Với tất cả những lí do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội tỉnh Hà Tây cũ lãnh đạo phát triển ki
Trang 1CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG
Trang 2CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG
Lớp 48B 1 - Sử (2007 - 2011)
Giáo viên hướng dẫn: TS TRẦN VŨ TÀI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài, lời đầu tiên cho phép tôi bầy tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến Thầy giáo hướng dẫn TS Trần Vũ Tài, người thầy luôn tận tâm
giành cho tôi sự chỉ bảo ân cần Những ý kiến góp ý quý báu của thầy, mang lại trong tôi sự gợi mở cùng những hướng suy nghĩ mới mẻ, là nguồn cổ vũ giúp tôi vững tin trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Qua đây, cũng cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Khoa Lịch sử - Trường Đại học Vinh, những người trong suốt những năm tháng qua đã tận tình chỉ bảo cho tôi, đem lại cho tôi những hành trang quý báu, giúp tôi có đủ tự tin và bản lĩnh khoa học để thực hiện đề tài
Cuối cùng, cho tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè, đã quan tâm động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện
đề tài
Mặc dù bàn thân tác giả đã có những cố gắng và nỗ lực, nhưng do khả năng nghiên cứu và thời gian có hạn, vì vậy bản khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót hạn chế Tác giả hy vọng nhận được sự chỉ bảo tận tình và sự góp ý chân thành của thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn
Vinh, tháng 5 năm 2011
Tác giả
Lê Xuân Định
Trang 4MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục luận văn 5
B NỘI DUNG 6
Chương 1 VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA HUYỆN MỸ ĐỨC TRƯỚC NĂM 1996 6
1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội của huyện Mỹ Đức 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 6
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 11
1.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996 14
1.2.1 Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trong những năm 1986 - 1990 14
1.2.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức thời kỳ 1991 - 1995 18
Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NHỮNG NĂM 1996 - 2010 24
2.1 Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về phát triển kinh tế nông nghiệp 24
2.1.1 Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước 24
Trang 52.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về phát triển kinh tế nông
nghiệp trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước 26
2.2 Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1996 - 2000 29
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ 29
2.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 35
2.3 Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 2001 - 2005 41
2.3.1 Chủ trương của Đảng bộ 41
2.3.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 44
2.4 Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 2005 - 2010 48
2.4.1 Chủ trương của Đảng bộ 48
2.4.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 52
Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 59
3.1 Nhận xét chung 59
3.1.1 Thành tựu 59
3.1.2 Hạn chế 63
3.2 Những kinh nghiệm chủ yếu và một số vấn đề đặt ra 65
3.2.1 Những kinh nghiệm chủ yếu 65
3.2.2 Một số vấn đề đặt ra 70
C KẾT LUẬN 73
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
E PHỤ LỤC
Trang 6BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
CTQG Chính trị Quốc gia
ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
KHXH Khoa học xã hội
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nxb Nhà xuất bản
TW Trung ương UBND Uỷ ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nước ta là một nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đó là một tiến trình hết sức khó khăn, phức tạp
và chưa có tiền lệ
Thực hiện tiến trình này, nông nghiệp là một ngành kinh tế có vai trò hết sức quan trọng Trong quá trình xây dựng CNXH, Đảng ta luôn chú trọng phát triển nền nông nghiệp toàn diện Một trong những yếu tố đưa đến sự thành công trên mặt trận nông nghiệp là xác định đúng mục tiêu chiến lược coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nước ta
Ngày nay, trong bối cảnh quốc tế có những biến động hết sức phức tạp, với sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, xu thế toàn cầu hoá
và hội nhập kinh tế quốc tế đang là một quá trình tất yếu, sự cạnh tranh giữa các ngành, các lĩnh vực trong khu vực và toàn cầu ngày càng trở nên khốc liệt Từ nhận thức đó, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, nông nghiệp được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Việc quan tâm phát triển kinh tế nông nghiệp để hình thành một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá toàn diện, hiệu quả, bền vững…không chỉ thể hiện bằng chủ trương, đường lối, mà còn cả một hệ thống chính sách quản lý và các công cụ khác, nhằm giải phóng sức sản xuất, phát huy tiềm năng, lợi thế của các thành phần kinh tế đối với nông nghiệp
Mỹ Đức vốn là một huyện thuần nông, nông nghiệp và nông thôn đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống kinh tế, xã hội của toàn huyện Trong
cơ cấu kinh tế của huyện năm 2010 thì tỷ trọng nông nghiệp chiếm 39,9%; tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 18,83%; du lịch dịch vụ chiếm 35,1%
Trang 8Trong những năm qua, Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã kịp thời triển khai, cụ thể hoá từng bước đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng và Tỉnh uỷ Hà Tây, phù hợp với tình hình địa phương, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Mặc dù còn nhiều khó khăn về đời sống vật chất cũng như thiên tai, nhưng với truyền thống cần cù chịu khó, tích cực tìm tòi học hỏi kinh nghiệm, đặc biệt dưới sự quan tâm của các cấp uỷ, chính quyền, các ngành nên nền nông nghiệp
Mỹ Đức đã có bước phát triển mạnh mẽ, gặt hái được nhiều kết quả quan trọng Đặc biệt trong những năm 1996 - 2010, Đảng bộ huyện đã đề ra và lãnh đạo quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp một cách toàn diện, hiệu quả làm cho
bộ máy kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện thay đổi căn bản
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương Mỹ Đức, sau nhiều năm sinh sống và học tập, hiểu được những khó khăn của bà con nông dân, đồng thời cũng chứng kiến những thành quả mà họ đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Mặt khác, từ trước tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về tình hình kinh tế nông nghiệp của huyện, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này như một nghĩa cử về quê hương, với mong muốn quê hương Mỹ Đức phát triển ngày càng giàu đẹp hơn
Với tất cả những lí do trên, cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn,
chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Mỹ Đức - Thành phố
Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1996 - 2010” làm khoá luận tốt nghiệp đại học, chuyên ngành
lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với nước ta, kinh tế nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất, Đảng ta cũng xác định chúng ta phải tiến hành CNH - HĐH đất nước từ ngành kinh tế này Do đó đề tài nông nghiệp cũng là đề tài có tính chất chiến lược, được các viện nghiên cứu, các ngành chức năng và nhiều nhà nghiên cứu quan
Trang 9tâm, cũng như được đề cập trong nhiều cuốn sách, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ, nhiều bài viết trên báo và tạp chí…Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu
như: Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam của Trương Thị Tiến, Nhà xuất bản KHXH, HN, 1999; Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông
thôn ở các vùng sinh thái nông nghiệp sau 20 năm đổi mới của Viện quy hoạch
thiết kế nông nghiệp; Nông nghiệp nông thôn thời kỳ đổi mới 1986 - 2002 của Nguyễn Sinh Cúc, Nhà xuất bản Thống kê, HN, 2003; Chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế ở Việt Nam của Bùi Tất Thắng (chủ biên), Nhà xuất bản KHXH,
HN, 2006…Cùng một số bài viết, một số bài nghiên cứu như: Chính sách và
giải pháp cho nông dân nông nghiệp và nông thôn hiện nay của Nguyễn Thanh
Bạch (Tạp chí Kinh tế, số 248, tháng 1 - 1999); Cơ cấu nông nghiệp Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Thị Hồng Phấn (Tạp chí Kinh tế, số 262,
tháng 1 - 2001); Định hướng và phát triển nền nông nghiệp hàng hoá của Phan
Sỹ Mẫn (Tạp chí Kinh tế, số 262, tháng 1 - 2001)…Các đề tài, bài viết trên đã
đề cập đến nhiều vấn đề của ngành nông nghiệp nói chung
Riêng về huyện Mỹ Đức (Hà Tây) cũng có nhiều bài viết, nhiều đề tài
đề cập như: Đảng bộ Mỹ Đức lãnh đạo công cuộc đổi mới giai đoạn 1991 -
2000 của Nguyễn Quang Thục, khoá luận tốt nghiệp cử nhân ngành lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam, lưu tại khoa Lịch sử trường ĐHKHXH - NV,
2001; Mỹ Đức trên con đường hội nhập, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, 2007; Lịch sử Đảng bộ huyện Mỹ Đức, tập 1 (1930 - 1954) và tập 2 (1954 - 2000) của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Mỹ Đức, 2004; Thắng cảnh Hương
Sơn (Hương Sơn bầu trời cảnh bụt) của Trần Huyền Thương, Nhà xuất bản
Lao động Xã hội, 2007; Phù Lưu Tế hợp tác xã trồng dâu đạt năng suất cao của Phạm Văn Phan, Nhà xuất bản Nông thôn, 1968; Công ty khai thác công
trình thuỷ lợi Mỹ Đức - Hà Tây quản lý và khai thác hiệu quả hệ thống các công trình thuỷ lợi của Đỗ Hùng, Tạp chí Đông Nam Á, số 5, 2005,…Tuy
nhiên đó chỉ là những nghiên cứu, tìm hiểu mang tính chất kinh tế, lịch sử mà
Trang 10chưa đề cập đến vai trò và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Mỹ Đức đối với những thành tựu trong phát triển kinh tế nông nghiệp Song, đây là những tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo, tiếp cận các sự kiện lịch sử, là cơ sở để phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế của Đảng bộ huyện Mỹ Đức trong quá trình lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng, mục đích nghiên cứu của khoá luận là khôi phục lại quá trình Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1996 - 2010 Qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện hiện nay
Thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận là:
- Tập hợp và hệ thống đầy đủ các tài liệu liên quan đến đề tài
- Từ những thông tin lịch sử khai thác được, kết cấu và phân chia giai đoạn để làm sáng rõ quá trình lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng bộ huyện Mỹ Đức trong phát triển kinh tế nông nghiệp những năm 1996 - 2010
- Bước đầu rút ra một số nhận xét và những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng bộ huyện Mỹ Đức trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình chỉ đạo thực hiện đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Mỹ Đức, sự phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trong những năm 1996 - 2010
- Phạm vi nghiên cứu: Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp là
đề tài lớn, nhưng do khuôn khổ của bài khóa luận nên chúng tôi chỉ đề cập đến những chủ trương, chính sách, quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Mỹ Đức trong những năm 1996 - 2010
Trang 115 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
- Nguồn tài liệu nghiên cứu: Các Văn kiện Đảng, các Nghị quyết của hội nghị Trung ương và các Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Các nghị quyết, chỉ thị, thông báo, thông tri của Tỉnh uỷ Hà Tây nay là Thành ủy
Hà Nội về phát triển kinh tế nông nghiệp; Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo về phát triển kinh tế nông nghiệp của Huyện uỷ, UBND và một số ban ngành của huyện Mỹ Đức; một số sách và tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài Ngoài
ra, chúng tôi còn sử dụng tư liệu điền dã thông qua quá trình điền dã thực địa tình hình nông nghiệp ở Mỹ Đức
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp sử dụng để thực hiện khoá luận là phương pháp nghiên cứu lịch sử với logic, phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích và đối chiếu để làm sáng rõ quá trình lịch sử và rút ra những nhận xét và bài học kinh nghiệm
6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu đề tài: “Đảng bộ huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội (tỉnh
Hà Tây cũ) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1996 - 2010” chúng tôi tổng kết những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Mỹ Đức đã
đạt được trong 14 năm phát triển kinh tế nông nghiệp Từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm và đưa ra một số giải pháp cơ bản trong quá trình thực hiện
7 Bố cục luận văn
Bố cục của khoá luận, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo
và phụ lục, khoá luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996 Chương 2: Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp trong những năm 1996 - 2010
Chương 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu
Trang 12B NỘI DUNG
Chương 1
VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
CỦA HUYỆN MỸ ĐỨC TRƯỚC NĂM 1996
1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội của huyện Mỹ Đức
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Mỹ Đức là 23.146,93 ha; trong đó đất nông nghiệp là 14.396,26 ha, chiếm 62,2 % tổng diện tích đất tự nhiên Toàn huyện có 22 xã, 1 thị trấn (thị trấn Đại Nghĩa), trong đó có một xã miền núi, dân số năm 2009 là 170831 người(chiếm 2,65% tổng dân số của Hà Nội)
Mỹ Đức có vị trí tương đối thuận lợi do ở gần các trung tâm kinh tế và thị trường lớn như thị xã Hà Đông, thị xã Phủ Lý, khu công nghệ cao Hoà Lạc
và chuỗi đô thị mới Xuân Mai - Miếu Môn - Hoà Lạc - Sơn Tây Mỹ Đức trong xu thế phát triển mới của Hà Nội được định hướng thuộc Hành lang xanh của thành phố giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp rau, thực phẩm chất lượng cao và hoa cây cảnh cho các thị trường lớn này; đồng thời có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ - du lịch với các khu di tích như Hương Sơn, Hồ Quan Sơn, Hồ Tuy Lai…
* Địa hình
Mỹ Đức nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, nhưng cũng
là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du, vì vậy huyện có 3 dạng địa hình chính:
Trang 13- Địa hình núi đá xen kẽ với các khu vực trũng bao gồm 10 xã phía tây huyện Độ cao trung bình so với mặt nước biển của dãy núi đá phía tây huyện
từ 150m đến hơn 300m Do phần lớn đá Kast bị nước xâm thực qua quá trình kiến tạo lâu dài nên khu vực này hình thành nhiều hang động tự nhiên đẹp, giá trị du lịch và lịch sử rất lớn Điển hình là các hang động Hương Tích, Đại Binh, Người Xưa, Hang Luồn…
- Địa hình đồng bằng gồm 12 xã, thị trấn ven sông Đáy Độ cao địa hình trung bình dao động trong khoảng từ 3,8m đến 7m so với mặt nước biển Địa hình khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh Đồng thời có thế mạnh phát triển
về hoa màu và các cây công nghiệp như ngô, khoai, đậu, lạc vừng, dâu tằm, trồng cây ăn quả
- Phần tiếp giáp giữa các dãy núi phía tây và đồng bằng phía đông là vùng chiêm trũng kéo dài từ phía bắc xuống phía nam huyện Vùng này có nhiều khu vực độ cao địa hình thấp tạo thành các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, hồ Cầu Dậm, Bán Nguyệt, Ngái Lạng, Đồng Suối với diện tích hàng ngàn ha…Toàn huyện có gần 7000 ha đất gieo cấy hai vụ lúa, trong
đó vùng đồng chiêm trũng hầu như chiếm toàn bộ sản lượng lúa gạo của nhân dân Mỹ Đức Với hệ thống đầm hồ, sông suối và vùng đồng chiêm này còn giàu tiềm năng về phát triển du lịch, ngư nghiệp, chăn nuôi gia cầm, kết hợp với trồng một số cây ăn quả, cây lấy gỗ
* Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng khí hậu thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng nên huyện Mỹ Đức cũng bị chi phối bởi chế độ khí hậu quy định Đó là vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều Mỗi năm chia thành 4 mùa rõ nét: xuân, hạ, thu, đông, với các đặc trưng khí hậu chính như sau:
- Nhiệt độ không khí: bình quân năm là 23,50C Trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình là 13,60C (vào tháng 1), nhiệt độ trung bình tháng nóng
Trang 14nhất là tháng 7, trên 33,20C Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10
- Lượng mưa và bốc hơi:
Lượng mưa bình quân năm là 1530 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85,2% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể lên tới 336,1mm Mùa khô từ cuối tháng 10 đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2, chỉ có 17,5 đến 23,2mm
Lượng bốc hơi: bình quân năm là 859mm, bằng 56,5% so với lượng mưa trung bình năm Lượng bốc hơi cao trong các tháng mưa ít, do đó mùa khô đã thiếu nước lại càng thiếu nước hơn
Với điều kiện khí hậu như vậy tạo điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng với nhiều loại cây trồng vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từ nhiều miền địa lý khác nhau Tuy nhiên, Mỹ Đức thuộc vùng phân lũ, nền kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào thời tiết Hầu như năm nào Mỹ Đức cũng phải gánh chịu những thiên tai, mưa bão, hạn hán, vào mùa khô các cây trồng thường thiếu nước, phải thực hiện chế độ canh tác phòng chống hạn và vào mùa mưa thường bị mưa, bão, gây úng lụt nội đồng, nhất là vùng chiêm trũng phía tây Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
* Về sông ngòi
Hệ thống sông ngòi huyện Mỹ Đức rất đa dạng và phong phú, bao gồm:
- Hệ thống sông Đáy: là một phân lưu của sông Hồng, phần sông chảy qua địa phận huyện Mỹ Đức dài 40 km Độ uốn khúc của sông lớn, sông bị bồi lấp mạnh Về mùa khô, nhiều đoạn sông chỉ như một lạch nhỏ Tuy nhiên, lưu lượng đủ cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
- Sông Thanh Hà: là một nhánh của sông Đáy, bắt nguồn từ vùng núi
đá huyện Kim Bôi (Hoà Bình) và chảy vào sông Đáy tại cửa Đục Khê Sông
Trang 15có chiều dài 28 km và diện tích lưu vực 390 km2 Do không có đê nên sông thường gây ngập úng cho các khu vực hai bên bờ trong mùa mưa
- Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có sông Mỹ Hà ở phía tây dài trên 30m và các kênh lớn như kênh tiêu 7 xã, kênh dọc trục huyện…;các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, Ngái Lạng với diện tích 850 ha, hiện là nguồn dự trữ nước cho trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ du lịch
* Về đất đai
Theo Thống kê đến hết ngày 01/01/2010 của Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Mỹ Đức, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 23.146,93 ha, bình quân 0,14ha/ người Trong đó:
- Đất nông nghiệp: 14396,26 ha, chiếm 62,2%
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 9408,64 ha, chiếm 40,65 %
+ Đất lâm nghiệp: 3914,67 ha, chiếm 16,91 %
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản: 1026,68 ha, chiếm 4,44 %
- Đất phi nông nghiệp: 6557,42 ha, chiếm 28,37 %
- Đất chưa sử dụng: 2183,25 ha, chiếm 9,43 %
Đất đai huyện Mỹ Đức có cả 3 vùng: miền núi, trung du, đồng bằng và
có các loại đất chính sau:
+ Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Diện tích 211,79 ha, chiếm 0,92
% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở địa hình ngoài đê thuộc các xã Đốc Tín, Vạn Kim, Phù Lưu Tế, Phùng Xá, Xuy Xá, Lê Thanh, An Mỹ và Bột Xuyên, một phần diện tích đất bị ngập nước vào mùa mưa Đây là loại đất tốt, có độ phì thực tế cao, thích hợp với phần lớn các loại cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu, đỗ, lạc…
+ Đất phù sa không được bồi (P): Diện tích 5.526,49 ha chiếm 24,02% diện tích tự nhiên toàn huyện Phân bố ở địa hình trung bình phía trong đê, tập trung ở các xã Thượng Lâm, An Mỹ, Lê Thanh, Hồng Sơn, Xuy Xá, Phùng
Xá, Phù Lưu Tế, Hùng Tiến, Đốc Tín và Vạn Kim Trên loại đất này phần lớn
Trang 16diện tích đã được khai thác trồng lúa nước hai vụ, một phần diện tích trồng các loại cây trồng cạn ngắn ngày như ngô, khoai lang, mía, đậu đỗ
+ Đất phù sa Glây (Pg): Diện tích 5.115,24 ha chiếm 22,24 % diện tích
tự nhiên toàn huyện Phân bố ở những nơi địa hình thấp, khó thoát nước, tập trung ở các xã Đồng Tâm, Thượng Lâm, Hồng Sơn, Hợp Tiến, Hợp Thanh, thị trấn Tế Tiêu, Đại Nghĩa, Đại Hưng, An Tiến, Hùng Tiến, An Phú, Vạn Kim và Hương Sơn Hiện tại phần lớn diện tích loại đất này đã được khai thác trồng lúa nước hai vụ
+ Đất phù sa úng nước (Pj): Diện tích 248,30 ha, chiếm 1,08 % diện tích tự nhiên của huyện Phân bố chủ yếu ở các xã Thượng Lâm, Tuy Lai, Hương Sơn và An Phú Do phần lớn diện tích loại đất này ở địa hình thấp khó tiêu thoát nước nên hiện tại đang được khai thấc trồng một vụ lúa đông xuân Những nơi có khả năng tiêu thoát nước khá hơn thì có thể trồng 2 vụ lúa/ năm Một số ít nơi có thể ứng dụng công thức nuôi trồng kết hợp 1lúa - 1 cá
+ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Diện tích 33,49 ha chiếm 0,15 % diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở xã Phúc Lâm, Tuy Lai và An Phú Do phân bố ở địa hình cao, thành phần cơ giới tầng mặt nhẹ nên hiện tại phần lớn loại đất này được nhân dân địa phương khai thác trồng các loại cây màu và cây trồng cạn ngắn ngày như ngô, khoai lang, đậu, đỗ và các loại cây trồng 1 vụ lúa, 2 vụ màu hay 1 lúa 1 màu
+ Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs): Diện tích 201,50 ha chiếm 0,88 % diện tích tự nhiên toàn huyện, có mặt ở các xã Hồng Sơn, Hợp Tiến Hiện tại loại đất này được nhân dân địa phương khai thác trồng cây dài ngày hoặc trồng rừng
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Diện tích 737,57 ha chiếm 3,21% diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở các xã Thượng Lâm, Đồng Tâm, Tuy Lai, An Phú và Hương Sơn Hiện tại loại đất này có tầng dày khá từ 50 cm
Trang 17đến hơn 100 cm được nhân dân địa phương khai thác trồng cây lâu năm và cây ăn quả, những nơi đất tầng mỏng trồng rừng
+ Đất đỏ nâu trên đá vôi (Fv): Diện tích 419,19 ha chiếm 1,82 % diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở các xã Hợp Thanh, Hồng Sơn và Hương Sơn Khai thác hiệu quả loại đất này, những nơi có tầng đất dày trồng cây ăn quả, nơi tầng đất mỏng trồng rừng kết hợp nuôi gia súc
+ Đất than bùn (T): Diện tích 625,60 ha chiếm 2,72 % diện tích tự nhiên toàn huyện, phân bố ở các xã Hồng Sơn, Hợp Tiến và Hương Sơn
+ Đất đen trên sản phẩm bồi tụ của cacbonat (RDv): Diện tích 30,0 ha chiếm 0,13 % diện tích tự nhiên toàn huyện, chỉ có mặt ở xã Hương Sơn Hiện tại trên loại đất này nhân dân địa phương khai thác trồng các loại cây màu như sắn, ngô, khoai lang…
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Theo số liệu của phòng Thống kê của huyện, dân số trung bình năm
2009 của huyện Mỹ Đức là 170831 người, trong đó, nam chiếm 49,02% dân
số, nữ chiếm 50,98% dân số Tỉ lệ dân thành thị năm 2009 là 6740 người, chiếm 3,95%, tỉ lệ dân số nông thôn là 96,05% Trong giai đoạn 2006 - 2010,
tỷ lệ gia tăng dân số trung bình của Mỹ Đức là 0,7% /năm Mật độ dân số trung bình 738 người/km2
Mỹ Đức có nguồn lao động khá dồi dào Tổng số nguồn lao động của
Mỹ Đức năm 2009 là 106820 người chiếm 63% tổng số dân Tỉ lệ số người trong độ tuổi lao động năm 2009 là 101757 người chiếm 60% tổng số dân Trong đó, lao động nông lâm, thuỷ sản: 64961 người chiếm 73,73 % tổng số lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế Như vậy, có thể thấy Mỹ Đức là huyện có nguồn lao động khá dồi dào, lại chủ yếu là lao động trong nông nghiệp Mặt khác, chất lượng lao động ngày càng được nâng cao
Nhân dân Mỹ Đức xây dựng làng quê chủ yếu dọc theo vùng đất bãi ven sông Đáy và dải đất cao tựa lưng vào hai dãy núi Nương Ngái - Hương
Trang 18Sơn Cư dân trên địa bàn huyện chủ yếu là dân tộc Kinh, chỉ có một số ít đồng bào Mường cư trú ở An Phú, Cao Dương và My Sơn Người dân Mỹ Đức cần
cù, giản dị, trung thực, chịu khó và tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau rất cao Từ xưa, đạo Phật là chủ yếu ở vùng đất này Đạo Thiên Chúa hầu như mới du nhập từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, với các nhà xứ, nhà thờ ở Thượng Lâm, Đồng Tâm, Phúc Lâm, Xuy Xá, Thọ Sơn, Vài Ải, Tuỵ Hiền Đồng bào theo đạo Thiên Chúa chiếm khoảng trên 10 % dân số trong huyện
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp là chính, Mỹ Đức còn là vùng có nhiều nghề thủ công, các chương trình khuyến công bước đầu được thực hiện có hiệu quả, việc nhân cấy nghề được triển khai rộng khắp góp phần khôi phục, phát triển làng nghề và đưa thêm nghề mới vào sản xuất như: mây tre đan ở An Tiến, Đại Hưng; thêu ở An Mỹ, Thượng Lâm, Tuy Lai; tăm hương ở Phù Lưu
Tế, Hợp Tiến; dệt khăn bông ở Phùng Xá, Hoà Xá; ươm tơ thủ công ở Phù Lưu Tế,…Bên cạnh đó đang tiếp tục mở rộng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, nghề mộc, sản xuất cơ khí…và một số nghề mới như trồng nấm, trồng mộc nhĩ đang được một số hộ áp dụng ở xã Tuy Lai Tuy nhiều nghề vẫn chưa mang tính sản xuất hàng hoá với quy mô lớn mà chỉ sản xuất những lúc nông nhàn một cách nhỏ lẻ trong các gia đình, do đó hiệu quả sản xuất cũng chưa cao
Nhìn chung đời sống nhân dân Mỹ Đức ngày càng được cải thiện Theo báo cáo tại Đại hội Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ XXII thì tổng giá trị gia tăng năm 2010 ước đạt 808,3 tỷ đồng, tốc độ gia tăng bình quân hang năm 10,3% Bình quân thu nhập đầu người năm 2010 ước đạt 8,1 triệu đồng, tăng 15,7% so với mục tiêu Đại hội
Là vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, trải nhiều thăng trầm của lịch
sử đã tạo cho mảnh đất và con người nơi đây những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp được gìn giữ và phát huy từ bao đời nay Đó là nền văn minh Sông Hồng đã được kế thừa và phát triển cùng với những giá trị truyền thống của địa phương
Trang 19Cư trú trên vùng đất cổ, tự bao đời nay nhân dân Mỹ Đức đã xây dựng nên những ngôi đình, chùa, miếu, quán có tiếng trong vùng thể hiện bản sắc văn hoá của dân tộc Đặc biệt hệ thống chùa chiền ở Mỹ Đức không chỉ xây dựng ở các làng xã mà còn được tạo dựng trong các hang động ở vùng núi Hương Sơn tạo nên một thắng cảnh nổi tiếng của đất Việt, được mệnh danh là
“Nam thiên đệ nhất động” Và hội chùa Hương bắt đầu từ mồng 6 tháng 1 kéo dài đến hết tháng 3 âm lịch hàng năm, đó là ngày lễ mở cửa rừng theo tập quán cổ truyền của cư dân địa phương Qua nhiều thập kỷ, du khách về trẩy hội cứ bồi đắp thêm cho vùng đất này những nguồn thơ, ca, bài hát làm phong phú thêm bề dày văn hóa lịch sử Đó là niềm tự hào của vùng đất và con người huyện Mỹ Đức
Mỹ Đức là vùng đất giữ vị trí cửa ngõ nên thời kỳ lịch sử nào của đất nước, nhân dân Mỹ Đức cũng sát cánh cùng cả dân tộc kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm Trong các cuộc chiến tranh, địa bàn Mỹ Đức trở thành nơi các cơ quan liên khu, tỉnh, huyện và các xã về ở và làm việc; là nơi mở các công binh xưởng để sản xuất vũ khí; nơi mở các lớp huấn luyện, đặt trạm cứu thương; là nơi các đơn vị bộ đội đóng quân để củng cố lực lượng, tiếp tục bôn tẩu đi sâu vào các huyện thuộc vùng địch tạm chiếm nhằm hỗ trợ phong trào du kích chiến tranh, đánh địch, gây cơ sở Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, Đảng bộ và nhân dân Mỹ Đức đoàn kết một lòng, vượt qua mọi khó khăn gian khổ ác liệt của chiến tranh, giữ vững chính quyền cách mạng và giải phóng địa phương Điều đó cho thấy, vùng đất Mỹ Đức không chỉ có tiềm năng kinh tế đa dạng, mà còn là một địa bàn quân sự
mà thời kỳ lịch sử nào của dân tộc cũng diễn ra những trận đấu oanh liệt Trong những cuộc chiến đấu ấy, rất nhiều người con yêu nước của Mỹ Đức
đã hy sinh xương máu, tuổi thanh xuân vì nền độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, huyện
Mỹ Đức có 2.820 liệt sỹ, 613 thương binh, 116 bà mẹ được Đảng và Nhà
Trang 20nước phong tặng và truy tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng Những đóng góp
và hy sinh của Mỹ Đức trong các cuộc kháng chiến của dân tộc đã được Tổ quốc ghi công và huyện đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý
“Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân”
Những thành tích trên không chỉ là niềm tự hào của toàn thể Đảng bộ
và nhân dân Mỹ Đức, mà còn là sự tiếp nối truyền thống đáng tự hào của một vùng đất, vùng quê có truyền thống lịch sử Ngày nay, khi đất nước đã thanh bình, Đảng bộ huyện Mỹ Đức tiếp tục lãnh đạo nhân dân huyện nhà xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới theo phương hướng, nhiệm vụ
do các kỳ đại hội Đảng bộ huyện đề ra, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
Như vậy, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, lại là vùng đất giàu tiềm năng về nguồn nhân lực dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn, hệ thống giao thông đường bộ đang được xây dựng, nâng cấp và phát triển
1.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trước năm 1996
1.2.1 Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức trong những năm
1986 - 1990
Thời kỳ 1986 - 1990, trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp, đất nước chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Những tác động của cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền được thực hiện từ tháng 9 - 1985 làm cho nền kinh tế đất nước, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Diễn biến phức tạp của tình hình Liên Xô và Đông Âu tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực
Trước thực tiễn tình hình, tháng 12 - 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng, nhằm “xoá bỏ cơ chế tập chung quan liêu bao
Trang 21cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN” Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đại hội
đã nêu những thành tựu, khuyết điểm ở tất cả các mặt kinh tế - xã hội Từ những bài học rút ra từ thực tiễn, Đại hội đã đề ra chủ trương đổi mới trên tất
cả các lĩnh vực, trong đó tập trung mạnh vào 3 chương trình kinh tế lớn là: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Đường lối đổi mới và 3 chương trình kinh tế của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI thực sự
là một luồng sinh khí mới, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần lao động sáng tạo của nhân dân cả nước
Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng do Đại hội VI đề ra, được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ Hà Sơn Bình về phát triển kinh tế - xã hội, cùng với
cả nước, Đảng bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức bước vào thời kỳ đổi mới với niềm tin và sức mạnh mới
Tháng 9 - 1986, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVI được triệu tập Sau khi báo cáo đánh giá tình hình kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV và thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI, Đại hội đã đề ra phương hướng, mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng bộ huyện năm năm 1986 - 1990 là: “Sử dụng sức mạnh tổng hợp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, khai thác tiềm năng thế mạnh của đất đai, lao động, ngành nghề để phát triển sản xuất, xây dựng huyện có cơ cấu kinh tế nông - công nghiệp, phấn đấu trở thành huyện vững về chính trị, giàu về kinh
tế, quốc phòng an ninh vững mạnh, có nếp sống văn hoá đẹp” [11, 12]
Để thực hiện tốt phương hướng trên, Đại hội đã đề ra các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà Trong đó, Đại hội xác định: “phải coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; phấn đấu trong những năm tới tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt từ 55 đến 60 ngàn tấn/ năm; bình quân lương thực đạt từ 410 đến 500kg/ người/ năm” [11, 13]
Trang 22Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng bộ tỉnh và Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ huyện lần thứ XVI, Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã chỉ đạo các cấp uỷ Đảng, các ngành tập trung xây dựng các chương trình hành động, kế hoạch tổ chức thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ, nhằm xây dựng phát triển kinh tế - xã hội huyện, trong đó tập trung vào những nội dung trọng điểm là: thực hiện 3 chương trình kinh tế lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Qua năm đầu thực hiện 3 chương trình kinh tế, Huyện uỷ đã tiến hành kiểm điểm tình hình, xác định những nguyên nhân dẫn đến chưa hoàn thành một số chỉ tiêu kế hoạch Huyện uỷ nhận thấy: sản lượng lương thực chưa đạt
kế hoạch (tổng sản lượng lương thực năm 1987 chỉ đạt 34.525,2 tấn hụt so với
kế hoạch đề ra 15.784,8 tấn, thấp hơn so với tổng sản lượng lương thực năm
1986 là 8.070,1tấn) nguyên nhân là do vụ xuân thời tiết không thuận lợi, nhiều nơi còn bảo thủ cơ cấu giống lúa, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp chậm được đổi mới, công tác chỉ đạo thiếu biện pháp
cụ thể; sản xuất hàng tiêu dùng chưa được đầu tư, chủ yếu là sản xuất thủ công, manh mún thiếu khoa học, cơ chế sản xuất gò bó, không khai thác được năng lực của người lao động; chưa có chính sách thích hợp kích thích sản xuất, thu hút nguồn hàng xuất khẩu; một bộ phận cán bộ thiếu năng động, sợ trách nhiệm, thiếu chủ động trong sản xuất
Cuối năm 1987, Huyện uỷ triển khai thực hiện Quyết định 188 của của Tỉnh uỷ về một số vấn đề quản lý và phân phối trong HTX sản xuất nông nghiệp, trong đó có một số quy định về đất đai canh tác, cách giao khoán trâu bò, các khoản chi phí của HTX Ngay từ vụ xuân năm 1988, Quyết định 188 đã được triển khai ra các xã trong huyện Tuy nhiên, quyết định này vẫn chưa tạo ra được động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất trong các HTX nông nghiệp
Trang 23Ngày 5 - 4 - 1988, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (thường gọi là khoán 10) Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị đã thực sự giải phóng sức sản xuất trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, gắn việc sắp xếp tổ chức lại sản xuất với cải tạo XHCN; tăng cường
cơ sở vật chất kỹ thuật, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, chuyển nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa
Ngay khi Nghị quyết 10 ban hành, Ban Thường vụ Huyện uỷ tiến hành triển khai quán triệt đến các cán bộ, đảng viên và nhân dân trong toàn huyện, nhằm nâng cao nhận thức về sự bức thiết cần đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Cơ chế “khoán 10” đã được nông dân hưởng ứng tích cực và là động lực mới kích thích nông dân đầu tư vào khai thác ruộng đất, phát huy những tiềm năng sẵn có trong nông nghiệp, nông thôn để phát triển sản xuất
Vì vậy, đời sống của khu vực nông thôn nhìn chung được cải thiện hơn trước rất nhiều
Đến tháng 1- 1989, Đại hội Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ XVII, xác định phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 1989 - 1990, Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Tập trung giải quyết vấn đề lương thực đủ ăn, đóng góp cho Nhà nước ngày một tăng, có phần dự trữ, phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu; trọng tâm là đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, đạt 55 - 60 ngàn tấn trong một năm, đồng thời phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hoá Khai thác tốt tiềm năng đất đai, mặt nước để mở rộng trồng cây nông sản xuất khẩu, khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm, phát triển chăn nuôi gia súc và nuôi
thuỷ sản” [12, 10]
Sau Đại hội, Đảng bộ huyện Mỹ Đức tập trung cao độ lãnh đạo nhân dân thực hiện 3 chương trình kinh tế của Đảng Những năm 1989, 1990, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện được đẩy mạnh do các hộ gia đình xã viên rất phấn khởi với khoán 10 Trong năm 1990, thời tiết thuận lợi nên tổng sản lượng lương thực quy thóc cả năm đạt mức cao nhất từ trước đến nay
Trang 2456.148 tấn, tăng 2 % so với năm 1989 Sản lượng lương thực đạt khá có phần
do thời tiết thuận lợi, song chủ yếu là từ khi có Nghị quyết 10 nhân dân tin tưởng hăng hái sản xuất thâm canh; Huyện uỷ đã lãnh đạo các cấp uỷ Đảng chính quyền…Ngành chăn nuôi cũng có bước phát triển khá: năm 1990, đàn trâu có 5.313 con, đàn bò 7.038 con, đàn lợn 28.283 con, so với năm 1989 đàn trâu tăng 1,1 %, đàn bò tăng 1,2 %, đàn lợn tăng 1 % Chăn nuôi gia cầm như vịt, gà…và nuôi thả cá có xu hướng phát triển mạnh Trong huyện xuất hiện nhiều hộ gia đình chăn nuôi giỏi Mức sống người dân ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, những kết quả nêu trên mới chỉ là thành tựu bước đầu, chưa đều và vững chắc ở các vùng, các xã trong huyện Kinh tế nông nghiệp phát triển chưa toàn diện, sản xuất lương thực chưa vững chắc, còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, lương thực bình quân đầu người còn thấp, chưa đáp ứng
đủ nhu cầu tiêu dùng và tình trạng đói giáp hạt vẫn xảy ra ở một số nơi Đứng trước những khó khăn và thử thách trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhất là phát triển kinh tế nông nghiệp theo đường lối đổi mới của Trung ương Đảng, đòi hỏi Đảng bộ Mỹ Đức cần có những chủ trương, quyết sách đúng đắn, kịp thời, với hướng phấn đấu trong những năm tới là tiếp tục tổ chức lại sản xuất, định hướng quy mô, cơ cấu; tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới theo đường lối của Đảng trong giai đoạn 1991 - 1995
1.2.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Mỹ Đức thời kỳ 1991 - 1995
Qua 4 năm đổi mới 1986 - 1990, đất nước ta đã có một số thành tựu, song vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội Trước tình hình đó, tháng 6 - 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII được tổ chức tại Hà Nội Đại hội đã tổng kết 4 năm đổi mới, đồng thời đề ra đường lối đổi mới cho giai đoạn sau Với tinh thần đổi mới và dân chủ, Đại hội cũng đã xây
dựng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH Đại hội đại
Trang 25biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đi vào lịch sử là “Đại hội trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương và đoàn kết”
Tháng 10 - 1991, theo quyết định của Chính phủ, tỉnh Hà Sơn Bình tách thành 2 tỉnh Hoà Bình và Hà Tây Huyện Mỹ Đức là một trong 12 huyện
và 2 thị xã tái nhập về tỉnh Hà Tây Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ Hà Tây, mặc dù tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, tình hình kinh tế -
xã hội trong nước cũng như của tỉnh còn rất nhiều khó khăn Nhưng với khí thế và quyết tâm, đặc biệt có Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc soi đường, Đảng bộ và nhân dân Mỹ Đức đã vượt lên khó khăn và thu được nhiều thắng lợi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội
Với tinh thần đổi mới, trí tuệ, dân chủ, kỷ cương, đoàn kết, trong 3 ngày (19, 20 và 21 - 11 - 1991), Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ XVIII đã họp, xây dựng nhiệm vụ chủ yếu của năm 1991 - 1995 Nghị quyết của Đại hội nhấn mạnh: “Quán triệt Nghị quyết Đại hội VII của Đảng, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu từ nay đến hết năm 1995 là: Tập trung đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, mọi lao động có thêm và đủ việc làm, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội” [13, 10] Mục tiêu mà Đại hội đề ra là: đến hết năm 1995 đời sống quần chúng tăng gấp rưỡi so với năm 1990; tổng sản lượng quy thóc đạt 70 ngàn tấn, bình quân 430 - 450 kg/ người Thu nhập ngành nghề vượt 1 triệu đồng/ hộ/ năm; phát triển dân số 1,7 %; trồng từ 400 - 500 ha dâu nuôi tằm, để có 400 - 500 tấn kén
Bước vào nhiệm kỳ mới, Đảng bộ huyện Mỹ Đức xác định phương châm lãnh đạo là phát triển kinh tế làm trọng tâm, công tác xây dựng Đảng là then chốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII được thực hiện trong tình hình kinh tế của đất nước đang bước vào ổn định và phát triển Sự nghiệp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế do Đảng lãnh đạo giành được những thắng lợi
Trang 26ban đầu Đó là những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu mà Đại hội đề ra
Từ ngày 16 đến 19 - 3 - 1992, Đảng bộ tỉnh Hà Tây tổ chức Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá thực trạng tình hình trong tỉnh những năm 1986 - 1991; vận dụng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII để định ra phương hướng nhiệm vụ trong những năm 1992 - 1995 Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI là động lực giúp Đảng bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức tiếp tục vươn lên thu được nhiều kết quả quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Huyện uỷ đã có kế hoạch chỉ đạo đối với phòng Nông nghiệp và các HTX hướng dẫn, vận động nhân dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, đổi mới cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, tận dụng tối đa hệ số sử dụng đất, sử dụng có hiệu quả hơn các loại đất trồng trọt nhằm tăng nhanh giá trị nông sản hàng hoá trên đơn vị diện tích Toàn huyện mở rộng diện tích vụ đông trên đất canh tác để trồng các loại rau màu thực phẩm Ưu tiên dành diện tích đất bãi ven sông, đất đồi gò để phát triển mạnh cây dâu tằm, cây chè…phát triển chăn nuôi đàn trâu, bò, lợn, gia cầm, nuôi thuỷ sản…Chú trọng giống mới và từng bước nuôi theo phương pháp công nghiệp Mặt khác, để sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, vững chắc, Đảng bộ huyện đã rất chú trọng thực hiện các giải pháp xây dựng
hệ thống thuỷ lợi, hệ thống dịch vụ khuyến nông, hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nông thôn, giao đất, giao rừng, lấy hộ làm đơn vị kinh tế tự chủ, xây dựng chính sách hỗ trợ giá về phân bón, thuốc trừ sâu, tăng tỷ trọng đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp
Để người nông dân yên tâm sản xuất trên mảnh đất của mình, thực hiện Luật Đất đai và Kết luận 41 ngày 13 -7 - 1992 của Tỉnh uỷ và Nghị quyết của
Trang 27Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp thứ 4 (tháng 7 - 1992) về giao ruộng đất ổn định, lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất đến hộ nông dân; sau khi rút kinh nghiệm của xã Lê Thanh, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã tiến hành triển khai giao ruộng ở tất cả các xã trong toàn huyện Đến năm
1995, 23/ 23 HTX nông nghiệp đã hoàn thành việc giao ruộng đất đến hộ nông dân, đảm bảo đúng luật, giữ được ổn định và đoàn kết trong nông thôn Đây chính là động lực làm cho người lao động yên tâm, phấn khởi đầu tư sản xuất và thâm canh tăng vụ đạt kết quả cao
Trong 5 năm (1991 - 1995), tổng thu nhập GDP tăng bình quân hàng năm đạt 9,5 % (từ 159.268 triệu lên 250.720 triệu) Bình quân thu nhập đầu người năm 1995 đạt trên 200 USD Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển khá toàn diện, tăng bình quân hàng năm là 5,8 % Năng suất lúa đạt 8,6 tấn/ ha Sản lượng lương thực đạt 71.500 tấn (vượt chỉ tiêu đại hội đề ra 1.500 tấn), đưa bình quân lương thực đầu người từ 381kg lên 446kg/ năm, cơ bản đã khắc phục được nạn đói giáp hạt Diện tích vụ đông được mở rộng Các loại rau, đậu, cây công nghịêp, cây nông sản thực phẩm đều phát triển Cây chè trồng mới 60ha, cây dâu toàn huyện còn 120ha Giá trị 1 sào dâu, 1 sào chè thu được gấp 2,5 lần trồng cây lương thực
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng được phát triển theo hướng đa dạng, tăng cả chất lượng và chủng loại, hàng năm tăng 13,4 % Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp năm 1991 là 24 %, năm 1995 đạt 26,7 % Đàn trâu ổn định có 4.648 con, đàn bò có 7.000 con (trong đó có 580 con bò lai Sind), tăng 9,1% so với chỉ tiêu đại hội; đàn lợn có 43.298 con (tăng 11 %), sản lượng thịt đạt 2.600 tấn (tăng 8,3 %) Diện tích mặt nước, hồ ao, ven sông Đáy được tận dụng để nuôi thả cá, sản lượng cá thu được 1.321 tấn, tăng 32 % Chăn nuôi thuỷ đặc sản đang được phát triển rộng rãi ở các xã, toàn huyện có 115 hộ nuôi các con đặc sản có giá trị kinh tế cao như dê, baba, cá trê lai, rắn…
Trang 28Bên cạnh đó, huyện Mỹ Đức còn đẩy mạnh việc tận dụng và khai thác trên 502 ha đất thung, đất đồi ở rừng đặc dụng Hương Sơn và 10 xã ven núi, trồng cây theo chương trình 327, đẩy mạnh trồng cây nhân dân, cải tạo vườn tạp, trồng các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như mơ, nhãn, cam, quýt, vải thiều…
Thực hiện một bước đổi mới quản lý trong các HTX nông nghiệp theo Nghị quyết V của Trung ương, toàn huyện vẫn giữ vững quy mô HTX toàn
xã Số HTX nông nghiệp làm tốt các chức năng điều hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phục vụ cho xã viên sản xuất có 7 HTX, chiếm 30 %; số HTX khá có 7 đơn vị, chiếm 30 %; không có HTX yếu kém Kinh tế hộ gia đình đã được xác định rõ và đang phát triển trên nhiều lĩnh vực
Như vậy, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Mỹ Đức đã cố gắng khai thác hết mọi tiềm năng, thế mạnh của tự nhiên và xã hội
để phát triển kinh tế trong đó nông nghiệp là trọng điểm với quá trình đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, giống, đổi mới kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất Do đó sản xuất nông nghịêp huyện trong 10 năm qua cũng đã đạt được những thành tựu
vô cùng to lớn, tích cực thúc đẩy quá trình xoá đói, giảm nghèo và làm giàu cho nhân dân trong huyện Với sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, kinh tế đã có
sự phát triển vượt bậc, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao Năm
1995, số hộ giàu trong toàn huyện chiếm 5,5 %; số hộ khá 45,5 %; số hộ trung bình 39 %; số hộ nghèo đói chỉ còn 10 %
Nhìn chung trước năm 1996, nền kinh tế nông nghịêp của huyện Mỹ Đức đã có sự phát triển theo đường lối của Đảng, song tốc độ còn chậm, sản xuất chủ yếu còn ở tình trạng tự cung tự cấp, chưa tập trung đúng mức cho mặt trận hàng đầu là nông nghiệp Trình độ kỹ thuật và trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa đảm bảo tưới tiêu chủ động và hợp lý cho cây trồng, chưa cung ứng đủ công cụ, vật tư cần thiết cho nông nghiệp Trong khi đó,
Trang 29tiềm năng lao động, đất đai, ao hồ, đồi, núi…chưa được tận dụng, khai thác triệt để Ở HTX sản xuất nông nghiệp, bộ máy quản lý HTX tuy đã được củng
cố nhưng hoạt động còn lúng túng, chậm đổi mới, một số HTX còn buông lỏng quản lý, không điều hành được kế hoạch sản xuất, chậm chuyển đổi về
cơ cấu cây trồng vật nuôi và hướng dẫn các tiến bộ kỹ thuât để đưa nhanh các loại cây, con có năng suất cao vào sản xuất nên hạn chế tốc độ tăng trưởng lương thực, thực phẩm Thu nhập của người dân chủ yếu từ nông nghịêp nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn
Tất cả những thành tựu và những hạn chế còn tồn tại trong việc lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp giai đoạn trước năm 1996 là cơ sở, là những kinh nghiệm quý báu để Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo, chỉ đạo đưa kinh tế nông nghiệp huyện nhà phát triển nhanh, mạnh và bền vững trong những năm tiếp theo
Trang 30Trong khi xác định phương hướng phát triển đối với các lĩnh vực chủ yếu, Đại hội đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Đại hội nêu lên quan điểm về CNH, HĐH và xác định nội dung của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập niên 90, thế kỷ XX là đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
Không dừng lại ở việc nhấn mạnh chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, Đại hội còn xác định rõ nội dung của nhiệm vụ quan trọng này là:
“Phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá
về sản lượng, tốt về chất lượng, bảo đảm an toàn về lương thực cho xã hội, đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trường trong và ngoài nước…[6, 87]
Tháng 11 - 1998, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 06 - NQ/ TW về một số
vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã mở ra những cơ chế và chính
Trang 31sách mới thông thoáng hơn để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, nhất là tiềm lực về đất đai, rừng biển và lao động nông thôn Nghị quyết 06, lần đầu tiên vấn đề kinh tế trang trại được thừa nhận trong nghị quyết của Đảng, tạo điều kiện cho các ngành, các địa phương và các chủ trang trại yên tâm đầu tư phát triển sản xuất hàng hoá, làm giàu chính đáng
Trên cơ sở Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới để khuyến khích phát triển nông nghiệp như: Nghị
quyết 03/ 2000/ NQ - CP ngày 2 - 2 - 2000 về kinh tế trang trại và Nghị quyết 09/2000/ NQ - CP ngày 15 - 6 - 2000 về một số chủ trương và chính sách
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Đây là những
cơ sở pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng để các ngành, các cấp đề ra các chủ trương, giải pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế trang trại đúng hướng, có hiệu quả, đồng thời phát triển nông nghiệp hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ rõ nét và cụ thể hơn Chính sách đất đai cũng ngày càng được hoàn thiện để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp phát triển
Trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4/2001) tiếp tục chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Tầm quan trọng của nông nghiệp được Đại hội IX đề cập như sau: Trong những năm tới vẫn coi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trọng điểm quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Cụ thể hoá đường lối Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, ngày 18 - 3
- 2002, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã ban
hành Nghị quyết về đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghịêp, nông thôn thời kỳ
2001-2010 Nghị quyết đưa ra mục tiêu tổng quát và lâu dài là cần “xây dựng
một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, hiệu quả và bền vững, có năng
Trang 32suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu” [7, 96] Ngày 08 - 4 - 2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Chỉ thị số 11- CT/ TW
về việc nghiên cứu quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn đã phát động và chỉ đạo các phong trào “xây dựng các
cánh đồng 50 triệu đồng/ ha”, phong trào “Liên kết 4 nhà” (Nhà nước, nhà
khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông”…nhằm tạo ra hệ thống đồng bộ các chính sách thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển nhanh, mạnh và bền vững
Ngày 5/8/2008, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số
26 - NQ/T.Ư "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
So với những năm 1986 - 1995, chủ trương của Đảng về phát triển kinh
tế nông nghiệp (1996 - 2006) có bước phát triển toàn diện, sâu sắc hơn về mục tiêu, quan điểm, phương hướng và nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước
Để cụ thể hoá đường lối đổi mới, phát triển kinh tế nông nghiệp được Đảng ta đề ra, từ năm 1996 đến năm 2010, Đảng bộ tỉnh Hà Tây (Thành ủy
TP Hà Nội) đã ra nhiều nghị quyết chuyên đề rất quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích, phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, phù hợp với điều kiện của tỉnh nhà
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ XII đã được triệu tập Trên cơ sở xác định nông nghiệp là một mặt trận có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH, Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: “Tiến hành CNH, HĐH ở tỉnh ta trong những năm 1996 -
2000 phải rất coi trọng mặt trận nông nghiệp, thúc đẩy phát triển nông nghiệp
Trang 33theo hướng CNH, HĐH, tạo ra nông sản hàng hoá có chất lượng, đạt hiệu quả giá trị trên đơn vị diện tích ngày càng cao” [29, 26]
Là tỉnh có cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn cao, nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 1996 - 2000, ngày 1 - 10 - 1996, Tỉnh
uỷ Hà Tây ra Nghị quyết số 01 - NQ/ TU về tổ chức thực hiện các mục tiêu
phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH đến năm
2000 Nghị quyết định rõ phương hướng chung là: Chuyển đổi nhanh cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn từ thuần nông sang sản xuất hàng hoá đa dạn Nghị quyết cũng đề ra 6 giải pháp chính về giống, về quy hoạch vùng sản suất hàng hoá, về tăng cường cơ sở hạ tầng, về phát triển công nghiệp - thủ công nghiệp và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; về HTX nông nghiệp và một số vấn đề về chính sánh
Đối với lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, Nghị quyết số 01 là một dấu mốc quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII Sau Nghị quyết
số 01, ngày 12 - 2 - 1997, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ra Chỉ thị 14 - CT/ TU về
việc đẩy mạnh sản xuất trên cơ sở đổi ruộng từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn gắn với quy hoạch sử đụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ nông dân Đến ngày 6 - 3 - 1997, UBND tỉnh đã ra Quyết định số 160
- QĐ/UB ban hành kế hoạch hướng dẫn chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ
thành ô thửa lớn Chỉ thị 14 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Quyết định số
160 của UBND tỉnh đã tạo thuận lợi cho hộ canh tác, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả Theo đó,
đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động; thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Để đẩy mạnh phát triển một nền nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH,
ngày 14 - 4 - 1997, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết 04 - NQ/ TU về phát triển khoa học
Trang 34và công nghệ trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000; ra Chỉ thị
số 20 - CT/ TU, ngày 1 - 4 - 1997 về việc chuyển đổi HTX nông nghiệp theo
luật HTX
Tiếp tục thực hiện đường lối của Trung ương Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Đại hội lần thứ XIII của Đảng bộ tỉnh Hà Tây (họp từ ngày 24 đến ngày 27 - 12 - 2000) đã báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, tổng kết những thành tựu và khuyết điểm trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 1996 - 2000; đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm 2000 - 2005 Đây là những năm đầu thế kỷ thứ XXI, Đảng bộ
và nhân dân tỉnh Hà Tây sát cánh cùng với cả nước tiếp tục thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đại hội đề ra chủ trương: “Tiếp tục đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH, trọng tâm là áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, công nghệ sinh học, thâm canh, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ để tăng nhanh năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất” [30, 37]
Đại hội xác định sản xuất nông nghiệp ở tỉnh trong những năm tới vẫn giữ vị trí rất quan trọng để đảm bảo ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Do
đó, để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau: “Tăng cường đầu tư khâu giống cây trồng nhằm đưa vào sản xuất những giống có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với từng vùng, đảm bảo để giống tốt đưa vào sản xuất Quy hoạch các vùng sản xuất lúa gạo có giá trị cao, vùng cây công nghiệp, cây thực phẩm, rau sạch gắn với quy hoạch sử dụng hợp
lý đất đồi gò, đất bãi, vườn tạp để phát triển cây công nghiệp phù hợp với từng vùng Đẩy mạnh sản xuất vụ đông, đưa vụ đông trở thành vụ chính chiếm 60 % diện tích lúa màu với những cây trồng có giá trị kinh tế cao Phát triển tài nguyên rừng, nâng cao độ che phủ rừng lên 30 % năm 2005 Hoàn thành việc giao đất, giao rừng kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp
Trang 35Nhằm đảm bảo thắng lợi mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề
ra, Tỉnh uỷ đã ra Thông báo số 40 - TB/ TU (ngày 14 /5 /2001) về triển khai
thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp đến năm 2005 theo hướng sản xuất hàng hoá, ổn định và bền vững Tiếp tục quán triệt đường lối đẩy mạnh
phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 - NQ/ TW (khoá IX), ngày 17
- 4 - 2003, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết số 06 - NQ/ TU về tăng cường quản lý và sử
dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Nghị quyết nêu rõ về phương hướng, nhiệm vụ
2.2 Đảng bộ huyện Mỹ Đức lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1996 - 2000
Trên cơ sở tổng kết những thành tựu cũng như những mặt còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương nói riêng Thực hiện Nghị quyết Đại hội
Trang 36đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ XII Căn cứ vào tình hình thực tiễn của huyện, từ ngày 6 đến ngày 8/ 3/ 1996, Đảng bộ huyện Mỹ Đức đã tổ chức Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ trong 5 năm (1996 - 2000) là: “Phát triển sản xuất toàn diện theo cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ du lịch; Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, nhất là kinh tế hộ gia đình, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá Giải quyết thêm nhiều việc làm cho người lao động, hạ thấp tỷ lệ phát triển dân số Đảm bảo tốt hơn việc học tập, chữa bệnh cho nhân dân Coi trọng thực hiện chính sách xã hội Ngăn chặn đẩy lùi những hiện tượng tiêu cực Tăng cường củng cố quốc phòng, ổn định chính trị, giữ vững an ninh trật tự
xã hội”[14,28]
Mục tiêu chiến lược về xây dựng, phát triển kinh tế nông nghiệp chủ yếu của huyện được Nghị quyết Đại hội xác định là: Phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và đa dạng, lấy sản xuất lúa làm trọng yếu, đồng thời mở rộng diện tích cây vụ đông; phát triển chăn nuôi theo hướng kết hợp chăn nuôi kiểu truyền thống với chăn nuôi theo kiểu công nghiệp và đưa chăn nuôi dần trở thành ngành sản xuất chính; tích cực chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn từ thuần nông sang sản xuất hàng hoá đa dạng; đồng thời đẩy nhanh tốc độ khôi phục ngành nghề truyền thống và mở mang ngành nghề mới nhằm làm chuyển biến việc phân công lao động và nâng cao đời sống nhân dân
Trong đó mục tiêu cụ thể là: “Trong 5 năm tới tập trung giải quyết vững chắc vấn đề lương thực; phấn đấu đạt năng suất lúa bình quân trên 11 tấn/ ha/ năm, đưa tổng sản lượng lương thực quy thóc đến năm 2000 đạt 95.000 tấn, trong đó riêng thóc đạt 80.000 tấn, bình quân lương thực đầu người trên 500 kg/ năm; phấn đấu có 60 % hộ có dự trữ lương thực, không còn hộ đói”[14,29]
Trang 37Để đạt được những mục tiêu trên, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp cho chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp huyện trong giai đoạn
1996 - 2000 như sau:
“Trong 5 năm tới, tiếp tục giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, loại trừ nạn thiếu đói giáp hạt và có phần dự trữ Tiến hành quy hoạch một số vùng sản xuất lúa gạo ngon có giá trị cao; chuyển bớt diện tích trồng lương thực năng suất quá thấp, thu hoạch bấp bênh sang nuôi trồng cây, con khác có hiệu quả hơn
Chuyển mạnh cơ cấu mùa vụ: vụ xuân cấy 20 % diện tích xuân sớm, 80% diện tích xuân chính vụ Vụ mùa cấy 80 % diện tích lúa mùa sớm, 20 % diện tích mùa chính vụ Đưa 60 % diện tích 2 lúa vào sản xuất vụ đông (trong
đó 10 xã ven núi là 55 %, 13 xã ven Đáy là 65 %), nhằm tăng hệ số lần trồng
Duy trì và phát triển mạnh trồng dâu nuôi tằm
Phát triển nhanh các giống mới có năng suất, giá trị kinh tế cao đặc biệt
là giống lúa thuần, lúa lai, ngô lai và các loại giống mới khác phù hợp với các loại đất Chỉ đạo các điểm làm giống có kinh nghiệm để chủ động cung cấp giống tốt trên địa bàn huyện
Tăng cường làm thuỷ lợi, thuỷ nông Những trạm bơm hiện có cần được bảo vệ, từng bước nâng cấp công suất máy, đảm bảo tưới tiêu chủ động, kịp thời Thường xuyên kiểm tra, tu bổ, tôn cao các đê bao (đê bờ hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, đê Mỹ Hà, đê vùng xã Hương Sơn, An Phú, Hợp Tiến, Hợp Thanh, Đồng Tâm, Phúc Lâm), làm thuỷ lợi nội đồng, nạo vét kênh mương,
tu bổ các cống điều tiết, tạo cho dòng chảy thông suốt Đề nghị tỉnh cải tạo đường điện cao thế trên địa bàn huyện; làm một số trạm bơm mới ở Hương Sơn, Hợp Thanh, Đồng Tâm, Phúc Lâm với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” Căn cứ vào bản đồ nông hoá thổ nhưỡng để phân vùng, bố trí cây trồng hợp lý, ổn định sản xuất Tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến người lao động, để áp dụng vào
Trang 38sản xuất kịp thời Quy hoạch một số vùng diện tích để sản xuất cây lương thực, cây ăn quả, cây nông sản thực phẩm “sạch”, tạo ra những sản phẩm hàng hoá cho nhân dân và khách du lịch
Đổi mới hoạt động HTX nông nghiệp hiện nay theo hướng: giữ vững quy mô HTX toàn xã đối với các đơn vị khá; củng cố về tổ chức và phương thức hoạt động của HTX ở dạng yếu kém; tập trung thực hiện tốt một số khâu chủ yếu như: điều hành sản xuất theo kế hoạch, chủ động làm các khâu dịch
vụ, phục vụ kịp thời cho nhân dân, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, cùng với chính quyền chăm lo chính sách xã hội và xây dựng nông thôn mới
Hoàn thiện giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài đến hộ nông dân theo Nghị định 64 - NĐ/ CP của Chính phủ
Coi trọng khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá trong nông lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch dịch vụ
Phát triển chăn nuôi đa dạng, đến năm 2000 chiếm tỷ trọng 40 % trong nông nghiệp Kết hợp chăn nuôi truyền thống với chăn nuôi công nghiệp, tận dụng thế mạnh đồi núi để phát triển đàn bò, đàn dê, mặt nước sông, ao, hồ để thả cá, nuôi cá lồng và con đặc sản Khuyến khích các hộ gia đình nuôi các loại gia cầm có giá trị kinh tế cao
Củng cố tổ khoa học kỹ thuật, tổ thú y, tích cực củng cố các loại giống tốt như: bò lai Sind, lợn có tỷ lệ nạc cao, gà công nghiệp, giống gà và giống vịt siêu thịt, siêu trứng…Bên cạnh đó, tăng cường mở rộng công tác bảo hiểm cây trồng, vật nuôi; khuyến khích các đơn vị, cá nhân đầu tư công nghệ sản xuất, chế biến nông sản thực phẩm, thức ăn gia súc Phấn đấu đến năm 2000 đàn trâu giữ ổn định 4.500 con; đàn bò 10.000 con trong đó bò lai Sind 5.000 con; đàn lợn 90.000 con, bình quân mỗi hộ nuôi 2 con, trọng lượng xuất chuồng từ 70 - 80 kg/ con; sản lượng cá 1.500 tấn, khuyến khích 8% - 10% số
hộ nuôi thuỷ đặc sản
Trang 39Rà soát lại toàn bộ đất đồi núi từ xã Đồng Tâm đến xã Hương Sơn tiến tới xây dựng quy hoạch hình thành vùng trồng cây công nghiệp, trồng cây theo chương trình 327, cải tạo vườn tạp trồng các loại cây ăn quả có giá trị
kinh tế cao như: mơ, nhãn, cam, quýt, vải thiều…” [14, 30-31]
Trên cơ sở những nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp được đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX, trong những năm 1996 - 2000, Huyện uỷ Mỹ Đức đã lãnh đạo phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các phòng ban liên quan xây dựng các kế hoạch, đề án, các chương trình hành động, tích cực đổi mới sản xuất nông nghiệp nhằm đưa kinh tế nông nghiệp phát triển ngang tầm với nhiệm vụ của ngành nông nghiệp trong thời kỳ mới
Theo tinh thần đó, ngày 26 - 11 - 1996, UBND huyện đã ra Công văn
số 256 CV/UB, về Chương trình hành động đến năm 2000 để thực hiện Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ huyện Mỹ Đức lần thứ XIX, trong đó chương trình
phát triển nông nghiệp - nông thôn là trọng tâm có ý nghĩa quan trọng: “Phát triển nông nghiệp - nông thôn từ nay đến năm 2000 cần xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và có tầm chiến lược Tổng sản lượng lương thực tăng bình quân hàng năm trên 7,5 % và đến năm 2000 đạt 95.000 tấn lương thực, bình quân đầu người đạt 500 kg, giữ vững diện tích gieo cấy cây lúa: 14.700
ha, năng suất đạt trên 11 tấn/ha/năm để có sản lượng riêng thóc 80.000 tấn, màu quy thóc 15.000 tấn Đảm bảo 1 ha canh tác thu 22 triệu đồng/ năm”
Ngày 15 - 1 - 1997, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện
Mỹ Đức ra Báo cáo số 3 - BC/NN/TL về kế hoạch kiên cố hoá hệ thống kênh
tưới nội đồng huyện Mỹ Đức giai đoạn 1997 - 2005, phương hướng tập trung
giải quyết 4 vấn đề cơ bản: 1 Tiếp tục đầu tư xây dựng mới cho những vùng địa phương còn thiếu công trình, thiếu công suất tưới tiêu, xây dựng các công trình cấp nước phục vụ các ngành kinh tế quốc dân có nhu cầu về nước Từng bước đổi mới công nghệ, cải tạo các trạm bơm tiêu có nhiều máy bơm nhỏ
Trang 40trục ngang thành trạm bơm có máy trục đứng công suất lớn hơn; 2 Từng bước kiên cố hoá hệ thống kênh mương nội đồng, trước mắt là hệ thống kênh tưới (kênh tưới dẫn nước đến mặt ruộng); 3 Áp dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý, khai thác thực hiện tưới tiêu khoa học; 4 Hiện đại hoá công nghệ tưới: tưới trà, tưới rãnh, tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt Bản báo cáo đưa
ra mục tiêu phấn đấu trong 9 năm 1997 - 2005 sẽ kiên cố được 92 km, trong
đó có 22km kênh cấp 1,2 và 72km kênh cấp 3,4
Ngày 10 - 3 - 1997 UBND huyện Mỹ Đức đã ra kế hoạch số 55 -
KH/UB, Kế hoạch chuyển đổi ruộng đất, tiến hành cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng ruộng đất chính thức cho hộ nông dân Việc chuyển đổi ruộng
đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất chính thức có tác dụng vừa tiết kiệm thời gian, công sức của người lao động, tạo điều kiện thuận lợi ứng dụng khoa học công nghệ trong quá trình sản xuất; người nông dân thực
sự làm chủ trên chính mảnh đất của mình, thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn…do đó đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng, ra sức sản xuất nhằm nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng
Cũng trong năm 1997, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về chuyển đổi HTX theo luật; căn cứ vào Nghị quyết số 01 - NQ/TU (ngày 1/10/1996) của Tỉnh uỷ Hà Tây; căn cứ vào Đề án chuyển đổi HTX nông
nghiệp, số 28 - ĐA/BKT (ngày 26/3/1997) của Ban kinh tế Tỉnh uỷ Hà Tây và Hướng dẫn làm điểm đổi mới HTX nông nghiệp, số 440 - NN/HD/QKS (ngày
15/12/1996) của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây UBND
huyện Mỹ Đức đã xây dựng Đề án chuyển đổi HTX nông nghiệp của huyện
Mỹ Đức theo luật HTX (số 107 - ĐA/UB, ngày 20/4/1007) và lập ban chỉ đạo,
tiến hành làm điểm ở 2 HTX: Phùng Xá, Mỹ Thành Hết quý I năm 1998, toàn huyện đã hoàn thành chuyển đổi HTX ở 21/23 HTX nông nghiệp và xây dựng HTX theo mô hình HTX kinh doanh dịch vụ tổng hợp là chính