1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông

128 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Và Sử Dụng Tài Liệu Tự Học Có Hướng Dẫn Theo Môđun Phần Lượng Giác Lớp 11 Trung Học Phổ Thông
Tác giả Trịnh Hồng Quang
Người hướng dẫn TS. Trần Trung
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Trên cơ sở nội dung chương trình THPT, nếu GV quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học Lượng giác một cách ph

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học vinh

trịnh hồng quang

xây dựng và sử dụng tài liệu tự học

có h-ớng dẫn theo môđun PHầN LƯợNG GIáC

LớP 11 TRUNG HọC PHổ THÔNG

luận văn thạc sĩ giáo dục học

Chuyên ngành: Lý luận và ph-ơng pháp dạy học bộ môn Toán

Mã số: 60.14.10

ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS Trần Trung

vinh, 2011

Trang 2

1.1.3 Vai trò củ a tự họ c trong hoạ t đ ộ ng họ c tậ p 14

1.2.3 Đặ c trưng về NLTH toán củ a họ c sinh THPT 21

1.3 Xây dựng và sử dụng tà i liệ u tự học có hướng dẫ n theo môđun 23 1.3.1 Phương pháp tự họ c có hướng dẫ n theo môđ un 23 1.3.2 Cấ u trúc củ a tà i liệ u tự họ c có hướng dẫ n theo môđ un 26 1.3.3 Quy trình thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun 29

1.4 Thực trạ ng bồi dưỡng nă ng lực tự học cho học sinh trong dạ y

1.4.1 Thực trạ ng hoạ t đ ộ ng tự họ c củ a họ c sinh THPT 32 1.4.2 Thực trạ ng củ a việ c bồ i dưỡ ng NLTH cho họ c sinh trong dạ y

Chương 2 x©y dùng vµ sö dông tµi liÖu tù häc cã

h-íng dÉn Theo m«®un phÇn l-îng gi¸c líp 11

trung häc phæ th«ng

41

Trang 3

2.1 Cơ sở của thiế t kế tà i liệ u tự học có hướng dẫ n theo môđun 41

2.1.1 Tinh thầ n chủ đ ạ o về mặ t khoa họ c củ a chương trình lượng

2.1.2 Mụ c tiêu củ a phầ n kiế n thức LG trong chương trình toán họ c

2.1.3 Nguyên tắ c củ a việ c thiế t kế tà i liệ u tự họ c 42

2.2 Xây dựng các tà i liệ u tự học có hướng dẫ n theo môđun phầ n

2.2.1 Tà i liệ u tự họ c có hướng dẫ n theo môđ un phầ n Lượng giác lớp

2.2.2 Tà i liệ u tự họ c có hướng dẫ n theo môđ un phầ n Lượng giác lớp

2.3 Cách sử dụng tà i liệ u tự học có hướng dẫ n theo môđun phầ n

Trang 5

Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn là nguồn động viên giúp đỡ tác giả

có thêm nghị lực, tinh thần để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin được cảm ơn mọi tấm lòng ưu ái đã dành cho tác giả Vinh, tháng 12 năm 2011

Trịnh Hồng Quang

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử giỏo dục (GD), vấn đề tự học (TH) được quan tõm từ rất sớm í tưởng dạy học coi trọng người học, chỳ ý đến TH đó cú từ thời cổ đại, tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phỏt triển của xó hội mà ý tưởng này đó phỏt triển và trở thành quan điểm dạy học tớch cực Bồi dưỡng năng lực tự học (NLTH) cho học sinh (HS) là điều rất quan trọng và cần thiết trong điều kiện hiện nay Trong thời đại khoa học, kỹ thuật phỏt triển nhanh chúng, nhà trường dẫu tốt đến mấy cũng khụng đỏp ứng được nhu cầu đa dạng của người học Vỡ vậy, chỉ cú TH, tự bồi dưỡng mỗi người mới cú thể bự đắp cho mỡnh những lỗ hổng về kiến thức để thớch ứng với nhu cầu cuộc sống đang phỏt triển Trong tỏc phẩm "Học tập: Một kho bỏu tiềm ẩn" cú khẳng định: học tập suốt đời là một trong những chỡa khoỏ nhằm vượt qua thỏch thức của thế kỷ XXI, Học tập suốt đời sẽ giỳp con người đỏp ứng được những yờu cầu của một thế giới thay đổi nhanh chúng Khụng thể thoả món những đũi hỏi đú được nếu người học khụng học cỏch học

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, TH là một hoạt động cú ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra chất lượng và hiệu quả của quỏ trỡnh dạy học mụn Toỏn Hoạt động học tập của HS ngày nay đang diễn ra trong những điều kiện hết sức mới mẻ Sự hỡnh thành xó hội thụng tin trong nền kinh tế tri thức đang tạo điều kiện nhưng đồng thời gõy sức ộp lớn đối với HS, đũi hỏi cỏc em cú sự thay đổi lớn trong việc định hướng, lựa chọn thụng tin cũng như phương phỏp tiếp nhận,

xử lý, lưu trữ thụng tin Trong hoàn cảnh ấy, tri thức toỏn học mà HS tiếp nhận thụng qua bài giảng của GV trờn lớp trở nờn ớt ỏi HS đang cú xu hướng vượt ra khỏi bài giảng trờn lớp để tỡm kiếm, mở rộng, đào sõu tri thức từ nhiều nguồn thụng tin khỏc nhau Chớnh vỡ vậy, TH trở nờn phổ biến và trở thành một tớnh chất đặc trưng trong dạy học Bồi dưỡng NLTH cho HS chớnh là khõu then chốt để tạo ra "nội lực" nhằm nõng cao chất lượng và hiệu quả dạy học mụn Toỏn Tuy nhiờn, trong thực tế NLTH của HS cũn nhiều hạn chế, hơn nữa

Trang 7

những công trình nghiên cứu về bồi dưỡng NLTH môn Toán cho HS thông qua các phương tiện dạy học hiện đại còn chưa được phổ biến Việc bồi dưỡng NLTH cho HS trở thành một yêu cầu cấp bách, một nhiệm vụ quan trọng trong dạy học hiện nay

Nói tới phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp TH, đó là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Nếu rèn luyện cho người học có được

kỹ năng, phương pháp, thói quen TH, biết ứng dụng những điều đã học vào tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì

sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi người Trong dạy học toán không thể không đi theo xu thế đó, đặc biệt khi môn Toán nói chung và phần Lượng giác nói riêng có một số đặc điểm thuận lợi hơn các môn học khác đối với yêu cầu nói trên

Môđun dạy học là một đơn vị chương trình dạy học được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học Nó chứa đựng cả mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và công cụ đánh giá kết quả học tập, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn chỉnh Môđun dạy học có nhiều cấp độ: môđun lớn gồm các môđun thứ cấp và môđun thứ cấp gồm các môđun nhỏ Trong quá trình dạy học môn Toán hướng đến dạy tự học ở trường Trung học phổ thông, HS sẽ thuận lợi hơn khi tự học với tài liệu có hướng dẫn theo môđun Mỗi môđun dạy học là một phương tiện tự học hiệu quả vì nó tương ứng với một chủ đề dạy học xác định, được phân chia thành từng phần nhỏ với mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể và các test đánh giá tương ứng Trong một bài học, sau khi học xong môđun nhỏ này HS sẽ học sang môđun nhỏ tiếp theo và cứ như thế HS sẽ hoàn thành nhiệm vụ học tập và chiếm lĩnh được tri thức Do tính độc lập tương đối về ND dạy học, GV có thể

“lắp ghép”, “tháo gỡ” các môđun để xây dựng những chương trình dạy học đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu dạy học kiểu phân hoá, cá thể hoá, còn HS dưới sự hướng dẫn của GV có thể tự học theo nhịp độ cá nhân phù hợp với bản thân mình

Trang 8

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "X©y

dùng vµ sö dông tµi liÖu tù häc cã h-íng dÉn theo m«®un phÇn L-îng gi¸c líp 11 Trung häc phæ th«ng"

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số vấn đề lý luận, xây dựng và sử dụng tài liệu tự học

có hướng dẫn theo môđun góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học toán cho học sinh THPT Từ đó xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần LG nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT

3 §èi t-îng, ph¹m vi nghiªn cøu

- §èi t-îng nghiªn cøu: Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun và

năng lực tự học toán của học sinh THPT

- Ph¹m vi nghiªn cøu : Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn

theo môđun phần LG góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh THPT

4 Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở nội dung chương trình THPT, nếu GV quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học Lượng giác một cách phù hợp để bồi dưỡng NLTH cho HS thì sẽ phát huy tính tích cực học tập của HS, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Toán ở trường THPT

5 Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu

- Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu lý luËn: T×m hiÓu c¸c tµi liÖu nh»m hÖ thèng

ho¸ c¬ së lý luËn cña viÖc x©y dùng vµ sö dông tµi liÖu tù häc cã h-íng dÉn theo m«®un trong d¹y häc m«n To¸n

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng bồi dưỡng

năng lực tự học và thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học môn Toán cho HS hiện nay

Trang 9

- Ph-ơng pháp thực nghiệm s- phạm: Tổ chức thực nghiệm s- phạm để

đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung đ-ợc đề xuất

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiờn cứu cơ sở lý luận về NLTH của học sinh THPT Điều tra, đỏnh giỏ thực trạng tự học và bồi dưỡng NLTH cho HS ở trường THPT

- Biờn soạn và sử dụng tài liệu tự học có h-ớng dẫn theo môđun phần Lượng giỏc gúp phần bồi dưỡng NLTH cho HS

- Thực nghiệm sư phạm để đỏnh giỏ tớnh cần thiết và khả thi của việc

sử dụng tài liệu tự học cú hướng dẫn theo mụđun phần LG

7 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc thiết kế tài liệu tự học có h-ớng dẫn theo môđun trong dạy học môn Toán ở tr-ờng THPT góp phần bồi d-ỡng NLTH cho học sinh

- Xây dựng đ-ợc 1 tài liệu tự học có h-ớng dẫn theo môđun phần LG - lớp 11 THPT để sử dụng trong dạy học môn Toán

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 ch-ơng:

Trang 10

Ch-¬ng 1 C¬ së lý luËn vµ thùc tiÔn

1.1 Hoạt động tự học

1.1.1 Hoạt động học

Hoạt động là một khái niệm của tâm lý học hiện đại Một hoạt động bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định Hai hoạt động khác nhau được phân biệt bởi hai đối tượng khác nhau Và đối tượng là động cơ thực sự của hoạt động

- Về phía đối tượng: Động cơ được thể hiện thành các nhu cầu Các nhu

cầu đó được sinh thành từ một đối tượng ban đầu còn trừu tượng, ngày càng phát triển rõ ràng, cụ thể hơn và được chốt lại ở hệ thống các mục đích Mỗi mục đích, lại phải thoả mãn một loạt các điều kiện (hay còn gọi các phương tiện) Mối quan hệ biện chứng giữa mục đích và điều kiện được coi là nhiệm

vụ

- Về phía chủ thể: Chủ thể dùng sức căng cơ bắp, thần kinh, năng lực,

kinh nghiệm thực tiễn, để thỏa mãn động cơ gọi là hoạt động Quá trình chiếm lĩnh từng mục đích gọi là hành động Mỗi điều kiện để đạt từng mục đích, lại quy định cách thức hành động gọi là thao tác

Những điều mô tả trên có thể biểu diễn bởi sơ đồ sau:

Phía đối tƣợng Phía chủ thể

Động cơ Hoạt động

Mục đích Hành động Nhiệm vụ

Điều kiện Thao tác (phương tiện)

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mối liên hệ của đối tượng và chủ thể của hoạt động

Trang 11

Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, trong đó hoạt động học là trung tâm

Hoạt động học tập là một trong những hoạt động của con người, do đó

nó cũng tuân theo cấu trúc tổng quát của hoạt động nói chung, ở đây chỉ bàn đến hoạt động học tập của HS HS tiến hành hoạt động này nhằm lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội, được thể hiện dưới dạng những tri thức, kỹ năng Theo Phạm Minh Hạc [8] có thể có hai cách học, do đó có hai dạng hoạt động khác nhau: Cách thứ nhất nhằm nắm lấy các kinh nghiệm, kỹ năng mới xem như là mục đích trực tiếp; cách thứ hai nhằm tiếp thu các kinh nghiệm và kỹ năng trong khi thực hiện các mục đích khác Thông thường việc học của HS được diễn ra theo cả hai cách, hoạt động học mà ta nghiên cứu ở đây là hoạt động có mục đích theo cách thứ nhất

Một số khía cạnh cơ bản của hoạt động học tập:

+ HS giải quyết các nhiệm vụ của mình nhờ vào các hành động học tập

cụ thể như: tách các vấn đề từ nhiệm vụ; vạch phương hướng giải quyết trên cơ

sở phân tích các mối quan hệ trong tài liệu học tập; mô hình hóa, cụ thể hóa các mối quan hệ đó; kiểm tra tiến trình và kết quả học tập

+ Các hành động trên được thực hiện bởi các thao tác tư duy đặc trưng như phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp, suy luận lôgíc, Tuy nhiên toàn bộ quá trình này không tự diễn ra mà đòi hỏi phải có điều kiện là sự kích thích nhất định trong các giai đoạn: phát hiện vấn đề; nhận thấy có mâu thuẫn, hình thành động cơ, tìm tòi và khái quát hóa,

Trang 12

- Về hình thức: Hoạt động học điển hình có thể diễn ra trong thời gian

trên lớp, khi GV thực hiện vai trò chỉ đạo, hướng dẫn hoặc trong khi hoạt động độc lập trên lớp và cả khi làm bài tập ở nhà

Hoạt động học có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với hoạt động dạy, trình tự các bước trong hoạt động học hoàn toàn thống nhất với trình tự các bước trong hoạt động dạy Nếu GV vạch ra các nhiệm vụ, hành động học tập sắp tới của HS bằng các biện pháp thích hợp và kích thích chúng thì HS sẽ tiếp nhận các nhiệm vụ đó, thực hiện các hành động học tập đề ra; nếu GV kiểm tra hành động của HS và điều chỉnh hành động dạy của mình thì HS cũng điều chỉnh hành động học của mình, Sự thống nhất của quá trình dạy và học được thể hiện ở sự tương ứng giữa các giai đoạn hoạt động của cả thầy lẫn trò Sự thống nhất này tạo nên một hiện tượng hoàn chỉnh mà ta gọi là quá trình dạy học Kết quả của sự thống nhất là ở chỗ HS nắm kiến thức theo các mức độ:

+ Ý thức được vấn đề (vạch được nội dung, có biểu tượng chung nhất về

sự kiện, nắm được quá trình hình thành và phát triển của sự kiện đó)

+ Nắm được vấn đề (vạch được bản chất bên trong của các hiện tượng) + Sáng tỏ vấn đề (biết cách tìm ra lối thoát khi gặp khó khăn)

- Về cơ chế của hoạt động học tập: Tuy cách diễn đạt có khác nhau

nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều khá thống nhất với quan điểm của Piaget [29], đó là coi học tập là một quá trình kép:

+ Thứ nhất, là quá trình tiếp nhận, đó là sự tiếp thu các thông tin từ môi trường xung quanh và việc xử lý các thông tin mới đó với các cấu trúc nhận thức đã đạt được từ trước

+ Thứ hai, là quá trình thích nghi, đó là sự thích ứng và biến đổi các cấu trúc nhận thức đã có đối với các tác động của các thông tin từ môi trường nhằm làm cho cấu trúc nhận thức này tiến triển Trong quá trình này, mọi thao tác của con người đều nhằm thực hiện đồng hoá và điều ứng

Nếu nhìn nhận, phân tích hoạt động học tập theo các quan điểm hoạt động của A.N Lêônchiep đưa ra thì chìa khoá để dẫn đến thành công trong dạy

Trang 13

học là hình thành được hành động học tập Bởi vì hình thành được hành động thì sẽ có cơ hội để hình thành hoạt động học tập Từ hành động học tập này có

thể luyện tập để trở thành thao tác cho hành động khác Ông cho rằng : "Cuộc

sống hay hoạt động nói chung không phải được hình thành một cách máy móc

từ các loại hoạt động riêng lẻ Một loại hoạt động trong giai đoạn nào đó là chủ đạo và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tiếp theo của nhân cách, còn những hoạt động khác là phụ Bởi vậy cần phải nói đến sự phụ thuộc của sự phát triển tâm lý không phải vào hoạt động nói chung, mà là vào hoạt động chủ đạo" [32] Hoạt động học tập có mục đích là trực tiếp làm biến đổi và phát

triển người học

Theo lý luận nhận thức Mác - Lê nin: Hoạt động học có thể được coi là một trường hợp riêng của sự nhận thức, bản chất đó là một quá trình nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo, một quá trình khám phá đối với bản thân mỗi HS Hoạt động học chịu sự chi phối từ các quy luật chung của sự nhận thức, đồng thời nó cũng có các quy luật riêng của sự nhận thức nằm trong quá trình dạy học

Tâm lí học liên tưởng cho rằng: Hoạt động học là quá trình hình thành các liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học Hoạt động học tập sẽ có hiệu quả nếu người học có thể hình thành cho mình những mối liên hệ giữa các khái niệm, quy luật, cách thức để từ đó ghi nhớ và tái hiện tài liệu học tập tốt hơn

Tâm lí học hành vi định nghĩa hoạt động học là quá trình hình thành những hành vi mới, hoặc tạo nên những thay đổi trong hành vi để đáp ứng lại những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài Qua hoạt động học, người học hình thành mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng trả lời, luyện tập để mối liên hệ

đó được mạnh lên, vững chắc hơn Quá trình học là quá trình "củng cố sự trả lời" Với quan niệm về hoạt động học như vậy, việc học ở trạng thái thụ động

và chất lượng hoạt động học phụ thuộc chủ yếu vào sự tác động của GV

Theo R.E.Mayer, hoạt động học được xác định là quá trình người học

kiến tạo, xây dựng tri thức: "Người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ

Trang 14

riêng cho mình về những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những thông tin cần thiết để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới" [33] Lí

thuyết kiến tạo quan tâm đến các đặc điểm tâm lí bên trong của người học và việc thể hiện nó, những yếu tố đó được xem là quan trọng hơn những yếu tố tác động từ môi trường

Tiếp cận từ góc độ lý luận dạy học: Bản chất của hoạt động học là một quá trình nhận thức tích cực, tự lực và sáng tạo Đó là một quá trình nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Trong quá trình đó, HS phải tích cực vận dụng các thao tác tư duy để lĩnh hội tài liệu, ghi nhớ kiến thức, luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ôn tập, khái quát hoá, hệ thống hoá tài liệu, tự kiểm tra đánh giá,

1.1.2 Quá trình tự học

1.1.2.1 Dạy và tự học

Theo Từ điển giáo dục: Dạy là truyền lại những kiến thức, kinh nghiệm, cung cấp các tri thức khoa học cho người khác tiếp thu một cách có hệ thống,

có phương pháp nhằm mục đích nâng cao trình độ văn hoá, năng lực trí tuệ và

kỹ năng thực hành trong đời sống thực tế cho họ [9]

Theo A.V Ptrovski [30], quá trình dạy học là quá trình kích thích và điều khiển tính tích cực bên ngoài và bên trong của HS mà kết quả là ở HS hình thành được những tri thức, kỹ năng và kỹ xảo xác định Mục đích của dạy học không chỉ ở những kết quả cụ thể của quá trình học tập, ở tri thức và kỹ năng bộ môn mà quan trọng hơn là bản thân của việc học, ở cách học, ở khả năng đảm nhiệm, tổ chức và thực hiện quá trình học tập một cách có hiệu quả Tất nhiên điều đó chỉ được thực hiện trong những quá trình mà người học thật

sự hoạt động để đạt được những gì mà họ cần đạt Một mặt đặc biệt quan trọng của dạy học là “dạy tự học” Kho tàng văn hoá của nhân loại là vô tận Cứ sau một chu kì ngắn thì tri thức khoa học trên các lĩnh vực lại tăng lên gấp đôi Nếu đặt mục tiêu dạy học một lần đủ tri thức để người học có thể sống và hoạt động

Trang 15

suốt đời thì sẽ không bao giờ đạt được Để có thể sống và hoạt động suốt đời thì phải học suốt đời Để học suốt đời thì phải có khả năng TH

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về TH Người cho rằng:

"Tự học là học một cách tự động" và "Phải biết tự động học tập" [14] Theo Người: "Tự động học tập" tức là TH một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không

đợi ai nhắc nhở, không cần ai giao nhiệm vụ, mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập, rồi tự triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian học và việc kiểm tra đánh giá quá trình học của mình

Theo Nguyễn Cảnh Toàn [28], khả năng TH là khả năng tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (như quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, say mê khoa học, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình Khả năng đó cần phải được rèn luyện ngay

từ khi HS còn ngồi trên ghế nhà trường Vì vậy, quá trình dạy học phải bao hàm cả dạy TH Dạy TH là quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độ: quản lý và thực hiện Việc dạy TH đương nhiên chỉ có thể thực hiện được trong cách dạy học mà người học là chủ thể, tự họ hoạt động để đáp ứng nhu cầu của xã hội đã chuyển hoá thành nhu cầu của chính bản thân họ

Theo Nguyễn Kỳ: "Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra như nhận biết vấn đề, xử lý thông tin, tái hiện kiến thức, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề xử lý tình huống"[13]

Cũng theo Nguyễn Cảnh Toàn [28], việc TH thường diễn ra theo ba cách:

- Từ SGK, các phần mềm, tài liệu toán học đã có HS tự đọc, tự tra cứu

để hiểu và tiếp nhận các kiến thức Qua đó HS tự rút kinh nghiệm về tư duy và

cả về phẩm chất, tính cách để tiếp tục chiếm lĩnh và tiếp nhận các tri thức cao

Trang 16

hơn Ở đây, hoạt động TH diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng, nâng cao các kiến thức trong chương trình đào tạo của nhà trường, thậm chí HS có thể tìm hiểu về những tri thức không qui định nhằm mở mang hiểu biết của mình Trong trường hợp này HS hoàn toàn chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, tự lựa chọn tài liệu và tự đọc để hiểu và tiếp thu các tri thức và tự sắp xếp các tri thức đó vào hệ thống tri thức mà mình đang có Đó

là TH ở mức độ cao vì HS phải tự mình tổ chức toàn bộ các hoạt động của quá trình nhận thức của bản thân

- Dựa vào SGK, các phần mềm, tài liệu toán học và có thêm sự hướng dẫn nhưng không trực tiếp của GV Bằng các phương tiện thông tin viễn thông, chẳng hạn như công nghệ thông tin thì GV hướng dẫn HS tự học và nghiên cứu, chiếm lĩnh kiến thức đồng thời hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Trong hình thức này hoạt động TH của HS diễn

ra ở ngoài lớp học nhằm đáp ứng các yêu cầu của môn học đã học trong nhà trường Trong trường hợp này HS phải tự tổ chức việc học tập của mình ở nhà nhằm ôn tập, hệ thống hoá, làm các bài tập, rèn luyện các kỹ năng kỹ xảo … thực hiện các yêu cầu của GV để đáp ứng yêu cầu của việc lĩnh hội tri thức môn học hoặc đáp ứng chính yêu cầu của bản thân người học nhằm lĩnh hội tri thức các bộ môn Đó là TH có hướng dẫn

- Có SGK và có GV giảng dạy ở một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng các hình thức thông tin trực tiếp, hoặc các bài giảng có sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện đại, GV làm nhiệm vụ hướng dẫn như trường hợp 2 Trong hình thức này việc TH của HS chịu sự điều khiển và định hướng của GV nhằm đạt được mục tiêu của giờ dạy đã được xác định từ trước Lúc này việc

TH của HS có đủ các yếu tố: thầy, bạn, SGK, tài liệu, trong môi trường là các lớp học truyền thống Hiệu quả quá trình TH lúc này phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật điều khiển của GV, tuy nhiên với từng người vẫn có các hoạt động riêng, sự sáng tạo riêng và hiệu quả học tập cũng rất khác nhau Đó là hình thức học giáp mặt trên lớp và về nhà TH có hướng dẫn

Trang 17

Việc nhấn mạnh vai trò của TH và dạy TH không phải là phủ nhận bản chất xã hội của việc học tập TH không có nghĩa là cô lập người học khỏi xã hội, không có nghĩa là bao giờ cũng để người học đơn thương độc mã suy nghĩ, tìm tòi từ đầu đến cuối TH là người học tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, nội dung học tập, cách thức học, các hoạt động học tập và các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá thích hợp, từ đó tổ chức xây dựng kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm Biết TH cũng có nghĩa là biết kế thừa di sản văn hoá nhân loại, biết khai thác những phương tiện mà loài người cung cấp cho mình để thực hiện quá trình học tập

Ví dụ để tự giải một bài tập toán, khi mà sự suy nghĩ của cá nhân không thể giải quyết được vấn đề, HS có thể và cần biết đọc sách, tra cứu, sử dụng các phần mềm toán học để có được sự hỗ trợ cần thiết giúp họ giải bài tập đó HS cũng cần biết cách sử dụng các phương tiện hỗ trợ đúng chỗ, đúng lúc và đúng cách Cũng là dùng sách hướng dẫn giải để làm bài tập nhưng nếu sử dụng hợp

lí, HS sẽ nâng cao chất lượng học của mình còn nếu dùng để chép bài đối phó với thầy cô thì chỉ làm HS thụ động và học kém đi

- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và

có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình

Như vậy, cốt lõi của học là tự học Cứ có học là có tự học vì không ai

có thể học hộ người khác được Tự học là người học tự quyết định việc lựa

Trang 18

chọn mục tiêu học tập, các hoạt động học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp

Tùy thuộc vào cách thức thể hiện mối quan hệ giữa người học và tài liệu học tập, giáo viên,…có thể có các hình thức tự học cơ bản sau:

- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học

không đến trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, đánh giá, tiến trình học tập của cá nhân

- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không trực tiếp với

thầy mà chủ yếu nghe giảng giải qua phương tiện truyền thông, học từ xa

- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu: Người học trực tiếp làm việc với tài

liệu hướng dẫn Tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu để tìm kiếm, bổ sung hoàn thiện kiến thức

- Tự học thường xuyên trong quá trình học tập: Học bài và làm bài ở

nhà theo nhiệm vụ học tập là việc làm của bất cứ một người học nào

- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của GV, biến

quá trình dạy học thành quá trình tự đào tạo, đó là quá trình dạy – tự học Trong luận văn chủ yếu đề cập đến hình thức tự học này, đưa ra một số biện pháp chủ yếu để phát triển năng lực tự học cho HS hướng tới hình thức tự học hoàn toàn, tự học suốt đời [9], [27]

Quá trình TH là quá trình xuất phát từ sự ham muốn, khát khao nhận thức, người học ấp ủ các dự định, dựa vào những phương tiện nhận thức để tích luỹ kinh nghiệm, tri thức và lao động học tập nhằm đạt được kết quả nhận thức

Quá trình TH là một quá trình lâu dài, xuyên suốt cuộc đời của một con người để có thể sống và hoạt động đáp ứng được yêu cầu của xã hội Ở đây, chúng tôi chỉ nghiên cứu quá trình TH của HS khi còn học trên ghế nhà trường

Theo Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường [61, quá trình TH thực chất là một quá trình gồm:

- Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kỹ xảo nhận thức, tạo ra các cầu nối nhận thức trong tình huống học

Trang 19

- Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh mình

- Tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình

1.1.3 Vai trò của tự học trong hoạt động học tập

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy TH có vai trò rất quan trọng đối với HS,

đó là:

- Phát huy nội lực của người học: Trong việc học thì kiến thức, kỹ năng,

cách học, cách tư duy, nhân cách vừa là mục tiêu cần đạt tới, vừa là công cụ để đạt đến mục đích Trong quá trình học tập, HS lắng nghe GV giảng bài, tự đọc sách, suy ngẫm, lựa chọn, phát huy tiềm năng cá nhân để đạt chất lượng cao trong học tập Đó chính là phát huy nội lực ở người học

Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo [27] cho rằng: Học là một quá trình bí ẩn, quá trình đó diễn ra trong óc người học nên không thể quan sát được Chỉ có sự biến đổi trên lĩnh vực hành vi của chủ thể mới có thể quan sát hoặc định lượng Theo các tác giả: Học cốt lõi là TH TH với tư cách là nội lực: Học về cơ bản là TH Nói đến TH là nói đến nội lực và ngoại lực của quá trình TH Trong đó nội lực là các yếu tố của người học bao gồm: một nền tảng học vấn nhất định, mục đích, động cơ, nhu cầu học, ý chí, nghị lực học tập, cách học, khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng học tập, tận dụng những thuận lợi, khó khăn để tự học tốt Ngoại lực bao gồm người thầy

và toàn bộ các yếu tố của cơ chế như: môi trường, điều kiện, phương tiện có liên quan đến TH Ngoại lực là quá trình chuyển đổi bên ngoài, nội lực là quá trình biến đổi bên trong, hai quá trình này thống nhất và đối lập nhau tạo nên sự phát triển của TH Theo định hướng tích cực hoá người học thì nội lực là nhân

tố quyết định sự phát triển của bản thân người học và NLTH được xem là có ý nghĩa quyết định, việc TH được lấy làm trung tâm Trò là chủ thể, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, tự phát triển từ bên trong Thầy chỉ là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức cho trò TH Chất lượng dạy học cao

Trang 20

nhất khi có sự cộng hưởng của cả nội lực và ngoại lực để tạo ra NLTH sáng tạo của người học

Theo Đặng Thành Hưng [10] thì TH là học với sự tự giác, tích cực và độc lập cao, trong học bao giờ cũng có TH

Như vậy, các tác giả đều thống nhất cho rằng: Về bản chất, học và TH là một, khi có hoạt động học thì có hoạt động TH, đó là quá trình tích luỹ làm thay đổi kinh nghiệm của cá thể, bởi chính hoạt động của cá thể với các nhân tố môi trường Hoạt động học tập là công việc của cá nhân người học, chỉ do một cá nhân người học thực hiện từ đầu đến cuối, không ai có thể làm thay được TH là học ở trình độ độc lập, tự giác, chủ động Bản chất của quá trình TH là quá trình người học cá nhân hoá việc học nhằm thoả mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập để thực hiện có hiệu quả các mục đích và nhiệm vụ học tập

- Nâng cao hiệu quả học tập: Nếu có sự cố gắng TH bền bỉ, thì dù điều

kiện học chưa được đầy đủ, giá trị gia tăng ở người học do người học mang lại vẫn có thể sẽ hình thành, người học chiếm lĩnh giá trị đó biến thành thực sự của mình và từng bước, từng bước mà có năng lực mới, phẩm chất mới Học tập như thế sẽ mang lại hiệu quả thiết thực Nghiên cứu của các nhà tâm lý đã chứng minh được rằng năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt động và giao lưu Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo và đạt được mục tiêu giáo dục - đào tạo là: Học bằng hoạt động TH, tự nghiên cứu của HS, thông qua chính hoạt động tự lực, chiếm lĩnh kiến thức mà hình thành năng lực và thái độ cho HS

- Giúp HS học cách học: Cách học là cách tác động của chủ thể đến đối

tượng học, hay là cách thực hiện hoạt động học Có ba cách học cơ bản: Học cá nhân tức là tự nghiên cứu; học thầy, học bạn tức là học tập hợp tác; học từ thông tin phản hồi tức là cách tự kiểm tra, tự điều chỉnh Các cách học có quan

hệ với nhau, chẳng hạn như TH, tự nghiên cứu hỗ trợ cho cách học hợp tác và

Trang 21

tự đánh giá, điều chỉnh, làm tăng khả năng tiếp cận và xử lý thông tin Vì vậy

nó giúp cho cách học của HS có hiệu quả hơn

Trong xu thế toàn cầu hoá, học tập suốt đời là yêu cầu để hướng tới xây dựng một xã hội học tập Đồng thời nó cũng là chìa khoá nhằm vượt qua những thách thức của thời đại, với bốn mục tiêu: học để làm, học để biết, học để

chung sống và học để làm người Quan niệm "học tập suốt đời" sẽ giúp con

người đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội thay đổi ngày một Điều mà

"không thể thoả mãn những đòi hỏi đó được, nếu mỗi người không học cách

học" [2] Trong đó, học cách học chính là học cách TH

- Giúp HS cách tiếp cận nghiên cứu: Khi hướng dẫn và giúp HS tự học,

GV phải yêu cầu HS học tập và làm việc với tác phong của một người nghiên cứu (sắp xếp, phân loại, so sánh đối chiếu, phân tích, tự tìm ví dụ, .) với những yêu cầu đó, qua quá trình TH và các hoạt động hợp tác, HS học và rèn luyện được nhiều năng lực phẩm chất, giúp họ có thể tiếp tục TH, tự nghiên cứu về sau và tự nghiên cứu suốt đời Từ đó HS có khả năng phát hiện, GQVĐ

và đặc biệt là có tác phong công nghiệp, tư duy độc lập, sáng tạo

- Giúp HS nâng cao phẩm chất, rèn luyện tính cách: Hoạt động học tập

của HS là quá trình tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình dạy học phải làm cho hoạt động học của HS thực sự chủ động trong học tập, mà cụ thể là tăng cường nhiều hơn quá trình TH, tự nghiên cứu của

HS Hoạt động học tập của HS trường THPT diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, nội dung chương trình đào tạo, mục tiêu, phương thức đào tạo, thời gian đào tạo đã được xác định trước Do đó HS phải đóng vai trò chủ thể nhận thức, chủ động học tập, tích cực huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân của mình

để thực hiện việc TH từ đó giúp hoạt động học tập đạt hiệu quả cao Hoạt động học nhằm mục tiêu cải tạo, phát triển chính HS là hoạt động không ai có thể làm thay Vì thế đòi hỏi HS phải tự giác, tích cực, sáng tạo và phải có NLTH Các nghiên cứu về dạy học phát triển đã cho kết quả rằng, trong quá trình phát

Trang 22

triển của mỗi cá nhân đều có tính tích cực bên ngoài và tính tích cực bên trong Tính tích cực bên trong dẫn đến sự độc lập phát triển của mỗi cá nhân HS, là cơ

sở cho TH suốt đời Tóm lại, TH là cốt lõi của việc học, là con đường tối ưu để nâng cao tri thức, nhân cách của mỗi con người

1.2 Năng lực tự học của học sinh THPT

hệ thống thư điện tử; kỹ năng sử dụng, tra cứu mục lục và tìm tài liệu thư viện bằng công cụ truyền thông và điện tử

- Kỹ năng xử lý, tổ chức, đánh giá thông tin và nội dung học tập, gồm:

Kỹ năng tổng thuật tài liệu và khái quát hoá các tài liệu toán; kỹ năng tự nêu câu hỏi, đặt vấn đề, nêu giả thuyết, phán đoán và lập luận; kỹ năng định hướng trong các tình huống học tập, phát hiện vấn đề, xác định nhiệm vụ và ra quyết định về cách GQVĐ; kỹ năng hệ thống hoá các bài học, các chủ đề, các công thức, các dấu hiệu ; kỹ năng kết hợp sử dụng các hành động và thao tác trí tuệ theo chiến lược tổng thể để hiểu, áp dụng và phát triển nội dung học tập

- Kỹ năng áp dụng, biến đổi, phát triển kết quả nhận thức, gồm: Kỹ năng đánh giá các sự kiện khoa học và thực tiễn; kỹ năng chuẩn bị bài kiểm tra, thi

và làm bài kiểm tra, bài thi; kỹ năng áp dụng kết quả nhận thức để tổ chức thực hành, ứng dụng và kiểm chứng; kỹ năng biến đổi, áp dụng các kết quả nhận thức cũ để hình thành những tri thức, kỹ năng mới

b Nhóm kỹ năng giao tiếp và quan hệ tự học:

- Kỹ năng trình bày ngôn ngữ giao tiếp bằng văn bản, lời nói với GV về vấn đề học tập, bao gồm: Kỹ năng viết và trình bày báo cáo cá nhân về việc

Trang 23

học; kỹ năng phát biểu ý kiến; kỹ năng tham gia, trao đổi ý kiến trong học tập dưới hình thức seminar, thực hành theo nhóm; kỹ năng sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp với GV và nhà trường; kỹ năng đối thoại, giải quyết những bất đồng, xung đột về quan điểm và hành vi học tập, kỹ năng biểu đạt cảm xúc trí tuệ

- Kỹ năng giao tiếp học tập thông qua các hình thức tương tác và quan

hệ, bao gồm: Kỹ năng biểu thị tính thân thiện với người khác trong quá trình học tập; kỹ năng thực hiện tự phê bình và phê bình trong học tập và thực hiện các nhiệm vụ học tập; kỹ năng làm việc cùng nhau trong nhóm hợp tác với tư cách thành viên có nhiệm vụ được phân công riêng; kỹ năng tổ chức và thực hiện các dự án học tập

- Kỹ năng giao tiếp đặc biệt nhờ sử dụng các phương tiện thông tin và truyền thông nhằm đạt mục đích học tập, gồm: Kỹ năng sử dụng và tham gia các diễn đàn học trên mạng; kỹ năng giao tiếp và khai thác tài nguyên học tập qua các phần mềm dạy học; kỹ năng yêu cầu, đăng kí, đặt hàng học tập trực tuyến theo mục đích; kỹ năng sử dụng các mẫu văn bản điện tử để giao tiếp học tập trên mạng internet; kỹ năng đọc hiểu, sử dụng các hộp thoại trên máy tính

để giao tiếp và khai thác tài nguyên học

c Nhóm kỹ năng quản lý tự học:

- Kỹ năng tổ chức môi trường học tập cá nhân, gồm: Kỹ năng chuẩn bị

và tổ chức các phương tiện, dụng cụ học tập, sắp xếp nơi học và điều kiện học;

kỹ năng bảo quản, giữ gìn phương tiện, học liệu và điều kiện học tập; kỹ năng khởi xướng thành lập nhóm học; kỹ năng tích luỹ bảo quản, lưu trữ hồ sơ học tập

- Kỹ năng hoạch định quá trình và các kế hoạch TH, bao gồm: Kỹ năng quản lí thời gian học tập; kỹ năng lập kế hoạch ôn tập, luyện tập cá nhân; kỹ năng lập kế hoạch học tập nâng cao; kỹ năng lập và thực hiện kế hoạch TH; kỹ năng xác định mục tiêu, cách học phù hợp với mục tiêu đã định; kỹ năng lập kế hoạch rèn luyện và phát triển phong cách học thích hợp với nhiệm vụ học tập

Trang 24

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả học tập, bao gồm: Kỹ năng xem xét các kết quả kiểm tra, phân tích, đánh giá ưu, nhược điểm; kỹ năng đánh giá thường xuyên hành vi học tập của mình và của người khác; kỹ năng kiểm tra học lực thông qua các hình thức trắc nghệm; kỹ năng kiểm tra sức khoẻ và vệ sinh cá nhân trong hoạt động học; kỹ năng sử dụng các tình huống khác nhau để tiếp nhận sự đánh giá của người khác về việc học của mình

1.2.1.2 Quy trình tự học

Quy trình tự học được minh hoạ bằng "vòng tròn tự học":

Sơ đồ 1.2: "Vòng tròn tự học" (dẫn theo [5])

"Vòng tròn tự học" bắt đầu bằng việc HS chuẩn bị và xây dựng kế hoạch

tự học Quá trình học tập một tri thức nào đó thật sự bắt đầu khi HS chuẩn bị

một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận tri thức đó như đọc giáo trình, tìm kiếm tài liệu có liên quan, truy cập thông tin trên mạng, … đồng thời chuẩn bị tâm thế để có thể tiếp cận và chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Để học tập có hiệu quả HS phải hoạch định một tiến trình học tập cụ thể, phải lựa chọn đúng nội dung trọng tâm, sắp xếp thời gian hợp lí, lựa chọn cách học hiệu quả… Ở giai đoạn này HS cần nhận biết và phát hiện vấn đề,

định hướng GQVĐ để thu thập thông tin

Tiếp theo là giai đoạn HS thực hiện kế hoạch học tập, đây là giai đoạn lao

động thật sự của HS, quyết định sự thành công của việc học Giai đoạn này HS phải biết cách làm việc một cách có ý thức và phương pháp: làm việc với sách,

Trang 25

tài liệu, máy vi tính, mạng internet, nghe giảng, làm thí nghiệm, seminar, xử lí thông tin, GQVĐ

Tiếp đến là kiểm tra, trong tự học HS phải chủ động kiểm tra việc thực

hiện kế hoạch học tập Tự kiểm tra, đánh giá sẽ giúp HS tự ý thức được khả năng, củng cố vững chắc động cơ học tập cá nhân, tạo thêm hứng thú Ngoài việc tự thử nghiệm kết quả, HS còn có thể sử dụng sự hỗ trợ của nhóm hợp tác, của thầy, của phương tiện thiết bị HS phải biết so sánh kết luận của bản thân với kết luận của thầy, của bạn, của tài liệu, biết phân tích tổng hợp, thể chế hoá Biết kiểm tra tính bền bỉ trong việc thực hiện kế hoạch TH

Cuối cùng là hoạt động điều chỉnh, cuối cùng nhưng không phải là kết

thúc mà sau hoạt động điều chỉnh là bắt đầu trở lại từ đầu của quy trình Hoạt động điều chỉnh là hoạt động rất quan trọng của TH Trong giai đoạn này sau khi tiến hành tự kiểm tra HS phải tự điều chỉnh theo trình tự sau:

- So sánh, đối chiếu kết luận của thầy và ý kiến của các bạn với kết luận của mình: đúng - sai, hay - dở, đủ - thiếu,…

- Kiểm tra lý lẽ, tìm kiếm luận cứ, thâm nhập thực tiễn để có cơ sở chứng minh tính đúng hay sai

- Tổng hợp thêm lý lẽ, chốt lại vấn đề

- Tự sửa sai, điều chỉnh: bổ sung nếu thiếu và sửa lại nếu sai

- Tự rút kinh nghiệm về cách học, cách xử lý tình huống và cách GQVĐ của mình

1.2.2 Các cấp độ tự học

Xét về góc độ Tâm lí học, có thể phân hoạt động TH theo hai cấp độ:

- Cấp độ thấp: Nhiều nhà tâm lí cho rằng hoạt động sáng tạo của một

nhà bác học bắt nguồn từ nhu cầu bẩm sinh và sinh lí của con người, nhu cầu thúc đẩy bản năng mạnh mẽ của tự nhiên Theo họ, bản năng sáng tạo hoà nhập với phản xạ hướng về đích Viện sĩ Pavlop cho rằng: phản xạ hướng về đích là biểu hiện năng lượng sống của mỗi cá nhân Cấp độ thấp của TH thể hiện ở cơ

Trang 26

chế học có cấu trúc hai thành phần: kích thích  phản ứng Ở cấp độ này, thì việc TH của con người là hiện tượng tự nhiên, mang nhiều bản năng

- Cấp độ cao: Cấp độ cao của hoạt động TH là hoạt động nhận thức

thể hiện ở cơ chế học: học kết hợp học cá nhân với học hợp tác TH cấp độ cao gắn liền với kinh nghiệm của HS, gắn liền với sự phát triển sâu sắc ngôn ngữ

khoa học của người học TH ở cấp độ cao là cốt lõi của việc học, là "quá trình

phát triển nội tại, quá trình kết hợp học cá nhân với học hợp tác, trong đó chủ thể tự biến đổi mình từ trình độ phát triển hiện tại đến trình độ tiềm tàng" [26]

Cũng có thể chia ra nhiều cấp độ TH khác: TH ở cấp độ thấp là bước đầu làm quen để học cách học; cấp độ cao hơn là hình thành và rèn luyện kỹ năng TH; cấp độ tiếp theo là ý thức được việc học, biết chủ động việc học; cuối cùng là đam mê TH

1.2.3 Đặc trưng về NLTH toán của học sinh THPT

NLTH của học sinh THPT trong học toán có các dấu hiệu đặc trưng sau:

- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề: Năng lực này đòi hỏi

HS biết quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, tổng quát hoá, khái quát hoá các tài liệu Toán học, kiến thức Toán học; suy xét từ nhiều góc độ,

có hệ thống trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm cá nhân phát hiện ra các khó khăn, thách thức, mâu thuẫn cần giải quyết, các điểm chưa hoàn chỉnh cần bổ sung, các bế tắc, nghịch lý cần phải khai thông, làm sáng tỏ,… Các năng lực này đang còn rất hạn chế đối với học sinh THPT Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này là rất cần thiết để tạo cho HS thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi điều kiện có thể

- Năng lực giải quyết vấn đề: Năng lực GQVĐ bao gồm: khả năng trình

bày giả thuyết; xác định cách thức và lập kế hoạch GQVĐ; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp, kết luận Cần coi trọng dạy cho HS kỹ thuật GQVĐ vì nó vừa là công cụ nhận thức, nhưng

Trang 27

đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho HS phương pháp tự học, đặc biệt là với đối tượng học sinh THPT

Ta có sơ đồ:

Sơ đồ 1.3: Sơ đồ năng lực giải quyết vấn đề: [dẫn theo[20]]

- Năng lực tư duy, quyết định đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, ) từ quá trình phát hiện và GQVĐ: Quyết định bắt nguồn ở vấn đề,

có vấn đề mới cần đến quyết định GQVĐ là mục đích, nhưng GQVĐ đến mức

độ nào thì lại là vấn đề mục tiêu Do đó, bước thứ hai của tư duy quyết định đúng xác định một mục tiêu thích hợp Xác định mục tiêu để GQVĐ xong thì vạch phương án ra quyết định thích hợp Cần phải có nhiều phương án giải quyết để lựa chọn Đây là năng lực quan trọng cần cho HS đi đến kết luận đúng của quá trình GQVĐ, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi GQVĐ sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực tư duy, quyết định đúng Năng lực đó bao gồm các kỹ năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, kỹ năng lựa chọn, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng

- Năng lực vận dụng phương pháp tư duy biện chứng, tư duy lôgíc vào việc phát hiện và GQVĐ, quyết định đúng, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn: Quá trình học tập của HS là quá trình rèn luyện tư duy biện chứng

trong phát hiện vấn đề, vận dụng tư duy logic trong việc GQVĐ Kết quả cuối cùng của việc học phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống,

Năng

lực giải quyết

vấn

đề

Khả năng trình bày giả thuyÕt

Xác định cách lập kế hoạch

Thu thập và xử lý thông tin

Đề xuất giải pháp, biện pháp

Xác định cách giải quyết

Khảo sát các khía cạnh

Kết luận

Trang 28

hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên

cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới

- Năng lực đánh giá và tự đánh giá: Dạy học đề cao vai trò tự chủ của

HS, đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội, khuyến khích và bắt buộc HS đánh giá

và tự đánh giá Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kỹ năng phát hiện và GQVĐ, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình GQVĐ đòi hỏi HS phải luôn đánh giá và tự đánh giá Người HS phải hiểu biết chính xác năng lực của mình mới có thể tự tin trong việc phát hiện và GQVĐ, áp dụng kiến thức

Ví dụ, một HS kém đã tự nghiên cứu và giải được một bài toán nhưng không

có cách gì để tự kiểm nghiệm mình làm có đúng không thì việc đã giải được chẳng có một ý nghĩa gì cả, nhưng nếu em biết tự đánh giá (có thể chỉ ở mức

độ dùng sách hướng dẫn giải kiểm tra kết quả, cách làm) thì nếu sai HS sẽ tự tìm ra chỗ sai để sửa, còn nếu đúng sẽ tạo cho HS đó một sự tự tin để tiếp tục giải các bài toán khác ở mức độ tương tự hoặc khó hơn, và tiếp tục mở rộng các vấn đề của bài toán Từ đó sẽ phát triển được NLTH của bản thân và nâng cao chất lượng học tập

Như vậy, các năng lực nêu trên đan xen, tác động hỗ trợ với nhau, tạo nên năng lực tự học ở HS Các năng lực đó cũng chính là năng lực của người

nghiên cứu khoa học Việc rèn luyện được các năng lực đó, chính là đặt HS

vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, đòi hỏi việc dạy không truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà GV phải là người hướng dẫn HS nghiên cứu Bài giảng ở THPT phải là một tài liệu khoa học ở mức độ thích hợp

1.3 Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun

1.3.1 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun

1.3.1.1 Tự học có hướng dẫn

Tự học có hướng dẫn là cách học mà HS có thể tự chiếm lĩnh kiến thức trên cơ sở tài liệu tự học có hướng dẫn được biên soạn cho người học Tài liệu

Trang 29

gồm cả nội dung, cách xây dựng kiến thức và kiểm tra kết quả, giúp cho HS cách để tự chiếm lĩnh tri thức, đánh giá kết quả học tập của mình

Khi sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn sẽ làm thay đổi cách dạy và cách học của cả GV và HS GV định hướng, tổ chức cho HS tự khám phá ra kiến thức mới; HS chủ động nắm kiến thức phương pháp đi tới kiến thức đó

1.3.1.2 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo mođun

Sơ đồ về phương pháp tự học có hướng dẫn theo mođun như sau:

Sơ đồ 1.4 Tự học có hướng dẫn theo mođun

Phương pháp này đi từ nội dung các mođun học mà HS được hướng dẫn để từng bước đạt được mục tiêu dạy học Mỗi nội dung dạy học được phân ra từng mođun có hệ thống mục tiêu xác định rõ và một hệ thống test dạy học, HS tự học và tự đánh giá được trình độ nắm vững các kiến thức, kỹ năng và thái độ, có thể tự học theo nhịp độ riêng phù hợp với bản thân mình

Giới thiệu về modun

HS nghiên cứu mođun thứ nhất

để giải quyết vấn đề đặt ra

HS học tập theo nhịp độ riêng của mình

HS tự đánh giá bằng các Test trung gian

Nghiên cứu mođun tiếp theo

GV hướng dẫn, giúp đỡ,

HS đánh giá

Và được đánh gía bằng test kết thúc

Đạt Không đạt

Trang 30

Vai trò của người GV trong phương pháp tự học có hướng dẫn rất quan trọng Ngoài việc biên soạn các mođun dạy học, còn luôn theo sát HS trong quá trình học các mođun: giúp HS cụ thể hóa các kiến thức, kỹ năng, giải đáp thắc mắc, sữa chữa sai lầm, định hướng để tiếp cận mođun mới Khi kết thúc một mođun, GV đánh giá kết thúc Nếu đạt, HS học tập mođun tiếp theo Nếu không đạt, HS cần trao đổi, thảo luận với GV về những khó khăn, những kiến thức chưa tự giải quyết được để GV hướng dẫn thêm và tự nghiên cứu lại

Phương pháp tự học có hướng dẫn theo mođun đảm bảo được những nguyên tắc cơ bản trong quá trình học tập sau đây: (a) Cá thể hóa trong học tập; (b) Đảm bảo hình thành ở HS động cơ học tập; (c) Đảm bảo phản hồi

thông tin kịp thời cho HS

Những ưu điểm và hạn chế của tự học có hướng dẫn theo mođun: Để đánh giá một PPDH cần phải nhìn nhận từ hai phía ưu điểm và tồn tại của nó, bởi vì không có một PPDH nào được coi là vạn năng cả PPDH nằm trong mối quan hệ biện chứng giữa mục đích, nội dung và các PPDH khác Nếu đảm bảo thống nhất được các yếu tố trên thì sẽ hạn chế được mặt tồn tại của phương pháp và phát huy cao nhất những ưu điểm của nó

• Ưu điểm

- Có thể mang theo để học bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào có điều kiện,

đó là ưu điểm vượt trội của mođun tài liệu tự học có hướng dẫn

- HS có thể học tập với nhịp độ cá nhân, tự đánh giá kết quả học tập, theo cách giải quyết vấn đề vì vậy mà nâng cao được chất lượng dạy học thực

Trang 31

vì vậy cần có động cơ học, năng lực học tập nhất định [4]

1.3.2 Cấu trúc của tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun

1.3.2.1 Khái niệm mođun dạy học

Công nghệ dạy học hiện đại với tư tưởng cơ bản là tìm cách chuyển hóa vào thực tiễn dạy học những thành tựu mới nhất của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ nhằm đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả đào tạo Việc chuyển hóa những thành tựu của kỹ thuật mođun từ lĩnh vực công nghệ sang lĩnh vực dạy học là một thực tế đó

Trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật như: kiến trúc, điện tử, kỹ thuật vũ khí,

du hành vũ trụ,…đã sử dụng thuật ngữ mođun Thuật ngữ mođun (module) dùng trong các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau có nội hàm khác nhau Nhưng, chúng có những đặc tính chung là: mođun là đơn vị, là chuẩn, là một khâu, một bộ phận có tính độc lập tương đối của một hệ thống có cấu trúc phức tạp; mođun được chế tạo theo thể thức tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa, với hệ thống các thông số xác định; trong công nghệ, mođun được chế tạo hàng loạt

để dùng chung, lắp lẫn trong các tổ hợp, hệ thống kỹ thuật khác nhau Vì vậy, công nghệ mođun đã tạo ra sự phát triển mới về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất vật chất của nền kinh tế

Khái niệm mođun dạy học được chuyển hóa từ mođun trong kỹ thuật vào các lĩnh vực giáo dục – đào tạo và tùy theo từng lĩnh vực mà mođun dạy học có định nghĩa khác nhau Trong trường hợp tổng quát người ta coi mođun dạy học là một đơn vị, một bộ phận của nội dung chương trình dạy học, được

tổ chức theo một nhiệm vụ hoặc một chủ đề học tập nhất định Để nhấn mạnh

Trang 32

tính chất hướng dẫn tự học của mođun dạy học người ta coi mođun là một tài liệu bao gồm mọi điều kiện cần thiết cho HS để họ đạt được mục tiêu dạy học bằng cách tự học Nhờ mođun dạy học, HS có thể tự lực vượt qua phần lớn nội dung học tập, GV chỉ giúp đỡ họ khi cần thiết

Mođun dạy học theo cách hiểu của Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang được diễn đạt như sau: “ Mođun dạy học là một đơn vị chương trình tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học Nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn chỉnh”

Môđun dạy học không giống với một giáo trình môn học và nó cũng không phải là một bài học Một bài học thường được thiết kế như một cấu trúc mắt xích, nó liên quan đến cái trước nó và là một bước đi tới cái kế tiếp; nghĩa

là nó không độc lập mà là một khâu liên hoàn với cái trước và sau nó về nội dung dạy học Trong khi đó, môđun dạy học tương đối độc lập, có một đời sống riêng Nó không liên quan với cái gì đi trước nó hay sẽ đi sau nó về nội dung dạy học nhưng lại liên quan chặt chẽ với cái trước và sau nó về hoạt động học tập của người học

Ngoài một số đặc trưng của mođun trong kỹ thuật, mođun dạy học còn

có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Hàm chứa một tập hợp những tình huống dạy học, được tổ chức xung quanh một chủ đề nội dung dạy học được xác định một cách tường minh;

- Có một hệ thống các mục tiêu dạy học định hướng quá trình dạy học được xác định một cách cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi, có thể quan sát được,

đo lường được;

- Có một hệ thống những test điều khiển quá trình dạy học nhằm đảm bảo thống nhất hoạt động dạy, hoạt động học và kiểm tra, đánh giá để phân hóa con đường lĩnh hội tiếp theo;

Trang 33

- Chứa đựng nhiều con đường lĩnh hội theo những cách thức khác nhau

để chiếm lĩnh cùng một nội dung dạy học, đảm bảo cho HS tiến lên theo những nhịp độ riêng để đi đến mục tiêu;

- Có tính độc lập tương đối xét về nội dung dạy học Vì vậy, HS phải có

những điều kiện tiên quyết về kiến thức, kỹ năng, thái độ để học một mođun Học xong một mođun, HS có khả năng ứng dụng những điều đã học vào môi trường hoạt động;

- Mođun dạy học có nhiều cấp độ: mođun lớn, mođun thứ cấp, mođun nhỏ (tiểu mođun) Một mođun lớn thường tương đương với số tiết học của một chương hoặc một vài chương

Với những đặc trưng nêu trên, mođun dạy học có chức năng rất quan trọng trong việc tổ chức quá trình dạy học:

- Mỗi mođun dạy học là một phương tiện tự học hiệu quả vì nó tương ứng với một chủ đề dạy học xác định, lại được phân chia thành từng phần nhỏ với hệ thống mục tiêu chuyên biệt và các test đánh giá tương ứng Sau khi học xong tiểu mođun này HS tiến tới tiểu mođun tiếp theo và cứ như thế mà HS hoàn thành nhiệm vụ học tập

- Nhờ vào tính độc lập tương đối về nội dung dạy học, nên có thể “lắp ghép”, “tháo gỡ” các mođun để xây dựng những chương trình dạy học đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu của dạy học theo kiểu phân hóa – cá thể hóa – tiến theo nhịp độ cá nhân

- Do các mođun dạy học được biên soạn theo một số chuẩn mực nên nó

có thể dùng chung và lắp lẫn trong nhiều ngành học Đây là thuận lợi rất căn bản trong việc tổ chức đào tạo, cải tiến nội dung, PPDH, tổ chức biên soạn và cung cấp SGK, tài liệu học, nghiên cứu cho HS

- Vì các mođun có thể dùng chung nên có thể tổ chức các nhóm chuyên gia giỏi để biên soạn tài liệu dạy học với chất lượng cao, đảm bảo tính kinh tế của việc sản xuất và cung cấp tài liệu dạy học

Trang 34

Mođun dạy học có nhiều cấp độ Ở mođun lớn và môđun dạy học thứ cấp thường được dùng để thiết kế các chương trình dạy học Ở các mođun nhỏ

là tài liệu tự học thuận tiện, có hiệu quả của người học Khái niệm mođun dạy học ngoài ý nghĩa là một đơn vị chương trình dạy học nó còn thể hiện đặc trưng của cách thiết kế và biên soạn tài liệu dạy học, đóng góp vào việc cải tiến phương pháp dạy học

1.2.2.2 Cấu trúc của mođun dạy học

Modun dạy học được hợp thành bởi ba bộ phận:

- Hệ vào của môđun, gồm: Tên hoặc tiêu đề của môđun; giới thiệu vị

trí tầm quan trọng và lợi ích của môđun; nêu rõ các kiến thức kỹ năng cần có trước; hệ thống mục tiêu; kiểm tra đầu vào của môđun

- Thân môđun: Chứa đựng đầy đủ ND dạy học được trình bày theo một

cấu trúc rõ ràng kèm theo những chỉ dẫn cần thiết về cách học, giúp HS chiếm lĩnh được ND và hình thành được phương pháp tự học Thân môđun là bộ phận chủ yếu của môđun, bao gồm một hệ thống những môđun nhỏ kế tiếp Mỗi môđun nhỏ gồm ba phần: Mở đầu; ND và phương pháp học tập; test trung gian Khi cần thiết, thân môđun có thể có thêm các môđun giúp HS bổ sung những kiến thức còn thiếu, sửa chữa sai sót, ôn tập và hệ thống hoá

- Hệ ra của môđun, gồm: Một bản tổng kết chung; một test kết thúc; hệ

thống chỉ dẫn để tiếp tục học tuỳ theo kết quả tự học của HS Nếu đạt tất cả mục tiêu của môđun, HS sẽ được hướng dẫn sang môđun tiếp theo, nếu không qua được phần lớn các test kết thúc thì HS sẽ được yêu cầu học lại môđun

1.3.3 Quy trình thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun

Môđun hoá tài liệu một kỹ thuật nhằm thiết kế tài liệu học tập – tài liệu

tự học có hướng dẫn phục vụ người học có tính năng và hình thái như một môđun dạy học, tuy nhiên những tính năng và hình thái môđun trong sản phẩm này chưa thật sự đầy đủ hoặc trọn vẹn

Môđun hoá tài liệu là kỹ thuật hiện đại của việc cấu trúc tổ chức biên soạn nội dung học vấn của chương trình học tập Thực hiện môđun hoá tài

Trang 35

liệu tự học cho học sinh sẽ tạo ra sự liên kết giữa lý thuyết và thực hành, giữa nội dung, phương pháp, và các công cụ kiểm tra, đánh giá, nhờ đó gia tăng một cách đáng kể yếu tố hoạt động, yếu tố phương pháp trong quá trình tự học của học sinh Tài liệu tự học khi đã được môđun hoá sẽ đảm bảo cả phương diện cấu trúc lẫn phương diện quá trình của hoạt động dạy và học diễn ra trong quá trình học tập Vì vậy, nó ảnh hưởng sâu sắc đến cả hoạt động học của học sinh và hoạt động dạy của giáo viên trong các chủ đề học tập môn Toán cho dù nó được thực hiện dưới hình thức nào

Khi tài liệu tự học đã được môđun hoá, tài liệu đó có hình thái cấu trúc tương tự như cấu trúc của môđun dạy học (Hệ vào, thân và hệ ra) và mang những tính chất của môđun dạy học, đặc biệt là tính trọn vẹn

Tính chọn vẹn của tài liệu được thể hiện:

- Trọn vẹn về khả năng “làm được” của HS sau khi nghiên cứu tài liệu

tự học đã được môđun hoá Nói cách khác, sau khi nghiên cứu tài liệu tự học

đã được môđun hoá, HS sẽ có được những thay đổi về năng lực hành động trong cả lĩnh vực nhận thức, kỹ năng và thái độ tương ứng với các mục tiêu của chủ đề trí dục mà tài liệu mô tả;

- Trọn vẹn trong cấu trúc: Tài liệu tự học khi đã được môđun hoá không thuần tuý chỉ chứa đựng các mục tiêu và nội dung học vấn mà còn tích hợp trong nó cả nội dung và quy trình thực hiện để đạt mục tiêu Từ chủ đề trí dục, các tình huống dạy học được tổ chức Mỗi tình huống dạy học lại được thực hiện bởi các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học khác nhau và được điều khiển bởi hệ thống công cụ đánh giá Chính hệ thống này đã đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy học và hoạt động học trong quá trình nghiên cứu một tài liệu

Quy trình thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun gồm các bước:

- Phân tích: Xác định nhu cầu, tìm hiểu đối tượng, đề ra mục tiêu

(về kiến thức, kĩ năng, thái độ)

Trang 36

- Biên soạn: Vạch ra đề cương, nội dung, xem xét tài liệu hiện có;

tổ chức biên soạn nội dung, chọn phương pháp dạy, phương pháp học, các phương tiện hỗ trợ hoạt động đặc biệt là các phần mềm soạn bài giảng điện tử như PowerPoint,

- Đánh giá: Xem xét mục đích và mục tiêu; biên soạn cách đánh

giá; thu thập và phân tích dữ liệu

Cấu trúc của một mođun cũng giống như cấu trúc của một chương Tuy nhiên mỗi mođun dạy học có tính độc lập tương đối, bởi các tiểu mođun Để tiếp thu nội dung của một mođun dạy học đầy đủ, học sinh cần phải tiếp thu nội dung dạy học trong từng tiểu mođun

Ví dụ như với môn Toán lớp 11 ở Trường Trung học phổ thông, nội dung chương "Hàm số lượng giác và phương trình lượng giác" GV có thể xây dựng thành một môđun lớn và chia thành 3 tiểu môđun:

- Tiểu môđun 1: Hàm số lượng giác

- Tiểu môđun 2: Phương trình lượng giác cơ bản

- Tiểu môđun 3: Một số dạng phương trình lượng giác đơn giản

Tiểu mođun là một bộ phận tương đối độc lập của mođun dạy học để thực hiện nhiệm vụ của một nội dung kiến thức Mỗi tiểu mođun lại có mục tiêu, nội dung, kế hoạch đánh giá tương ứng Khi thực hiện từng tiểu mođun học sinh phải tích cực, tự lực vượt qua các tình huống dạy học đã được tổ chức trên cơ sở thực hiện các thao tác học tập có hướng dẫn

1.4 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy môn Toán ở trường THPT

Qua thực tiễn bản thân là giáo viên trực tiếp dạy học môn Toán ở trường THPT và kết quả phát phiếu điều tra khảo sát thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học môn toán ở trường THPT đến 12 GV và 303 học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm

học 2010 - 2011 cho thấy:

Trang 37

1.4.1 Thực trạng hoạt động tự học của học sinh THPT

Chúng tôi tổng hợp kết quả điều tra 303 HS của 4 trường THPT tại huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hoá

1.4.1.1 Về quan niệm tự học, ý thức tự học ở đại học

a Quan niệm tự học:

- có 213/303 HS tỉ lệ 70,29%, cho rằng đó là HS tự học để củng cố, tích lũy các kiến thức trong quá trình học tập

- có 61/303 HS tỉ lệ 20,13%, có ý kiến là tự học khi có thời gian

b Ý thức tự học:

- có 145/303 HS tỉ lệ 47,85% , tự học là học lại nội dung đã học

- có 122/303 HS tỉ lệ 40,26% , tự học là học theo hướng dẫn trước

- có 25/303 HS tỉ lệ 8,25%, tự học là tự mình học với tài liệu

- có 11.303 HS tỉ lệ 3,64%, tự học là tự tìm kiếm, tự nghiên cứu

Số liệu cho thấy HS đã có quan niệm đúng đắn về tự học, xác định được việc học (70,29%); số còn lại xem nhẹ việc tự học, chỉ tự học khi có thời gian, ỉ lại Về ý thức tự học: phần lớn HS chỉ học lại nội dung đã học (47,85%); học theo hướng dẫn (40,26%); còn sự chủ động tự học, tự tìm kiếm, tự nghiên cứu kiến thức là rất ít (3,64%) Như vậy, theo chúng tôi việc dạy học ở đại học hiện nay, GV cần có sự định hướng, chỉ dẫn nội dung tự học cho HS

- có 56/303 HS tỉ lệ 18,48%, để làm bài do GV yêu cầu

- có 47/303 HS tỉ lệ 15,51%, để chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn

Trang 38

- có 42/303 HS tỉ lệ 20,47%, chỉ học sơ qua, làm việc khác, chờ đến thi Kết quả điều tra, phần đông HS cho là thiếu thời gian để tự học (46,20%), điều này có thể do HS phải lên lớp nhiều, vì bài giảng chưa đáp ứng kiến thức cần học, vì không biết cách học nên tốn thời gian đọc, tìm kiếm

tư liệu hoặc vấn đề GV giao cho HS không cụ thể nên HS mất nhiều thời gian học, tìm kiếm Điều đó cho thấy việc tự học của HS hiện tại đang lúng túng, không có cách học; chủ yếu đọc lại bài trên lớp (45,54%) hoặc mất nhiều thời gian cho học tập nhưng chưa hiệu quả hoặc học bài sơ qua, đi làm việc khác, chờ mùa thi (20,47%) Vì vậy GV cần có hướng dẫn, yêu cầu về nội dung, phương pháp học tập cho HS (có thể gợi ý bằng câu hỏi, vấn đề cụ thể) và yêu cầu sản phẩm cần đạt được để HS thực hiện và có cách học hiệu quả hơn

1.4.1.3 Về cách thức học bài

a Tự học ở nhà:

- có 142/303 HS tỉ lệ 46,86%, chọn tự học là tự học bài, làm bài, chuẩn

bị bài ở nhà sau khi lên lớp

- có 123/303 HS tỉ lệ 40,59%, do thầy giao việc, sinh viên tự nghiên cứu,

- còn lại 38/303 HS tỉ lệ 12,55%, chọn là tự đọc, tự nghiên cứu sách giáo khoa không lên lớp hoặc có trao đổi với bạn học

b Học trên lớp:

- có 167/303 HS tỉ lệ 51,12%, là thầy giảng bài, tóm tắt ý cho HS chép

- có 98/303 HS tỉ lệ 32,34%, là theo dõi sách giáo khoa, đánh dấu hoặc tốc ký

- có 32/303 HS tỉ lệ 10,56%, là thầy tổ chức, hướng dẫn học; trò tham gia

- còn lại 6/303 HS tỉ lệ 5,98%, là nghe giảng bài, tự ghi chép

Số liệu cho thấy, việc tự học của HS là học lại bài mà sau khi đã học ở lớp (46,86%) hoặc thực hiện công việc do thầy giao (40,59%) Tuy nhiên khi lên lớp thì việc giảng bài của thầy là chính (51,12%); còn việc thầy tổ chức,

Trang 39

hướng dẫn học, HS tham gia ít (10,56%) Như vậy việc giao việc của thầy cho

HS chỉ là học lại bài trên lớp, đọc trước giáo trình; chưa có nội dung cụ thể để

HS tự học, chuẩn bị bài trình bày, thảo luận ở trên lớp Do đó HS vẫn phải theo dõi sách giáo khoa, đánh dấu hoặc tốc ký bài giảng của thầy (32,34%)

1.4.1.4 Về chuẩn bị bài khi lên lớp học

- có 178/303 HS tỉ lệ 58,75%, cho là không chuẩn bị gì cho bài học

- có 64/303 HS tỉ lệ 21,12%, cho rằng đã đọc lướt qua nội dung của bài

- có 45/303 HS tỉ lệ 14,85%, đã đọc nội dung bài, có ghi chú thắc mắc

- có 20/303 HS tỉ lệ 5,28%, đọc lại bài đã học trước đó

Các số liệu điều tra cho chúng ta thấy rằng trước khi đến lớp để học bài mới HS gần như tự do, không có ràng buộc gì, do đó phần lớn HS không quan tâm đến bài sắp học, không có chuẩn bị gì cho bài học (58,75%) Số còn lại có quan tâm đọc nội dung bài, ghi thắc mắc (14,85%); đọc lướt qua bài sắp học (21,12%) và học bài cũ (5,28%) Như vậy, việc HS không chuẩn bị bài trước khi đến lớp mà chỉ đến lớp nghe giảng là do HS không được yêu cầu phải chuẩn bị, nên thoải mái như không có bài để học, tất cả phụ thuộc vào thầy Điều này nói lên rằng sự tự giác, chủ động học tập của HS cần gắn liền với nhiệm vụ học tập, yêu cầu của GV để HS học tập và nhận ra việc học của mình, từ đó mà hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu cho HS

1.4.1.5 Về đánh giá tổ chức dạy học của giảng viên

- có 175/303 HS tỉ lệ 57,75%, cho là GV thuyết trình, giảng giải

- có 76/303 HS tỉ lệ 25,08 %, cho là GV giao bài cho HS chuẩn bị

- còn lại 52/303 HS tỉ lệ 17,17%, cho là GV có tổ chức các hoạt động học tập hoặc xemina trên lớp

Như vậy, về tổ chức dạy học của GV chủ yếu đang là hoạt động của thầy (57,75%); các hình thức tổ chức dạy học khác cho HS học tập như xemina, giao bài cho HS chuẩn bị các GV đã thực hiện nhưng chưa nhiều (25,08%) Do đó tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của HS vẫn chưa được phát huy Vì thế việc học của HS vẫn lệ thuộc vào nội dung bài học,

Trang 40

cách dạy của thầy, đó cũng chính là lý do tại sao HS không có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp Vì vậy, để tăng cường hoạt động học tập cho HS ở trên lớp cũng như tự học ở nhà GV cần tổ chức việc học tập, tự học cho HS bằng hệ thống yêu cầu về các nội dung, phương pháp cụ thể để HS chủ động việc học tập của mình

1.4.1.6 Về điều kiện, khó khăn trong học tập

- có 104/303 HS tỉ lệ 34,32%, cho là thiếu tài liệu học tập, tham khảo

- có 136/303 HS tỉ lệ 44,88%, cho là thiếu sự hướng dẫn cho việc học tập

- các ý kiến còn lại 63/303 HS tỉ lệ 20,80%, cho là thời gian và kiến thức rộng khó bao quát

Các số liệu điều tra cho thấy HS đang khó khăn trong học tập, các điều kiện cho học tập chưa đáp ứng như thiếu tài liệu để học tập, tham khảo (34,32%) Theo chúng tôi tài liệu học tập, tham khảo không thiếu như ý kiến của HS mà chính là thiếu tài liệu, văn bản cụ thể của bài học HS cần Tức là

HS muốn tài liệu để sử dụng ngay chứ không muốn phân tích, tổng hợp từ nhiều tài liệu khác Đó chính là điểm yếu của đa số HS trong học tập, tự học hiện nay mà GV cần quan tâm để định hướng cách dạy, cách học ở đại học

Mặc dù có 20,80% số HS cho là kiến thức học ở THPT rộng, khó bao quát và 44,88% số HS cho là thiếu hướng dẫn cho việc học Điều này cho thấy HS đang cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ trong học tập, đó chính là học cái

gì ? học như thế nào ? làm thế nào để đạt được kiến thức mình muốn có trước khối lượng kiến thức rất lớn, nhiều nguồn thông tin và yêu cầu cần đáp ứng để dạy tốt môn Toán học ở trường phổ thông Như vậy, GV cần có tài liệu, văn bản giúp cho HS cách thực hiện để lĩnh hội kiến thức cho mình Nói khác là

GV dạy cho HS cách học để HS tự học, tự thu thập kiến thức chủ động hơn

1.4.2 Thực trạng của việc bồi dưỡng NLTH cho học sinh trong dạy học môn Toán ở trường THPT

Ngày đăng: 03/10/2021, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực,tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Vụ Giáo viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực,tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
[2]. Báo cáo của hội đồng quốc tế vế giáo dục cho thế kỷ 21 gửi UNESCO(1997), Học tập một kho báu tiềm ẩn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập một kho báu tiềm ẩn
Tác giả: Báo cáo của hội đồng quốc tế vế giáo dục cho thế kỷ 21 gửi UNESCO
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[3]. Nguyễn Vĩnh Cận, Vũ Thế Hựu, Trần Chí Hiếu (1999), Các chuyên đề toán THPT Lượng Giác 11. NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chuyên đề toán THPT Lượng Giác 11
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Cận, Vũ Thế Hựu, Trần Chí Hiếu
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
[4]. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[5]. Lê Hiển Dương (2006), Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành toán, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành và phát triển năng lực tự học cho sinh viên cao đẳng sư phạm ngành toán
Tác giả: Lê Hiển Dương
Năm: 2006
[6]. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1998
[7]. Lê Hồng Đức (chủ biên), Đào Thiện Khải, Lê Bích Ngọc (2009), Phương pháp giải toán phương trình bất phương trình và hệ phương trình lượng giác, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giải toán phương trình bất phương trình và hệ phương trình lượng giác
Tác giả: Lê Hồng Đức (chủ biên), Đào Thiện Khải, Lê Bích Ngọc
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2009
[8]. Phạm Minh Hạc (1992), Một số vấn đề tâm lí học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
[9]. Bùi Hiển, Nguyễn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục, NXB Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục
Tác giả: Bùi Hiển, Nguyễn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
Năm: 2001
[10]. Đặng Thành Hưng (1999), Học tập và tự học: yêu cầu cấp bách để phát triển toàn diện con người trong xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Thông tin khoa học giáo dục số 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập và tự học: yêu cầu cấp bách để phát triển toàn diện con người trong xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 1999
[11]. Nguyễn bá Kim(2002), Phương pháp dạy học môn Toán, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn bá Kim
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2002
[12]. Nguyễn Kỳ (1995), Phương pháp dạy học tích cực, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tích cực
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[13]. Nguyễn Kỳ (1999), Xã hội hóa giáo dục cốt lõi là xã hội hoá tự học, Số chuyên đề về tự học của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thừa thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa giáo dục cốt lõi là xã hội hoá tự học
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Năm: 1999
[14]. Hồ Chí Minh (1990), Về vấn đề giáo dục, NXB Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1990
[15]. Bùi Văn Nghị (2008), Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Tác giả: Bùi Văn Nghị
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
[16]. Bùi Văn Nghị, Trần Trung, Nguyễn tiến Trung (2010), Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán lớp 11, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán lớp 11
Tác giả: Bùi Văn Nghị, Trần Trung, Nguyễn tiến Trung
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
[17]. Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Tác giả: Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005
[18]. Lê Thị Oanh (1996), Phương pháp thống kê trong khoa họcgiáo dục, Bài giảng chuyên đề caộhc, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong khoa họcgiáo dục
Tác giả: Lê Thị Oanh
Năm: 1996
[19]. Nguyễn Thị Tuyết Oanh (2008), Đánh giá kết quả học tập của học sinh, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập của học sinh
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2008
[20]. Đào Tam (chủ biên), Lê Hiển Dương (2008), Tiếp cận các phương pháp dạy học không truyền thống trong dạy học môn toán ở trường đại học và trường phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận các phương pháp dạy học không truyền thống trong dạy học môn toán ở trường đại học và trường phổ thông
Tác giả: Đào Tam (chủ biên), Lê Hiển Dương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng biến thiên: X  0                     4                   2 Y=tanx                                            +  - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
Bảng bi ến thiên: X 0 4 2 Y=tanx +  (Trang 58)
+ Bảng biến thiên (Sgk) + Đồ thị trên   0; - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
Bảng bi ến thiên (Sgk) + Đồ thị trên  0; (Trang 59)
Tra trong bảng phõn phối Student để tỡm t ứng với  0,05 và bậc tự do f  n 1n22 để kiểm định hai phớa - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
ra trong bảng phõn phối Student để tỡm t ứng với  0,05 và bậc tự do f  n 1n22 để kiểm định hai phớa (Trang 104)
Bảng 3.3 Bảng tớch luỹ cho nhúm TN và ĐC ở5 lớp 11 trường THPT Triệu Sơn I – Triệu Sơn – Thanh Hoỏ - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.3 Bảng tớch luỹ cho nhúm TN và ĐC ở5 lớp 11 trường THPT Triệu Sơn I – Triệu Sơn – Thanh Hoỏ (Trang 105)
Bảng 3.2 Bảng tần suất của nhúm TN và ĐC ở 10 lớp 11 trường THPT Triệu Sơn I – Triệu Sơn – Thanh Hoỏ - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.2 Bảng tần suất của nhúm TN và ĐC ở 10 lớp 11 trường THPT Triệu Sơn I – Triệu Sơn – Thanh Hoỏ (Trang 105)
đó tớnh đại lượng kiểm định T= 4,87 và f= 18 2+ 186 – 2= 366. Tra bảng ta cú t ,f1,96 - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
t ớnh đại lượng kiểm định T= 4,87 và f= 18 2+ 186 – 2= 366. Tra bảng ta cú t ,f1,96 (Trang 107)
Bảng 3.5: Kết quả đỏnh giỏ tài liệu tự học cú hướng dẫn theo nội dung bài tập (Theo phiếu hỏi giỏo viờn)  - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 3.5 Kết quả đỏnh giỏ tài liệu tự học cú hướng dẫn theo nội dung bài tập (Theo phiếu hỏi giỏo viờn) (Trang 108)
GV: Nờu kết luận thụng qua bảng phụ 2: Bảng biến thiờn  - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
u kết luận thụng qua bảng phụ 2: Bảng biến thiờn (Trang 125)
GV nờu chỳ ý qua bảng phụ 3 về tớnh đối xứng và đồ thị hàm số y =  sinx trờn đọan   - Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần lượng giác lớp 11 trung học phổ thông
n ờu chỳ ý qua bảng phụ 3 về tớnh đối xứng và đồ thị hàm số y = sinx trờn đọan (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w