BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN TRONG NUÔI SINH KHỐI LUÂN TRÙNG Brachinonus plicatilis Muller, 1786 TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHẤT GIỐNG KHÓA LU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THỨC ĂN TRONG NUÔI SINH KHỐI LUÂN TRÙNG (Brachinonus plicatilis Muller, 1786 ) TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHẤT
GIỐNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Người thực hiện: Bùi Văn Chính
Người hướng dẫn khoa học: KS Lê Minh Hải
VINH - 2011
Trang 2LỜI CẢM N
Để hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự lỗ lực của
bản thân, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo KS Lê
Minh Hải là người thầy đã định hướng và tận tình hướng dẫn để tôi có
thể hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, Ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm Ngư, cùng sự giúp đỡ của Ban giám đốc, kỹ sư và anh em công nhân Công ty Cổ phần thuỷ sản Nhất Giống, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khoá luận này
t lần n a, tôi xin chân thành cảm ơn và khắc ghi tất cả sự giúp
đỡ quý báu trên
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 7 năm 2011
Sinh viên
Bùi Văn Chính
Trang 3MỤC LỤC
I CẢ N i
DANH ỤC VIẾT TẮT iv
DANH ỤC CÁC BẢNG v
DANH ỤC CÁC HÌNH vi
Ở ĐẦU 1
1 ý do chọn đề tài 1
2 ục tiêu nghiên cứu 2
CHƯ NG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 ột số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo 3
1.1.3 Đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và chu kỳ sống 5
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống luân trùng 7
1.1.5 Các phương pháp nuôi luân trùng 10
1.2.Tình hình nghiên cứu và sử dụng luân trùng tại Việt Nam và trên thế giới 12
1.2.1 Trên thế giới 12
1.2.2 Tại Việt Nam 13
CHƯ NG II ĐỐI TƯỢNG, VẬT IỆU, VÀ PHƯ NG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 15
2.2.3 Công thức thức ăn thí nghiệm 15
2.1.2.2 Dụng cụ nghiên cứu 16
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
Trang 42.3.2 Sơ đồ khối nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 19
2.5 Phương pháp xứ lý số liệu 21
2.6 Thời gian và địa điểm nghiêm cứu 21
2.6.1 Thời gian nghiên cứu 21
2.6.2 Địa điểm nghiên cứu 21
CHƯ NG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO UẬN 22
3.1 Các yếu tố môi trường thí nghiệm trong thí nghiệm 1 22
3.1.1 Độ mặn 22
3.1.2 Nhiệt độ 23
3.1.3 pH 23
3.1.4 Oxi hoà tan 24
3.1.5 NH3 24
3.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn trong nuôi sinh khối luân trùng 25
3.2.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sự biến động mật độ luân trùng ở 4 công thức thí nghiệm 25
3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn tới tốc độ tăng trưởng của quần thể luân trùng 27
3.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ mang trứng của luân trùng ở 4 công thức thí nghiệm 29
3.2.4 Dự toán kinh tế nuôi luân trùng bằng các loại thức ăn khác nhau 31
3.3 Đánh giá chất lượng luân trùng khi nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau 33
3.4 Ảnh hưởng của các loại luân trùng được nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau đến ương nuôi cá Giò giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 9 ngày tuổi 33
3.4.1 Ảnh hưởng của các loại luân trùng được nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau đến sự tăng trưởng của cá Giò giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 9 ngày tuổi 33
ii
Trang 53.4.2 Ảnh hưởng của các loại luân trùng được nuôi bằng các loại thức ăn
khác nhau đến tỷ lệ sống của cá Giò giai đoạn 1 - 9 ngày tuổi 34
KẾT UẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
KẾT UẬN 37
KIẾN NGHỊ 37
DANH ỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt động sinh sản của luân trùng theo (Ruttner – Kolishko, 1972) 8
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn thí nghiệm 15
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 17
Bảng 2.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 18
Bảng 3.1 Các yếu tố môi trường thí nghiệm 22
Bảng 3.2 ật độ quần thể luân trùng 25
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởngcủa quần thể luân trùng với 4 công thức thức ăn 27
Bảng 3.4 Tỷ lệ mang trứng của quần thể luân trùng(%) 30
Bảng 3.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi luân trùng 32
Bảng 3.6 Tăng trưởng chiều dài của cá Giò (cm) 33
Bảng 3.7 Tỷ lệ sống của cá Giò giai đoạn 1 - 9 ngày tuổi (%) 34
iii
Trang 6
iv
v
Trang 7
DANH ỤC CÁC HÌNH Hình1.1 Hình thái cấu tạo luân trùng Brachionus plicatilis 3
Hình 1.2 Chu kỳ sinh sản của luân trùng Brachionus plicatilis (theo Hoff và Snell, 1987) 5
Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm 1 18
Hình 2.2 Sơ đồ khối nghiên cứu thí nghiệm 2 19
Hình 3.1 Sự biến động mật độ quần thể luân trùng 25
Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng của quần thể luân trùng 28
Hình 3.3 Tỷ lệ mang trứng của quần thể luân trùng 30
Hình 3.4 Tăng trưởng về chiều dài cá Giò thí nghiệm 33
Hình 3.5 Tỷ lệ sống của cá Giò thí nghiệm 35
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Luân trùng nước lợ (Branchionus plicatilis) phân bố rộng rãi trong các
thuỷ vực nước lợ được xem là loại thức ăn ưa thích cho ấu trùng tôm cá biển như: Cá Chẽm, cá ú, cá Nâu Do
là loài thích nghi rộng với môi trường và có nhiều đặc điểm phù hợp với hoạt động bắt mồi của ấu trùng các loài cá biển và giáp xác như: Kích thước nhỏ phù hợp với cỡ miệng, tốc độ bơi chậm, sống lơ lửng trong nước, Bên cạnh đó nó còn có hàm lượng dinh dưỡng cao đặc biệt là chứa các acid béo no, enzym kích hoạt hệ thống tiêu hoá
Vì vậy luân trùng còn có ý nghĩa quyết định đến tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của ấu trùng cá, giáp xác ở giai đoạn đầu mà không một loại thức ăn nào có thể thay thế được ặt khác nó có khả năng sinh sản nhanh và có thể
bổ sung các chất cần thiết cho sự phát triển của ấu trùng các loại cá, giáp xác nên có thể sản xuất với với số lượng lớn trong thời gian ngắn Hiện tại luân trùng được sử dụng trong sản xuất giống của 60 loài cá biển và 18 loài giáp xác có giá trị kinh tế cao Sự chủ động sẵn có của nguồn luân trùng sẽ quyết định sự thành công trong lĩnh vực sản xuất giống cá biển (Dhert, 1997 trích bởi Như Văn Cẩn, 1999) [3]
Hiện tại trong các trại giống nuôi trồng thuỷ sản người ta thường sử dụng men bánh mỳ và tảo để nuôi luân trùng uân trùng được nuôi bằng tảo cho sinh khối lớn và có hàm lượng dinh dưỡng cao tuy vậy giá thành sản xuất
bị đẩy lên cao, còn với men bánh mỳ mặc dù thuận tiện trong sản xuất nhưng men bánh mỳ có giá trị dinh dưỡng kém, tuy hàm lượng protein chiếm tới 45% - 52 % nhưng thiếu các chất khác hoặc có nhưng rất thấp, giá thành cũng khá cao
Trang 10Qua tìm hiểu các tài liệu tôi thấy rằng một số loại thức ăn như: bột cá, bột đậu nành… cũng phù hợp với nuôi sinh khối luân trùng do chúng có hàm lượng dinh dưỡng khá cao nếu so với tảo và men bánh mỳ, nguồn cung giá thành rẻ và chủ động hơn so với sử dụng tảo hay men bánh mỳ Hiện nay chưa có các công trình nghiên cứu về vấn đề sử dụng bột cá hay bột đậu nành
làm thức ăn cho luân trùng Chính vì vậy tôi đã tiến hành đề tài: “ Ảnh hưởng của một số loại thức ăn trong nuôi sinh khối luân trùng (Brachionus plicatilis Muller, 1786)”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được sự ảnh hưởng của các loại thức ăn trong nuôi sinh khối
luân trùng
- Tìm ra được loại thức ăn thích hợp nhất để nuôi sinh khối luân trùng
Trang 11CHƯ NG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Loài : Brachionus plicatilis Muller, 1786
1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo
Trang 12Dựa vào kích thước vỏ giáp, hình dạng cơ thể, cấu tạo các gai luân trùng được chia thành ba dòng khác nhau, chủ yếu theo kích thước
Dòng lớn L: (Brachionus plicatilis) có kích thước cá thể từ 130-340µm (trung bình là 239 μm), khối lượng khô khoảng 0,33 µg/cá thể
Dòng nhỏ S: (Brachionus rotundiformis) có kích thước cá thể từ 100-210µm (Trung bình là 160µm), khối lượng khô khoảng 0,22 µg/cá thể
Dòng siêu nhỏ: (Super small trian) thường có kích thước cá thể trung bình 140µm (Nguyễn quyền và ctv, 1998) [7]
Cơ thể luân trùng có vỏ giáp bao bọc, dẹp theo hướng lưng bụng Bờ bụng trước có 4 gai dạng u lồi, giữa có khe hình chữ V Bờ lưng trước có 6 gai, các gai dài xấp xỉ nhau Vết xẻ lỗ chân hình chữ U nhìn rất rõ (Rudescu, 1960; Kuticova, 1970) Cơ thể luân trùng được chia làm ba phần: Đầu, chân
và thân
Phần đầu: Có bộ máy tiêm mao với chức năng là cơ quan vận chuyển
và tạo thành dòng nước để đưa thức ăn vào miệng
Phần thân: à phần phình lớn, chiếm thể tích chủ yếu của cơ thể, được bao bọc bởi lớp vỏ, trên mặt vỏ có các gai phân bố
Phân chân: Chân có dạng vòng, có khả năng co rút, phần tận cùng không phân đốt với hai mấu chân tiết chất dính giúp cơ thể bám vào giá thể
Cấu tạo trong của luân trùng rất đơn giản Hệ tiêu hoá có miệng nằm ở mặt bụng, bao quanh miệng là một hệ thốnh vành tiêm mao Bên trong xoang miệng là hệ thống nghiền với hầu cơ có răng kitin, có tác dụng như cối xay nghiền thức ăn Sau bộ máy nghiền là ống tiêu hoá hẹp và dạ dày tuyến có kích thước lớn Do không có hệ tuần hoàn và hệ hô hấp nên sự trao đổi chất trong cơ thể được thực hiện bằng con đường khuếch tán đơn giản từ hệ tiêu hoá vào dịch xoang, đến các mô và ngược lại Hệ sinh dục đã phân tính nhưng con cái thường gặp nhiều hơn con đực Con cái thường có một buồng trứng
Trang 13nằm ở phía sau của thân dưới ruột, tiếp theo là ống dẫn trứng ngắn đổ vào huyệt Con đực có kích thước nhỏ hơn con cái, hệ tiêu hoá và hệ bài tiết tiêu giảm, hệ sinh dục gồm có một tinh hoàn duy nhất, ống dẫn tinh đỗ ra ngoài lỗ huyệt tận cùng bằng cơ quan giao cấu [7]
1.1.3 Đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và chu kỳ sống
Hình 1.2 Chu kỳ sinh sản của luân trùng Brachionus plicatilis (theo
Hoff và Snell, 1987)
- uân trùng có hai hình thức sinh sản là sinh sản hữu tính và sinh sản
vô tính ( ubzens, 1997) Hình thức sinh sản đơn tính diễn ra trong điều kiện
Trang 14môi trường bình thường, những con cái cho sản phẩm sinh dục là trứng lớn vỏ mỏng (2n) Quá trình này tiếp tục diễn ra cho đến khi điều kiện môi trường trở nên bất lợi thì trong quần đàn luân trùng xuất hiện những con cái có khả năng thụ tinh thực hiện quá trình sinh sản hữu tính Những con cái có khả năng thụ tinh sản xuất ra những trứng đơn bội (n) có kích thước nhỏ, vỏ mỏng Những trứng này nếu không được thụ tinh sẽ cho ra những con đực có kích thước nhỏ bé, nội quan tiêu giảm, chỉ làm nhiệm vụ thụ tinh Những trứng được thụ tinh là những trứng lớn vỏ dày hay trứng nghỉ (resting egg) có khả năng chống chịu điều kiện bất lợi của môi trường Khi gặp điều kiện thuận lợi trứng nghỉ sẽ nở ra hàng loạt con cái không có khả năng thụ tinh, kiểu sinh sản đơn tính được lặp lại
- Giữa những con cái có khả năng thụ tinh và không có khả năng thụ tinh không có sự khác nhau về hình thái ngoài Tuy nhiên trứng do con cái không có khả năng thụ tinh sẽ cho ra những con đực có kích thước chỉ bằng ¼ con cái Thời gian phát triển của trứng nghỉ dài nhưng khoảng cách giữa hai lần sinh sản hữu tính lại ngắn hơn sinh sản đơn tính (Rutner và Kolisco, 1974 trích ê Thị Nga, 1998) Trong điều kiện bình thường thời gian để con cái sinh sản ra các thế hệ sau không quá 4 giờ
- Chu kỳ sống của luân trùng chỉ kéo dài 3 - 4 ngày, nhiều nhất 7,5 ngày (Hoàng Thị Bích Đào, 1998) uân trùng có tốc độ tăng trưởng quần đàn rất nhanh Sau khi nở 0,5 - 1,5 ngày luân trùng bắt đầu sinh sản Vào thời kỳ mắn đẻ, một con cái có thể sinh ra 20-25 con nếu thức ăn đầy đủ và chất lượng nước tốt (Frank Hoff, 1996) Khối lượng một con cái có thể đạt 0,67µg trong thời kỳ sinh trưởng nhanh Khi thiếu thức ăn quần đàn luân trùng suy giảm nhanh chóng, khối lượng khô giảm ở mức 18 - 26%/ngày ở 25o
C (Watanabe, 1983) Điều này làm cho chất lượng dinh dưỡng của luân trùng giảm theo vì chúng đã sử dụng lượng năng lượng tối đa cho trao đổi chất
Trang 15Kết quả của sự sinh sản hữu tính hay đơn tính là do sự thay đổi của các điều kiện môi trường Nhiệt độ, độ mặn và thức ăn là những yếu tố chính ảnh hưởng đến thời gian và tỷ lệ nở của trứng nghỉ, ánh sáng là yếu tố khởi động quá trình này (Lubzens, 1989)
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống luân trùng
Độ mặn
Độ mặn cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng và phát triển của luân trùng Theo Walker, 1981 luân trùng có thể tồn tại ở độ mặn khoảng 1 - 97‰, nhưng sự sinh sản chỉ có thể xảy ra bình thường ở độ mặn 4 - 35‰ Sự biến động đột ngột của độ mặn có thể làm luân trùng ngừng hoạt động hoặc chết Do đó khi chúng ta sử dụng luân trùng làm thức ăn cho ấu trúng cá biển thì phải thuần chủng ở độ mặn thích hợp trước khi đưa vào bể nuôi ấu trùng (Walker, 1981; ubzens, 1987)
- Kết quả nghiên cứu của Yu và Yaquan, 1980 cho thấy luân trùng có thể sinh trưởng và phát triển trong phạm vi độ mặn từ 2 - 50‰ với độ mặn cực thuận là 15 - 25‰
- Theo TakashiIto, 1995 luân trùng có thể tồn tại ở độ mặn từ 0 - 43,7‰ và độ mặn thích hợp nhất là từ 7 - 9‰
- Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Quyền, 1988 khi nghiên cưú về ảnh hưởng của độ mặn tới sinh trưởng của quần thể luân trùng đã kết luận rằng: phạm vi thích hợp về độ mặn của luân trùng là từ 13 - 16‰, tác giả ê Thị Nga (1988) trong nghiên cứu của mình cũng kết luận rằng: Sự phát triển tốt nhất của quần thể luân trùng trong điều kiện môi trường có độ mặn từ 10 - 20 ‰ Như vậy
có rất nhiều nghiên cứu và kết luận khác nhau về khoảng độ mặn thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của quần thể luân trùng Tuy nhiên trong việc giải quyết vấn đề thức ăn tươi sống cho ấu trùng động vật biển, việc lựa chọn độ mặn nuôi luân trùng ngoài mục đích nuôi sinh khối cao còn phải xét đến khả
Trang 16năng chịu đựng của nó khi đưa vào bể nuôi ấu trùng động vật biển Bởi vì nó
có thể gây sốc làm giảm sức sống và chất lượng luân trùng
Theo Ruttner – Kdishko, 1972 cho biết ảnh hưởng của nhiệt độ đến
hoạt động sinh sản của B plicatilis như sau:
Bảng 1.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt động sinh sản của luân trùng
theo (Ruttner – Kolishko, 1972)
Nhiệt độ ( o
C) 15 20 25
- Thời gian phát triển phôi (ngày)
- Thời gian con cái đẻ lần đầu (ngày)
- Khoảng cách giữa hai lần đẻ (giờ)
- Tổng số trứng của một con cái trong vòng
đời
1,3 1,0 0,6 3,0 1,9 1,3 7,0 5,3 4,0
23 23 2,0
Theo I Chui Liao, Huei Meei Su Và Jav Huralin (1991) thì luân trùng dòng nhỏ là loại rộng nhiệt, ở 15oC chúng vẫn sinh trưởng nhưng không sinh sản Ở nhiệt độ 15 - 35oC tỉ lệ sinh trưởng của luân trùng tăng với nhiệt độ Nhiệt độ tối thuận cho sinh trưởng của chúng là 22 - 30o
C
Nguyễn Văn Quyền, 1988 khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên sinh trưởng và phát triển của luân trùng dòng nhỏ cho biết nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của luân trùng là 25 ± 2oC tiếp theo là 28 ± 2oC, sau đó là 30
Trang 17± 2oC Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của luân trùng mà còn tác động đến chất lượng của chúng Trong điều kiện nuôi ở nhiệt độ thấp, luân trùng duy trì được hàm lượng lipid và carbonhydrate trong thời gian khá lâu, còn khi nuôi ở nhiệt độ cao thì thành phần sinh hoá biến đổi rất nhanh, đặc biệt khi biến động thức ăn Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến quần đàn, tốc
độ tiêu thụ thức ăn, sự hình thành và tỷ lệ nở của trứng nghỉ, kích thước, thời điểm xuất hiện luân trùng trong tự nhiên mà còn có tác động đến thành phần sinh hóa của luân trùng
Oxy hoà tan
uân trùng có thể tồn tại trong môi trường nước ở ngưỡng oxy hoà tan dưới 2 mg/l (Fukusho, 1989) Giá trị oxy trong môi trường nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhiệt độ, độ mặn, mật độ luân trùng và các loại thức ăn cung cấp Khi nuôi luân trùng không nên sục khí quá mạnh nhằm tránh những tổn thương về mặt vật lý đối với quần đàn luân trùng
pH
Trong tự nhiên luân trùng thường phân bố ở vùng có pH: 6,0 - 9,0; trong khoảng này pH không ảnh hưởng đến quá trình lọc thức ăn của luân trùng Khi pH nhỏ hơn 5 hoặc lớn hơn 10 thì luân trung hầu như không tồn tại Theo Hoàng Thị Bích Đào, 1998 phạm vi pH thích hợp cho nuôi luân trùng là từ 7,5 - 8,0
NH 3
Tỷ lệ NH3/NH4+ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và pH của nước Các mức amoniac không ion hoá cao gây độc với luân trùng, nhưng các điều kiện nuôi với nồng độ NH3 < 1mg/l được xem là an toàn theo (Nguyễn Thị Kim iên & Ctv, 2008) [6]
Mức độ nhiễm tiêm mao trùng (Ciliata)
Trang 18Tiêm mao trùng là các động vật phù du nhỏ bé thường xuất hiện trong môi trường nuôi luân trùng (Lubzens, 1987) Tác động của tiêm mao trùng được đánh giá trên hai mặt lợi và hại Khi môi trường nuôi có quá nhiều tiêm mao trùng chúng sẽ cạnh tranh thức ăn với uân trùng, tăng sản phẩm thải làm môi trường xấu đi nhanh chóng và có thể gây tàn lụi cả quần đàn luân trùng ột số loại tiêm mao thuộc giống Vorticella có thể bám và tiêu diệt luân trùng (Dhert, 1987) Ngoài ra theo Regure, 1984 khi môi trường nhiễm nặng tiêm mao trùng cũng làm tảo kết vón chìm xuống đáy làm giảm sản lượng luân trùng, tuy nhiên tác giả vẫn chưa tìm ra bản chất của hiện tượng này và chưa biết cụ thể tiêm mao sử dụng những tế bào sống hay những tế bào tảo bị kết vón
Dhert, 1987 đã phát hiện những trường hợp nhiễm vừa phải, tiêm mao trùng có khả năng làm sạch môi trường do chúng có thể ăn những tế bào vi khuẩn thức ăn thừa và mùn bã hữu cơ Theo Như Văn Cẩn, 1999 mức độ nhiễm tiêm mao trùng phụ thuộc rất nhiều vào loại thức ăn Luân trùng nuôi bằng men bánh mỳ dễ bị nhiễm nặng hơn so với thức ăn là tảo
Khi môi trường bị nhiễm tiêm mao trùng nên xử lý bằng cách lọc lưới 70µm để giảm số lượng tiêm mao hoặc trong trường hợp nhiễm nhẹ có thể phòng bằng cách phân lập hoặc cấy luân trùng trong các dụng cụ nhỏ hơn (Regure, 1987; Dhert, 1997) Rothbard, 1975 đưa ra biện pháp phòng ngừa bằng cách cung cấp thêm dung dịch formalin 20ppm vào bể nuôi tảo 24 giờ trước khi sử dụng cho luân trùng ăn
1.1.5 Các phương pháp nuôi luân trùng
Tuỳ theo điều kiện dụng cụ và mục đích, luân trùng có thể nuôi ở nhiều phương pháp khác nhau Hiện nay trên thế giới đang sử dụng ba phương pháp phổ biến là: nuôi sinh khối luân trùng theo phương pháp bán liên tục, nuôi thu một lần và sử dụng hệ thống nuôi phản hồi
Trang 19 Phương pháp nuôi thu một lần (Batch Cultere)
Được Tech phát minh 1981 luân trùng được cấy vào môi trường có tảo đang phát triển ở mật độ cao (10-20×106
tế bào/ml) Khi tảo được sử dụng hết thì thu toàn bộ luân trùng và để lại một ít làm giống cho đợt sau Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong các trại sản xuất giống cá biển, có thể cung cấp một lượng thức ăn nhanh chóng trong thời gian ngắn Dung tích nuôi phụ thuộc vào điều kiện của trại sản xuất, có thể giao động từ 0,5 - 10m3
(Hino; Dhert, 1997) mật độ luân trùng cấy khoảng 50 - 200 ct/ml Sau khi hết tảo có thể cung cấp nấm men với một lượng 1 - 2 g/1triệu cá thể/ngày
Phương pháp nuôi bán liên tục (Semi-continuóu Culture)
Lubzens, 1987 đã cải tiến từ phương pháp nuôi thu một lần thành phương pháp nuôi bán liên tục Phương pháp này gồm hai khâu cơ bản, khâu thứ nhất giống hình thức thu một lần, nhưng khi khâu thứ hai ở mật độ luân trùng tương đối cao, thay vì thu hoạch toàn bộ người ta tiến hành thu một lần, sau đó bổ sung thêm nước sạch và thức ăn, thường là tảo và nấm men với lượng ổn định hàng ngày tuỳ theo thể tích nuôi, mật độ và tốc độ của luân trùng mà người ta chọn tỷ lệ (thu hoach/pha loãng) khác nhau, tỷ lệ này thường là 10 - 30% thể tích nuôi ( ubzens, 1987; Như Văn Cẩn 1999) Phương pháp này có thể kéo dài thời gian nuôi phụ thuộc vào số lượng và chất lượng thức ăn cung cấp ật dộ luân trùng ở pha thu hoạch thường biến đổi từ 100 - 800ct/ml
Hệ thống nuôi phản hồi (Freedback Cultere)
Được Hirata, 1979 mô tả như sau: sản phẩm thừa của thức ăn và chất bài tiết sau đó được chuyển qua bể xử lý với hệ thống mương ziczac được vi khuẩn phân huỷ thành các muối dinh dưỡng Các muối này được sử dụng trong quy trình nuôi tảo làm thức ăn cho luân trùng Phương pháp này được Nguyễn Quyền áp dụng năm 1988, theo tác giả cứ 500 lít thể tích nuôi cần có
Trang 20150 lít thể tích để xử lý Thời gian nuôi có thể kéo dài 100 ngày, mật độ quần đạt mức trung bình là 350ct/ml (Hirata, 1979 và Nguyễn Quyền, 1988 trích bởi Cái Ngọc Bảo Anh, 1999)
1.2.Tình hình nghiên cứu và sử dụng luân trùng tại Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Trên thế giới
Luân trùng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới bởi giá trị dinh dưỡng đặc biệt Trước đây người Nhật đã xem luân
trùng như một sinh vật gây hại Nghề nuôi cá chình (Anguillla zaponicus) đã
bị chững lại bởi hiện tượng “mizukawari”: hàng loạt tảo trong ao nuôi bị tiêu diệt vào mùa hè do sự phát triển ồ ạt của luân trùng đã làm chất lượng nước xấu đi, sản lượng cá chình cũng giảm theo Nguyên nhân này đã được Takafhi Ito phát hiện vào năm 1955 và đến năm 1960 ông khẳng định luân trùng là
thức ăn cho ấu trùng cá thơm (Plecoglossus altivelia) là nguyên nhân gây ra
tình trạng trên Sau này Hirata, 1983; Fukusho, 1989; Fukusho và Hirayama,
1992 khẳng định luân trùng là thức ăn quan trọng bậc nhất của trên 80 loài cá biển và trên 20 loài giáp xác Hirata, 1964 (trích Hino, 1993); Hudinaga và
cộng sự, 1966 đã tiến hành thử nghiệm nuôi ấu trùng tôm Panaeus japonicus
bằng thức ăn luân trùng Oka,1967 cũng đã thành công với tôm khi sử dụng
luân trùng trên ấu trùng tôm Panaeus orietalis Các tác giả này đều nhận thấy
ấu trùng tôm phát triển nhanh hơn và tỷ lệ sống cao hơn các đối tượng giáp xác khác nhau như cua ( enippe mercenari) ở giai đoạn sớm cũng đã được nuôi bằng luân trùng (Yang, 1971)
uân trùng là thức ăn đầu tiên và duy nhất cho hầu hết các quy trình ương nuôi ấu trùng cá biển mà không một loại thức ăn nào có thể thay thế được Watanabe và cộng sự, 1994 cho rằng trên thực tế không có nuôi sinh khối luân trùng thì việc nuôi ấu trùng cá biển không thể tiến hành Thái Lan
đã sử dụng luân trùng ương nuôi ấu trùng cá chẽm (Lates calcarifer) từ khi cá
Trang 21bắt đầu ăn đến khi 15 ngày tuổi đạt tỷ lệ sống cao Watanabe và cộng sự, năm
1994 sử dụng luân trùng với các kích cỡ để nuôi ấu trùng cá song mỡ
(Epinephelus tauvina) đạt tỷ lệ sống cao hơn khi sử dụng thức ăn là ấu trùng
nhuyễn thể
Tóm lại các nhà thuỷ sản trên thế giới đã biết cách khai thác mối quan hệ dinh dưỡng tự nhiên để sử dụng luân trùng vào việc ương nuôi ấu trùng cá biển
1.2.2 Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Nguyễn Quyền và ctv (1976 - 1980) đã nghiên cứu nuôi sinh khối luân trùng với ứng dụng làm thức ăn tươi sống cho ấu trùng tôm (ở
giai đoạn đầu phát triển giai đoạn Zoae đến giai đoạn Postlavae) với tỷ lệ
sống hơn 60%
- Theo Fukusho và Okauchi (1982.), dòng luân trùng phân bố tự nhiên tại miền Nam có kích thước nhỏ từ 140 - 220µm, trong khi ở miền Bắc thì nghiên cứu nhiều mà không thấy các tác giả đề cập đến vấn đề kích thước và kiểu dòng nuôi (Nguyễn Quyền, 1988)
- ê Thị Nga (1998) nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của luân trùng, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sinh trưởng và phát triển của luân trùng, làm cơ sở cho việc nuôi sinh khối và bảo quản chúng Khi nuôi luân trùng bằng phương pháp bán liên tục hàng ngày nên thu hoạch 30 - 40% thể tích bể nuôi
- Hoàng Thị Bích Đào (1997) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn lên một số chỉ tiêu sinh học của luân trùng B plicatilis và bước đầu thử nghiệm nuôi thu sinh khối ở thể tích lớn bằng các loại thức ăn khác nhau Như Văn Cẩn (1999) tìm hiểu khả năng thích nghi và đánh giá chất lượng
luân trùng B plicatilis Muller, 1786 dòng kích thước lớn, nuôi sinh khối tại
Nha Trang bằng một số loại thức ăn khác nhau
Trang 22- Theo quy trình kỹ thuật nuôi thu sinh khối luân trùng dòng nhỏ trên
cơ sở sử dụng men bánh mì có bổ sung 10% dầu mực (Cái Ngọc Bảo Anh, 1999) có thể được tóm tắt như sau :
Độ mặn: 25‰
Sục khí liên tục: 24/24 h
ức cho ăn:
Ngày thứ nhất: 1,2 g men/triệu luân trùng/ngày
Ngày thứ hai: 1,1 g men/triệu luân trùng/ngày
Ngày tiếp: 1,0 g men/triệu luân trùng/ngày
Nhịp cho ăn: cho ăn liên tục bằng máy hay 4 lần/ngày
ật độ ban đầu tối thiểu; 30 cá thể/ml
ức thay nước 50% thể tích bể nuôi/ngày
Khi đó năng suất thu hoạch có thể đạt được 48 x 106
cá thể/m3/ngày
Trong tình hình nghề sản xuất giống nhân tạo cá biển đang bắt đầu phát triển mạnh ở Việt Nam, cần đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu và sản xuất sinh khối luân trùng
Hiện nay, việc nghiên cứu xây dựng qui trình sản xuất sinh khối luân trùng một cách bền vững, ổn định và trở thành nghề nuôi thương phẩm còn rất nhiều hạn chế
Trang 23CHƯ NG II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, VÀ PHƯ NG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
uân trùng nước lợ (Brachionus plicatilis, O.F Muller (1786)) được lấy giống
từ viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I và được nuôi tại công ty cổ phần thuỷ sản Nhất Giống
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu
Cá giò giai đoạn 1 – 9 ngày tuổi
Cá bố mẹ được nuôi ở ngoài bè của công ty và trứng được thu và đưa vào trong công ty để tiến hành sản xuất giống
2.2.3 Công thức thức ăn thí nghiệm
- Thí nghiệm 1 : Bố trí 4 công thức thí nghiệm
CT1: en bánh mỳ (60% men tươi + 40% men khô)
CT2: 50% bột cá + 50% bột đậu nành
CT3: Bột đậu nành
CT4: Bột cá
Trang 24- Thí nghiệm 2: Bố trí 5 công thức thí nghiệm
CT1: Luân trùng đđã được làm giàu bằng tảo + protein selco
CT2: uân trùng được nuôi bằng men bánh mỳ
CT3: uân trùng được nuôi bằng bột cá + bột đậu nành
CT4: uân trùng được nuôi bằng bột đậu nành
CT5: uân trùng được nuôi bằng bột cá
2.1.2.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Hệ thống bể thí nghiệm : 15 bể thí nghiệm 120lit, 3 bể thí nghiệm 2m3
- Hệ thống trang thiết bị: Vợt, máy xay sinh tố, ca, xô, thùng xốp…
- Hệ thống ống dẫn khí, sục khí
- Cân đồng hồ, thước palme,
- Test pH, test NH3, test Oxi, nhiệt kế thuỷ ngân, ống đo độ mặn
- Kính lúp, kính hiển vi, la men, pipet
- Và các dụng cụ khác
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Theo dõi biến động các yếu tố môi trường
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến mật độ của quần thể luân trùng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tỷ lệ mang trứng của quần thể luân trùng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng của quần thể luân trùng
- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi nuôi luân trùng bằng các loại thức ăn khác nhau
- Nghiên cứu ảnh hưởng của luân trùng được nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau đến sự phát triển của cá giò giai đoạn từ 1 đến 9 ngày tuổi thông qua theo dõi sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá Giò