cứu cây ngũ cốc quốc gia (NCRI) Badeggi đã thực hiện việc thu thập và đánh giá nguồn gen cây vừng trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2001 Kết quả của đề án này đã thu thập được 83 mẫu giống Đánh giá trên đồng ruộng có trên 80% mẫu có khả năng chống

đổ, trong khi quả của chúng được đặc trưng bởi 4 múi Quả của chúng phân bố trên cành luân phiên, 1 nách lá có 1 quả, trên tất cả các mẫu thu thập ngoại trừ các giống

có nguồn gốc Mexixo: Eva, Tetra77 và Pachequeno với nhiều quả trên 1 nách lá

Trang 21

21

chọn tạo giống vừng năng suất cao, đặc biệt là những thông tin về sự di truyền ở

mức cao của nhiều tính trạng quan trọng như số cành, số quả trên cây và các yếu tố

cấu thành năng suất vừng (Akpan-Iwo G và cs., 2006) [5] Cũng tại châu Phi, trong

tổng số 10 giống địa phương trong tập đoàn 7290 mẫu giống cây có dầu được bảo

quản tại Viện bảo tồn đa dạng sinh học (IBC) của Ethiopia có 5 giống vừng đã được

cải tiến về năng suất và tái cung cấp hạt giống cho người dân trồng trên diện rộng

thông qua các chương trình nghiên cứu quốc gia (ThijsSen, M.H và cs., 2008) [41]

Tại châu Á, một trong những chương trình bảo tồn nguồn gen cây trồng được xem

là thành công được thực hiện bởi Viện tài nguyên di truyền thực vật Pakistan với sự

hỗ trợ kinh phí của tổ chức JICA Nhật Bản Trong tổng số 1286 mẫu thu thập từ các

vùng khác nhau, cung cấp nguồn gen cho các nhà chọn tạo giống trong nước Trong

suốt thời gian từ năm 1993 trở lại đây, đã có hàng trăm giống cây trồng mới được

thương mại hoá và đưa vào sản xuất, trong đó có 18 giống cây có dầu (bao gồm cả

giống vừng mới) góp phần tăng năng suất và sản lượng các loại cây trồng, điển hình

là cây lúa mì có năng suất tăng lên 36% và lúa nước tăng lên 23% (JICA Pakistan

Office, 2008) [22]

Hướng sử dụng công nghệ sinh học được ứng dụng trong việc nghiên cứu đa

dạng thành phần các giống vừng Venkataramana Bhat K., và cs., (1999) đã sử dụng

chỉ thị phân tử RAPD để phân tích 36 giống thu thập từ 18 bang và 4 nước lân cận, và

22 giống nhập nội từ 21 nước trồng vừng trên thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy

vùng Rajasthan và vùng Đông Bắc có mức đa dạng cao Sự di truyền ở mức cao giữa

các giống phổ biến ở Ấn Độ có thể chỉ ra sự phát sinh loài của cây trồng này Tương

tự như thế, mối quan hệ hình thái ở mức thấp của các giống nhập nội có thể là do sự

nhập nội một cách tương đối các nguồn gen hạn chế của loại cây trồng này đến một

số nước trồng vừng không truyền thống [43]

Nhằm xác định mối quan hệ di truyền của 75 mẫu giống được thu thập ở Hàn

Quốc và một số giống nhập nội 14 đoạn mồi ISSR (các đoạn trình tự lặp đơn giản)

đã được sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách di truyền biến động từ

0.000 đến 0.255 với ý nghĩa khoảng cách di truyền 0,0687 Kết quả phân tích đám

của 75 mẫu thu thập, có 7 nhóm được thiết lập trong đó nhóm lớn nhất bao gồm 25

giống của Hàn Quốc, 8 dòng chọn lọc có nguồn gốc ở Hàn Quốc và 17 mẫu giống

nhập nội Các nhóm khác bao gồm 25 mẫu, trong số đó có những giống có chứa

Formatted: Condensed by 0.1 pt

Trang 22

nhiều tính trạng quý Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy tất cả những giống có ở Hàn Quốc ngoại trừ giống Namsankkea đều thuộc một nhóm, điều đó cho thấy tính

đa dạng giống vừng ở Hàn Quốc là thấp (Kim và cs., 2002) [25]

Mặt khác, vừng là một loại cây trồng rất mẫm cảm với sâu bệnh và điều kiện môi trường Do đó, việc đánh giá nguồn gen vừng liên quan đến tính chống chịu là một trong những mục tiêu quan trọng cho chương trình chọn giống cây trồng El-

Bramawy M.A.S và cs., (2009) đã nghiên cứu đánh giá khả năng kháng bệnh do nấm Fusarium oxysporum f sp sesami của 28 kiểu gen vừng, trong đó có 10 giống

địa phương, 3 giống nhập nội và 15 dòng triển vọng được tạo ra từ con lai trong chương trình chọn tạo giống Kết quả nghiên cứu cho thấy, mùa vụ 2004 phần trăm cây nhiễm bệnh biến động giữa các kiểu gen (từ 1,7 đến 61,6%) Còn trong mùa vụ

2005, tỷ lệ này biến động từ 2,7 đến 44,0% [15] Cùng với những kết quả nghiên cứu trước đó của El-Bramawy M.A.S (2003), El-Shakhess, S.A.M (1998) và

Knowels, P.E và cs., (1955), kết quả này một lần nữa khẳng định sự di truyền tính chống chịu bệnh do nấm Fusarium oxysporum f sp sesami do nhiều gen kiểm tra

Đồng thời, trong các kiểu gen thí nghiệm, không có kiểu gen nào nhiễm bệnh ở mức cao (điểm 5) và một số kiểu gen có thể giữ được khả năng chống chịu và năng suất

ổn định qua thời gian Đây là một trong những đặc tính qúy có thể sử dụng trong các chương trình chọn tạo giống [15] Tương tự, Sarwar G và cs., (2006) nghiên cứu đánh giá các thông số di truyền và khả năng chống chịu của 33 giống vừng đen tại Trung tâm Nông nghiệp và Sinh học, Faisalabad, Pakistan Kết quả nghiên cứu cho thấy, các tính trạng năng suất hạt, số quả trên cây có sự kết hợp di truyền cao Các bệnh gây hại lá biến động từ 3,8 đến 20% Điều đó cho thấy các nguồn gen không bị bệnh với số quả tối đa, tiếp theo là chiều cao cây và số cành có thể chọn lọc và sử dụng cho việc cải tiến các giống vừng [38]

1.1.2 Nghiên cứu chọn tạo giống vừng

Eagleton và Sandover có công trình nghiên cứu đánh giá những triển vọng cho

sự sản xuất vừng thương mại dưới điều kiện tưới nước ở miền Tây bắc Australia vào giữa những năm 80 Từ 31 dạng vừng được nghiên cứu thẩm tra, hai dạng đã được chọn cho sự đánh giá Giống vừng Hnan Dun là một giống của Myanma, với đặc điểm hạt màu trắng và sinh trưởng phân nhánh đã cho năng suất 1,2 tấn/ha Được trồng trên đất sét Cunurra có tưới nước, thời gian sinh trưởng 105 ngày Trên

Trang 23

23

đất cát Cockatoo, năng suất của giống vừng Hnan Dun là 1,3 tới 1,6 tấn/ha Giống vừng Pachequino, một giống không phân nhánh, có nguồn gốc từ Mehico, chín chậm hơn so với giống Hnan Dun, cho năng suất lên tới 1,8 tấn/ha trong các thử nghiệm ở trên đất sét Cunurra, và hạt có màu trắng rõ nét được ưa thích trong việc dùng làm bánh kẹo (trích dẫn qua Ashri, 1995) [3]

Nghiên cứu tương tác kiểu gen và môi trường của các giống vừng đã được Zenebe Mekonnen và Hussien Mohammed nghiên cứu với các giống vừng ở 6 địa phương Phân tích biến động của hàm lượng dầu của 20 kiểu gen qua 6 môi trường cho thấy sự khác nhau ở mức có ý nghĩa cao (p = 0,01) giữa các địa phương và các kiểu gen Kết quả gợi ý rằng các kiểu gen phản ứng khác nhau qua các môi trường và cần phải phân tích sự ổn định của giống khi tạo giống [46]

Kết quả nghiên cứu của Pathirana (1995) về so sánh các phương pháp chọn lọc trong chọn giống vừng năng suất cao Kết quả nghiên cứu cho thấy: 400 dòng vừng được chọn lọc bằng 5 phương pháp từ 5 tổ hợp lai ở thế hệ F6 và F7 trên các tính trạng năng suất và một số đặc điểm nông học khác Các dòng năng suất cao được phân lập bằng phương pháp trồng dồn (bulk) trong các cặp lai giữa các giống địa phương Các dòng của các tổ hợp lai giữa các giống nhập nội không có dòng nào có biểu hiện hơn các giống đối chứng 80 dòng có năng suất cao nhất có giá trị cao hơn 10,8% giá trị năng suất trung bình của 400 dòng nghiên cứu 32 dòng có năng suất cao hơn 13,2% trong hai mùa vụ Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy không có sự sai khác ở mức ý nghĩa giữa các phương pháp chọn lọc mặc dù sự sai khác về năng suất giữa các dòng ở mức cao Kết quả chỉ ra rằng phương pháp chọn lọc trồng dồn đơn giản cũng thành công tương đương với phương pháp chọn lọc phả hệ, phương pháp chọn lọc một hạt và phương pháp đánh giá sớm các thể hệ con lai khi chọn lọc tính trạng năng suất trong quần thể vừng riêng biệt [35]

Langham D R., Glenn Smith, Terry Wiemers, và Mark Wetze năm 2006 cho rằng 99% vừng trồng trên thế giới là thu hoạch bằng tay, bởi vì cây vừng thuộc cây quả nang tách vỏ khi quả khô Khi sử dụng trực tiếp các dòng này ở Mỹ 60 - 90% hạt rơi trên mặt đất Hiệp hội nghiên cứu và thương mại sản phẩm cây vừng ở Mỹ

đã phát triển các giống vừng quả không tách vỏ, các giống này có thể để quả chín khô trên đồng ruộng [27]

Trang 24

Nghiên cứu cải tiến kiểu cây lý tưởng của vừng bằng chọn lọc phả hệ để phân

lập con lai của các tổ hợp lai với các kiểu gen quy định tính trạng tương phản được

thực hiện bởi Baydar (2008) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: ở quần thể phân ly F2,

con lai được phân thành 8 dạng dựa trên sự kết hợp về số noãn/quả, số quả trên chùm

và tập tính phân cành Các cá thể F2 với kiểu cây đặc trưng được tự thụ đến thế hệ

F6 Một số dòng cải tiến với 8 loại hình đã đạt được ở cuối quá trình chọn lọc Một số

loại cây lý tưởng, đặc biệt hai lá noãn, quả đơn, phân cành (BMB) và hai lá noãn, ba

noãn, phân cành (BTB) được coi là kiểu cây lý tưởng trong chương trình chọn giống

vừng năng suất cao Trong khi các dạng cây năng suất thấp như 3 noãn, 4 noãn và

không phân cành (QTN) có hàm lượng dầu cao nhất (49,3%), dạng năng suất cao

BMB có hàm lượng dầu thấp nhất (43,2%) Mặc dù vậy dạng không phân cành

(QTN) có hàm lượng acid oleic thấp nhất (41,3%) và hàm lượng acid linoleic cao

nhất (43,1%), dạng 2 lá noãn, quả đơn, không phân cành (BMN) có hàm lượng acid

oleic cao nhất (48,4%) và hàm lượng acid linoleic thấp nhất (36,6%) Tocopherol

tổng số biến động từ 175,6 đến 368,0 mg/kg trong hạt vừng Loại hình năng suất cao

BMB là một trong những loại có hàm lượng tocopherol thấp nhất [8]

1.1.3 Hàm lượng dầu và thành phần axít béo

Trong các loại cây trồng có dầu, vừng là cây có hàm lượng dầu lớn nhất Về

cơ bản, hàm lượng dầu của các giống vừng biến động từ 34 - 62% (Yermanos et al.,

1972; Ashri, 1998; Baydar et al., 1999) [45], [4], [8] Các yếu tố di truyền và môi

trường ảnh hưởng đến hàm lượng dầu và thành phần axít béo của vừng (Carlsson et

al., 2008) Các giống chín muộn được cho là có hàm lượng dầu cao hơn các giống

chín sớm (Yermanos et al., 1972) và các giống sinh trưởng vô hạn có hàm lượng

dầu cao hơn các giống sinh trưởng hữu hạn (Uzun et al., 2002) Cây vừng có chứa ở

mức cao các chất chống ôxy hóa như sesamol, sesamin, sesamolin và sesaminol Do

đó, dầu vừng được gọi là hoàng hậu của cây có dầu (ASGA, 2011) Thành phần dầu

vừng bao gồm 4 loại axit béo chính (palmitic-C16:0, stearic-C18:0, oleic-C18:1 và

linoleic-C18:2), trong khi các axit béo khác xuất hiện và lượng rất nhỏ (Ashri,

1998) Yermanos et al., (1972) cho rằng hàm lượng acid oleic biến động từ 32,7 đến

58,2% và acid linoleic biến động từ 27,3 đến 59,0% Were et al., (2006) cho rằng có

sự biến động trong chất lượng của palmitic, stearic, acid oleic và linoleic, với

Formatted: Indent: First line: 0.39"

Trang 25

25

khi ở mức cao acid oleic và linoleic biến động từ 31,6 đến 41,9 và 42,9 đến 53,9%

Acid lonileic được phát hiện nhưng với một lượng rất thấp (0,5%)

1.1.4 Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thâm canh vừng

1.1.4.1 Nghiên cứu phân bón

Kogram và Steer kiểm tra đặc điểm sinh lý phát triển của vừng, đặc biệt là sự

phản ứng lại với những tỷ lệ khác nhau của nitơ trong các thử nghiệm nhà kính và

trên đồng ruộng Các giống Aceitera và Hnan Dun được sử dụng trong các thử

nghiệm nhà kính và Hnan Dun trong các thử nghiệm đồng ruộng Sự cung cấp nitơ

cao đẩy nhanh sự nở hoa đầu tiên nhưng kéo dài thời gian chín của quả đầu tiên, thời

gian chín được tăng lên liên quan đến sự sản sinh thêm lá và quả Số quả là sự hạn

định chính xác sản lượng hạt trên một cây, trọng lượng từng hạt và số hạt trên một quả

thì kém quan trọng hơn nhiều Trọng lượng khô của quả là một hàm tuyến tính của

diện tích lá trên một cây và cũng tương quan chặt với sản lượng hạt, cũng như là

khoảng thời gian tồn tại của diện tích lá trong thử nghiệm trên đồng ruộng Sản lượng

hạt tăng một cách tuyến tính khi hàm lượng nitơ của cây tăng tới 1,8 gam N/cây nhưng

sau đó đạt đến trạng thái ổn định ở 2,7 gam N Sự cung cấp nitơ đã ảnh hưởng đến

thành phần hóa học của hạt bằng cách tăng hàm lượng prôtêin nhưng không có ảnh

hưởng đến hàm lượng dầu và hàm lượng các thành phần khác [26]

Bón phân cho vừng tùy theo loại đất, lượng mưa và thực tế canh tác ở mỗi địa

phương, theo các tác giả bón đạm phù hợp như bảng sau:

Đất khô lượng mưa hàng năm dưới 700 mm

Đất khô lượng mưa hàng năm trên 700 mm

Tưới đầy đủ (304 mm)

Bán tưới (152-203 mm)

25-35 đơn vị N 30-60 đơn vị N 60-80 đơn vị N 40-60 đơn vị N

Có thể bón lót trước trồng nhưng không nên ở mức cao quá 50 đơn vị đạm,

cây nhìn đẹp nhưng không cho năng suất cao, bón lót trước trồng 10 - 20 đơn vị

đạm kết hợp tưới nước là phù hợp Hàm lượng đạm trong hạt vừng cao khoảng

25%, ước tính 1 tấn hạt vừng chứa 16 - 19 kg N, thân cây 1 tấn chứa 27 kg N trả lại

cho đất sau khi thu hoạch là lượng phân xanh quý cho canh tác [26]

Sản lượng hạt và phản ứng sản lượng của vừng tới phân bón bị ảnh hưởng bởi

dinh dưỡng đất, ngày gieo, giống, mật độ, khoảng cách hàng và độ ẩm sẵn có trong

Formatted: Condensed by 0.2 pt

Formatted: Font: Not Bold

Formatted: Space Before: 6 pt

Trang 26

suốt thời gian trồng vừng Mỗi yếu tố này có thể ảnh hưởng đến yêu cầu dinh dưỡng của cây và lượng phân bón tối thích Ước tính từ sự phân tích hạt vừng được thu hoạch ở các vùng khác nhau của Astralia thấy rằng 1 tấn hạt vừng sẽ lấy khoảng 35

- 48 kg N/ha tùy thuộc vào mức dinh dưỡng của đất đai và địa phương [6], [7] Theo nghiên cứu của Bennett, với lượng phân Nitơ 60 kg/ha bón vào thời điểm gieo dường như là thích hợp đối với các giống như Yori 77 Khi lượng phân Nitơ được chia đôi, việc bón nitơ trước lúc ra hoa làm tăng sản lượng nhưng bón nitơ sau khi ra hoa làm sản lượng bị sụt giảm Rất ít công trình về phản ứng của vừng đối với phân phốt phát và những kết quả sơ bộ không mang tính thuyết phục

Về các dinh dưỡng vi lượng, bón 1 mg Bo/kg đất ở các mảnh ruộng thí nghiệm thì tăng lượng quả và trọng lượng hạt trên cây nhưng bón Bo với mức cao hơn làm giảm sự phát triển của rễ và tăng tỷ lệ chồi cây/rễ [10]

Sharar M.S và cs., 2000 nghiên cứu sinh trưởng và năng suất các dòng vừng ở các mức bón NP khác nhau Thí nghiệm với 4 dòng vừng T-89, TS-3, 92001, 90005

và 3 mức NP là 0-0, 25-25 và 50-50 kg/ha Kết quả cho thấy dòng vừng TS-3 cho năng suất cao hơn và sai khác có ý nghĩa so với các dòng khác do số quả/cây, số hạt/quả và khối lượng 1000 hạt Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng vừng chịu ảnh hưởng khác nhau và có sự sai khác có ý nghĩa ở các mức

NP áp dụng Năng suất hạt tăng cao nhất 113% đã được ghi nhận tại mức NP 50-50 kg/ha Hàm lượng dầu cũng chịu ảnh hưởng của các mức NP, đạt cao nhất 48,48%

ở mức 50-50 kg/ha [37]

Nghiên cứu của Malik M.A và cs., 2003 về ảnh hưởng của các mức bón đạm

và các phương pháp khác nhau gieo đến năng suất của vừng Thí nghiệm với 3 mức bón N (0, 40 và 80 kg/ha) và 4 phương pháp gieo (gieo hàng đơn, gieo hàng đôi, gieo lỗ và gieo vãi) Kết quả cho thấy, các mức bón đạm và phương pháp gieo khác nhau có ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất Với mức bón đạm 80 kg/ha cho năng suất và hàm lượng dầu là lớn nhất, đạt lần lượt 0,79 tấn/ha và 45,88% [30]

Muhamman M.A, Gungula D.T và Sajo A.A nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón đạm và lân khác nhau đến đặc điểm hình thái và năng suất vừng tại Mubi, bắc Guinea Savanna của Nigeria Thí nghiệm được tiến hành trong 2 năm 2005 và

Trang 27

27

Họ cho rằng, mức đạm bón N đã có tác động mạnh mẽ tới khối lượng khô của lá,

khối lượng khô của cây ở 8 tuần sau gieo và tại thời điểm thu hoạch, số quả/cây,

năng suất cá thể Tại mức bón đạm 90 kg/ha và mức bón lân 45 kg/ha cho kết quả

tối ưu nhất [32]

Ở miền Bắc Sudan, việc luân canh cây trồng không đồng đều, nông dân chú

trọng nhiều hơn vào các cây vụ Đông và hoạt động nông nghiệp bị hạn chế vào mùa

Hè Năm 2008, Abdel Rahman, A El Mahdi đã nghiên cứu sự phản ứng của giống

vừng Shuak với phân đạm và lân Thí nghiệm bố trí theo kiểu ô chính phụ với 4 lần

nhắc lại; 3 mức lân nghiên cứu gồm 0, 22, 44 kg P2O5/ha được đặt trong ô chính, 5

mức đạm gồm 0, 22, 44, 66 và 88 kh N/ha được đặt trong ô phụ Kết quả nghiên

cứu cho thấy rằng phân đạm đã ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa đến số cây/m2, số

nhánh/cây, số quả/cây và năng suất hạt trên một đơn vị diện tích Năng suất hạt cao

nhất và thấp nhất đạt được ở các mức đạm tương ứng là 44 kg/ha và 0 kg/ha Các

mức lân áp dụng không ảnh hưởng có ý nghĩa đến các chỉ tiêu nghiên cứu Tuy

nhiên, sự tương tác giữa đạm và lân lại ảnh hưởng đến các chỉ tiêu Những kết quả

thu được chứng minh vừng có thể được đưa vào chu kỳ luân canh trong mùa Hè ở

miền Bắc Sudan và năng suất cây trồng có thể được tăng lên đáng kể bằng cách sử

dụng phân bón [2]

Fathy S El-Nakhlawy and Mohamed A Shaheen nghiên cứu về tác động của

các mức bón đạm khác nhau tới năng suất, yếu tố cấu thành năng suất và hàm lượng

dầu của các giống vừng khác nhau ở Makkah, Ả - rập Xê – út Nghiên cứu được

tiến hành trong 2 năm 2007 và 2008, bố trí theo kiểu ô vuông lớn - nhỏ với 4 mức

bón đạm (0, 100, 150 và 200 kg/ha) với 3 giống vừng (vừng địa phương, giống

Shandaweel, giống Sudan-1) và 4 lần nhắc lại Kết quả cho thấy: đạm đã có tác

động tới ngày ra hoa, chiều cao cây, số nhánh/cây, số quả/cây, số hạt/quả, năng suất

hạt giống và khối lượng hạt Giống vừng địa phương năng suất lớn nhất tại 2 mức

bón đạm 150 và 200 kg/ha, đạt lần lượt là 862,47 và 869,45 kg/ha Giống

Shandaweel năng suất xếp thứ 2 và đạt cao nhất tại 2 mức bón 150 và 200 kg/ha,

đạt lần lượt là 733,37 và 729,89 kg/ha Giống có năng suất thấp nhất dưới các mức

bón đạm khác nhau là giống Sudan-1 Tuy nhiên, không tìm thấy sự tương tác giữa

đạm và giống hay phân đạm, giống đến hàm lượng dầu của các giống Hàm lượng

Formatted: Portuguese (Brazil) Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil) Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 28

dầu của các giống vừng địa phương, giống Shandaweel và giống Sudan-1 tương

đương nhau đạt lần lượt là 45,37%, 45,96% và 45,80% [18]

H.E Shehu, J.D Kwari và M.K Sandabe, 2009 nghiên cứu về dinh dưỡng

đạm, lân, kali cho cây vừng ở Mubi, Nigieria Thí nghiệm nghiên cứu ở 4 mức đạm

là 0; 18,75; 37,5; 56,25 mg N/1 kg đất hay 0; 37,5; 75 và 112,5 kg/ha; 4 mức lân là

0; 11,25 và 22,5 mg P/1 kg đất hay 0; 22,5 và 45 kg/ha và 3 mức Kali là 0; 11,25;

22,5 mg K/1 kg đất hay 0; 22,5; 45 kg/ha Có 36 công thức lặp lại 3 lần với tổng số

ô thí nghiệm là 108 ô Thí nghiệm bố trí theo kiểu CRD N, P, K được sử dụng

tương ứng từ phân amoni nitrat, canxi hydro phosphate và muối kali clorua Kết quả

cho thấy, số nhánh, số lá, số hạt/quả, năng suất đạt cao nhất ở mức đạm 112,5

kg/ha Số lá và khối lượng chất khô đạt tối thích ở mức 75 kg N/ha Số hạt/quả

không chịu ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa của các mức đạm sử dụng Ở mức 22,5 kg

P/ha chiều cao cây và số nhánh đạt tối thích, trong khi số lá, số hạt/quả, năng suất

và vật chất khô đạt tối thích ở mức 45 kg P/ha Kali ảnh hưởng không có ý nghĩa

đến số nhánh, số hạt/quả, năng suất và vật chất khô trong khi số lá, số quả/cây đạt

tối thích ở mức tương đương 22,5 và 45 kg K/ha Kết luận lại, sử dụng 75 kg N/ha,

45 kg P/ha và 22,5 kg K/ha cho năng suất hạt đạt cao nhất [39]

Abdalsalam và cs nghiên cứu đặc trưng về sinh trưởng, phát triển của các

giống vừng dưới các mức đạm khác nhau tại trại thực nghiệm đại học Sana’a trong

2 năm 2008, 2009 Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu ô chính phụ trong đó 4 mức

đạm gồm 0, 50, 100, 150 kg N/ha được đặt trong ô chính, 2 giống vừng gồm giống

Kod-94 và 1 giống vừng địa phương được đặt trong ô phụ Kết quả thu được cho

thấy, các mức phân đạm làm tăng đáng kể sự tăng trưởng của các đặc điểm thực vật

học, năng suất/ha, các yếu tố cấu thành năng suất Giá trị năng suất cao nhất 1,26

tấn/ha và hàm lượng dầu 51,7% ở giống vừng Kod-94 khi bón ở mức 150 kg N/ha

Các công thức đối chứng không bón đạm ở cả 2 giống đều cho các giá trị đạt thấp

nhất Kết quả cũng cho thấy rằng, giống địa phương rất dễ bị nhiễm các bệnh do

nấm trong khi giống Kod-94 kháng được các loại nấm và không có biểu hiện bệnh ở

tất cả các giai đoạn sinh trưởng dưới các mức phân đạm khác nhau [1]

1.1.4.2 Nghiên cứu về mật độ

Theo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp tưới và khoảng cách

hàng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất giống vừng đen địa phương ở

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil), Not Highlight Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil), Not Highlight Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 29

29

Thổ Nhĩ Kỳ của S Gercek và cs., 2004 khi thiết kế thí nghiệm theo kiểu ô chính

phụ, trong đó hai phương pháp tưới là tưới phun mưa và tưới nhỏ giọt được bố trí

vào ô chính, 4 khoảng cách hàng tương ứng là 500-300, 700-300, 800-400, 700-700

mm được bố trí vào các ô phụ, thí nghiệm nhắc lại 3 lần, kết quả cho thấy năng suất,

chiều cao cây và số quả/hạt chịu ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa thống kê bởi phương

pháp tưới và khoảng cách hàng Giá trị năng suất vừng đạt được ở trong 2 năm

nghiên cứu ở phương pháp tưới phun và tưới nhỏ giọt tương ứng là 1440 và 1732

kg/ha Năng suất cao nhất đạt được ở công thức trồng với khoảng cách hàng 500

-300 mm (1913 kg/ha) và thấp nhất ở khoảng cách hàng 700 mm (1220 kg/ha) [19]

Theo cuốn “Growth and development of sesame” của D.Ray Langham tháng 5

năm 2008 khuyến nghị lượng hạt gieo như sau: nếu gieo theo luống cần 3 - 5 kg/ha,

nếu gieo vãi cần 8 kg/ha Lượng hạt gieo tùy thuộc vào điều kiện đất đai của vùng

trồng Nếu đất tốt, nhiều dinh dưỡng và đủ nước thì cần ít lượng hạt giống hơn so với

đất nghèo dinh dưỡng, bạc màu, khô hạn (D.R Langham, 2008) [28]

D Ray Langham và cộng sự năm 2006 cũng cho rằng, mật độ khoảng cách

trồng đối với vừng tối ưu hàng x hàng từ 20 - 40 cm tùy giống và khả năng tưới

hoặc mưa, trồng 2 hàng trên luống là cho năng suất tốt nhất Khoảng cách cây x cây

từ 15 đến 22 cm tùy giống và điều kiện mưa hoặc có tưới [27]

Theo A Rahnama và A Bakhshandeh cho rằng, thí nghiêm được tiến hành với

khoảng cách hàng - hàng là 37,5, 50, 60 cm và khoảng cách cây - cây là 5, 10, 15, 20

cm Các khoảng cách này tương đương mật độ từ 83.000 đến 530.000 cây/ ha Kết

quả cho thấy, với khoảng cách trồng hàng - hàng 37,5 cm và cây - cây là 10 cm cho

năng suất cao nhất Đây cũng là mật độ tối ưu cho các giống vừng không phân nhánh

được khuyến nghị trồng trên các mô hình ở Khuzestan [36]

G N Udom, A S Fagam and E Ekwere, 2006 nghiên cứu ảnh hưởng của

khoảng cách hàng và số lần làm cỏ đến năng suất của vừng trồng xen đậu đũa tại

Nigeria cho kết quả thấy rằng số lượng quả/cây, khối lượng 1000 hạt và năng suất

vừng tăng có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) khi làm cỏ 1 lần; các thông số trên không bị

ảnh hưởng có ý nghĩa khi làm cỏ 2 lần Chiều dài quả, số quả/cây, năng suất quả và

năng suất hạt chịu ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa (P < 0,05) bởi khoảng cách hàng

Formatted: Condensed by 0.1 pt

Formatted: Condensed by 0.1 pt Formatted: Line spacing: Multiple 1.6 li

Formatted: Portuguese (Brazil), Condensed by

Trang 30

Năng suất quả và hạt tăng có ý nghĩa (P < 0,05) với khoảng cách hàng giảm và ngược

lại, chiều dài quả giảm khi khoảng cách hàng giảm [42]

Theo Olowe V.I.O, 2007 cho rằng, mật độ trồng vừng nên là hàng - hàng 60

cm, cây - cây 5 cm, tương đương với mật độ 333.000 cây/ha [34]

Theo hướng dẫn kỹ thuật canh tác của Kerala năm 2008 tỷ lệ hạt gieo 4 - 5

kg/ha, khi gieo vãi nên trộn lẫn với cát để đảm bảo mức độ đồng đều

Theo Nandita Roy và cộng sự năm 2009 đã thực hiện thí nghiệm nghiên cứu

đánh giá ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của

vừng tại trường đại học Khulna của Bangladesh Thí nghiệm sử dụng các giống

vừng ký hiệu là V1 = T6, V2 giống địa phương và V3 = BINA Til, với 3 khoảng

cách hàng ký hiệu S1= 15 cm, S2 = 30 cm và S3 = 45 cm, khoảng cách cây x cây là

10 cm như vậy S1 = 15 x 10, S2 = 30 x 10 và S3 = 45 x 10 cm Kết quả nghiên cứu

cho thấy giống và khoảng cách hàng có ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa đến năng suất

vừng Giống có năng suất hạt cao nhất là V3 và giống có năng suất thấp nhất là V2

(giống địa phương) Khoảng cách hàng cho năng suất cao nhất là 30 cm và khoảng

cách hàng cho năng suất thấp nhất là 45 cm Năng suất hạt cũng tương quan chặt

với số quả trên cây và số hạt/quả Các tác giả cho rằng khoảng cách hàng là yếu tố

quan trọng để tăng năng suất vừng do nó ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận ánh

sáng, nước và dinh dưỡng của cây vừng [33]

1.1.4.3 Phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh và công nghệ sau thu hoạch

Sự sinh trưởng của vừng sau khi nảy mầm chậm và vì thế cỏ dại có thể phát

triển dẫn đến sự giảm sản lượng Hiện chưa có loại thuốc diệt cỏ trước nảy mầm có

hiệu quả, vì vậy đối với sự kiểm soát cỏ dại có hiệu quả chắc chắn phải chuyển sang

lớp phủ bề mặt và các loại thuốc diệt cỏ sau khi nảy mầm Martin đã đề nghị những

bước sau đây để kiểm soát cỏ dại trong các vụ trồng vừng: 1 Sau khi trồng có mưa,

áp dụng thuốc diệt cỏ vào ngày trước khi gieo vãi một lớp thực vật để cung cấp một

lớp phủ bề mặt có hiệu quả 2 Gieo ở tỷ lệ cây non để diệt trừ cỏ dại 3 Phun thuốc

diệt cỏ trước nẩy mầm 4 Trước khi có sự khép tán, đánh giá chắc chắn những thiệt

hại do cỏ gây ra tại thời điểm khép tán từ việc chuyển đổi trong diện tích bề mặt lá

liên quan của cỏ dại 5 Phun thuốc diệt cỏ sau khi nẩy mầm nếu thấy cần thiết [31]

Formatted: Level 1, Indent: First line: 0" Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 31

31

Yeates và cộng sự đã nghiên cứu về những hệ thống làm đất và luân canh đối

với vừng ở miền Tây Bắc Australia Họ cho rằng vừng là loại cây thích hợp cho sự

chuyển đổi với những cây trồng chính lấy hạt có khu vực, bởi vì ngày gieo tối thích

của nó rơi vào những ngày thu hoạch cây ngũ cốc (ngô, lúa miến) và đậu xanh Họ

chỉ ra rằng ít thông tin sẵn có đề cập sự luân canh của vừng và bãi cỏ bị bỏ hoá

nhưng cho rằng một sự luân canh giữa vừng và bãi cỏ bị hoang hoá dường như

không gây ra bất cứ khó khăn nào Tuy nhiên các cây họ đậu trong các bãi bỏ hoang

thích nghi với điều kiện địa phương có thể sản sinh phần lớn hạt cứng và những hạt

này có thể nảy mầm và cạnh tranh với cây vừng ở vụ tiếp theo Không có một loại

thuốc diệt cỏ nào được lựa chọn đã được biết đến để kiểm soát cỏ dại thuộc loại họ

đậu này Làm đất theo phương pháp truyền thống được ưa thích bởi các nông dân đi

đầu trong việc trồng vừng, đó là không làm đất khi gieo vì hạt vừng quá nhỏ (dẫn

theo Kang C.W., 2001) [23]

Các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu tập trung vào sự đa dạng nguồn gen cây

vừng và ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất vừng Các

biện pháp kỹ thuật như chọn tạo giống, mật độ, phòng trừ sâu bệnh hại và công

nghệ sau thu hoạch chưa được tập trung nghiên cứu nhiều

1.2 Tình hình nghiên cứu cây vừng ở Việt Nam

1.2.1 Các nghiên cứu về đánh giá và khai thác nguồn gen cây vừng

Ở Việt Nam, vừng là một loại cây trồng đã được trồng từ lâu đời và hiện nay

phân bố chủ yếu ở vùng Bắc Trung bộ và vùng Đông Nam bộ Trong năm 2009,

thực hiện đề án Nhân lại và mô tả đánh giá cây có dầu thuộc Bộ môn Nhân giống và

đánh giá nguồn gen thuộc Trung tâm tài nguyên di truyền thực vật Việt Nam Trong

tổng số hàng ngàn mẫu giống cây có dầu, có 107 nguồn gen vừng được thu thập từ

những vùng khác nhau trong cả nước, trong đó có khoảng 60 mẫu giống thu thập ở

vùng Bắc Trung bộ (Viện TNDT Thực vật)

Hiện nay, công tác thu thập nguồn gen cây có dầu nói chung và cây vừng nói

riêng được thực hiện bởi Trung tâm tài nguyên di truyền thực vật và Trung tâm

nghiên cứu cây có dầu Kết quả thu thập, đánh giá và chọn lọc các giống vừng hiện

nay đã đưa ra được những giống có triển vọng phục vụ cho nhu cầu sản xuất như

giống vừng V6, V36 [2]

Trong chương trình Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo

Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 32

giống cây lạc, vừng, đậu tương & xây dựng mô hình cơ giới hóa để tăng năng suất

và chất lượng sản phẩm được sự hỗ trợ của Bộ Công thương Kết quả hàng năm

nguồn gen cây vừng ở nước ta được tăng lên về lượng và đã có một số giống vừng

triển vọng được đưa vào khảo nghiệm trên diện rộng năm 2004

Trong thời gian từ năm 2003 đến năm 2005 Dự án cấp nhà nước “Hoàn thiện

qui trình kỹ thuật sản xuất giống vừng mới V6 đạt năng suất cao, chất lượng tốt”

(Mã số: KC.06.DA.13NN) do Bộ Khoa học & Công nghệ đăt hàng Kết quả của đề

án đã xây dựng hoàn chỉnh quy trình kỹ thuật sản xuất giống vừng V6 năng suất

cao, đã sản xuất được 700 tấn giống V6 cung cấp cho các tỉnh Đông Nam Bộ và

Đồng bằng sông Cửu Long [9]

Trong chương trình khai thác và phát triển nguồn gen cây có dầu do TS Võ

Văn Long thực hiện năm Kết quả đề án đã thu thập được 10 giống cây có dầu có

nguồn gen quý hiếm, trong đó có 1 giống vừng Đã khai thác, sản xuất giống với quy

mô thử nghiệm 0,82 ha vừng Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế: thu nhập do khai

thác các giống cây có dầu mới này tăng thêm 5,2 triệu đồng (giống vừng đen V36)

so với thu nhập do trồng các giống thông thường khác [1]

Trong công tác nghiên cứu cơ bản, ở Việt Nam mới chỉ tập trung nghiên cứu

mô tả một số đặc điểm hình thái và kỹ thuật phòng trừ một số loài sâu hại vừng

(Trần Văn Lài và cs., 1993) Những nghiên cứu về sự di truyền, phản ứng của cây

vừng với các điều kiện canh tác khác nhau chưa được quan tâm đúng múc Đặc biệt

là những nghiên cứu về khả năng chống chịu của cây vừng đối với điều kiện hạn

hán, úng, sâu và bệnh hại [3]

Nghiên cứu về cây vừng ở Việt Nam được chú ý ở mức cao hơn khi Tập đoàn

Kodoya của Nhật Bản có những hợp đồng thu mua sản phẩm vừng của Việt Nam

(dẫn theo Hoàng Văn Sơn và cs., 2004) Sau đó, Nguyễn Vy và cs (1994 - 1995) ở

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên cứu cây có dầu, Viện

Thổ nhưỡng Nông hoá và Sở Nông nghiệp và PTNT Nghệ An đã thực hiện một

chương trình hợp tác để khảo nghiệm, đánh giá 4 giống địa phương và 27 giống nhập

nội (17 giống Nhật, 3 giống Myanma, 1 giống Uganda, 1 giống Tanzania, 1 giống

Maroc) Đến năm 1996, tổng số tập đoàn thu thập của Việt Nam đã đạt 40 mẫu Kết

quả đã chọn ra được 2 giống là giống vừng trắng V6 và giống vừng đen V36 đáp ứng

được năng suất và chất lượng và được khuyến cáo trồng trên diện rộng tại Nghệ An

Formatted: Condensed by 0.1 pt

Trang 33

33

(dẫn theo Hoàng Văn Sơn và cs., 2004) [5]

Bên cạnh việc khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm hình thái của các giống

vừng Phan Bùi Tân và cs (1996) đã có những nghiên cứu chọn lọc các dạng phân

ly theo hướng năng suất cao và đã chọn được giống V6_CL có năng suất cao hơn

giống gốc V6 Đây được xem là một trong những công trình duy nhất ở Nghệ An

nói riêng và Việt Nam nói chung thành công trong việc khai thác nguồn gen cây

vừng từ tập đoàn thu thập [6]

1.2.2 Nghiên cứu chọn tạo giống vừng

Ở Việt Nam, trong lĩnh vực điều tra chọn giống, vào năm 1995, đứng trước

một thực tiễn là giống vừng V6 có hiện tượng phân ly mạnh khi được gieo trồng

trên vùng đất cát ven biển Nghệ An, Phan Bùi Tân và cộng sự đã tiến hành một

chương trình chọn lọc các kiểu hình biến dị có năng suất cao, đã chọn và nhân được

một dòng có năng suất cao hơn giống vừng V6, đặt tên là giống V6 - CL Đây có lẽ

là công trình điều tra tuyển chọn giống cây vừng duy nhất trên địa bàn Nghệ An từ

trước tới nay được công bố

Nghiên cứu về cây vừng ở Việt Nam và nhất là ở Nghệ An được chú ý hơn khi

tập đoàn Kodoya của Nhật Bản đã có những hợp đồng thu mua vừng của Việt Nam,

mở ra một thị trường mới cho cây vừng Việt Nam nói chung và cây vừng của tỉnh

Nghệ An nói riêng Trong 2 năm 1994 và 1995, Nguyễn Vy và các cộng sự ở Viện

Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên cứu dầu thực vật, Viện

Thổ nhưỡng - Nông hoá, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An đã tiến

hành 4 vụ khảo nghiệm các giống địa phương của Việt Nam cùng với một số giống

nhập nội và đi đến kết luận các giống địa phương vừa có năng suất thấp vừa không

đáp ứng được những tiêu chuẩn về chất lượng để xuất khẩu Trong quá trình khảo

nghiệm một số giống nhập nội, bước đầu các nhà khoa học đã chọn được một số

giống có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng được những yêu cầu xuất khẩu trong

đó có giống vừng V6 (hạt màu trắng) và giống vừng V36 (hạt màu đen) có nguồn

gốc từ Nhật Bản được xem là giống có nhiều triển vọng Giá trị kinh tế của vừng V6

và một số cây trồng khác khi canh tác trên các loại đất như đất cát ven biển, đất bạc

màu, đất bạc màu cổ, đất phù sa đã được so sánh và các tác giả đã đi đến kết luận

trên những vừng đất bạc màu hoặc đất cát ven biển thì vừng là loại cây trồng cho

giá trị kinh tế cao nhất [10]

Formatted: Condensed by 0.1 pt

Trang 34

1 2.3 Nghiên cứu về phân bón và kỹ thuật thâm canh cho cây vừng

Trần Văn Lài và cộng sự (1993) đã mô tả đã mô tả một số đặc điểm hình

thái của 5 giống vừng, các yếu tố thời tiết ảnh hưởng đến cây vừng và các biện

pháp kỹ thuật canh tác, phòng trừ sâu bệnh cho cây vừng [3]

Hoàng Văn Sơn và cộng sự (2004) đã nghiên cứu một số đặc điểm nông học

của một số giống vừng ở Nghệ An và thu được kết quả là: các đặc điểm về chiều cao

thân, đường kính thân, số hạt trên quả và trọng lượng 1000 hạt là những yếu tố quan

trọng quyết định đến năng suất vừng; độ ổn định của các chỉ số về đặc tính nông học

của các giống vừng không chỉ phụ thuộc vào giống mà còn phụ thuộc vào chế độ

phân bón [5]

Từ 2003 - 2005, Nguyễn Hữu Hơn đã nghiên cứu đề tài "Khảo nghiệm các biện

pháp kỹ thuật sản xuất vừng V6 vụ hè thu an toàn và hiệu quả kinh tế cao" và thu

được kết quả là: Giải pháp kỹ thuật "cày bừa ngay sau khi thu hoạch lạc xuân, lên

luống rộng 1,2 m, cao 15 cm và gieo vừng ngay" vừng phát triển tốt hơn các giải

pháp khác; Bón phân NPK Việt Nhật loại 16:16:8 đã có hiệu quả cao hơn so với bón

phân đơn và NPK loại 5:10:3; Phương pháp bón phân: Nền "bón lót 70% + 30% bón

thúc lần 1 khi vừng 4 - 5 lá" là phương pháp tốt nhất [2]

Về sự hợp tác quốc tế trong nghiên cứu cây vừng, từ năm 1997 đến năm 2000,

trung tâm Khuyến nông - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An đã phối

hợp với viện nghiên cứu Lân và Kali Canada (Potash & Phosphate Institute of

Canada) tiến hành nghiên cứu dự án mang tên “Balanced fertilization for maximum

economic yield in sesame - based cropping systems on marine sandy soils in Nghe

An provice” Kết quả nghiên cứu của dự án cho thấy với tỉ lệ bón N - P2O5 - K2O là

195 - 165 - 180 kg/ha kết hợp với phân chuồng sẽ cho sản lượng cao nhất và chất

lượng hạt vừng tăng đáng kể Cũng theo kết quả nghiên cứu của công trình này thì

nếu cây vừng được luân canh với cây lạc và ngô thì sẽ cho hiệu quả kinh tế cao và

cải thiện đáng kể hàm lượng chất hữu cơ trong đất (dẫn theo Hoàng Văn Sơn và cs.,

2004) [5]

Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều các công trình nghiên cứu đầy đủ về các

biện pháp kỹ thuật nhằm thâm canh, tăng năng suất cây vừng Các nghiên cứu về

phân bón hóa học chỉ tập trung vào phân tổng hợp NPK Chưa có công trình nào

Formatted: Condensed by 0.1 pt

Trang 35

35

nghiên cứu riêng rẽ về ảnh hưởng của các nguyên tố N, P, K đối với sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất cây vừng

1.2.4 Nghiên cứu phòng trừ cỏ dại, sâu bệnh và công nghệ sau thu hoạch

Về sâu hại cây vừng và côn trùng ký sinh, Nguyễn Thị Thanh, Trần Ngọc Lân (2005) đã nghiên cứu về côn trùng ký sinh trên một số giống vừng ở huyện Nghi Lộc

- Nghệ An cho thấy sâu xanh (Helicoverpa armigera Hub.) là một trong các loài sâu

hại chính trên cây vừng ở huyện Nghi Lộc, Nghệ An; tập hợp côn trùng ký sinh sâu

xanh gồm: Xanthopimlla punctata Fabr., Ichneumon sp., Brachymeria sp., Elasmus sp.1, Elasmus sp.2, Trichhomalopsis sp., Tachinidae sp trong đó Ichneumon sp., Brachymeria sp., Elasmus sp.2 là các loài ký sinh chủ yếu trên sâu non và nhộng sâu

xanh hại vừng [7]

Chưa có nhiều các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ cỏ dại và sâu bệnh hại cây vừng cũng như các biện pháp thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch nhằm đảm bảo năng suất và chất lượng hạt vừng ở Việt Nam

Trang 36

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu 3 nội dung sau:

1 Ảnh hưởng của mật độ, mức phân đạm bón đến các đặc điểm hình thái và

nông học của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng

NV10 trên đất cát pha huyện Nghi Lộc, Nghệ An

2 Ảnh hưởng của mật độ, mức phân đạm bón đến năng suất và các yếu tố cấu

thành năng suất của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng

NV10 trên đất cát pha huyện Nghi Lộc, Nghệ An

3 Ảnh hưởng của mật độ, mức phân đạm bón đến hàm lượng lipít và prôtêin

của giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10 trên đất

cát pha huyện Nghi Lộc, Nghệ An

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè Thu năm 2011 tại Trại thực nghiệm

nông nghiệp, khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh

Thời gian: từ 18 tháng 06 đến ngày 15 tháng 09 năm 2011

2.3 Vật liệu nghiên cứu

 Giống vừng nghiên cứu

Thí nghiệm nghiên cứu ba giống vừng có nguồn gốc như sau:

1 Dòng vừng triển vọng NV10 được chọn tạo từ tập đoàn giống vừng tại khoa

Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh

2 Giống vừng đen Hương Sơn (giống địa phương)

3 Giống vừng Vàng Diễn Châu (giống địa phương)

 Phân bón nghiên cứu

Thí nghiệm nghiên cứu 4 mức phân đạm N1, N2, N3, N4 tương ứng lần lượt

Formatted: List Paragraph, Indent: Left:

0.39", Hanging: 0.2", Space Before: 0 pt, Line spacing: Multiple 1.55 li, Bulleted + Level: 1 + Aligned at: 0.64" + Indent at: 0.89"

Formatted: Line spacing: Multiple 1.55 li

Formatted: Indent: Left: 0.39", Hanging:

0.2", Space Before: 0 pt, Line spacing: Multiple 1.55 li

Formatted: Line spacing: Multiple 1.55 li

Trang 37

1) Thí nghiệm 1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức đạm đến tăng trưởng và

năng suất giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10

1 Công thức thí nghiệm

- Thí nghiệm với 3 giống vừng và 4 mức đạm

- Mức phân bón nền 5 tấn phân chuồng + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O áp

dụng cho toàn bộ thí nghiệm, thí nghiệm cho biến động mức bón đạm là N1 = 0

kg/ha; N2 = 30 kg/ha; N3 = 60 kg/ha; N4 = 90 kg/ha

- Số công thức thí nghiệm 3 x 4 = 12, số ô thí nghiệm 3 lần nhắc lại = 12

x 3 = 36, diện tích ô thí nghiệm 10 m2 và tổng thí nghiệm 360 m2

2 Bố trí thí nghiệm:

Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu ô chính ô phụ (Split Plot Design) với 3 lần

nhắc lại Ba dòng, giống vừng nghiên cứu (ĐHS, VDC và NV10) được ngẫu nhiên ở

ô chính và bốn mức bón phân đạm (0, 30, 60, 90 kg/ha) được ngẫu nhiên vào các ô

phụ với kích thước 2 m x 5 m (10 m2)

Sơ đồ thí nghiệm như sau:

Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Formatted: Indent: Left: 0.39", Hanging:

0.2", Space Before: 0 pt

Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Indent: First line: 0", Line

spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: Bold Formatted: Font: Bold Formatted: Font: Bold Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Line

spacing: 1.5 lines

Formatted: Vietnamese Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Indent: Left: 0", Space Before: 0

pt, Line spacing: single

Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt

Trang 38

Thí nghiệm 2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tăng trưởng và năng

suất giống vừng đen Hương Sơn, vừng vàng Diễn Châu và dòng vừng NV10

Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu ô chính ô phụ (Split Plot Design) với 3 lần

nhắc lại Ba giống vừng nghiên cứu (ĐHS, VDC và NV10) được ngẫu nhiên ở ô

chính và ba mật độ gieo trồng (M1, M2, M3) được ngẫu nhiên vào các ô phụ với kích

thước 2 m x 5 m (10 m2

)

Sơ đồ thí nghiệm như sau:

Ghi chú : ĐHS: vừng đen Hương Sơn, NV10: dòng vừng mới, VDC : vừng vàng Diễn

Châu, M1, M 2, M 3 là ba mật độ gieo trồng tương ứng cho các giống vừng nghiên cứu.

2.4.2 Kỹ thuật áp dụng

Thí nghiệm 1 Thí nghiệm được tiến hành bằng các biện pháp kỹ thuật nông

nghiệp thông thường

Phân bón nền sử dụng cho 1 ha là: 5 tấn phân chuồng + 60 kg P2O5+ 60 kg K2O

Mật độ: Khoảng cách hàng 20cm; khoảng cách cây 10 cm, tương ứng mật độ

500.000 cây/ha

Thí nghiệm 2 Thí nghiệm được tiến hành bằng các biện pháp kỹ thuật nông

nghiệp thông thường

Formatted: Indent: First line: 0.39", No

bullets or numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Left, Indent: Left: 0", First line:

0.79", Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering, Tab stops: Not at 0.7"

Formatted: Indent: First line: 0.39", Line

spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: 13 pt, English (U.S.)

Formatted: Vietnamese Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: 12 pt Formatted: Indent: Left: 0", First line: 0.4",

Line spacing: single

Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Font: 12 pt Formatted: Indent: Left: 0", Space Before: 6

Trang 39

39

Phân bón sử dụng cho 1 ha là: 5 tấn phân chuồng + 60 kg N + 60 kg P2O5+ 60

kg K2O

2.4.3 Chỉ tiêu theo dõi

a Lượng mẫu và phương pháp lấy mẫu theo dõi

Mỗi ô lấy mẫu theo dõi 10 cây cố định từ khi gieo đến khi thu hoạch,

định kỳ theo dõi 7 ngày 1 lần

b Theo dõi sinh trưởng phát triển

- Theo dõi 10 cây mẫu về các giai đoạn sinh trưởng phát triển

- Ngày thu hoạch

- Động thái tăng trưởng chiều cao cây, theo dõi 10 cây mẫu, 7 ngày 1 lần

- Động thái tăng trưởng số lá, theo dõi 10 cây mẫu, 7 ngày 1 lần

c Theo dõi một số tính trạng số lượng

+ - Chiều cao cây cuối cùng

e Theo dõi chống chịu đồng ruộng

Formatted: Font: Bold Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Font: Bold Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Trang 40

- Số quả trên cây

- Khối lượng quả

- Khối lượng hạt/quả

- Khối lượng hạt/cây

Mỗi ô lấy mẫu theo dõi 10 cây cố định từ khi gieo đến khi thu hoạch, định kỳ

theo dõi 7 ngày 1 lần Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng và phát triển của cây

vừng dưới các mức phân bón khác nhau được tiến hành theo phương pháp của

IPGRI (2001) Tiến hành đánh giá theo nguyên tắc đường chéo 5 điểm, mỗi điểm 2

cây

Động thái tăng trưởng chiều cao cây và chiều cao cây cuối cùng

- Từ 20 ngày sau gieo theo dõi chiều cao cây, chọn 10 cây, đánh dấu thứ tự

cây và đo Khoảng cách giữa các lần đo là 7 ngày

- Cách đo: Dùng thước có chia centimet đo từ mắt thứ nhất đến đỉnh sinh

trưởng của cây

Động thái tăng trưởng đường kính thân

- Từ 20 ngày sau gieo theo dõi đường kính thân cây, chọn 10 cây, đánh dấu

thứ tự cây và đo Khoảng cách giữa các lần đo là 7 ngày

- Cách đo: Dùng thước panme đo đường kính thân ở vị trí đốt thứ ba và dánh

dấu vị trí đo bằng sơn màu

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Space Before: 0 pt, No bullets or

numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Space

Before: 0 pt, No bullets or numbering

Formatted: Indent: First line: 0.39", Tab

stops: Not at 0.39" + 1.63" + 1.88" + 2.25" + 3" + 4" + 4.75"

Formatted: Font: Bold, Italic Formatted: Not Expanded by / Condensed by

Ngày đăng: 03/10/2021, 12:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w